1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thảo luận TTDS lần 2 (ngày 8 9 20)

6 11 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 14,82 KB
File đính kèm TL TTDS lần 2 (ngày 8_9_20).docx.zip (15 KB)

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BÀI TẬP THẢO LUẬN TUẦN 2 CHỦ THỂ QUAN HỆ PHÁP LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ Phần 1 Nhận định 1 Bị đơn là người gây thiệt hại cho nguyên đơn và bị nguyên đơn khởi kiện Nhận định sai CSPL khoản 3 điều 68 BLTTDS 2.

Trang 1

BÀI TẬP THẢO LUẬN TUẦN 2 CHỦ THỂ QUAN HỆ PHÁP LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ Phần 1 Nhận định

1. Bị đơn là người gây thiệt hại cho nguyên đơn và bị nguyên đơn khởi kiện.

- Nhận định sai

- CSPL: khoản 3 điều 68 BLTTDS 2015

- CSLL: Theo khoản 3 điều 68 BLTTDS 2015 thì bị đơn trong vụ án dân sự là người bị nguyên đơn khởi kiện hoặc bị cơ quan, tổ chức cá nhân khác khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án dân sự khi cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn bị người đó xâm phạm Như vậy, bị đơn là người bị khởi kiện, không

có phân biệt bị đơn có xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn hay không hay có gây thiệt hại cho nguyên đơn hay không Bởi vì bị đơn bị khởi kiện do bị cho rằng đã xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn

2 Tư cách tố tụng của đương sự có thể bị thay đổi tại phiên toà sơ thẩm.

- Nhận định đúng

- CSPL: Khoản 2, Khoản 3 Điều 68, Điều 245 BLTTDS 2015

- CSLL: Tư cách tố tụng của đương sự được hình thành khi Toà án thụ lý vụ án dân sự, trong trường hợp người khởi kiện rút toàn bộ đơn khởi kiện của mình, tuy nhiên bị đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu phản tố thì lúc này bị đơn trở thành nguyên đơn dân sự và ngược lại, bên nguyên đơn trở thành bị đơn

3 Một người có thể đại diện cho nhiều đương sự trong vụ án dân sự.

- Nhận định đúng

- CSPL: điểm b khoản 1 điều 87 BLTTDS 2015

- CSLL: Theo điểm b khoản 1 điều 87 BLDS 2015 thì không được làm đại diện theo pháp luật nếu họ đang là người đại diện theo pháp luật trong tố tụng dân sự cho một đương sự khác mà quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự đó đối lập với quyền và lợi ích hợp pháp của người được đại diện trong cùng một vụ việc Như vậy, nếu cùng một vụ việc, có nhiều đương sự mà quyền và lợi ích hợp pháp của những đương sự này không đối lập với nhau thì một người đại diện có thể đại diện cho nhiều đương sự

4 Việc thay đổi người tiến hành tố tụng có thể do Chánh án quyết định.

- Nhận định sai

- CSPL: Điều 46, Điều 47 BLTTDS 2015

- CSLL:

+ Thứ nhất, theo Khoản 2 Điều 46 BLTTDS 2015 thì người tiến hành tố tụng dân sự gồm có: Chánh án Tòa án, Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thẩm tra viên, Thư ký Tòa án, Viện trưởng Viện kiểm sát, Kiểm sát viên, Kiểm tra viên

+ Thứ hai, tại điểm c Khoản 1 Điều 47 BLTTDS 2015 có quy định Chánh án

Trang 2

Tòa án có nhiệm vụ, quyền hạn: “c) Quyết định thay đổi Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thẩm tra viên, Thư ký Tòa án trước khi mở phiên tòa;”

→ Như vậy, đối với việc thay đổi người tiến hành tố tụng là Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thẩm tra viên, Thư ký Tòa án trước khi mở phiên tòa thuộc thẩm quyền của Chánh án tòa án Còn tại phiên tòa, quy định tại khoản 2 Điều 235 BLTTDS 2015, thì quyết định thay đổi người tiến hành tố tụng thuộc thẩm quyền của Hội đồng xét xử Tóm lại, phải căn cứ vào người tiến hành tố tụng bị thay đổi là ai và thời điểm thay đổi những người tiến hành tố tụng đó thì mới xác định được Chánh án có thẩm quyền quyết định hay không

- Nhận định đúng

- CSPL: Đ56

5 Phó Chánh án TAND có thể trở thành người tiến hành tố tụng trong TTDS.

- Nhận định đúng

- CSPL: Khoản 2 điều 47 BLTTDS 2015

- CSLL: Theo khoản 2 điều 47 BLTTDS 2015 thì khi chánh án vắng mặt, một Phó Chánh án được Chánh án ủy nhiệm thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của Chánh án, trừ quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm bản án, quyết định đã

có hiệu lực pháp luật của Tòa án hoặc kiến nghị Chánh án Tòa án có thẩm quyền xem xét kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án Như vậy, khi Phó chánh án được Chánh án ủy nhiệm thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của Chánh án thì Phó Chánh án TAND có thể trở thành người tiến hành tố tụng trong TTDS

6 Cá nhân có năng lực hành vi tố tụng dân sự đầy đủ phải là người đủ 18 tuổi trở lên.

- Nhận định sai

- CSPL: khoản 3 Điều 69 BLTTDS 2015

- CSLL: Năng lực hành vi tố tụng dân sự là khả năng tự mình thực hiện quyền, nghĩa vụ tố tụng dân sự hoặc ủy quyền cho người đại diện tham gia tố tụng dân

sự Theo khoản 3 Điều 69 BLTTDS 2015 quy định: “người từ đủ mười tám tuổi trở lên có đầy đủ năng lực hành vi tố tụng dân sự, trừ người mất năng lực hành

vi dân sự hoặc pháp luật có quy định khác” Vì vậy, đối với người từ đủ 18 tuổi trở lên nhưng bị mất năng lực hành vi dân sự hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự sẽ không phải là cá nhân có năng lực hành vi tố tụng dân sự đầy đủ

7 Người làm phát sinh quan hệ pháp luật tố tụng dân sự là đương sự.

- Nhận định sai

- CSPL: Khoản 1, 2 Điều 68 Bộ luật TTDS 2015

- CSLL:

+ Đương sự trong vụ án dân sự là cơ quan, tổ chức, cá nhân bao gồm nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Đương sự trong việc dân sự là cơ quan, tổ chức, cá nhân bao gồm người yêu cầu

Trang 3

giải quyết việc dân sự và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

+ Nguyên đơn trong vụ án dân sự là người khởi kiện, người được cơ quan,

tổ chức, cá nhân khác khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án dân

sự khi cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của người đó bị xâm phạm

Cơ quan, tổ chức khởi kiện vụ án dân sự để yêu cầu Tòa án bảo vệ lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước thuộc lĩnh vực mình phụ trách cũng

là nguyên đơn Người khởi kiện sẽ trở thành nguyên đơn hoặc người đại diện theo pháp luật của nguyên đơn

→ Vì vậy trong các thành phần của đương sự chỉ có nguyên đơn làm phát sinh quan hệ pháp luật tố tụng dân sự

8 Người chưa thành niên có thể tự mình tham gia tố tụng nếu xét thấy cần thiết

- Nhận định đúng

- CSPL: Khoản 6 Điều 69 BLTTDS 2015

- CSLL: Người chưa thành niên là người chưa đủ 18 tuổi Theo quy định tại Khoản 6 Điều 69 BLTTDS 2015, nếu đương sự là người từ đủ 15 đến chưa đủ

18 tuổi đã tham gia lao động theo HĐLĐ hoặc giao dịch dân sự bằng tài sản riêng của mình thì được quyền tự mình tham gia tố tụng về những việc có liên quan đến quan hệ lao động hoặc quan hệ dân sự đó

9 Luật sư tham gia với tư cách là người bảo vệ quyền lợi hợp pháp cho đương sự thì được phép thực hiện các quyền và nghĩa vụ tố tụng thay cho đương sự.

- Nhận định sai

- CSPL: Khoản 4, 5,6 Điều 76 BLTTDS 2015

- CSLL: Căn cứ vào khoản 4,5,6 điều 76 thì người bảo vệ quyền và lợi ích cho đương sự chỉ được phép thực hiện các quyền và nghĩa vụ tố tụng thay cho đương sự về: “Thay mặt đương sự yêu cầu thay đổi người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng khác theo quy định của Bộ luật này.” (KHoản 4 điều 76), “ Giúp đương sự về mặt pháp lý liên quan đến việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ; trường hợp được đương sự ủy quyền thì thay mặt đương sự nhận giấy tờ, văn bản tố tụng mà Tòa án tống đạt hoặc thông báo và có trách nhiệm chuyển cho đương sự.” (khoản 5 điều 76) hay “Các quyền, nghĩa vụ quy định tại các khoản 1, 6, 16, 17, 18, 19 và 20 Điều 70 của Bộ luật này.”

10 Thẩm phán phải từ chối tiến hành tố tụng hoặc bị thay đổi nếu là người thân thích của người đại diện đương sự.

- Nhận định sai

- CSPL: Điều 53 BLTTDS 2015

- CSLL: Căn cứ vào các trường hợp thay đổi Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân tại Điều 53 BLTTDS 2015 thì trường hợp Thẩm phán là người thân thích của người đại diện đương sự không thuộc các trường được nêu tại Điều 52 và Điều

53 của BLTTDS 2015 nên Thẩm phán không phải từ chối tiến hành tố tụng hoặc bị thay đổi khi thuộc vào trường hợp là người thân thích của người đại diện đương sự

Trang 4

Phần 2 Bài tập

- Hành vi Tố tụng của Tòa án phúc thẩm là đúng pháp luật

- CSPL: khoản 3 điều 53, khoản 2 điều 56 BLTTDS 2015

- CSLL:

● Về căn cứ để thay đổi Thẩm phán: B là thẩm phán tham gia giải quyết

vụ án về tranh chấp hợp đồng cho vay tài sản giữa bà T và bà H theo thủ tục sơ thẩm và đã ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án Đồng thời B không phải là thành viên hội đồng Thẩm phán tòa án dân nhân tối cao,

Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp cao Như vậy, theo khoản 3 điều 53 BLTTDS 2015, B đủ căn cứ để bị thay đổi

● Về thủ tục thay đổi người tiến hành tố tụng: Tại phiên tòa, đương sự yêu cầu thay đổi thẩm phán B Căn cứ vào khoản 2 điều 56 BLTTDS 2015 thì Hội đồng xét xử ra quyết định hoãn phiên tòa Như vậy, Hội đồng xét

xử trong tình huống đã tuân theo đúng quy định về thủ tục thay đổi người tiến hành tố tụng

Phần 3 Phân tích án

- Tóm tắt bản án:

+ Nguyên đơn ông Diệp Thanh S khởi kiện bà Ngũ Trung T đòi lại nhà đất mà cha mẹ của ông gửi giữ giùm trước khi xuất cảnh theo diện đoàn tụ gia đình (1983),

+ Năm 2009, bị đơn cam kết giữ giùm nhà đất, đồng ý trả lại nhà đất diện tích 587,8m2, tọa lạc tại K1, số 10/2 đường B H N, ấp Đ N, xã H A, thành phố B H, tỉnh Đồng Nai

+ Theo tài liệu thu thập, nhà đất đang tranh chấp được Ty Xây dựng tỉnh Đồng Nai cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ghi tên bà Ngũ Trung T, với diện tích 120m2 (cấp ngày 30/6/1984), được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất 587,8m2 (UBND thành phố B H cấp ngày 01/10/2002) Nguyên đơn cho rằng nhà đất nêu trên là của ông Diệp L (chết 2006) và bà Đỗ Thị D (chết 2009)

+ Lý do bà T ký vào Tờ cam kết là muốn bán nhà đất lại cho ông Diệp Thanh S với giá 500.000.000 đồng, ông S nói để trốn thuế nên lập Tờ cam kết, nhà cũ có sửa chữa và năm 2010 có xây thêm phần nhà mới

- Xác định vấn đề pháp lý liên quan:

+ Theo khoản 2 Điều 25 BLTTDS 2004 thì vụ việc tranh chấp của các bên là tranh chấp về quyền sở hữu tài sản thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án

+ Theo bản cam kết được các bên ký vào năm 2009 thì nguyên đơn có quyền yêu cầu bị đơn thanh toán lại giá trị tài sản nhà và đất cho ông Diệp Thanh S, bà Diệp Minh N theo Điều 255, 256 BLDS 2005 (Điều 164, 166 BLDS 2015)

+ Theo nhận định của Hội đồng xét xử, các yêu cầu của bị đơn đưa ra trong đơn kháng cáo là yêu cầu phản tố, được Bà T thực hiện theo quyền và nghĩa vụ của

bị đơn tại điểm c khoản 1 Điều 60 BLTTDS 2004 (khoản 4 Điều 72 BLTTDS 2015)

1. Yêu cầu phản tố là gì? Yêu cầu độc lập là gì?

Trang 5

- Yêu cầu phản tố là quyền của bị đơn trong vụ án dân sự trong đó thể hiện việc bị đơn kiện ngược lại nguyên đơn (kiện ngược trở lại với yêu cầu của nguyên đơn) Yêu cầu phản tố cũng là yêu cầu khởi kiện nên yêu cầu này có thể được khởi kiện bằng vụ án độc lập Nhưng vì yêu cầu này có liên quan đến việc thực hiện nghĩa vụ của bị đơn đối với nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập trong vụ án đang được giải quyết và nhằm cho vụ án giải quyết chính xác, nhanh chóng hơn nên bị đơn có quyền yêu cầu giải quyết trong cùng vụ án Trong trường hợp, nguyên đơn rút yêu cầu khởi kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan rút yêu cầu độc lập thì vụ án vẫn được tiếp tục

- Yêu cầu độc lập là quyền của người có quyền và nghĩa vụ liên quan đưa ra yêu cầu đối với nguyên đơn hoặc bị đơn Yêu cầu độc lập của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan cũng là một yêu cầu khởi kiện, có thể được khởi kiện thành vụ án độc lập Tuy nhiên, nếu giải quyết yêu cầu độc lập sẽ không bảo vệ kịp thời quyền lợi của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan nên yêu cầu này phải được giải quyết trong cùng vụ án

2 Có phải mọi yêu cầu của bị đơn đưa ra đều là yêu cầu phản tố hay không? Hãy cho biết các điều kiện để một yêu cầu được coi là yêu cầu phản tố?

- Không phải mọi yêu cầu của bị đơn đưa ra đều là yêu cầu phản tố Bởi vì căn cứ vào Điều 200 BLTTDS 2015 thì quyền yêu cầu phản tố của bị đơn phải thuộc một trong các trường hợp sau đây thì mới được được chấp nhận:

“a) Yêu cầu phản tố để bù trừ nghĩa vụ với yêu cầu của nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập;

b) Yêu cầu phản tố được chấp nhận dẫn đến loại trừ việc chấp nhận một phần hoặc toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập;

c) Giữa yêu cầu phản tố và yêu cầu của nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa

vụ liên quan có yêu cầu độc lập có sự liên quan với nhau và nếu được giải quyết trong cùng một vụ án thì làm cho việc giải quyết vụ án được chính xác và nhanh hơn.”

và “Bị đơn có quyền đưa ra yêu cầu phản tố trước thời điểm mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải.”

- Các điều kiện để một yêu cầu để được coi là phản tố: 1 trong 3 nội dung sau được đảm bảo:

+ Về chủ thể: bị đơn

+ Về thời gian đưa ra yêu cầu: trước khi mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải

+ Về nội dung: 1 trong 3 trường hợp

❏Yêu cầu bù trừ với yêu cầu khởi kiện Yêu cầu phản tố dẫn đến việc loại trừ việc chấp nhận yêu cầu khởi

❏ kiện

❏Hiệu quả

Trang 6

3 Có phải mọi yêu cầu của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đưa ra là yêu cầu độc lập hay không? Hãy cho biết các điều kiện để một yêu cầu được coi

là yêu cầu độc lập?

- Không phải mọi yêu cầu của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đưa ra là yêu cầu độc lập Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chỉ có quyền yêu cầu độc lập với các trường hợp sau đây: (1) Việc giải quyết vụ án có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của họ; (2) Yêu cầu độc lập của họ có liên quan đến vụ án đang được giải quyết Như vậy chỉ có các yêu cầu liên quan đến vụ án mới được xem là yêu cầu độc lập Còn đối với các yêu cầu không kiên quan đến vụ

án thì những người yêu cầu có thể khởi kiện thành một vụ án mới

- Các điều kiện để một yêu cầu được coi là yêu cầu độc lập:

Theo khoản 1 Điều 201 BLTTDS 2015 quy định về điều kiện để yêu cầu trở thành yêu cầu độc lập:

“Trường hợp người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không tham gia tố tụng với bên nguyên đơn hoặc với bên bị đơn thì họ có quyền yêu cầu độc lập khi có các điều kiện sau đây:

a) Việc giải quyết vụ án có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của họ;

b) Yêu cầu độc lập của họ có liên quan đến vụ án đang được giải quyết;

c) Yêu cầu độc lập của họ được giải quyết trong cùng một vụ án làm cho việc giải quyết vụ án được chính xác và nhanh hơn.”

4 Giả sử tại phiên tòa sơ thẩm, bị đơn sửa đổi, bổ sung yêu cầu phản tố thì Tòa

án có bắt buộc phải chấp nhận hay không?

- Tòa án không bắt buộc phải chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn, mà Tòa án phải căn cứ vào các trường hợp được quy định tại khoản 2 Điều 200 BLTTDS

để xem xét, chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn:

“a Yêu cầu phản tố để bù trừ nghĩa vụ với yêu cầu của nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập;

b Yêu cầu phản tố được chấp nhận dẫn đến loại trừ việc chấp nhận một phần hoặc toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan

có yêu cầu độc lập;

c Giữa yêu cầu phản tố và yêu cầu của nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa

vụ liên quan có yêu cầu độc lập có sự liên quan với nhau và nếu được giải quyết trong cùng một vụ án thì làm cho việc giải quyết vụ án được chính xác và nhanh hơn”

- Mặt khác, BLTTDS cũng quy định thời điểm đưa ra yêu cầu phản tố là trước thời điểm mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải Đây được xem là trình tự thủ tục mà bị đơn phải thực hiện và là yếu tố

để Tòa án xem xét có chấp nhận yêu cầu phản tố hay không Bên cạnh đó, Tòa

án cũng phải xét đến đối tượng của yêu cầu phản tố, đối tượng của yêu cầu phản tố của bị đơn hướng đến chỉ có thể là nguyên đơn, người có quyền và nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập Theo đó, bị đơn không thể có yêu cầu phản tố đối với người mà không phải là đương sự trong vụ án, và cũng không được đưa ra yêu cầu phản tố đối với đồng bị đơn trong vụ án

Ngày đăng: 06/09/2022, 21:13

w