1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

TIỂU LUẬN KẾT THÚC HỌC PHẦN MÔN HỢP ĐỒNG DÂN SỰ THÔNG DỤNG đề tài NGHĨA VỤ TRẢ NỢ CỦA BÊN VAY TRONG HỢP ĐỒNG VAY TÀI SẢN

20 7 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 20
Dung lượng 174,58 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ngoài ra hợp đồng vay tài sản cũng là một công cụ pháp lý hữu hiệu để đáp ứng nhu cầu huy động vốn giữa những cá nhân với nhau, giữa các nhân với tổ chức kinh tế và các tổ chức tín dụng

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HỒ CHÍ MINH KHOA LUẬT DÂN SỰ

TIỂU LUẬN KẾT THÚC HỌC PHẦN MÔN: HỢP ĐỒNG DÂN SỰ THÔNG DỤNG

TÊN ĐỀ TÀI TIỂU LUẬN NGHĨA VỤ TRẢ NỢ CỦA BÊN VAY TRONG HỢP ĐỒNG VAY

TÀI SẢN

Người thực hiện: Nguyễn Phú Thành MSSV: 1953801012246

Lớp: Dân Sự 44B

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH - NĂM 2021

Trang 2

Mục Lục

1 Lý do chọn đề tài tiểu luận 3

2 Tình hình nghiên cứu 3

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 4

4 Phương pháp 4

1.Khái niệm 5

1.1 Hợp đồng vay tài sản 5

1.2 Đặc điểm pháp lý của hợp đồng vay tài sản 7

1.1.3 Đối tượng của hợp đồng 9

1.1.4 Lãi suất và lãi trong hợp đồng vay: 10

1.1.5 Ý nghĩa của hợp đồng vay tài sản? 10

2 Nghĩa vụ trả nợ của bên vay trong hợp đồng vay tài sản: 11

2.1 Quy định của pháp luật về nghĩa vụ trả nợ 11

2.2 Phân tích quy định của BLDS 2015 về nghĩ vụ trả nợ của bên vay: 13

2.2 Thực giải quyết các tranh chấp về họp đồng vay tài sản tại Tòa án nhân dân 17

2.2.1 Tình hình giải quyết tranh chấp họp đồng vay tài sản tại Tòa án Nhân dân 17

2.2.2 Đánh giá tình hình giải quyết tranh chấp hợp đồng vay tài sản 17

tại Tòa án nhân dân hiện nay 17

3.1 Định hướng hoàn thiện pháp luật về chấm dứt hợp đồng lao động 19

3.1.1 Tôn trọng quyền tự định đoạt của các bên trong quan hệ hợp đồng ủy quyền 19

3.1.2 Đảm bảo hài hòa lợi ích của các bên và trật tự xã hội 19

3.2 Giải pháp hoàn thiện pháp luật về chấm dứt hợp đồng lao động và tổ chức thi hành pháp luật về chấm dứt hợp đồng tại tỉnh Quảng Bình 19

3.2.1 Giải pháp hoàn thiện pháp luật về chấm dứt hợp đồng lao động Thứ nhất: 19

3.2.2 Giải pháp tổ chức thực hiện pháp luật chấm dứt hợp đồng lao động tại tỉnh 19

Trang 3

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài tiểu luận

Đời sống kinh tế xã hội phát triển, khái niệm hợp đồng vay tài sản không còn quá xa lạ với mọi người Tuy nhiên vẫn có rất nhiều trường hợp thiếu hiểu biết về hợp đồng vay tài sản gây ra những thiệt hại đáng kể đặc biệt là vay và người cho vay- những người thường yếu thế hơn trong xã hội Hợp đồng vay tài sản có vai rò rất quan trọng Thông qua hợp đồng vay tài sản , quyền và nghĩa vụ giữa bên cho vay

và bên vay được thiết lập, là cơ sở để giải quyết các tranh chấp (nếu có) Ngoài ra hợp đồng vay tài sản cũng là một công cụ pháp lý hữu hiệu để đáp ứng nhu cầu huy động vốn giữa những cá nhân với nhau, giữa các nhân với tổ chức kinh tế và các tổ chức tín dụng

Xuất phát từ nhu cầu cũng như đòi hỏi mới phát sinh từ thực tiễn quan hệ ủy quyền trong nền kinh tế thị trường, Nhà nước đã đặc biệt chú trọng tới công tác xây dựng, sửa đổi, bổ sung hệ thống pháp luật dân sự Từ khi ra đời đến nay đã qua ba lần sửa đổi, bổ sung (1995, 2005, 2015), các quy định về hợp đồng đã đáp ứng được yêu cầu của nền kinh tế thị trường Thông qua vai trò điều chỉnh của những quy định này, hệ thống quan hệ dân sự đã dần đi vào quỹ đạo, điều hòa lợi ích của người dân, lợi ích chung của Nhà nước và xã hội Đặc biệt trong đó có những quy định sửa đổi, bổ sung nhằm hoàn thiện các quy định pháp luật về hợp đồng ủy quyềncũng như các vấn đề liên quan đến nó để phù hợp với bối cảnh chung của thị trường lao động ở Việt Nam Tuy nhiên, do mặt trái của nền kinh tế thị trường kết hợp với nhiều nguyên nhân khác mà tình trạng vi phạm pháp luật ủy quyền ngày càng trở nên phổ biến, trong đó việc đơn phương chấm dứt Hợp đồng ủy quyền trái pháp luật là một vấn đề đang gây nhiều bức xúc Điều đó ảnh hưởng không nhỏ đến tính bền vững của quan hệ ủy quyền, lợi ích của các bên chủ thể, cũng như sự ổn định và phát triển của đời sống kinh tế xã hội Chính vì vậy, nghĩa vụ trả nơ của bên vay cần phải có sự quan tâm đặc biệt từ phía Nhà nước cũng như toàn xã hội, góp phần bảo vệ quyền lợi của bên cho vay và bên vay.Nhận thấy tính cấp thiết của đề tài nên em chọn đề số 20 “Nghĩa

vụ trả nợ của bên vay trong hợp đồng vay tài sản

Sau đây chúng ta sẽ tìm hiểu kĩ hơn về cách thực hiên hợp đồng vay như thế nào cũng như tại sao lại xảy ra việc chấm dứt hợp đồng, ai là người có quyền chấm dứt hợp đồng ủy quyền, quyền và nghĩa vụ của các bên như thế nào khi hợp đồng ủy quyền chấm dứt và hậu quả pháp lí xảy ra

2 Tình hình nghiên cứu

Trong những năm qua nhiều công trình nghiên cứu liên quan đến vấn đề chấm dứt hợp đồng lao động ở nhiều góc độ, khía cạnh pháp lý khác nhau

Về giáo trình, có Giáo trình Luật Hợp đồng Việt Nam của Trường đại học Luật Hà Nội, nhà xuất bản Công an nhân dân, 2015;

Trang 4

Giáo trình Luật Lao động của Trường đại học Luật Thành phố Hồ

Chí Minh, Nhà xuất bản Hồng Đức - Hội Luật gia Việt Nam, 2014;

giáo trình luật lao động Việt Nam, Khoa Luật Đại học Huế, Nhà xuất

bản ĐH Huế, 2013; Giáo trình Luật TTDS Việt Nam của Trường đại

học Luật Hà Nội, Nhà xuất bản Công an nhân dân, 2017 Các công

trình này đã nghiên cứu ở góc độ chung, nên đây là những tài liệu có

giá trị để tham khảo

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích của việc nghiên cứu đề tài là làm rõ một số vấn đề ở

phương diện lý luận và thực tiễn đối với pháp luật về đơn phương chấm dứt hợp đồng ủy quyền Tiểu luận đi sâu phân tích thực trạng pháp luật về đơn phương

chấm dứt hợp đồng ủy quyền theo pháp luật hiện hành, để thấy rõ thực trạng áp dụng pháp luật về chấm dứt hợp đồng lao động tại các cơ quan, đơn vị tại Việt NAM Đề xuất những giải pháp nhằm hoàn thiện các quy định pháp luật về đơn phương c chấm dứt hợp đồng ủy quyền và tổ chức thực hiện pháp luật về chấm dứt HĐLĐ tại Việt Nam

4 Phương pháp

Nhằm đạt được mục đích nêu trên, luận văn tập trung giải quyết những nhiệm vụ sau:

- Phân tích và làm sáng tỏ những vấn đề lý luận cơ bản về nghĩa vụ trả

- Phân tích tình hình thực tiễn áp dụng các quy định của pháp luật về

- Làm rõ những thành công và hạn chế việc áp dụng các quy định của pháp luật trong việc chấm dứt hợp đồng ủy quyền tại các cơ quan, đơn vị trên địa bàn Việt Nam

- Tiểu luận đưa ra một số giải pháp nhằm hoàn thiện các quy

định pháp luật về chấm dứt hợp đồng lao động

Ngoài ra, Luận văn sử dụng kết hợp các phương pháp phân tích, thống kê, tổng hợp, chứng minh, kết hợp giữa nghiên cứu lý luận với thực tiễn để làm phương pháp nghiên cứu cụ thể phù hợp với từng phần của đề tài:

- Phương pháp phân tích: Làm rõ các khái niệm, phân loại, căn cứ, thủ tục , quy định của pháp luật hiện hành về chấm dứt hợp đồng lao động

Trang 5

- Phương pháp thống kê, tổng hợp: Thống kê, tổng hợp số liệu các trường hợp chấm dứt hợp đồng lao động tại một số cơ quan, đơn vị trên địa bàn tỉnh Quảng Bình từ năm 2041 đến năm 2017; số lượng các

vụ án tranh chấp lao động liên quan đến vấn đề chấm dứt hợp đồng lao động đã được xử lý tại tòa án các cấp

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ HỢP ĐỒNG VAY TÀI SẢN

Trong cuộc sống hàng ngày đế giải quyết những khó khăn tạm thời về kinh tế cũng như đáp ứng nguồn vốn đế sản xuất kinh thì họp đồng vay tài sản là phương tiện pháp lý để thỏa mãn các nhu cầu đó Nhà nước đã tạo điều kiện cho nhân dân vay vốn của ngân hàng với mức lãi suất phù hợp, các hộ nông dân nghèo có thế phát triến được sản xuất kinh doanh Mặt khác, nhân dân vay, mượn tài sản của nhau đế tiêu dùng cho những việc cần thiết trong gia đình hoặc để kinh doanh là việc làm phổ biến và có ý nghĩa cần được Nhà nước khuyến khích

1.Khái niệm

1.1 Hợp đồng vay tài sản

Theo từ điển Tiếng Việt thì “vay” được hiểu là “nhận tiền hay vật gì của người khác để chi dùng trước với điều kiện sẽ trả tương đương hoặc có thêm phần lãi” Như vậy, người đi vay sẽ phải thực hiện các hoạt động là “nhận tiền hay vật” và sẽ phải “trả tương ứng hoặc có thêm phần lãi”

Để làm được việc đó phải có sự thỏa thuận giữa hai bên chủ thể: bên vay và bên cho vay Trên

cơ sở thỏa thuận đó làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên chủ thể từ đó tạo thành hợp đồng vay tài sản

Bên vay có nghĩa vụ trả vật cùng loại hoặc số tiền đã vay khi hết hạn hợp đồng.” Khái niệm này

đã đề cập đến yếu tố thỏa thuận của các bên, đây là một yếu tố cốt lõi khi thiết lập hợp đồng nói chung và hợp đồng vay tài sản nói riêng Có thể thấy, hợp đồng vay tài sản trong thời kỳ này đã được tiếp cận và ghi nhận theo đúng bản chất của hợp đồng nói chung Giá trị của nó vẫn còn được lưu giữ cho đến tận ngày nay

Bộ luật dân sự Pháp giải thích rằng: Hợp đồng vay tài sản là hợp đồng theo đó một bên giao cho bên kia một số lượng vật sẽ bị tiêu hao khi sử dụng với điều kiện là bên kia phải trả vật cùng số lượng và chất lượng”; Bộ luật dân sự Nhật Bản quy định: Hợp đồng vay tài sản có hiệu lực khi một bên nhận từ bên kia một khoản tiền hoặc những vật với sự hiểu ngầm rằng người đó sẽ trả lại tiền vay vật hoặc có thể loại, số lượng và chất lượng đúng như vậy” Các tiếp cận hợp đồng vây tài sản của Nhật Bản và Pháp vừa có điểm tương đồng, vừa có sự khác biệt

Trang 6

Khái niệm hợp đồng vay tài sản đã được pháp luật nước ta ghi nhận qua các thời kỳ chẳng hạn như trong Bộ Dân luật Sài Gòn năm 1972, tại Điều 1173 định nghĩa khế ước vay nợ như sau: Khế ước vay nợ là khế ước trong đó, một bên đương sự, giao cho bên kia một số đồ vật sẽ bị tiêu thất do sự tiêu thụ, người vay tới hạn phải hoàn trả đúng số lượng, cùng loại, cùng hạng như đồ vật đã vay, mặc dầu đồ vật ấy có tăng giá hay sụt giá” Cho đến Bộ luật dân sự năm 1995, 2005,

2015 thì hợp đồng vay tài sản vẫn được quy định một cách cụ thể

Theo pháp luật Việt Nam hiện hành, khái niệm về hợp đồng vay tài sản được quy định tại điều

463 BLDS 2015 :” Hợp đồng vay là sự thỏa thuân giữa các bên về việc xác lập thực hiện, theo

đó bên cho vay giao tài sản cho bên vay; khỉ đên hạn trả, bên vay phải hoàn trả cho bên cho vay tài sản cùng loại theo đủng so lượng, chất lượng và chỉ phải trả lãi nếu có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định

Hợp đồng vay tài sản có tác dụng giúp cho bên vay giải quyết những khó khăn kinh tế trước mắt, giúp các doanh nghiệp khắc phục khó khăn khi thiếu vốn để sản xuất và lưu thông hàng hóa, phục vụ nhu cầu tiêu dùng của con người, nhu cầu kinh doanh của các doanh nghiệp Hợp đồng vay tài sản trong nhân dân thường mang tính chất tương trợ giúp đỡ lẫn nhau để giải quyết những khó khăn tạm thời trong cuộc sống, sản xuất, kinh doanh

1.2 Đặc điểm pháp lý của hợp đồng vay tài sản

Hợp đồng vay tài sản là một dạng hợp đồng dân sự Bên cạnh những đặc điểm chung của hợp đồng dân sự thì hợp đồng vay tài sản cũng có những điểm riêng, là căn cứ để phân biệt với các loại hợp đồng thông dụng khác

Thứ nhất, hợp đồng vay tài sản có thể là hợp đông thực tế, có thể là hợp đồng ưng thuận

Xét về bản chất thì hợp đồng cho vay là một hợp đồng thực tế, bởi lẽ bên cho vay chỉ có quyền với bên vay, hay nói cách khác bên cho vay không có nghĩa vụ với bên vay Vì nếu bên vay không chuyển giao tài sản thì không thể bắt buộc bên vay phải chuyển giao Nếu bên vay bắt buộc phải chuyển giao, nghĩa là bên vay có quyền khởi kiện bên cho vay buộc phải cho vay theo thỏa thuận nếu bên vay không còn tiền cho vay thì phải buộc bán nhà đất để cho vay?

Về nguyên tắc, hợp đồng vay tài sản là hợp đồng ưng thuận, bởi theo Khoản 1 điều 40 BLDS

2015 quy định: Hợp đồng được giao kết hợp pháp có hiệu lực từ thời điểm giao kết, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật liên quan có quy định khác Tuy nhiên, đây là một quy định

mở, các bên hoàn toàn có thể thỏa thuận rằng hợp đồng có hiệu lực từ khi bên cho vay đã chuyển giao tài sản cho bên vay

Như vậy, không thể khẳng định hợp đồng vay tài sản là hợp đồng ưng thuận hay hợp đồng thực

tế Hợp đồng vay tài sản là hợp đồng ưng thuận hay thực tế phụ thuộc vào việc hợp đồng phát

Trang 7

sinh hiệu lực pháp luật vào thời điểm nào: khi các bên đã thỏa thuận xong nội dung cơ bản của hợp đồng hay khi bên cho vay đã chuyển giao tài sản cho bên vay

Thứ hai, hợp đồng vay tài sản là hợp đồng đơn vụ hoặc song vụ

Điều 402 BLDS 2015 quy định:

Hợp đồng song vụ là hợp đồng mà mỗi bên đều có nghĩa vụ đối với nhau Hợp đồng đơn vụ là hợp đồng mà chỉ có một bên có nghĩa vụ

Như phân tích ở trên, hợp đồng vay tài sản có thể là hợp đồng ưng thuận hoặc hợp đồng thực tế Trong trường hợp, hợp đồng vay tài sản là hợp đồng ưng thuận, quyền và nghĩa vụ của các bên phát sinh tại thời điểm giao kết hợp đồng, thì đây là hợp đồng song vụ Quyền của bên vay tương ứng với nghĩa vụ của bên cho vay và ngược lại

Trường hợp, hợp đồng vay tài sản là hợp đồng thực tế thì nó hợp đồng đơn vụ Bởi nếu la hợp đồng thực tế thì thời điểm có hiệu lực của hợp đồng vay tài sản là thời điểm bên cho vay chuyển giao tài sản cho bên vay, kể từ thời điểm này mới phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên chủ thể

Thứ ba, hợp đồng vay tài sản là hợp đồng có tính đền bù hoặc không có tính đền bù

Hợp đồng vay tài sản có tính chất đền bù nếu nó là hợp đồng vay tài sản có lãi suất Nói cách khác, hợp đồng vay tài sản có tính chất đền bù khi mà một bên sau khi đã thực hiện cho bên kia một lợi ích sẽ nhận lại một lợi ích tương ứng cùng với khoản lãi theo thỏa thuận, hợp đồng vay tài sản có tính chất đền bù thông thường được áp dụng bắt buộc trong hoạt động tín dụng ngân hàng,…

Hợp đồng vay tài sản không có tính chất đền bù là hợp đồng vay không có lãi suất, tức là khi hết hạn trả nợ, bên vay có nghĩa vụ hoàn trả đầy đủ một lượng tài sản cùng loại, cùng giá trị cho bên vay, mà không phải trả thêm bất cứ khoản lợi ích vật chất nào khác, hay một giá trị tài sản nào khác, loại hợp đồng này thương được giao kết mang tính chất tương trợ, giúp đỡ nhằm khắc phục khó khăn hoặc giúp đỡ phát triển sản xuất kinh doanh giữa những chủ thể có mối quan hệ thân thiết , quen biết lẫn nhau

Thứ tư, hợp đồng vay tài sản là căn cứ chuyển quyền sở hữu tài sản

Trang 8

Hợp đồng vay tài sản là hợp đồng chuyển quyền sở hữu đối với tài sản từ bên cho vay sang bên vay, khi bên vay nhận được tài sản và bên vay trở thành chủ sở hữu tài sản vay kể từ thời điểm nhận tài sản đó

Đây là đặc điểm giúp ta phân biệt hợp đồng vay tài sản với các hợp đồng dân sự khác như hợp đồng mượn tài sản, hợp đồng thuê tài sản Vì trong hai loại hợp đồng này, người mượn và người thuê tài sản không trở thành chủ sở hữu tài sản mượn hay nói cách khác không có đầy đủ quyền

sở hữu mà người thuê, người mượn chỉ có quyền chiếm hữu, sử dụng tài sản đã mượn hoặc thuê trong một thời hạn nhất định do hai bên thỏa thuận Khi hết thời hạn, bên mượn, bên thuê phải trả đúng tài sản đã mượn, thuê cho bên cho mượn, cho thuê tài sản

1.1.3 Đối tượng của hợp đồng

Thông thường đối tượng của hợp đồng vay tài sản là một khoản tiền Tuy nhiên, trong thực tế đối tượng của hợp đồng cho vay có thể là vàng, ngoại tệ, kim khí quý- là những tài sản mà Nhà nước có sự quản

lí, điều tiết

Tiền là một loại tài sản xuất hiện từ thời kì nhà nước La Mã do nhu cầu cần có một “công cụ trao đổi đa năng hữu hiệu” để sử dụng trong quan hệ giao lưu hàng hóa Tiền có một số đặc điểm như sau:

- Chỉ có thể do ngân hàng Nhà nước phát hành;

- Chỉ có mệnh giá nhất định;

- Giá trị lưu hành rộng rãi, không hạn chế về thời gian thanh toán, thời gian lưu hành, trừ khi Nhà nước tuyên bố hủy bỏ;

- Khác với các tài sản khác, chủ sở hữu tiền không được tiêu hủy tiền

Tiền bao gồm nội tệ (tiền Việt Nam) và ngoại tệ (tiền do các quốc gia khác phát hành) Tuy nhiên, do ngoại tệ là tài sản đặc biệt thuộc nhóm hạn chế lưu thông nên tùy từng hợp đồng để xem xét tính có hiệu lực của hợp đồng đó Trường hợp mua bán ngoại tệ vi phạm các quy định pháp luật trong việc quản lí ngoại hối thì hợp đồng có thể bị vô hiệu Tiền khi không còn chức năng thanh toán, định giá sẽ được coi là vật, ví dụ: tiền cổ, tiền hết giá trị lưu hành, tiền giả,…

Vật là môt bộ phận của thế giới vật chất mà con người có thể nhận biết được bằng các giác quan Tuy nhiên thế giới vật chất là vô cùng, vô tận Vì vậy, vật chỉ được coi là tài sản và trở thành đối tượng của các quan hệ pháp luật dân sự nói chung, quan hệ sở hữu nói riêng nếu thỏa mãn các dấu hiệu sau:

- Là một bộ phận của thế giới vật chất ( ở mọi trạng thái rắn, lỏng, khí…);

- Con người có thể chiếm hữu, kiểm soát được;

- Phải mang lại cho chủ thể một lợi ích nhất định, có thể là lợi ích vật chất hoặc tinh thần

Vật có thể đang tồn tại hiện hữu hoặc sẽ hình thành trong tương lai Vật cùng loại là những vật có cùng hình dáng, tính chất tính năng sử dụng và xác định được bằng các đơn vị đo lường

Trang 9

Đối tượng của hợp đồng vay chỉ có thể là vật cùng loại vì khi đến hạn trả, bên vay phải hoàn trả cho bên cho vay tài sản cùng loại theo đúng số lượng, chất lượng.Đối tượng của hợp đồng vay tài sản được chuyển từ bên cho vay sang bên vay làm sở hữu Bên vay có quyền định đoạt tài sản vay Khi hết hạn hợp đồng, bên vay có nghĩa vụ trả cho bên kia một tài sản khác cùng loại với tài sản vay hoặc số tiền đã vay

1.1.4 Lãi suất và lãi trong hợp đồng vay:

Trừ các trường hợp cho vay trên cơ sở tình cảm, giúp đỡ lẫn nhau thì lợi ích vật chất luôn là mấu chốt mà các chủ thể quan tâm khi tham gia vào quan hệ vay tài sản, ở đây lợi ích vật chất là lãi xuất Trong hợp đồng vay tài sản có hai hình thức là tính lãi xuất là lãi xuất và lãi xuất nợ quá hạn

Nay, BLDS năm 2015 quy định hạn mức lãi suất tối đa mà các bên được thỏa thuận đã được hạ xuống, đồng thời pháp luật đã mở rộng quyền thỏa thuận cho các bên trong trường hợp hợp đồng cho vay có tính lãi nhưng không xác định lãi cụ thể Điều 468 – BLDS 2015 có sửa đổi, bổ sung

về lãi suất Điều 468 của Bộ luật này quy định: Lãi suất được pháp luật chấp nhận là 20% số tiền vay gốc; trường hợp không rõ về lãi suất mà có tranh chấp về lãi suất thì mức lãi được pháp luật chấp nhận là 50% mức quy đinh trên

Bởi vậy, đối với trường hợp vay có lãi suất ( hợp đồng vay có đền bù) là loại hợp đồng thể hiện rõ nét nhất bản chất của hợp đồng dân sự ( các bên trao đổi cho nhau các lợi ích vật chất) nên khi giao kết, các bên lựa chọn hình thức giao kết hợp đồng bằng văn bản trong đó quy định rõ về lãi suất sẽ là căn cứ vững chắc khi có sự kiện pháp lí phát sinh

Tranh chấp về nghĩa vụ của bên vay đối với bên cho vay phần lớn là xoay quanh vấn đề lãi và lãi suất của hợp đồng vay tài sản Có thể là do trong quá trình giao kết hợp đồng hai bên không thỏa thuận rõ rang về vấn đề này hoặc do trong quá trình thực hiện hợp đồng, bên vay cố tình trốn tránh trách nhiệm về việc trả lãi đối với bên cho vay hoặc bên cho vay có thể tính lãi suất quá cao thậm chí là không đúng quy định của pháp luật dẫn đến tranh chấp trong quá trình thực hiện nghĩa vụ của bên vay Có thể thấy yếu tố lãi và lãi suất trong hợp đồng cho vay tài sản là yếu tố

có ý nghĩa quan trọng và mấu chốt trong hầu hết các tranh chấp dân sự về hợp đồng cho vay tài sản

1.1.5 Ý nghĩa của hợp đồng vay tài sản?

Hợp đồng vay tài sản là loại hợp đồng có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong đời sống và sự phát triển kinh tế thị trường nước ta hiện này, trước hết hợp đồng vay tài sản là phương tiện pháp lý

để thỏa mãn các nhu cầu vay vốn của cá nhân, tổ chức lâm vào tình trạng túng thiếu cần vốn đề

Trang 10

sản xuất, kinh doanh Đây là căn cứ để chứng minh sự thỏa thuận giữa các bên và là chứng cứ khi có tranh chấp về vay tài sản giữa các chủ thể

Hợp đồng vay tài sản còn là nơi ghi nhận quyền và nghĩa vụ của các bên, từ đó là phát sinh và

xử lý khi có vi phạm hợp đồng, là công cụ để thực hiện quan hệ hợp tác giữa các chủ thể trong

xã hội, góp phần vào việc giao lưu hàng hóa, giải quyết phần nào khó khăn trong cuộc sống hàng ngày, củng cố tinh thân đoàn kết, tương thân tương ái trong nhân dân

Nghĩa vụ của bên vay

Đối với hợp đồng vay thì người vay cần phải nhờ đến sự giúp đỡ vật chất của chủ thể cho vay Người vay phải thực hiện đúng nghĩa vụ của mình khi vay như trả đủ tiền và lãi nếu có thỏa thuận Nếu chủ thể yêu cầu trả nợ thì người vya phải thực hiện đúng như hợp đồng đã thỏa thuận

2 Nghĩa vụ trả nợ của bên vay trong hợp đồng vay tài sản:

2.1 Quy định của pháp luật về nghĩa vụ trả nợ

Bên vay là người cần sự giúp đỡ vật chất từ bên cho vay để giải quyết những khó khăn trước mắt của mình Và kể từ thời điểm nhận được tài sản, bên vay có quyền chiếm hữu, sử dụng

và định đoạt đối với tài sản vay miễn là bên vay sử dụng tài sản vay đó không trái pháp luật và đạo đạo đức Đồng thời cũng tại thời điểm đó, hình thành nghĩa vụ của bên vay đối với bên cho vay tài sản: nghĩa vụ hoàn trả tài sản đã vay khi đến kì hạn Do vậy khi hết hạn của hợp đồng, bên vay phải tự giác thực hiện nghĩa vụ của mình phát sinh từ hợp đồng đã kí kết Phải trả đủ số tiền hoặc tài sản đã vay và tiến lãi nếu có thỏa thuận hoặc có pháp luật quy định Nếu đối tượng hợp đồng là tài sản thì phải trả bằng tài sản cùng loại Nếu hợp đồng cho vay cùng kì hạn, khi bên cho vay yêu cầu trả nợ thì phải thực hiện hợp đồng trong thời gian thỏa thuận Bên vay cũng

có thể thực hiện hợp đồng bất cứ thời gian nào Thời điểm này được coi là thời điểm chấm dứt hợp đồng cho vay không kì hạn.Nghĩa vụ trả nợ của bên vay theo pháp luật

Theo Điều 466 Bộ luật dân sự 2015 quy định về nghĩa vụ trả nợ của bên vay theo pháp luật như sau:Hợp đồng cho vay cho phép bên vay giải quyết khó khăn về tài chính trước mắt Hợp đồng cho vay được thiết lập giữa hai bên chủ thể, theo đó các bên có thể thỏa thuận về thời hạn cho vay dài hoặc ngắn, nhưng khi thời hạn cho vay đã kết thúc thì bên vay có nghĩa vụ phải hoàn trả tài sản vay cho bên cho vay Căn cứ vào quy định trên, bên vay có những nghĩa vụ cụ thể như sau:

-Một là, trả đúng, đủ tài sản vay khi đến hạn Đối tượng của hợp đồng cho vay rất rộng và phong phú, đó có thể là tiền, vàng, bạc, đá quý,…Do đó, nghĩa vụ trả lại tài sản của bên vay đôi với bên cho vay được xác định dựa trên loại tài sản vay Nếu tài sản là tiền, thì bên vay phải trả đủ tiền

Ngày đăng: 02/09/2022, 17:22

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w