1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

BTTuan9 phucthamvuandansu nhom04 LopTM42A2 111120

9 3 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 9
Dung lượng 60,41 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Môn LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ Nhóm 4 Lớp TM42A2 BÀI THẢO LUẬN TUẦN 9 THỦ TỤC PHÚC THẨM VỤ ÁN DÂN SỰ 1. Tòa án cấp phúc thẩm có quyền xét xử lại toàn bộ vụ án đã xét xử ở Tòa án cấp sơ thẩm. 3 2. Tại phiên tòa phúc thẩm mà các đương sự thỏa thuận được với nhau thì Hội đồng xét xử phúc thẩm ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của đương sự. 3 3. Nếu người kháng cáo vắng mặt tại phiên tòa phúc thẩm thì Hội đồng xét xử đình chỉ xét xử phúc thẩm. 3 4. Người đại diện theo ủy quyền của đương sự không có quyền kháng cáo thay đương sự. 4 5. Tòa án bắt buộc phải chấp nhận mọi sự thay đổi, bổ sung yêu cầu kháng cáo của đương sự. 4

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Môn: LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ

Nhóm: 4 Lớp: TM42A2

BÀI THẢO LUẬN TUẦN 9

THỦ TỤC PHÚC THẨM VỤ ÁN DÂN SỰ

Danh sách thành viên:

HỌ VÀ TÊN MÃ SỐ SINH VIÊN

Nguyễn Thị Bích Hồng 1753801011066

Nguyễn Mai Lan Hương 1753801011069

Huỳnh Ngọc Loan 1753801011106

Lê Thị Bích Loan 1753801011107

Nguyễn Thị Thu Mai 1753801011113

Nguyễn Văn Minh 1753801011115

Nguyễn Thị Mỹ Mỹ 1753801011121

Trang 2

ĐẠI HỌC LUẬT TP.HCM

LỚP TM42A2 CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Tp Hồ Chí Minh, ngày 31 tháng 10 năm 2020

BIÊN BẢN LÀM VIỆC

I THÀNH VIÊN: Thành viên nhóm 4 – Lớp TM42A2

II NỘI DUNG LÀM VIỆC: Thảo luận bài thảo luận tuần 9 của môn Luật Tố

tụng dân sự.

1 Phân công công việc

1 Nguyễn Thị Bích Hồng Nhận định 5; Tóm tắt án; Tổng hợp

2 Nguyễn Mai Lan Hương Nhận định 4

3 Huỳnh Ngọc Loan Nhận định 3

4 Lê Thị Bích Loan Bài tập 1; Xác định vấn đề pháp lí

5 Nguyễn Thị Thu Mai Nhận định 2; Phần án câu 3.2

6 Nguyễn Văn Minh Nhận định 1; Phần án câu 3.1

7 Nguyễn Thị Mỹ Mỹ Phần án câu 3.3

=> Hạn cuối nộp bài của các thành viên: 20h ngày 11/11/2020, các thành viên

phải gửi bài qua lên nhóm trò chuyện HLM GROUP trên mạng xã hội Facebook.

2 Đánh giá kết quả

Họ tên Tham gia

nhiệt tình Nộp bài Ký tên

Nguyễn Thị Bích Hồng Tốt Đúng hạn (Đã ký)

Nguyễn Mai Lan Hương Tốt Đúng hạn (Đã ký)

Huỳnh Ngọc Loan Tốt Đúng hạn (Đã ký)

Lê Thị Bích Loan Tốt Đúng hạn (Đã ký)

Nguyễn Thị Thu Mai Tốt Đúng hạn (Đã ký)

Nguyễn Văn Minh Tốt Đúng hạn (Đã ký)

Nguyễn Thị Mỹ Mỹ Tốt Đúng hạn (Đã ký)

NHÓM TRƯỞNG

(Đã ký)

Nguyễn Thị Bích Hồng

MỤC LỤC 2

Trang 4

BÀI THẢO LUẬN TUẦN 9

THỦ TỤC PHÚC THẨM VỤ ÁN DÂN SỰ

PHẦN 1 NHẬN ĐỊNH

1 Tòa án cấp phúc thẩm có quyền xét xử lại toàn bộ vụ án đã xét xử ở Tòa

án cấp sơ thẩm.

Nhận định sai

Giải thích: Phạm vi xét xử phúc thẩm là Tòa án cấp phúc thẩm chỉ xem xét lại phần của bản án sơ thẩm, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm có kháng cáo, kháng nghị hoặc có liên quan đến việc xem xét nội dung kháng cáo, kháng nghị Vì vậy Tòa án cấp thẩm không có quyền xét xử lại toàn bộ vụ án đã xét xử ở Tòa án cấp phúc thẩm nếu kháng cáo, kháng nghị chỉ kháng cáo, kháng nghị một phần Bản án, quyết định của Tòa án sơ thẩm

Cơ sở pháp lý: Điều 293 BLTTDS 2015

2 Tại phiên tòa phúc thẩm mà các đương sự thỏa thuận được với nhau thì Hội đồng xét xử phúc thẩm ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của đương sự.

Nhận định sai

Giải thích: Vì để Hội đồng xét xử phúc thẩm công nhận sự thỏa thuận của đương

sự, thì sự thỏa thuận đó phải là tự nguyện, không vi phạm điều cấm của luật và không trái đạo đức xã hội Vậy nên tại phiên tòa phúc thẩm mà các đương sự thỏa thuận được với nhau, Hội đồng xét xử phúc thẩm không đương nhiên chấp nhận sự thỏa thuận đó

Cơ sở pháp lý: khoản 1 Điều 300 BLTTDS 2015

3 Nếu người kháng cáo vắng mặt tại phiên tòa phúc thẩm thì Hội đồng xét

xử đình chỉ xét xử phúc thẩm.

Nhận định sai

Giải thích: Trường hợp người kháng cáo vắng mặt tại phiên tòa phúc thẩm trong lần triệu tập thứ nhất thì phải hoãn phiên tòa trừ trường hợp họ có đơn đề nghị xét xử vắng mặt thì Tòa án tiến hành phiên tòa phúc thẩm xét xử vắng mặt của họ Trong lần triệu tập thứ 2, Người kháng cáo vắng mặt thì Tòa coi như họ từ bỏ việc kháng cáo và Tòa đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với yêu cầu kháng cáo của người đó trừ trường hợp

họ có đơn đề nghị xét xử vắng mặt thì Tòa án tiến hành phiên tòa phúc thẩm xét xử vắng mặt của họ Còn nếu họ vắng mặt vì sự kiện bất khả kháng thì Tòa án hoãn phiên tòa

Vậy nên nếu người kháng cáo vắng mặt tại phiên tòa phúc thẩm thì chưa chắc HĐXX đình chỉ xét xử phúc thẩm

Cơ sở pháp lý: Khoản 2, 3 Điều 296 BLTTDS 2015

4 Người đại diện theo ủy quyền của đương sự không có quyền kháng cáo thay đương sự.

Nhận định sai

4

Trang 5

Giải thích: Người đại diện theo ủy quyền là người đại diện được xác lập thực hiện theo sự ủy quyền bằng văn bản giữa người được đại diện và người đại diện (Điều

138 BLDS 2015)

Theo Điều 271 BLTTDS 2015 thì:

Người đại diện hợp pháp của đương sự có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm Theo khoản 3 Điều 272 BLTTDS 2015 thì:

“Người kháng cáo quy định tại khoản 2 Điều này nếu không tự mình kháng cáo thì có thể ủy quyền cho người khác đại diện cho mình kháng cáo”.

Nên người đại diện theo ủy quyền của đương sự có quyền kháng cáo thay đương

sự (Phải có văn bản ủy quyền, làm đơn kháng cáo)

Cơ sở pháp lý: Điều 138 BLDS 2015; Điều 271, Điều 272 BLTTDS 2015

5 Tòa án bắt buộc phải chấp nhận mọi sự thay đổi, bổ sung yêu cầu kháng cáo của đương sự.

Nhận định sai

Giải thích: Thẩm phán phải xem xét đảm bảo cho người kháng cáo quyền thay đổi, bổ sung kháng cáo bất kể lúc nào trong giai đoạn phúc thẩm Tuy nhiên, thẩm phán chỉ chấp nhận việc thay đổi, bổ sung kháng cáo vượt quá phạm vi yêu cầu ban đầu nếu chưa hết thời hạn kháng cáo theo quy định tại Điều 273 BLTTDS 2015 Còn trường hợp người kháng cáo thay đổi, bổ sung kháng cáo trước khi bắt đầu phiên tòa hoặc tại phiên tòa phúc thẩm mà vượt quá phạm vi kháng cáo ban đầu nếu thời hạn kháng cáo đã hết thì Tòa án sẽ không chấp nhận

Cơ sở pháp lý: Điều 273; Khoản 1, 2 Điều 284 BLTTDS 2015

PHẦN 2 BÀI TẬP

Tháng 6 năm 2015, ông I Richard Jeffrey đi du lịch tại Việt Nam và có quen, biết với bà Lê Thị T Tháng 6 năm 2016, ông I cho bà T mượn 100.000.000 đồng để bà T

mở Spa cho con gái Trong thời gian quen nhau, bà T hứa sẽ kết hôn với ông I, vào tháng 4 và tháng 5/2016 ông I đã cùng bà T đi mua sắm một số trang thiết bị, vật dụng như máy điều hòa, ti vi, tủ lạnh, nồi cơm điện tại cửa hàng Điện Máy Xanh – thành phố H với số tiền 139.827.000 đồng để lắp đặt tại căn nhà của bà T Khoản chi tiêu mua sắm vật dụng này ông I có hóa đơn chứng từ do cửa hàng Điện Máy Xanh – thành phố H cung cấp Nay, bà T không đồng ý kết hôn Vì vậy, ông I đề nghị Tòa án buộc

bà Lê Thị T trả cho ông I số tiền đã mượn là 100.000.000 đồng và trả lại cho ông I số vật dụng mua sắm giống như ban đầu (mới 100%) hoặc nếu bà T không thể hoàn trả số vật dụng đó thì có thể thanh toán bằng tiền cho ông I đã mua sắm tổng cộng là 139.827.000 đồng Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông I Richard Jeffrey Buộc bà Lê Thị T trả cho ông I Richard Jeffrey số tiền vay là 100.000.000 đồng và hoàn trả cho ông I Richard Jeffreygiá trị tài sản là 78.400.000 đồng

Bị đơn kháng cáo không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, chỉ đồng

ý hoàn trả 100 triệu đồng đã mượn, còn các vật dụng ông I đã sắm bà không đồng ý trả lại vì bà cho rằng ông I đã tặng cho bà Tại phiên tòa phúc thẩm, bị đơn đưa ra ý kiến

bị đơn sẽ trả cho nguyên đơn 150 triệu đồng và yêu cầu nguyên đơn phải rút toàn bộ đơn khởi kiện tại phiên tòa phúc thẩm, không yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp

Trang 6

Nếu anh/chị là nguyên đơn, anh/chị đồng ý với ý kiến của bị đơn không? Tại sao?

Nếu là nguyên đơn, nhóm em không đồng ý với ý kiến của bị đơn vì: rủi ro cho

nguyên đơn Cụ thể:

Thứ nhất, ông I không tặng cho bà số thiết bị mua tại Điện máy xanh và ông có

hóa đơn mua hàng chứng minh mình là người bỏ số tiền đó nên ông có thể đòi lại được

số hàng trên Vì đã qua thời gian sử dụng nên cần định giá lại giá trị số hàng trên nếu

bà T không chịu trả lại cho ông Việc bà T đưa ra số tiền 50 triệu cho số thiết bị này để trả cho ông là không đủ căn cứ

Thứ hai, việc Ông I đồng ý rút đơn khởi kiện tại phiên tòa phúc thẩm theo yêu

cầu bị đơn có thể sẽ thuộc trường hợp tại điểm b khoản 1 Điều 299 BL TTDS 2015 Trường hợp này Tòa sẽ hủy bản án sơ thẩm và đình chỉ giải quyết vụ án

Hậu quả pháp lý: Hội đồng xét xử ra quyết định đình chỉ vụ án và cho phép Ông

I có quyền khởi kiện lại vụ án theo thủ tục của Bộ luật này quy định Tuy nhiên, nếu bà

T trả đủ 150 triệu như đã cam kết thì không phát sinh vấn đề gì nhưng nếu bà T lật lọng không trả thì Ông I có quyền khởi kiện lại theo khoản 2 Điều 299 BL TTDS

2015 Nhưng nếu bấy giờ thời hiệu khởi kiện đã hết thì sẽ rất nhập nhằng vì Tòa án có nhiều quan điểm trong trường hợp này:

Trường hợp 1: nếu Tòa án vẫn tính thời hiệu khởi kiện thì nếu lúc này đã hết thời hiệu khởi kiện thì Ông I phải chịu Nếu Tòa án thụ lý đơn của ông I và bà T có yêu cầu

áp dụng thời hiệu khởi kiện thì Tòa sẽ đình chỉ giải quyết vụ án và ông I sẽ không có quyền khởi kiện lại

Trường hợp 2: nếu Tòa không tính thời gian giải quyết vụ án thì có thể xem đây

là trở ngại khách quan Nhưng ông I vẫn phải tốn công sức để khởi kiện lại để yêu cầu Tòa án trả tiền cho mình

Trường hợp 3: Tùy vào lý do đình chỉ vụ án là gì mà Tòa án sẽ xem xét cho thời hiệu khởi kiện của ông I có được tính hay không

PHẦN 3 PHÂN TÍCH ÁN: Đọc Bản án số: 59/2019/DS-GĐT;

- Tóm tắt tình huống:

Các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Phạm Thị Đ cư trú tại tỉnh Phú Yên

- Bị đơn: Ông Nguyễn X và bà Nguyễn Thị Hồng S cùng cư trú tại tỉnh Phú Yên Vấn đề tranh chấp: tranh chấp về quyền sử dụng đất

Nội dung vụ án: Tòa nhận định rằng:

- Giữa hai nhà nguyên đơn và bị đơn có tranh chấp với nhau về quyền sử dụng đất Việc tranh chấp đất ở nêu trên đã được UBND xã Hòa Xuân giải quyết và ban hành Thông báo về việc giải quyết tranh chấp đất ở ngày 01/7/1991 Sau đó, ông X được UBND huyện Tuy Hoà cấp GCNQSDĐ sử dụng liên tục, ổn định cho đến nay

- Tòa án cấp sơ thẩm nhận định Thông báo về việc giải quyết tranh chấp đất ở ngày 01/7/1991 của UBND xã Hoà Xuân là mang tính chất áp đặt, không có cơ sở pháp lý nên vụ việc chưa được giải quyết nên chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Đ

6

Trang 7

- Tòa án cấp phúc thẩm xác định việc tranh chấp quyền sử dụng đất nêu trên đã được giải quyết tại Thông báo của UBND xã Hòa Xuân và ông X đã được UBND huyện Tuy Hòa cấp GCNQSDĐ từ đó, sửa bản án sơ thẩm, xử không chấp nhận đơn khởi kiện của nguyên đơn; tuyên vợ chồng ông X, bà H được quyền sở hữu phần xây dựng nhà gắn liền với quyền sử dụng đất ở trên

- Thông báo của UBND xã Hòa Xuân ngày 01/7/1991 chứa đựng nội dung của quyết định hành chính; đồng thời văn bản này có hiệu lực kể từ ngày ký Như vậy, việc tranh chấp đất trên đã được cơ quan có thẩm quyền là UBND xã Hòa Xuân giải quyết

Lẽ ra, Tòa án cấp sơ thẩm, phúc thẩm phải đình chỉ giải quyết vụ án dân sự do thuộc trường hợp sự việc đã được giải quyết bằng quyết định đã có hiệu lực của cơ quan nhà nước có thẩm quyền; trả lại đơn khởi kiện, tài liệu chứng cứ kèm theo Mặt khác, việc Tòa án cấp phúc thẩm tuyên cả quyền sở hữu phần xây dựng nhà trên đất nêu trên là vượt quá phạm vi yêu cầu khởi kiện

Hội đồng xét xử xét hủy toàn bộ Bản án dân sự phúc thẩm, bản án dân sự sơ thẩm và đình chỉ giải quyết vụ án dân sự nêu trên

- Xác định vấn đề pháp lý có liên quan:

+ Điều kiện phát sinh thủ tục phúc thẩm vụ án dân sự

+ Thời hạn kháng cáo, kháng nghị bản án sơ thẩm

+ Đối tượng của thủ tục phúc thẩm

+ Phạm vi xét xử phúc thẩm

+ Thông báo về việc giải quyết tranh chấp đất của UBND có được xem là trường hợp sự việc đã được giải quyết bằng quyết định đã có hiệu lực của cơ quan nhà nước có thẩm quyền

+ Trường hợp nào HĐXX phúc thẩm sẽ sửa bản án sơ thẩm và trường hợp nào sẽ hủy bản án sơ thẩm và đình chỉ giải quyết vụ án

+ Trước khi thụ lý vụ án trường hợp nào Thẩm phán sẽ trả lại đơn khởi kiện và hậu quả pháp lý

+ Trường hợp nào đình chỉ giải quyết vụ án theo Điều 217 BLTTDS 2015 và hậu quả pháp lý

- Trả lời các câu hỏi sau:

1 Thủ tục phúc thẩm vụ án dân sự là gì?

Việc giải quyết của Tòa án qua hai giai đoạn từ sơ thấm và phúc thẩm Trong đó thủ tục phúc thấm là thủ tục ảnh hưởng đến quyền, cũng như nghĩa vụ của các bên tham gia trong vụ kiện nhiều nhất Bởi quyết định phúc thẩm đồng nghĩa với việc quyền, nghĩa vụ của các đương sự đã được phân định rạch ròi, có ý nghĩa thực hiện trên thực tế Bản án có hiệu lực pháp luật và có ý nghĩa bắt buộc thực hiện đối với các đối tượng là các chủ thể có liên quan

Theo Điều 242 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, phúc thẩm là việc Tòa án cấp trên trực tiếp xét xử lại vụ án mà bản án quyết định của Tòa án cấp sơ thấm chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo hoặc kháng nghị

Hiểu theo cách hiểu của quy định của pháp luật thì khái niệm phúc thấm cũng bao gôm ba yếu tố hợp thành: Là việc của Tòa án cấp trên trực tiếp, xét lại bản án, quyết định chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo hoặc kháng nghị

Trang 8

Từ khái niệm phúc thấm trên có thể đưa ra khái niệm thủ tục phúc thấm là thủ tục xem xét lại tính hợp pháp, có căn cứ của bản án, quyết định sơ thẩm khi có kháng cáo, kháng nghị

Thủ tục phúc thẩm vụ án dân sự là một giai đoạn tố tụng độc lập, có những tính chất, đối tượng xét xử, có vai trò, ý nghĩa, mục đích riêng, không giống với bất cứ thủ tục xét xử ở giai đoạn nào

2 Phạm vi xét xử phúc thẩm vụ án dân sự?

Khái niệm phạm vi xét xử của tòa án hiện nay chưa được quy định ở trong Luật

tố tụng dân sự Theo nhóm em, “Phạm vi xét xử của tòa án là những nội dung mà Tòa

án được xem xét, giải quyết trên cơ sở yêu cầu của đương sự và tiến hành dựa trên quy định của pháp luật tố tụng dân sự”

Vì trong tố tụng dân sự, tính chất của dân sự là việc tư của đương sự, nên bao giờ luật cũng tôn trọng sự thỏa thuận của các bên Tòa án trong xét xử vụ việc dân sự chỉ

là cơ quan đứng ra giải quyết những mối xung đột, những sự kiện pháp lý mà đương

sự cung cấp Vì vậy, khác với tòa án hình sự là dựa trên cáo trạng của Viện kiểm sát thì trong tố tụng hình sự Tòa án xác định phạm vi xét xử của mình dựa trên cơ sở yêu cầu của đương sự, thể hiện ở hình thức là đơn kiện, đơn yêu cầu

Cơ sở pháp lý quy định về phạm vi xét sử phúc thẩm vụ án dân sự được quy định tại Điều 293 BLTTDS 2015

“Tòa án cấp phúc thẩm chỉ xem xét lại phần của bản án sơ thẩm, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm có kháng cáo, kháng nghị hoặc có liên quan đến việc xem xét nội dung kháng cáo, kháng nghị”

3 Trong tình huống đã cho, việc Tòa án cấp phúc thẩm xác định việc tranh chấp quyền sử dụng đất giữa nguyên đơn bà Đ với bị đơn vợ chồng bà S, ông X

đã được giải quyết tại Thông báo ngày 01/7/1991 của UBND xã Hòa Xuân (cũ) và phía ông X đã được UBND huyện Tuy Hòa (cũ) cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và sử dụng ổn định cho đến nay nhưng lại sửa bản án sơ thẩm, xử không chấp nhận đơn khởi kiện của nguyên đơn có đúng pháp luật hay không? Tại sao?

Hành vi tố tụng của Tòa án cấp phúc thẩm là không đúng quy định

Giải thích:

- Tòa án xác định việc tranh chấp quyền sử dụng đất giữa nguyên đơn với bị đơn

đã được giải quyết tại Thông báo ngày 01/7/1991 của UBND xã Hòa Xuân (cũ) và phía ông X đã được UBND huyện Tuy Hòa (cũ) cấp GCN, đây là căn cứ để trả lại đơn khởi kiện trong giai đoạn khởi kiện – Điểm c khoản 1 Điều 192 BLTTDS 2015 (Vì Tòa Phúc thẩm xác định Thông báo này là quyết định giải quyết tranh chấp)

- Trả lại đơn khởi kiện là một trong những căn cứ để đình chỉ giải quyết vụ án dân sự theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 217 BLTTDS 2015

- Theo quy định tại Điều 308 BLTTDS 2015 về thẩm quyền xét xử của HĐXX Phúc thẩm cho thấy rằng: việc sửa lại bản án sơ thẩm, xử không chấp nhận đơn khởi kiện của nguyên đơn là vượt quá thẩm quyền Cụ thể trong tình huống này, khi xác định tranh chấp đã được giải quyết bằng quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm

8

Trang 9

quyền, có căn cứ trả đơn khởi kiện và đình chỉ vụ án như đã trình bày thì HĐXX Phúc thẩm phải tuyên hủy bản án sơ thẩm và đình chỉ vụ án theo quy định tại Điều 311 BLTTDS 2015

Ngày đăng: 25/08/2022, 11:26

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

  • Đang cập nhật ...

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w