Triết học là một môn khoa học chung nhất, nghiên cứu về các sự vật và hiện tượng của tự nhiên và xã hội, nhằm tìm ra quy luật của các đối tượng nghiên cứu. Mục đích của triết học là giải quyết các vấn đề cơ bản của bản thể luận và nhận thức luận. Triết học Hy Lạp cổ đại là một thời kỳ phát triển rực rỡ của triết học nhân loại với nhiều thành công rực rỡ. Tuy nhiên, bên cạnh những thành công rực rỡ triết học Hy Lạp cổ đại vẫn còn tồn tại nhiều hạn chế. Do đó, để có cái nhìn tổng quát hơn về vấn đề bản thể luận nói chung cũng như đánh giá các mặt tích cực và hạn chế của bản thể luận trong triết học duy vật Hy Lạp cổ đại nói riêng, em xin chọn đề tài “Vấn đề bản thể luận trong Triết học Hy Lạp cổ đại. Những đóng góp và hạn chế”.
Trang 1MỤC LỤC
MỤC LỤC 1
MỞ ĐẦU 2
NỘI DUNG 2
I KHÁI QUÁT CHUNG VỀ BẢN THỂ LUẬN VÀ VẤN ĐỀ BẢN THỂ LUẬN TRONG TRIẾT HỌC HY LẠP CỔ ĐẠI 2
1 Khái niệm bản thể luận 2
2 Hoàn cảnh ra đời và những đặc điểm triết học Hy Lạp cổ đại 3
II QUAN NIỆM VỀ BẢN THỂ LUẬN TRONG TRIẾT HỌC HY LẠP CỔ ĐẠI – NHỮNG ĐÓNG GÓP VÀ HẠN CHẾ 5
1 Bản thể luận trong triết học của trường phái Milê 5
2 Bản thể luận theo quan điểm của Heraclite 7
3 Bản thể luận theo quan điểm của Đêmôcrít 9
4 Bản thể luận theo quan điểm của Platôn 11
5 Bản thể luận theo quan điểm của Arixtốt (384 – 332 TCN) 12
KẾT LUẬN 15
Trang 2MỞ ĐẦU
Triết học là một môn khoa học chung nhất, nghiên cứu về các sự vật và hiện tượng của
tự nhiên và xã hội, nhằm tìm ra quy luật của các đối tượng nghiên cứu Mục đích của triết học là giải quyết các vấn đề cơ bản của bản thể luận và nhận thức luận Triết học
Hy Lạp cổ đại là một thời kỳ phát triển rực rỡ của triết học nhân loại với nhiều thành công rực rỡ Tuy nhiên, bên cạnh những thành công rực rỡ triết học Hy Lạp cổ đại vẫn còn tồn tại nhiều hạn chế Do đó, để có cái nhìn tổng quát hơn về vấn đề bản thể luận nói chung cũng như đánh giá các mặt tích cực và hạn chế của bản thể luận trong triết
học duy vật Hy Lạp cổ đại nói riêng, em xin chọn đề tài “Vấn đề bản thể luận trong Triết học Hy Lạp cổ đại Những đóng góp và hạn chế”
NỘI DUNG
I KHÁI QUÁT CHUNG VỀ BẢN THỂ LUẬN VÀ VẤN ĐỀ BẢN THỂ LUẬN TRONG TRIẾT HỌC HY LẠP CỔ ĐẠI
1 Khái niệm bản thể luận
Thuật ngữ bản thể luận có nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp, nó là sự kết hợp giữa hai từ on (ỹv) - “cái thực tồn”, cái đang tồn tại và logos (ởỹóùũ) - lời lẽ, học thuyết, tạo thành
“học thuyết về tồn tại” Theo nghĩa này, bản thể luận được hiểu là học thuyết triết học
về thực tồn nói chung, hoàn toàn độc lập với các dạng tồn tại cụ thể của nó Trước đây, bản thể luận chưa được sử dụng với tư cách là một khái niệm mà mới chỉ xuất hiện những tư tưởng về nó; chỉ đến thế kỷ XVII, thuật ngữ này mới chính thức xuất hiện và đưa ra những cách hiểu đặc thù về nó Thuật ngữ “bản thể luận” xuất hiện lần đầu tiên trong tác phẩm Bách khoa thư triết học của triết gia R.Goclenius được xuất bản năm
1613 Thuật ngữ này được phổ biến rộng rãi trong triết học sau khi C C.Wolff sử dụng
nó để chỉ một bộ phận căn bản của siêu hình học, bên cạnh vũ trụ luận, tâm lý học và thần học Tuy nhiên tư tưởng về bản thể luận đã xuất hiện và được quan niệm từ thời
kì Hy Lạp cổ đại với thuật ngữ “tồn tại” Khái niệm “tồn tại” lần đầu tiên được triết gia Pácmênít bàn tới Ông cho rằng, bản chất của mọi sự vật trong thế giới là tồn tại, không thể có cái không tồn tại, bởi chúng ta không thể hình dung được cái không tồn tại là cái gì Tồn tại là cái chỉ có thể nhận thức được bằng lý tính Mọi tư duy bao giờ
Trang 3cũng là tư duy về tồn tại Tư duy, do vậy, đồng nhất với tồn tại Bản thể luận trong triết học có thể hiểu là những quan niệm về nguồn gốc của thế giới mà loài người và các sinh vật khác đang sinh sống
2 Hoàn cảnh ra đời và những đặc điểm triết học Hy Lạp cổ đại
a) Điều kiện kinh tế, văn hóa – xã hội của Hy Lạp cổ đại
Hy Lạp cổ đại là một lãnh thổ rộng lớn bao gồm khu vực miền Nam bán đảo Ban-căng (thuộc Châu Âu), nhiều hòn đảo nằm trên biển Êgiê và cả một vùng rộng lớn ở ven biển bán đảo Tiểu Á Yếu tố địa lý tự nhiên này đã tạo điều kiện cơ bản để nền nông nghiệp, thủ công nghiệp, thương nghiệp Hy Lạp cổ đại phát triển từ rất sớm, ngoài ra
Hy lạp cổ đại còn là đầu mối giao thông đường biển quan trọng và thuận lợi với các nước khác trên thế giới Khí hậu ở Hy Lạp quanh năm ấm áp thuận lợi cho du lịch và phát triển kinh tế
Các ngành về khoa học như toán học, vật lý học, thiên văn học trong xã hội Hy Lạp cổ đại phát triển mạnh mẽ gắn liền với tên tuổi các nhà khoa học nổi tiếng như: Talet, Pitago, Ơclit, Ácximet…
Xã hội chiếm hữu nô lệ ở Hy Lạp xuất hiện vào thế kỷ X TCN và phát triển mạnh vào thế kỷ VIII TCN Đến thế kỷ thứ III sau CN, Athen trở thành trung tâm kinh tế của Hy Lạp cổ đại và của Châu Âu với sự phát triển của thương nghiệp, thủ công nghiệp và nông nghiệp
Nhiều công trình nghệ thuật, điêu khắc, hội họa, văn học ( thần thoại Hy Lạp) phát triển đạt trình độ cao, đã biến Athen trở thành trung tâm văn hóa của Hy Lạp cổ đại và cái nôi của triết học Châu Âu
b) Đặc điểm của triết học Hy Lạp cổ đại
Triết học Hy Lạp cổ đại được coi là đỉnh cao của nền văn minh cổ đại và là một trong những điểm xuất phát của lịch sử triết học thế giới Nền triết học này có những đặc điểm sau :
Một là, triết học Hy Lạp cổ đại thể hiện thế giới quan, ý thức hệ và phương pháp luận của giai cấp chủ nô thống trị Nó là công cụ lý luận để giai cấp chủ nô duy trì trật tự xã hội, củng cố vai trò thống trị xã hội
Trang 4Hai là, trong triết học Hy Lạp cổ đại có sự phân chia và đối lập rõ ràng giữa các trào lưu, trường phái duy vật – duy tâm, biện chứng siêu hình, vô thần – hữu thần Trong
đó điển hình là cuộc đấu tranh giữa trào lưu duy vật của Đêmôcrít và trào lưu duy tâm của Planton, giữa trường phái siêu hình của Pácmênít và trường phái biện chứng của Hêraclít,
Ba là, triết học Hy Lạp cổ đại gắn bó mật thiết với khoa học tự nhiên để tổng hợp mọi hiểu biết về các lĩnh vực khác nhau, nhằm xây dựng bức tranh về thế giới như một hình ảnh chỉnh thể thống nhất mọi sự vật, hiện tượng xảy ra trong nó Do trình độ tư duy lý luận còn thấp, nên khoa học tự nhiên chưa đạt tới trình độ mổ xẻ, phân tích tự nhiên để đi sâu vào bản chất sự vật, mà chỉ mới nghiên cứu tự nhiên trong tổng thể, để
có cái nhìn tổng quát về thế giới Vì vậy, các nhà triết học còn đồng thời còn là các nhà khoa học tự nhiên, họ quan sát trực tiếp các hiện tượng tự nhiên, để rút ra những kết luận triết học
Bốn là, triết học Hy Lạp cổ đại đã xây dựng nên phép biện chứng chất phác Các nhà triết học Hy Lạp cổ đại nghiên cứu phép biện chứng để nâng cao nghệ thuật hùng biện,
để bảo vệ quan điểm triết học của mình, để tìm ra chân lý Họ đã phát hiện ra nhiều yếu tố của phép biện chứng, nhưng chưa trình bày thành hệ thống lý luận chặt chẽ Năm là, triết học Hy Lạp coi trọng vấn đề con người Các nhà triết học Hy Lạp cổ đại
đã đưa ra nhiều quan niệm khác nhau về con người, tìm cách lý giải về vấn đề quan hệ giữa linh hồn và thể xác, về đời sống đạo đức – chính trị - xã hội Mặc dù còn nhiều bất đồng, song nhìn chung, các triết gia Hy Lạp đều khẳng định con người là tinh hoa cao quý nhất của tạo hóa
II QUAN NIỆM VỀ BẢN THỂ LUẬN TRONG TRIẾT HỌC HY LẠP CỔ ĐẠI – NHỮNG ĐÓNG GÓP VÀ HẠN CHẾ
1 Bản thể luận trong triết học của trường phái Milê
Trường phái Milê là trường phái của các nhà triết học ở Milê - một địa danh thuộc vùng Iônia, gồm một số nhà triết học tiêu biểu như Talét, Anaximan, Anaximen Là những người thể hiện quan điểm của các tầng lớp tiến bộ trong giai cấp chủ nô, họ có nhiều tư tưởng khác với các quan niệm thần thoại và tôn giáo nguyên thủy thống trị hồi đó Họ tìm cách lý giải các vấn đề về bản chất và khởi nguyên của thế giới dựa trên
Trang 5một số các tri thức khoa học sơ khai có được thời đó, coi toàn bộ thế giới chúng ta như một chỉnh thể thống nhất, sinh ra từ một khởi nguyên duy nhất
Nhìn chung các nhà triết học trường phái Mile có nhiều quan niệm duy vật sơ khai nhưng chất phác Họ coi thế giới như một chỉnh thể thống nhất và tìm cách giải thích bản chất và nguồn gốc của chỉnh thể đó trong một dạng vật chất cụ thể, coi thế giới như sự thống nhất của các sự vật muôn màu muôn vẻ Mặc dù còn ngây thơ, nhưng những quan niệm của họ đặt nền móng cho sự phát triển các tư tưởng duy vật trong triết học sau này
a) Quan niệm của Talet
Người sáng lập trường phái Milê là nhà toán học, nhà thiên văn, nhà triết học đầu tiên của Hy Lạp cổ đại Talet (khoảng 624 - 547 TCN) Talet cho rằng, nguồn gốc của thế giới chúng ta là nước Nước là bản chất chung của tất thảy mọi vật, mọi hiện tượng trong thế giới Mọi cái trên thế gian đều sinh ra từ nước và khi bị phân hủy lại biến thành nước Nước tồn tại vĩnh viễn còn mọi vật do nó tạo nên thì không ngừng biến đổi, sinh ra và chết đi Toàn bộ thế giới là một chỉnh thể thống nhất, tồn tại tựa như một vòng tuần hoàn biến đổi không ngừng mà nước là nền tảng của vòng tuần hoàn đó
Đóng góp: Quan niệm của ông tuy còn thô mạc, nhưng đã có ý nghĩa vô thần, chống
lại thế giới quan tôn giáo đương thời và chứa đựng những yếu tố biện chứng tự phát
Hạn chế: Tuy nhiên, bên cạnh những quan niệm mang tính duy vật sơ khai, thế giới
quan của Talet còn ít nhiều chịu ảnh hưởng của các quan niệm thần thoại và tôn giáo nguyên thủy khi ông cho rằng thế giới chúng ta đầy rẫy các vị thần linh Ông không lý giải được hiện tượng từ tính của nam châm và hổ phách, ông khẳng định chúng có linh hồn Các vị thần linh, trong ý tưởng của ông, là những lực lượng hoạt động trong thế giới làm cho mọi sự vật có thể vận động được và biến đổi được Tiếp cận với quan điểm nhất nguyên trong nhận thức, Talet cho rằng phải quy toàn bộ các tri thức về một nền tảng duy nhất của chúng Từ đó, đặc tính vật lý của nước được nâng lên cấp độ thần linh Thế giới chứa đầy thần linh Nước và tất cả những gì phát sinh từ nước đều
có linh hồn, có thần tính
Trang 6c) Quan niệm của Anaximandre
Anaximandre (khoảng 610 đến 546 TCN) là học trò và người kế tục Talet Khác với Talet, Anaximandre cho rằng, bản nguyên bây giờ không còn là nước, mà là cái có ý nghĩa phổ quát hơn Theo Anaximandre, để truy tìm bản nguyên sâu xa nhất, nguyên nhân của các nguyên nhân, thì không thể dừng lại ở những hành chất cụ thể được Nước, hay một cái gì khác cụ thể, không phải là nguyên nhân, mà là kết quả của một quá trình sinh thành trong vũ trụ Cái xác định là kết quả của những gì chưa xác định
mà thành Nó vô cùng, vô tận, không chịu sự chi phối của những điều kiện không -thời gian, vĩnh viễn, và không xác định được; trong sự tự do đó nó hợp nhất mọi thứ để
tạo nên những cái cụ thể mà ta biết, hoặc cảm nhận Cái không xác định (apâyrôn) của Anaximandre là nỗ lực vươn đến quan điểm thực thể về bản nguyên: vượt qua cái cụ
thể cảm tính để suy tưởng về một căn nguyên có tính trừu tượng Tất cả các đặc tính
của Apâyrôn được quy về một đặc tính chủ yếu là vận động Sự vận động của thực thể
apâyrôn quyết định quá trình hình thành của vũ trụ và con người Khi vận động theo vòng xoáy lốc, apâyrôn tạo nên những cực đối kháng - ẩm và khô, lạnh và nóng Kết hợp theo từng cặp những tính chất ấy sẽ dẫn đến hình thành đất (khô và lạnh), nước (ẩm và lạnh), khí (ẩm và nóng) và lửa (khô và nóng) Từ trung tâm, những kết cấu vật chất dần dần được xác định Dưới tác động của lửa một phần nước bốc hơi, còn đất thì
tụ lại giữa đại dương Trái đất đã hình thành như vậy Bầu trời phân chia ra ba vòng,
do khí bao quanh, tương tự như ba vành bánh xe rỗng, được bơm đầy lửa Vành dưới nhiều lỗ hổng, chứa lửa, là các vì sao Vành giữa một lỗ hổng, là Mặt trăng Vành trên cùng một lỗ hổng, là Mặt trời Theo Anaximandre, sự sống hình thành trước tiên ở đại dương, sau đó tiến dần lên cạn Con người có thể chất yếu đuối nên sinh ra và phát triển trong bụng một loài cá khổng lồ Chỉ khi trưởng thành loài người mới lên đất liền
và sống độc lập
Đóng góp: Phê phán các quan niệm trực quan của thần thoại và tôn giáo nguyên thủy
về thế giới, Anaximandre cho rằng những gì bề ngoài mà thế giới hiện ra trước mắt chúng ta chưa hẳn là bản thân thế giới một cách đích thực Lần đầu tiên trong triết học
cổ đại Hy Lạp, Anaximandre đã cố gắng giải thích thế giới từ nguyên nhân tự thân, gạt
bỏ yếu tố vật linh thuyết, vật hoạt luận, đưa ra tư tưởng biện chứng tự phát về tính phổ
Trang 7biến của vận động, biến đổi, sự thống nhất các mặt đối lập, về quá trình thành sự sống
từ thế giới vô cơ, con người từ loài vật
Hạn chế: Tuy nhiên, cũng như Talét, Anaximandre còn chịu ảnh hưởng của các quan
niệm thần thoại và tôn giáo, khẳng định tồn tại điểm tận cùng giới hạn của thế giới Mọi sự vật theo ông đều sinh ra từ apeirôn và có lỗi lầm với nhau, nhưng lỗi lầm của chúng phá vỡ các chuẩn mực và giới hạn của chúng Mọi cái cuối cùng đều trở thành apeirôn Theo nghĩa này, apeirôn trở thành một cái ít nhiều mang tính thần bí
3 Bản thể luận theo quan điểm của Heraclite
a) Quan niệm của Héraclite (544483)
Héraclite là nhà duy vật, ông đã đứng trên lập trường duy vật cổ đại để giải quyết vấn
đề “cơ sở đầu tiên” của thế giới từ một dạng vật chất cụ thể Theo ông, lửa, chính là bản nguyên của thế giới, là cơ sở làm nên sự thống nhất của thế giới, là cái mà từ đó, mọi thứ sinh ra và trở về Mọi thứ, kể cả linh hồn, đều là biến thái của lửa “Bất cứ sự vật nào cũng có thể biến thành lửa và lửa cũng có thể biến thành sự vật nào, cũng như hàng hoá nào cũng có thể biến thành vàng và vàng cũng có thể biến thành bất cứ hàng hoá nào”
Heraclite coi phương châm nghiên cứu của mình không dừng lại ở sự thông thái, hiểu biết mà quan trọng phải biết được cái logos Logos là một khái niệm nền tảng trong triết học Heraclite, dùng để giải thích bản nguyên lẫn bản tính của thế giới Heraclite cho rằng sự vật biến đổi không hỗn độ, mà nó tuân theo một quy luật tức Logos Một
là, quan niệm về vận động vĩnh viễn của vật chất Hai là, Heraclite nhấn mạnh tính thống nhất và đa dạng của thế giới Nhưng sự thống nhất đó là sự thống nhất của các mặt đối lập - đó là nguồn gốc của sự vận động và phát triển Ba là, sự vật phát triển không ngừng của thế giới do quy luật khách quan (logos)
d) Những đóng góp và hạn chế
Đóng góp: Triết học của ông là triết học duy vật, nêu rõ tính thống nhất của thế giới và
sự vận động vĩnh viễn của vật chất Ông đã đi tìm bản chất của tinh thần không phải là
ở ngoài vật chất mà chính là ở trong thế giới vật chất; giá trị ấy có tính định hướng cho việc tìm bản chất đích thực của đời sống tinh thần Héraclite đã đưa triết học Hy Lạp
cổ đại nói chung và triết học duy vật cổ đại nói riêng tiến lên một bước mới với những
Trang 8quan điểm duy vật và những yếu tố biện chứng Học thuyết của ông sau này đã được các nhà triết học cận đại hiện đại kế thừa Mỗi nhà triết học từ lập trường triết học của mình đã tiếp cận và đánh giá khác nhau về triết học Heraclite Mác và Ăngghen coi ông là đại biểu xuất sắc của phép biện chứng Hy Lạp cổ đại
Hạn chế: Quan niệm của ông không thể tránh khỏi những hạn chế của những nhà triết học thời trước đó là sự ngây thơ, chất phác, cảm tính trong những quan niệm của mình Một hạn chế khác của ông đó là hạn chế sai lầm về mặt chính trị Triết học của ông có tính chất phản dân chủ, thù địch với thần dân đem một thiếu số người mà ông gọi là
“ưu tú” đối lập với quần chúng nhân dân Và ông chủ trương phải dùng chính quyền
để dập tắt nhanh chóng phong trào dân chủ
Tóm lại mặc dù có những sai lầm nhất định nhưng triết học của Heraclite đã đưa triết học duy vật cổ đại lên một bước mới với những quan điểm duy vật và những yếu tố biện chứng Ăngghen viết “Quan niệm về thế giới một cách nguyên thủy, ngây thơ, nhưng căn bản là đúng ấy, là quan niệm của các nhà triết học Hy Lạp cổ đại và người đầu tiên đã diễn đạt được rõ rang quan niệm ấy là Heraclite: mọi vật tồn tại lại không đồng thời tồn tại, vì mọi vật đều trôi đi, mọi vật đều không ngừng thay đổi, mọi vật đều luôn luôn xuất hiện và biến đi.”
4 Bản thể luận theo quan điểm của Đêmôcrít
a) Thuyết nguyên tử của Đêmôcrit
Đêmôcrit (460-370 TCN) là nhà văn, nhà triết học, tâm lý học, toán học,sinh vật học, vật lý học, mỹ học, ngôn ngữ học, âm nhạc và nhà kỹ thuật Đêmôcrít kiên định lập trường duy vật vô thần Ông có quan điểm duy vật khi giải quyết vấn đề cơ bản của triết học
Ông cho rằng, cội nguồn của thế giới là nguyên tử, là vật chất Ông đã phát triển thuyết nguyên tử của Lơxíp – người thầy của ông – lên trình độ mới Theo Đêmôcrít bản nguyên của thế giới gồm hai thứ là nguyên tử và chân không Tất cả mọi vật đều sinh ra từ nguyên tử Nguyên tử (atomon) là vật chất nhỏ nhất, không nhìn thấy được, không phân chia được, không mùi, không vị, không có âm thanh màu sắc, không nóng lên, không lạnh đi, không khô, không ướt, không thể bị hủy hoại và do đó là vĩnh cửu Chúng đồng nhất về chất, chỉ khác nhau về hình thức, trật tự và tư thế (hình thức: A, B; trật tự: 123, 213; tư thế: N – Z M – W…) Tính muôn màu muôn vẻ của sự vật
Trang 9được quyết định bởi hình thức cấu tạo, trật tự sắp xếp và tư thế của các nguyên tử khi kết hợp với nhau Trong “chân không rộng lớn”, trong không gian vô tận của vũ trụ, những nguyên tử tự vận động mãi mãi, “rung chuyển về mọi phía”; chúng xô đẩy lẫn nhau và làm thành một cơn lốc nguyên tử lôi cuốn tất cả những nguyên tử ngày càng tươi mới Vận động không tách rời vật chất, vận động của nguyên tử là tự thân, vĩnh viễn, theo chiều hướng tạo thành những cơn lốc nguyên tử
Đêmôcrít nêu lên ba bước luận chứng để chứng minh nguyên tử và chân không là bản nguyên của thế giới:
Thứ nhất, lấy sự vật có thể cảm giác được làm tiêu chuẩn thì sự vật là có nhiều, vô cùng, vô tận và luôn vận động Xuất phát từ kinh nghiệm thì chúng ta có thể chia tách các vật tồn tại, do đó giữa các vật phải có khoảng không, và vì có khoảng không thì các sự vật mới có thể sinh thành và biến hóa được
Thứ hai, chia tách phải có điều kiện, điều kiện đó chính là chân không Vì nếu không
có chân không thì giữa các vật sẽ không có không gian, nếu không có không gian thì không những sự vật không thể chia tách được mà còn không thể phát triển được Do
đó chân không là tiền đề cho tồn tại và sự vận động của sự vật Tồn tại và chân không
có mối quan hệ mật thiết với nhau, không tách rời nhau Tồn tại giải thích nguyên tắc hiện hữu của sự vật, chân không giải thích tính nguyên tắc đa dạng và vấn đề của sự vật
Thứ ba, nguyên tử là đơn vị nhỏ nhất của tồn tại Không phải vật nào cũng có thể làm bản nguyên được mà bản nguyên phải tồn tại bất sinh bất diệt Mọi sự vật đều có thể chia tách nhưng không mất đi vì tồn tại không thể biến thành phi tồn tại Sự vật có thể chi tách nên nó không thể là bản nguyên, nó phải lấy cái không thể chia tách làm bản nguyên Cái duy nhất không thể chia tách, bất sinh bất diệt chính là nguyên tử, vì vậy, nguyên tử là bản nguyên của thế giới Trong quan niệm về vũ trụ của ông cũng không
có chỗ cho thần thánh Trong đó chỉ có những nguyên tử vận động theo những cơn lốc xoáy Các nguyên tử cùng loại cố kết với nhau làm thành những vòng lớp nguyên tử, càng nặng càng ở gần tâm, càng nhẹ càng ở xa tâm Đất, nước, lửa, không khí lànhững vòng ở trung tâm cơn lốc Từ đó hình thành các hành tinh và trái đất
Đêmôcrit là nhà duy vật lớn nhất thời cổ đại, đã dẫn đầu cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa duy tâm, tôn giáo, xây dựng nên “đường lối Đêmôcrit”
Trang 10e) Những đóng góp và hạn chế
- Đóng góp: Học thuyết nguyên tử của ông là một tiên đoán thiên tài mà cho đến nay
nó vẫn giữ nguyên giá trị, các nhà khoa học hiện đại đã chứng minh một số quan điểm của ông là đúng Ngoài ra quan điểm về nguồn gốc vũ trụ cũng có một số giá trị nhất định Tuy nhiên dưới ánh sáng của khoa học, thì quan niệm của Đêmôcrít là sai lầm, nhưng nó đã góp phần chống lại thế giới tôn giáo, duy tâm đang thống trị thời kì đó Quan điểm về vận động của ông cũng là một phán đoán có giá trị đặc biệt Theo đó ông đã đi tìm nguồn gốc của sự vận động ở trong chính thế giới vật chất Đây là một quan niệm đúng đắn mà sau này các nhà triết học Macxit đã công nhận Đêmôcrit không phủ nhận vai trò của nhận thức cảm tính, tuyệt đối hóa vai trò của lý tính Đây cũng là một quan điểm đúng đắn mà sau này các nhà triết học Macxit cũng công nhận Ngoài ra, các quan điểm của ông còn có vai trò quan trọng trong chủ nghĩa vô thần, đó
là những quan điểm về nguồn gốc, phủ nhận sự tồn tại của thần linh
- Hạn chế: Tuy có nhiều thành tựu rực rỡ, nhưng triết học của Đêmôcrít vẫn có nhiều hạn chế không thể tránh khỏi Triết học của Đêmôcrít vẫn thể hiện tính thô sơ, chất phác, thể hiện tư duy trực quan, cảm tính, thể hiện trong các quan niệm về nguyên tử, linh hồn con người, về nguồn gốc của vũ trụ, về nguồn gốc bản thân con người, thần thánh
5 Bản thể luận theo quan điểm của Platôn
a) Học thuyết về Ý niệm của Platôn
Platôn (427 - 347 TCN) sinh tại Eginơ (Egine) một hòn đảo không xa Aten, trong gia đình thuộc dòng dõi quý tộc Ông là nhà triết học duy tâm khách quan lớn nhất thời cổ;
là học trò của Xôcrát, tham gia tổ chức triết học do Xôcrát cầm đầu, ủng hộ phái chủ
nô quân chủ, chống lại nền dân chủ chủ nô Platôn đã thành lập ở Athen một viện hàn lâm (trường đại học đầu tiên ở châu Âu), một trung tâm triết học duy tâm chống lại triết học duy vật của Đêmôcrit
Về mặt bản thể luận, theo Platôn vũ trụ này có hai thế giới là thế giới ý niệm và thế giới của các sự vật cảm tính (hay cảm biết được bằng giác quan) Trong đó, thế giới các sự vật cảm tính là không chân thực, không đúng đắn vì các sự vật không ngừng sinh ra và mất đi, thay đổi và vận động, không ổn định, bền vững, hoàn thiện; còn thế giới ý niệm là thế giới phi cảm tính phi vật thể, là thế giới đúng đắn, chân thực, các