Phần đánh giá hiện trạng Phần đánh giá hiện trạng ở các đô thị phần d2 còn thiếu một khu vực quan trọng đang gây nhức nhối trong đô thị hiện nay là các khu ngõ ngách hầu hết đã tự phát
Trang 1Những ý kiến đóng góp của các chuyên gia tại Hội thảo góp ý cho đồ án quy hoạch Hà Nội
-1.CÓ TIẾN BỘ NHƯNG CÒN QUÁ NHIỀU TỒN TẠI
KS Trần Ngọc Hùng -Tổng Hội xây dựng Việt Nam
Đồ án quy hoạch chung xây dựng Thủ đô lần này đã nghiên cứu một cách đầy đủ, toàn diện hơn hiện trạng của quá trình xây dựng và phát triển Những vấn đề tồn tại, dự báo phát triển kinh tế trong mối quan hệ phát triển vùng từ đó đề ra được các định hướng phát triển Tuy vậy, theo tôi cần nghiên cứu thêm và làm rõ những vấn đề sau:
1 VỀ ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NHÀ Ở
1.1 Phần đánh giá hiện trạng
Phần đánh giá hiện trạng ở các đô thị (phần d2) còn thiếu một khu vực quan trọng đang gây nhức nhối trong đô thị hiện nay là các khu ngõ ngách hầu hết đã tự phát hình thành trong quá trình phát triển đô thị mà dân số sống ở đó ước tính chiếm tới trên 40% khu đô thị cũ (hầu hết là dân nghèo, thu nhập thấp) đó là các phường mới hình thành từ các làng xóm (Ngọc Hà, Hào Nam, Kim Liên, Văn Chương, Phương Mai, Thượng Đình, Quỳnh Mai …, các vùng ngoài đê Sông Hồng như Phúc Xá, Yên Phụ, Phúc Tân …) gần đây là các phường làng thuộc Quận Long Biên, Cầu Giấy, Thanh Xuân … và sắp tới còn tự phát biết bao nhiêu phường làng ngõ ngách mới nữa mà ở đó xây dựng không theo một quy hoạch nào, ở đó nhiều đường
đi không quá 2m, xe cứu thương, xe cứu hỏa không tới, cụ già không có chỗ dạo, trẻ con không có chỗ chơi, hạ tầng cơ sở cực kỳ thấp kém
Phần đánh giá hiện trạng nhà ở vùng nông thôn: Chưa nêu bật được tình trạng tự phát đô thị hóa rất nhanh, đặc biệt là các làng ven đô dẫn đến nguy cơ hình thành các phườnglàng lộn xộn mà chúng ta gặp phải đang là bài toán khó giải và phải trả một giá rất đắt khi muốn quy hoạch
1.2 Về định hướng phát triển nhà ở và điều kiện sống:
- Thiếu hẳn định hướng cải tạo chỉnh trang đô thị cũ đặc biệt là các khu ngõ ngách Liệu đến năm 2030 xóa bỏ được bao nhiêu khu vực này (?) Đến năm 2050, liệu có xóa bỏ được toàn bộ khu ổ chuột kiểu mới này không ?(Theo kinh nghiệm của Bắc Kinh trừ khu phố
cổ được bảo tồn Các khu vực còn lại đều đập bỏ và xây dựng, chỉnh trang mới đến năm 2020
là hoàn thành việc cải tạo chỉnh trang này?)
- Thiếu hẳn định hướng quy hoạch điểm dân cư nông thôn trong quá trình đô thị hóa Đã có một “Làng kiểu mẫu” nào được xây dựng cho làng nghề, làng “thuần nông”, làng chăn nuôi, … Hiện chưa hình dung định hướng nhà ở nông thôn vào năm 2050 như thế nào? Đặc biệt là định hướng cho dân xây dựng trong quá trình “ đô thị hóa nông thôn” rất lộn xộn đang xẩy ra
2 VỀ ĐỊNH HƯỚNG QUY HOẠCH PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP
Trang 2Theo định hướng đã được đề cập trong mục 8.9 là hợp lý Tuy nhiên trong phần định
hướng cụ thể cần bổ sung:
- Việc xử lý các dự án xây dựng các công trình công nghiệp bám vào các đường quốc
lộ (Đường Láng - Hòa Lạc, quốc lộ 6, 32, 1,5…) đã và đang triển khai trong thời gian qua không phù hợp với định hướng Quy hoạch lần này
- Việc định hướng bắt buộc sử dụng đất cho các công trình công cộng công ích khi didời cụm công nghiệp, các nhà máy, kho tàng (mục 8.5) Đây là vấn đề rất lớn, quan trọng Trong thời gian qua chúng ta đã chất tải lên các khu vực này nhiều công trình lớn làm tắc nghẽn giao thông, gây khó khăn cho công trình hạ tầng cơ sở: Cấp thoát nước, cấp điện, dịch
vụ, điển hình là việc xây dựng các công trình Khách sạn Melia (trên nhà máy thiết bị bưu điện), Khách sạn Hỏa Lò (trên nhà tù Hỏa Lò); Các công trình trên Nhà máy Văn phòng phẩm Hồng Hà, Nhà máy Trần Hưng Đạo, Nhà máy điện Yên Phụ, Nhà máy nước đá và quá trình nàyđang tiến triển rất mạnh trên những khu đất vàng này, lẽ ra tại các khu đất di dời ấy phải dành cho các công trình công cộng công ích (nhất là vườn hoa cây xanh) đang bị dồn nén tỷ lệtrên đầu người ngày càng thấp…
Điều này cũng liên quan đến Quy hoạch cải tạo chỉnh trang đô thị đã nói ở phần 1 - 2trên
3 VỀ ĐỊNH HƯỚNG PHÂN BỔ DÂN CƯ Ở CÁC ĐÔ THỊ
3.1 Đồ án đã đưa ra các định hướng phát triển khu đô thị cũ và phát triển mạnh các
đô thị vệ tinh Tuy nhiên các dự báo này còn thiếu thuyết phục và khả thi do sự thiếu đồng bộ với dự báo phát triển kinh tế
- Người dân ra ở khu đô thị mới mở rộng kèm theo nó là việc làm nếu không sẽ xẩy
ra tình trạng sáng kéo nhau vào lõi trung tâm đô thị cũ làm việc, chiều lại trở về gây lãng phí thời gian, tiền của, gây tắc nghẽn giao thông
- Đối với các khu đô thị vệ tinh mới muốn xây dựng, mở rộng kèm theo nó là công ănviệc làm, các công trình công cộng đồng bộ khác Tuy nhiên trong dự báo định hướng, vấn đề này chưa được đề cập, đánh giá cũng như giải pháp đồng bộ
3.2 Đối với vùng lõi khu đô thị cũ định hướng chưa đưa ra được các giải pháp đảm bảo không tăng mật độ dân số quá cao, trong khi hạ tầng cơ sở, công trình công cộng bị giảm sút một cách nghiêm trọng Theo chúng tôi định hướng phải đưa ra giải pháp:
+ Nghiên cứu việc hạn chế cấp phép, xây dựng các công trình cao tầng, tập trung đông người ở vùng lõi trung tâm thành phố (trong vành đai I) kết hợp bảo tồn phố cổ, di tích lịch sử
+ Tất cả đất của các công trình hành chính, nhà máy, kho tàng… khi di dời ra ngoại
ô đều chuyển thành đất dùng cho công trình công cộng công ích (Đặc biệt ưu tiên công viên, vườn hoa, hồ nước, chỗ dạo của người già, chỗ trẻ em vui chơi)
4 VỀ ĐỊNH HƯỚNG HỆ THỐNG GIAO THÔNG:
Trang 3Đã đề cập khá toàn diện, nhưng vấn đề cấp bách trong đô thị Hà Nội cũ là tình trạng ùn tắc giao thông chưa được đề án đề cập một cách đồng bộ và quyết liệt hơn đặc biệt là biện pháp:
4 1 Giảm lưu lượng xe vào trung tâm: Thông qua hình thức cấm một số tuyến phố chỉ dành cho người đi bộ, giảm bãi đỗ xe, mua phí đi vào trung tâm
4.2 Đẩy mạnh việc xây dựng hệ thống cầu vượt (Đặc biệt cho xe máy, người đi bộ),
hệ thống giao thông công cộng ngầm, trên cao
4.3 Di chuyển các cơ sở hành chính, dịch vụ, trường học, bệnh viện … ra vùng ngoại
ô
5 QUYẾT ĐỊNH ĐỊA ĐIỂM KHU TRUNG TÂM HÀNH CHÍNH QUỐC GIA MỚI
Đây là vấn đề rất quan trọng của Quy hoạch đô thị Thủ đô Hà Nội, Trung tâm hành chính quốc gia chính là trung tâm chính trị của Thủ đô, của đất nước Vì vậy việc xem xét, cân nhắc quyết định vị trí rất quan trọng nhưng trong báo cáo tư vấn lại đề nghị: “Trung tâm hành chính quốc gia, có thể chưa được quyết định ngay trong giai đoạn này và có thể sẽ mất vài chục năm để quyết định trước khi vị trí của khu vực này chuyển sang phía Tây của hành lang xanh” (Trang 5)
Đây là một đề xuất không hợp lý Quy hoạch Trung tâm Hành chính Quốc gia cần phải được khẳng định ngay trong lần quyết định Quy hoạch chung xây dựng Thủ đô lần này nhất là trong đề án đã khẳng định “Trung tâm Hành chính quốc gia là một không gian chức năng quantrọng trong cấu trúc của Thủ đô Hà Nội mở rộng; một không gian hành chính, văn hóa, dịch vụcông cộng hiện đại, có bản sắc tiêu biểu của Việt Nam của Thủ đô Hà Nội thời kỳ đổi mới và phát triển” Vì vậy không thể chờ đợi vài chục năm sau mới quyết định Để có thể quyết định được vấn đề này, đề nghị:
1 Xác định quy mô, tính chất, chức năng: Tính chất, chức năng trong đề xuất của tư vấn là quá rộng: ngoài Trung tâm điều hành của Chính phủ, các Bộ ngành Trung ương, khu vực tập trung các cơ quan đại diện các Tỉnh, Thành phố, khu quảng trường, công viên, vườn hoa, mặt nước lại bao gồm cả các sứ quan (?), đại diện tổ chức quốc tế ở Việt Nam (?)., Khu vực cung cấp các dịch vụ cao cấp cho cán bộ, chuyên gia, quốc tế (?), công trình thương mại dịch vụ công cộng…
Đề nghị cần xem lại tính chất chức năng theo đề xuất của dự án; chính vì đề xuất quy mô, tính chất như vậy nên đã đưa ra tiêu chí diện tích quá lớn 200 ha Điều đặc biệt lưu ý rằng Chính phủ, Bộ ngành Trung ương sắp tới đã bỏ hẳn chức năng Bộ chủ quản chỉ tập trung làm chức năng quản lý nhà nước, Chính phủ của thời kỳ đổi mới là Chính phủ điện tử Vì vậy
bộ máy cơ quan sẽ gọn nhẹ, điều hành chính phủ với các Tỉnh cũng khác (liệu có cần có đại diện của các Tỉnh, đại diện các tổ chức quốc tế, sứ quán ở Trung tâm hành chính Quốc gia?)
Do vậy phải chăng diện tích của khu Trung tâm Hành chính Quốc gia này chỉ cần 50 – 80
ha (Từ đó cũng hết lý do ép buộc đưa Trung tâm Hành chính Quốc gia lên tận Hòa Lạc – Ba Vì).Theo ý kiến của nhiều chuyên gia cần nghiên cứu địa điểm Tây Hồ Tây nằm trong địa giới Hành chính Hà nội cũ mang nhiều ý nghĩa lịch sử quan trọng
Trang 42 Xác định địa điểm Trung tâm Hành chính Quốc gia là việc hệ trọng nên cần phải lấy ý kiến nhân dân, ý kiến chuyên gia, ý kiến các tổ chức chính trị, chính trị xã hội, xã hội nghề nghiệp, cần thiết phải trình Quốc hội, điều đó thực sự là ý Đảng – lòng Dân
6 NHỮNG VẤN ĐỀ LIÊN QUAN ĐẾN MÔI TRƯỜNG SỐNG
6.1 Việc đề xuất vành đai xanh: là ý tưởng tốt nhưng định hướng, giải pháp cụ thể phải là
Lá phổi xanh thực sự của Thủ đô, cần đề xuất giải pháp quyết liệt:
- Cải tạo chỉnh trang, nắn dòng, làm hồ nhân tạo trên các dòng sông
- Phải hy sinh một số đất theo dọc bờ sông trồng rừng thực sự chứ không phải là công nông nghiệp (khoai, lúa cũng tính là vành đai xanh, phải tính diện tích trồng cây xanh như trồng rừng, công viên Bách Thảo nhiều Phải định hướng định lượng tiêu chí trên m2 cây xanh trên đầu người để tăng môi trường sống
6.2 Việc tăng hồ tiêu thuỷ, xử lý nước thải ô nhiễm các dòng sông, chống úng ngập…cần có định hướng và chỉ tiêu cụ thể hơn Trong đó các giải pháp cho các giai đoạn 2030 ,
2050
6.3 Định hướng về tăng các công trình công cộng, công ích mà người dân hưởng thụ không mất tiền: Ngoài các định hướng về du lịch, thể thao, giáo dục cần có các chỉ tiêu cụ thể định hướng đến 2030, 2050 người dân được hưởng các phúc lợi công ích như thế nào (m2 cây xanh, hồ nước/đầu người, m2 công viên vui chơi giải trí (không mất tiền)/đầu người, m2mặt đường/đầu người, m2 sân thể thao cho thiếu nhi (không mất tiền) /đầu người
Từ đó có các giải pháp thực hiện các định hướng trên
-2 KHÔNG ĐỒNG TÌNH VỚI PHƯƠNG ÁN CHUYỂN TRUNG TÂM HÀNH CHÍNH QUỐC GIA VỀ CHÂN NÚI BA VÌ
TS Phạm Sỹ Liêm – Viện nghiên cứu Đô thị và Phát triển Hạ tầng
Ông nhận định bản quy hoạch lần này có ý tưởng rõ ràng, phù hợp với tư duy quy hoạch hiện đại, bao quát những vấn đề của Hà Nội như đô thị nông thôn, vành đai xanh, quy hoạch sông Hồng, bảo tồn bản sắc Hà Nội
Tuy nhiên, bản quy hoạch lại ít chú ý đến sự lệch tâm của đô thị lõi “Ảnh hưởng của
đô thị phải ảnh hưởng đến khu vực xung quanh, nhưng đề án mới nói đến phía Tây, Nam mà không nói nhiều đến phía Bắc, phía Đông – phải chăng do khu vực đó nằm ngoài địa giới hành chính? Nhưng đô thị không chỉ phát triển theo các quyết định hành chính, mà theo quy luật thịtrường Chính vì thế, phải coi trọng cả vai trò của cả Vĩnh Phúc, Bắc Ninh, Hưng Yên trong phát triển chung của Hà Nội”
Liên quan đến việc đặt Trung tâm Hành chính quốc gia, nên đặt trên trục Phạm Văn Đồng – Hồ Tây (khu vực Tây Hồ Tây chứ không nên đưa vào Mễ Trì như ý kiến của Văn phòng Chính phủ) bởi “địa linh” của Hà Nội là ở khu vực Hồ Tây, Hồ Hoàn Kiếm
Trang 5“Càng không nên đưa Trung tâm hành chính quốc gia về Ba Vì, Hoà Lạc Làm thế chẳng khác nào dời đô lần nữa, vì Trung tâm Hành chính quốc gia ở đâu là thủ đô ở đó”, ông Liêm nhấn mạnh.
Thêm nữa, phải có biện pháp huy động đầu tư để xây dựng các dự án, vì trên thực
tế, đa phần các dự án bất động sản là vốn đi vay Nhất định không được tạo thêm các “khu tô giới” nước ngoài ở Việt Nam, sau khi đã có khu của Indonesia (Ciputra) hay sắp có của Hàn Quốc (Splendora) “Ở đâu chưa nói, chứ thủ đô thì không được tạo các khu tô giới như thế”.Khi phát triển trục giao thông phải phá bỏ tình trạng đô thị hoá ở tuyến giao thông Khôngphải tái định cư lại khu vực đó mà là trồng cây vào hai bên đường, chuyển khu vực dân cư đi nơi khác Như thế vừa tạo được vành đai xanh vừa tạo cảnh quan, đảm bảo được nguyên tắc của quy hoạch, chống tái lấn chiếm Rút kinh nghiệm từ việc các dự án mọc lên khắp nơi và
bề nổi của thị trường BĐS làm méo mó tất cả những gì đã tổ chức, làm cho khắp nơi là công trường, là dự án, nhà thấp nhà cao nhan nhản
Tán thành vành đai xanh, thực tế là vành đai nông nghiệp Đồ án này nói ít đến nông nghiệp Làng ven đô, làng nội đô như thế nào, ông đã có bài giới thiệu trên Tạp chí Người Xây dựng Vấn đề là phải giữ cho thu nhập ở khu vực nông nghiệp không quá chênh lệch để tránh việc hành lang xanh bị phá vỡ Đồ án này ít nói đến vùng đã xây dựng Trục tâm linh là trục gì? đã là ý kiến của các nhà phong thuỷ chưa? Mễ Trì, Mỹ Đình đã bao giờ được sử sách coi trọng, đó là vùng không có tên tuổi Đây là một sự áp đặt, thiếu căn cứ khoa học Quy hoạch của ta vạch ra, rồi lại tuỳ ý thay đổi Phải phân kỳ thực hiện Tại sao chỉ quan tâm đến cơ sở
hạ tầng, phải để thị trường điều chỉnh Mỗi giai đoạn phải chỉ rõ làm gì, ở đâu? Sao phải làm gấp gáp đến thế, có nhất thiết là đến ngày kỷ niệm ngàn năm Thăng Long phải phê duyệt đồ
- Cấu trúc của quy hoạch đa cực, đa trung tâm; vậy nó là những cực gì? đa trung tâmthì trung tâm nào là chính, quan hệ giữa chúng không rõ ràng? Chính trị có tách khỏi hành chính không? Trung tâm chính trị vẫn ở Ba Đình còn Trung tâm hành chính ở đâu?
- Vai trò của nông nghiệp là rất lớn, 70% diện tích cho vành đai xanh, vậy vành đai xanh là gì? Các làng nghề vành đai xanh như thế nào? Thành phố sống tốt là thế nào? 40% là nông dân thì sống tốt như thế nào? sẽ gặp rất nhiều thách thức
Trang 6- Đánh giá môi trường còn hời hợt, biến đổi khí hậu toàn cầu ảnh hưởng gì đến Hà Nội, thoát nước sông ra sao khi nước biển dâng, cốt nền nhà, nền đường như thế nào?
- Các thành phố ven sông gắn với quy hoạch này thế nào?
- Về bản sắc văn hoá dân tộc, thời đại Hồ Chí Minh cũng được gần 100 năm vậy thời đại này đang được lưu giữ như thế nào?
- Quan hệ của quy hoạch này với Luật Quy hoạch đã ban hành và Luật Thủ đô sắp ban hành ra sao? nếu không phối hợp sẽ có sự vênh nhau
-4 Quy hoạch chung xây dựng thủ đô Hà Nội có nhiều định
hướng không khả thi
GS.TSKH Phạm Ngọc Đăng-Hội môi trường xây dựng Việt nam
1.Chuyển Trung tâm hành chính quốc gia (HCQG) lên chân núi Ba Vì là vô cùng bất lợi về mọi mặt
a Về mặt lịch sử là thiếu coi trọng giá trị nghìn năm lịch sử Thăng Long - Hà Nội
- Trung tâm hành chính quốc gia là hạt nhân quan trọng nhất của một thành phố Thủ đô Trên thế giới, trong số hơn 200 nước chỉ có 2 nước đặt Trung tâm HCQG ở ngoại ô thành phố thủ đô, đó là Trung tâm HCQG Putrajaya của Malaysia, cách Kuala Lumpur khoảng 30 km, và Trung tâm HCQG Pundang của Hàn Quốc cách Seoul cũng khoảng 30 km, qua thời gian hoạt động thực tế đã chứng tỏ không thành công, không phải là tấm gương cho ta học tập
- Chuyển Trung tâm HCQG (trụ sở chính phủ, các bộ/ngành, các sứ quán, trung tâm hội họp quốc gia và quốc tế, kéo theo sẽ là các trung tâm dịch vụ khác) lên chân núi Ba vì, là không phù hợp với nghìn năm lịch sử của Thủ đô Thăng Long - Hà Nội, là thiếu coi trọng chiếu dời đô của Hoàng đế Lý Công Uẩn, chiếu dời đô của Hoàng đế Lý Công Uẩn thực chất là chiếu dời trụ sở bộ máy đầu não điều hành HCQG từ Hoa Lư ra mảnh đất thiêng Hoàng thành Thăng Long, chứ không phải là di chuyển cả đô thành Hoa Lư ra Thăng Long Nay quy hoạch chuyển
trung tâm HCQG từ Hà Nội lên chân núi Ba Vì, xét cho cùng thì cũng chẳng khác nào là sự
dời đô lần thứ 2.
- Chuyển trung tâm HCQG lên chân núi Ba Vì là sự không kế thừa các quy hoạch Hà Nội trước đây đã được phê duyệt, đặc biệt là trong mấy chục năm gần đây đã xây dựng trung tâm HCQG ở Ba Đình và mở rộng sang khu Mỹ Đình, gắn bó hữu cơ với trung tâm chính trị, lịch sử
và văn hóa Thủ đô Đúng ra là phải mở rộng trung tâm HCQG ở ngay Hà Nội, tại khu đất phía Tây Nam Hồ Tây, đất rất đẹp, điều kiện địa chất - thuỷ văn rất tốt, như là quy hoạch Hà Nội trước đây đã lựa chọn
b Bất lợi về mặt kinh tế, chi phí xây dựng và chi phí hoạt động vô cùng lớn
- Chuyển trung tâm HCQG lên chân núi Ba Vì là chuyển dịch trọng tâm Thủ đô lên phía Tây, xét chung trên phạm vi vùng và quốc gia thì làm sai lệch Thủ đô Hà Nội là trung tâm của
“Hai hành lang, một vành đai kinh tế” quốc gia và quốc tế, quá xa với trục phát triển vùng
Trang 7kinh tế trọng điểm phía Bắc “Hà Nội - Hải Dương - Hải Phòng - Quảng Ninh” và định hướng phát triển kinh tế của thời đại là “Hướng ra biển”; Xét riêng đối với khu vực Thủ đô cũng ngượclại với động lực phát triển KT-XH của Thủ đô: các vùng phát triển công nghiệp chủ yếu ở phía Bắc, phía Đông và 1 phần ở phía Nam, trong khi định hướng phát triển Trung tâm HCQG, Sơn Tây, Hòa Lạc, Xuân Mai lại ở phía Tây.
- Phải xây dựng đường giao thông mới để nối Trung tâm HCQG từ chân núi Ba Vì với Hà Nội, được gọi là trục Thăng Long Trục này không phải là trục đô thị chính của TP Thủ đô, không mang ý nghĩa văn hóa-lịch sử - kinh tế của Thủ đô, mà đoạn đầu nối với đường Hoàng Quốc Việt mở rộng tới 350m, lại đặt đài Độc lập, hai bên hơn ¾ đoạn đường còn lại là đồng ruộng, làng mạc và cây xanh Hoàn toàn không thể ví trục Thăng Long này giống như đại lộ Champs-Elysees ở Paris, đại lộ Washington DC hay đại lộ trước Quảng trường Thiên An Môn ở Bắc Kinh (tất cả các đại lộ này đều ở lõi Thủ đô) như Dự thảo Báo cáo của Chính Phủ trình UB thường vụ Quốc hội viết (trang 9) Theo ước tính đầu tư cho trục đường này phải trên 10 ngàn
tỷ đồng Trong khi đó trục đường này, có chỗ chỉ cách đường Láng - Hòa Lạc đã và đang xây dựng khoảng 3km thì thật là lãng phí kinh tế rất nhiều
- Gây bất ổn định về quy hoạch: quy hoạch xây dựng trụ sở chính phủ, các bộ/ngành, các
sứ quán ở Hà Nội hiện nay chỉ có tính tạm thời đến năm 2030, sau năm 2030 phải thay đổi mục đích sử dụng, còn ngược lại ở đô thị chân núi Ba Vì thì phải quy hoạch dành đất hàng trăm ha đẹp nhất, dự trữ cho xây dựng trung tâm HCQG, phải đầu tư mới tất cả các trụ sở củatrung tâm HCQG sẽ rất tốn kém Tất cả các hoạt động thực hiện quy hoạch xây dựng nêu trên
sẽ phải đầu tư kinh phí khổng lồ, đặc biệt là khi mà chưa rõ có chắc chắn cần dùng đến nó trong tương lai không, sẽ dẫn đến sự lãng phí kinh tế vô cùng lớn
- Trong suốt thời gian hoạt động lâu dài sau này, tổng chi phí xe cộ, thời gian của bản thân Chính phủ, các Bộ, các cơ quan Nhà nước, cơ quan các địa phương, các khách quốc tế và nhân dân giữa TP Hà Nội và Trung tâm HCQG là rất lớn so với giữ nguyên trung tâm HCQG ở
Hà Nội hiện nay
c Về mặt xã hội
Chuyển trung tâm HCQG lên chân núi Ba Vì, sau năm 2030 sẽ gây ra sự xáo trộn hệ thốnggiao thông, thị trường bất động sản, cuộc sống của hàng vạn gia đình, phải di chuyển chỗ ở, chỗ làm việc, hoặc chỗ làm việc và chỗ ở cách nhau quá xa
d Về mặt an ninh quốc phòng
Quy hoạch tập trung các cơ quan đầu não Quốc gia vào một địa điểm hẹp, cách ly với dân
cư (không có nhân dân che chắn, bảo vệ) là điều rất bất lợi về mặt an ninh quốc phòng, các hậu quả bất an ninh chưa thể lường hết được, như là dễ dàng xảy ra kẻ địch bắn tên lửa phá hoại, ném bom, tấn công, khủng bố v.v
e Về điều kiện tự nhiên
Khu vực chân núi Ba Vì chỉ thích hợp là khu vực bảo vệ thiên nhiên, du lịch sinh thái và là vùng tâm linh quan trọng của Hà Nội mở rộng, không phù hợp để xây dựng đô thị trung tâm HCQG Khu vực chân núi Ba Vì là vùng đệm của Vườn Quốc gia Ba vì, là thảm sinh thái thiên
Trang 8nhiên và thảm sinh thái nông nghiệp, rừng đầu nguồn, rất quý giá và rất cần được bảo tồn nguyên vẹn.
2 Quy hoạch thành phố hai bên bờ sông Hồng là mạo hiểm và nhiều rủi ro
Việc chỉnh trị dòng sông Hồng qua khu vực Hà Nội, nạo vét dòng sông, cũng như củng cố
và bê tông hoá hệ thống đê 2 bên bờ sông nhằm đảm bảo an toàn cho TP Hà Nội, tăng lưu lượng giao thông thuỷ và phát triển du lịch trên sông Hồng và sông Đuống là đúng đắn
- Nhưng việc tận dụng dải đất ngoài đê hiện nay để phát triển đô thị, phố hoá bờ sông nhưhai bờ sông Hàn ở Seoul, Hàn Quốc, có thể là việc mạo hiểm, nhiều rủi ro, không kinh tế (chưatính đến phải di chuyển hàng vạn dân đang sống ở đây) Định hướng này càng không phù hợp,sau khi mở rộng Thủ đô Hà Nội, vốn không thiếu quỹ đất để phát triển đô thị ở các vùng an toàn hơn;
- Trong thời kỳ biến đổi khí hậu (BĐKH), chúng ta chưa thể lường hết được hậu quả của biến đổi các điều kiện khí hậu – thuỷ văn của lưu vực sông Hồng, dù đã có các đập thuỷ điện ởphía đầu nguồn, các thiên tai lũ lụt cực đoan, bất thường xẩy ra, đặc biệt là điều kiện địa chất của sông Hồng liên quan đến vết đứt gẫy sâu của sông Hồng với chiều dài 1.500 km từ Vân Nam, Trung Quốc, tới Vịnh Bắc Bộ;
- Bản chất của dòng chảy sông Hồng là không ổn định, lúc lũ lụt nghiêm trọng, lúc cạn kiệtdòng chảy quá mức, mang theo một lượng phù sa rất lớn và tốc độ dòng chảy rất lớn, khiến tình trạng xói lở, bồi lắng, luôn thay đổi, dẫn đến chuyển lạch, chuyển dịch các bãi bồi giữa sông;
- Với trình độ kỹ thuật và điều kiện kinh tế của nước ta hiện nay thì chưa thể làm được việc chỉnh trị dòng sông Hồng ngay;
- Phố hoá hai bờ sông Hồng sẽ làm tăng số lượng dân cư của Nội thành Hà Nội, trái với định hướng giảm dần dân số nội thành
Tất cả các điều kiện kể trên chưa được xem xét cẩn thận trong Đồ án
3 Đến năm 2030 di dời 400 nghìn dân ra khỏi nội thành Hà Nội là duy ý chí
Quy hoạch giảm dân cư ở 4 quận nội thành cũ đến năm 2030 còn 80 vạn người đã được đề
ra trong Quy hoạch Hà Nội năm 1998, nhưng thực tế hiện nay dân số ở 4 quận nội thành cũ
đã tăng lên gần 1,2 triệu người Do đó Quy hoạch này lặp lại chỉ tiêu trên cho thấy càng khó
có tính khả thi;
Rất nhiều công trình cao tầng đồ sộ, các trung tâm dịch vụ, các khách sạn, cửa hàng, các trung tâm thương mại, các chung cư cao tầng, đã được xây chen trong 4 quận nội thành trongthời gian qua, đã đè nặng lên hạ tầng kỹ thuật còn lạc hậu của Hà Nội, là nguyên nhân làm tăng dân số thường trú và làm tăng đột biến số lượng khách vãng lai, là nguyên nhân cơ bản làm tăng ô nhiễm môi trường nước, môi trường không khí và tình trạng căng thẳng về giao thông của Hà Nội
Tỷ lệ số dân trong nội thành cũ hiện sống với điều kiện nhà cửa chật hẹp, thiếu điều kiện
vệ sinh là ít, người có nhu cầu di chuyển ra khỏi 4 quận nội thành cũ chủ yếu chỉ gồm một số gia đình sống ở 36 phố cổ và ở “xóm liều, xóm bụi” Có nghĩa là trong số dân nội thành, số
Trang 9người tự nguyện chuyển ra ngoại thành để có điều kiện sống tốt hơn là rất nhỏ, nếu cưỡng chế
di chuyển nơi cư trú đối với dân cư nội thành để đạt chỉ tiêu di chuyển 400 nghìn dân là không thể được bởi lẽ việc di chuyển chỗ ở có liên quan trực tiếp đến việc làm, kế sinh nhai, liệu di chuyển ra ngoại ô người dân có kiếm được việc làm có thu nhập tương đương với khi họ ở nội
đô không?
Vì vậy, chỉ tiêu di dời 400 nghìn dân ra khỏi nội thành là không khả thi, hậu quả đáng lo lắng là Quy hoạch sẽ không có phương án nâng cấp, cải tạo hệ thống hạ tầng kỹ thuật để bảo đảm nhu cầu hoạt động của 1,2 triệu dân thực tế, mà chỉ đảm bảo phục vụ cho 800.000 dân theo quy hoạch thôi
4 Quy hoạch cải tạo, nâng cấp hệ thống hạ tầng kỹ thuật đô thị TP Hà Nội không đảm bảo TP Thủ đô trở thành Thủ đô “Xanh”
- Về thoát nước mưa và chống úng ngập
Đồ án Quy hoạch viết “ Các lưu vực trong nội đô Hà Nội (lưu vực sông Tô lịch) về cơ bản tuân thủ như quy hoạch đã được duyệt (QH thoát nước do JICA lập)” Thực tế thực hiện quy hoạch thoát nước theo phương án của JICA 15 năm qua chứng tỏ không đạt được mục tiêu, HàNội vẫn bị úng ngập và bị ô nhiễm trầm trọng Quy hoạch Thủ đô Hà Nội cần phải đánh giá lại quy hoạch thoát nước này, tìm đúng nguyên nhân không thành công và đề ra phương án quy hoạch thoát nước mới cho Hà Nội một cách hoàn chỉnh và có hiệu quả thực sự Phải chăng Hà nội trong thời gian qua đã đi ngược lại nguyên tắc thoát nước mưa, cụ thể là đã làm giảm dòngnước thoát, làm giảm sức chứa nước mưa và làm giảm diện tích mặt đất thấm nước của Hà nộiViệc tính toán lưu lượng thoát nước mưa cũng cần xem xét lại, khi mà năm 2008 Trạm bơm Yên Sở không bơm được hết nước úng ngập Theo dự báo của các chuyên gia khí tượng với kịch bản BĐKH trung bình đến năm 2100 ở vùng đồng bằng Bắc Bộ (trong đó có Hà Nội) lượng mưa trong mùa mưa sẽ tăng lên 15,1%, lượng mưa trong mùa khô sẽ giảm đi 6,8% Điều đó có nghĩa là ở vùng Thủ đô Hà Nội úng ngập trong mùa mưa có thể trầm trọng hơn, hạn hán mùa khô có thể gay gắt hơn Quy hoạch cấp nước và thoát nước của Đồ án Quy hoạch Thủ đô dường như chưa tính đến sự biến đổi khí hậu này
- Về xử lý nước thải chống ô nhiễm môi trường
Phương án của JICA trước đây là phân chia nội thành Hà Nội thành 7 khu vực, mỗi khu vực sẽ xây dựng 1 trạm xử lý nước thải lớn tập trung Thực tế đến nay chỉ mới xây dựng được
2 trạm thử nghiệm: trạm xử lý nước thải ở khu vực hồ Trúc Bạch với công suất 2300m3/ngày, rất nhỏ, rất đắt tiền và trạm xử lý nước thải ở Kim Liên (Quận Đống Đa), công suất
3500m3/ngđ Cho đến nay các trạm xử lý nước thải theo phương án của Quy hoạch của JICA vẫn chưa được thực hiện do không tìm ra các khu đất nội đô để xây dựng các trạm xử lý nước lớn này Đấy là chưa kể không dễ dàng thu gom nước thải về các trạm xử lý nước thải tập trung Trong khi đó ở các khu đô thị mới hầu như người ta lại không đầu tư xây dựng các trạm
xử lý nước thải riêng cho mình, tất cả đều chờ dẫn về các trạm xử lý nước thải lớn tập trung, khiến sông hồ Hà Nội ngày càng bị ô nhiễm
Trang 10Vì vậy cần phải đánh giá lại phương án của JICA và nghiên cứu xây dựng quy hoạch thoát nước và xử lý nước thải cho TP Hà Nội phù hợp với tình hình thực tế, không thể giữ nguyên phương án quy hoạch của JICA được.
- Về không gian xanh đô thị
Trong đồ án Quy hoạch Thủ đô có đưa ra mục tiêu tăng diện tích đất cây xanh trong đô thị
từ 2-3 m2/người hiện nay lên 10-15 m2/người chỉ như là khẩu hiệu, không hề có phương án quy hoạch như thế nào để đạt được mục tiêu trên
- Về ô nhiễm giao thông
Một trong các nguyên nhân gây ra tắc nghẽn giao thông, không đạt được mục tiêu “Đườngthông hè thoáng” là nội thành Hà Nội rất thiếu hệ thống giao thông “tĩnh” (các bãi, các trung tâm, các trạm gửi xe, đỗ xe ôtô, xe máy) phân bố hợp lý ở các khu phố Trong đồ án Quy hoạch Thủ đô không hề đưa ra giải pháp quy hoạch nào để giải quyết vấn đề này
5 Quy hoạch Thủ đô Hà Nội còn thiếu tính khả thi
Xét cả về các mặt kinh tế, xã hội và khoa học kỹ thuật, chúng tôi cho rằng Quy hoạch này còn thiếu tính khả thi
- Về kinh tế:
Theo bản tổng hợp khái toán của bản thuyết minh Quy hoạch thì kinh phí chỉ tính đầu tư cho xây dựng hạ tầng kỹ thuật đến năm 2030 đã là khoảng 60 tỷ USD Nếu tính đầy đủ các khoản đầu tư xây dựng đô thị hóa, công nghiệp hóa và hiện đại hóa thủ đô Hà Nội thì vốn đầu
tư phải tới nhiều trăm tỷ USD Thông thường, đối với công trình xây dựng, chi thực tế đều cao hơn dự toán Chúng tôi ước tính chỉ đầu tư cho xây dựng hạ tầng kỹ thuật đến năm 2030 cũngmất khoảng 100 tỷ USD, tức là mỗi năm trung bình phải đầu tư 5 tỷ USD Đầu tư xây dựng hạtầng kỹ thuật đô thị thường là tiền ngân sách, e rằng ngân sách nước ta không thể đáp ứng được Bản thuyết minh có diễn giải kinh phí dựa vào nguồn vốn ODA, FDI, vay tín dụng, trái phiếu chính phủ Suy cho cùng, tất cả các nguồn vốn đó đều là vốn vay Liệu có vay được không, trong khi ai cũng biết, vay nước ngoài thì sẽ bị lệ thuộc về kinh tế và chính trị Mặt khác, đầu tư cho phát triển sản xuất thường có lãi để trả dần, nhưng lợi tức đầu tư cho xây dựng hạ tầng kỹ thuật đô thị không lớn và rất chậm thu hồi so với sản xuất Như vậy nền kinh
tế nước ta có thể sẽ gặp nhiều khó khăn và phát triển sẽ không bền vững
- Về xã hội:
Hiện nay tỷ lệ nông dân chiếm tới 60%, dân số đô thị chỉ chiếm 40% tổng dân số Thủ đô Định hướng quy hoạch đô thị hóa đến năm 2030 dân số của Thủ đô đạt 7,1-7,4 triệu người, trong đó dân đô thị đạt 64%, đến năm 2030 dân số Thủ đô đạt 9-9,2 triệu người, trong đó 68% là dân đô thị Dựa theo các chỉ tiêu trên chúng tôi tính toán được dân số đô thị (phi nôngnghiệp) của Thủ đô đến năm 2020 là 4,6 triệu người, đến năm 2030 là 6,2 triệu người, tức là tăng thêm 3,6 triệu người, gấp 2 lần tổng số dân nội thành Hà Nội hiện nay Như vậy là trong vòng 20 năm Thủ đô Hà nội phải tạo ra việc làm mới, nhà ở và công trình dịch vụ đô thị mới cho 3,6 triệu người Quả thực đây là chỉ tiêu quy hoạch duy ý chí Mặt khác, phải thấy bản chất của quá trình đô thị hóa là biến nông thôn thành đô thị, biến nông dân thành thị dân,
Trang 11nhưng Quy hoạch này chỉ tập trung lấy đất của nông thôn để xây dựng các đô thị mới, xây dựng hệ thống giao thông hiện đại và xây dựng các khu công nghiệp Theo số liệu của đồ án
QH thì đất nông nghiệp của Thủ đô là 189 ngàn ha đến năm 2030 chỉ còn 50 ngàn ha Đất trồng lúa 117 nghìn ha, đến năm 2030 chỉ còn 40 ngàn ha Người nông dân mất đất canh tác, không thể chuyển nghề, không được trở thành thị dân, cuộc sống sẽ gặp nhiều khó khăn, sẽ nảy sinh nhiều vấn đề xã hội nan giải
-Về khoa học kỹ thuật, các bản đồ quy hoạch không gian này phần lớn đều là định
hướng, thiếu bản đồ quy hoạch cụ thể, thiếu cơ sở khoa học về điều kiện tự nhiên, nhất là điềukiện về địa chất, địa mạo, thuỷ văn của vùng thủ đô Hà Nội Vì thế các bản đồ đó chưa thể dùng làm cơ sở để quy hoạch chi tiết áp dụng vào thực tế
Bị chú: Các ý kiến phân tích ở trên là dựa trên Bản thuyết minh trình thẩm định của đồ án
“Quy hoạch chung xây dựng Thủ đô Hà Nội đến năm 2030 và tầm nhìn đến năm 2050” do Bộ Xây dựng trình Chính Phủ tháng 4 năm 2010./
-5 VẪN CÒN NHIỀU ĐIỀU BẤT HỢP LÝ
PGS.TS kiến trúc Huỳnh Đăng Hy
Đặc điểm Thủ đô Hà Nội là một chùm thành phố, gồm đô thị trung tâm Thủ đô và các đô thị thành phần có chức năng, quy mô dân số khác nhau được bố trí trên toàn lãnh thổ Hà Nội với diện tích 3.344,6km2 và tổng dân số hiện đại là 6.450.000 người (quy tròn) Nên công tác Quy hoạch chung Thủ đô Hà Nội gồm 2 phần việc:
- Quy hoạch tổng hợp toàn lãnh thổ thành phố Hà Nội Mục tiêu của công việc này là
sắp xếp lại các động lực phát triển toàn thành phố và từng điểm đô thị (công nghiệp, khoa học, đào tạo, dịch vụ, thương mại, y tế, hợp tác quốc tế, du lịch )
- Việc thứ hai, chính là đề xuất cấu trúc quy hoạch từng điểm đô thị sao cho hiện đại, tạo điều kiện cho dân cư sống tốt, đô thị đẹp – có bản sắc, môi trường được cải thiện, từng đô thị phát triển bền vững
Công việc nghiên cứu của PPJ đã tiến hành rất “bài bản”, công phu, khối lượng công việc to lớn Phương pháp nghiên cứu được thực hiện từng giai đoạn, mỗi giai đoạn đều có Hội thảo lấy ý kiến chuyên gia, các ngành và ý kiến của lãnh đạo Nhà nước Tuy nhiên nhiều ngành, nhiều người đã góp ý, nhưng có lẽ tư vấn cứ tư duy, cứ thể hiện theo kiến thức của mình, có vẻ như không quan tâm đến ý kiến của nhiều chuyên gia đã đóng góp, đã phân vân
để đề nghị giải thích Chính vì vậy đợt này là ý kiến, là kết quả nghiên cứu cuối cùng nhưng các nội dung cơ bản đã được đề xuất trước đây vẫn giữ nguyên, hoặc có vấn đề không đề cập tiếp để khỏi rắc rối như vấn đề sân bay quốc tế thủ đô, vấn đề trung tâm hành chính quốc gia,vấn đề phân bố động lực phát triển thủ đô, vấn đề mạng lưới giao thông Nghiên cứu toàn bộ
Trang 12tài liệu (bản Báo cáo tóm tắt) đồ án quy hoạch chung Thủ đô Hà Nội này ta có thể nhận thấy nhiều bất cập thuộc nhiều vấn đề to lớn, có ý nghĩa ảnh hưởng tới chất lượng đồ án quy hoạch của Thủ đô.
- Trước hết là vấn đề tính quy mô và tốc độ đô thị hoá của thành phố Thủ đô
Dự báo của PPJ chủ yếu dựa vào phương pháp tăng dân số tự phát những năm qua để tính toán cho toàn thành phố rồi phân chia một cách chủ quan cho các đô thị thành phần trong vùng Tốc độ và quy mô dân số cho toàn đô thị là có thể, nhưng đưa vào từng điểm đô thị chưa chắc đã đúng Ví dụ, làm thế nào đô thị Phú Xuyên hiện nay chỉ có 15.400 người (tất cả các thị trấn trong huyện) mà đến năm 2030 Phú Xuyên trở thành thị xã với dân số 250.000
người Tương tự như vậy, Sóc Sơn phát triển từ 4.300 người (2008) lên 300.000 người
(2030); Hoà Lạc từ 10.000 người (2008) lên 650.000 người (2030); Xuân Mai từ 20.000 người(2008) lên 200.000 người (2030); Mê Linh từ 181.000 người lên 600.000 người
Như vậy, tính toán dân số đô thị, tốc độ đô thị hoá cho từng điểm đô thị của Thủ đô cần
được áp dụng thêm phương pháp cân bằng lao động truyền thống, không thể chỉ có một
phương pháp tăng tự nhiên và cơ học theo thống kê
Nhưng, áp dụng phương pháp “Cân bằng lao động” cũng phải hết sức thận trọng,
đặc biệt phải xem xét bố trí các “động lực phát triển đô thị” vào từng đô thị thành phần một cách hợp lý
Dân số đô thị toàn Thủ đô hay từng đô thị thành phần của thủ đô có phát triển nhờ vào sự phát triển các động lực hình thành đô thị, tức là các cơ sở làm việc cho dân cư đô thị (công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ, đào tạo đại học và trung học chuyên nghiệp, khoa học, văn hoá, du lịch )
- Việc bố trí công nghiệp (KCN, CCN, ĐCN) cũng cần phân tích chu đáo, không thể
phân bố điều hoà ở quanh thủ đô theo các hướng Khu vực Thường Tín – Phú Xuyên không nêntập trung bố trí tới 1.500ha đất công nghiệp để chế biến nông sản – thực phẩm, công nghiệp nhẹ, chế biến xuất khẩu Đây là vùng đất lúa, đất bị ngập úng nên dành cho sản xuất nông nghiệp Các loại nhà máy trên đã có hoặc có thể bố trí ở các vùng khác: Hà Nam, Hưng Yên, Hải Dương, Vĩnh Phúc, Bắc Ninh Nguyên liệu nông phẩm do Phú Xuyên sản xuất không thể cung cấp đủ cho 1.500 ha đất công nghiệp để chế biến
- Bố trí Khu công nghiệp cao Hoà Lạc 1.600ha là một sai lầm về địa kinh tế, về nguồn
nhân lực vận hành Nếu trước đây khu công nghiệp cao được bố trí ở Đông Anh hay Mê Linh thì có điều kiện phát triển mạnh, nhanh hơn (ưu thế về giao thông, về hệ thống kỹ thuật hạ tầng, về nguồn nhân lực, về đất đai )
Ngoài việc bố trí các khu công nghiệp cao tập trung mới ở các đô thị, trong đồ án này cần được xem xét các dự án khu công nghiệp mà Hà Tây và Hà Nội đã bố trí trước khi hợp nhất, như 200ha khu công nghiệp Sơn Động ở thành phố Sơn Tây; 1.252ha các khu công
nghiệp ở Chương Mỹ; 500 ha khu công nghiệp ở Đan Phượng; 300ha KCN ở Hoài Đức; 514
ha đất công nghiệp ở Phúc Thọ; 400 ha khu công nghiệp ở Thạch Thất; 1470 ha đất công nghiệp ở Thanh Oai; 1050 ha đất công nghiệp ở Ứng Hoà
Trang 13Để giải quyết sự quá tải về dân số, tại Thủ đô Hà Nội không nên tập trung bố trí thêm tới 8.000-9.000ha đất công nghiệp.
- Về các trường đại học, trung học, chuyên nghiệp cần được nghiên cứu đề xuất cụ thểhơn, không chỉ dừng ở mức chung chung như đồ án, trường nào cần di dời khỏi thành phố Hà Nội trung tâm, bố trí nơi mới ở đâu? Điều kiện để bố trí hợp lý trường đó Các ý kiến đề xuất sắp sếp lại mạng lưới các trường đại học, trung học chuyên nghiệp; số lượng sinh viên tại các khu vực ở mục 8,4 là không có luận cứ Làm thế nào để giảm quy mô đào tạo ở khu vực nội đô
Hà Nội hiện tại từ 66 vạn sinh viên xuống còn 20 vạn sinh viên? Tại Hoà Lạc có trường đại học nào mà phát triển tới 12-15 vạn sinh viên; Sơn Tây có 5 vạn sinh viên; tại sao bố trí 5 vạn sinh viên của các trường đại học Kiến trúc, Xây dựng, Giao thông vào Xuân Mai? Phú Xuyên
2 vạn sinh viên; Chúc Sơn 3 vạn sinh viên?
- Về hình thái chùm đô thị Thủ Đô: Các ý kiến nghiên cứu đề xuất kỳ cuối này có
tốt hơn đó là quan niệm thành phố trung tâm rõ hơn, gồm các quận – huyện ngoại thành của
Hà Nội cũ như Mê Linh, Sóc Sơn, Đông Anh là một thể thống nhất Chùm đô thị Thủ đô còn các đô thị thành phần: Sơn Tây, Hoà Lạc, Xuân Mai, Phú Xuyên và các đô thị huyện, lỵ khác Nhưng đô thị “vệ tinh” Phú Xuyên tới 25-30 vạn dân trên đất nông nghiệp, đất thấp thường bị ngập úng là không hợp lý Đô thị Hoà Lạc cũng quá tải 70-75 vạn dân (thiếu đất); các thị trấnhuyện lỵ thì quá nhỏ (Tây Đằng, Phúc Thọ, Quốc Oai, Chúc Sơn, Kim Bài, Vân Đình )
Hệ thống điểm dân cư nông thôn chưa được PPJ thể hiện rõ nét Đối với các điểm dân cư nông thôn cần được chọn lọc, phải quy mô hoá các làng xã, xoá bỏ các xóm nhỏ lẻ rời rạc Dân cư nông thôn: một phần canh tác ở các cánh đồng kế cận, sản xuất ở các cơ sở công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp trong vùng Đại bộ phận dân cư nông thôn có thể đi làm việc ở các đô thị kế cận, kể cả ở thành phố trung tâm Nghĩa là dân cư nông thôn chỉ có ly nông nhưng không ly hương
Phần mở rộng đô thị trung tâm (phía Nam sông Hồng) về phía Tây từ sông Nhuệ
đến sông Đáy là quá lớn tới 1,3-1,6 triệu dân Vấn đề này cần cân nhắc thận trọng Trên phạm
vi mở rộng đất đai đô thị này chưa được thể hiện rõ các động lực phát triển đô thị, các cơ sở làm việc của dân cư đô thị mở rộng này
- Về ý tưởng hành lang cây xanh ven sông Nhuệ chỉ là lý thuyết Nếu là dải rừng
hiện có (công viên rừng) thì tốt Hoặc biến nó thành công viên thành phố được xây dựng chínhthức thì tồn tại, nếu không chỉ là ý tưởng Trên khu này dân sẽ bán để phát triển nhà ở và các công trình sản xuất khác (vì đất đai là sở hữu tư nhân; thị trường bất động sản được công nhận và khuyến khích): phần đô thị trung tâm mở rộng phía Tây này có thể nghiên cứu gắn với sông Nhuệ Đương nhiên dành đất cho công viên ven sông Nhuệ một cách hợp lý Toàn bộ chỉ tiêu đất đai hành lang xanh này nên được chia đều và bố trí vào giữa các quận mới (hay các khu quy hoạch mới) tạo thành các công viên văn hoá nghỉ ngơi cho các khu quy hoạch Quanh các công viên này bố trí hệ thống công trình dịch vụ, văn hoá, công cộng của quận hoặc thành phố Môi trường sống của mỗi quận mới, mỗi đơn vị quy hoạch được cải thiện thiết thực hơn
Trang 14- Về hệ thống giao thông đường bộ liên hệ các điểm đô thị Thủ đô: Không nhất
thiết hình thành các đường vành đai 4 và 5 Các đường vành đai chỉ nhằm mục đích giảm lượng xe vào khu trung tâm thành phố Phía ngoài đô thị trung tâm nên thể hiện rõ các đường giao thông bên ngoài tốt nhất: từ Bắc đi phía Nam (Vĩnh Yên – Sơn Tây – Xuân Mai; Phúc Yên – Phúc Thọ – Kim Bài – Tây Phủ Lý; Bắc Ninh – Hưng Yên – Nam Định ); Từ phía Đông sang Tây (Phả Lại – Bắc Ninh – Vĩnh Yên; Hải Phòng – Hải Dương – Phú Xuyên – Kim Bôi – Hoà Bình)
- Cần thêm tuyến đường ô tô đối ngoại nối từ Trâu Quỳ đi Thuận Thành – Nam Sách – Kinh Môn – Mạo Khê (Quảng Ninh)
- Về hệ thống trung tâm công cộng thành phố: Nên suy nghĩ việc khai thác
không gian cảnh quan Hồ Tây và các khu vực chung quanh Đồ án đã nêu vấn đề Hồ Tây quá
mờ nhạt, chỉ bảo tồn Đồ án này nên nghiên cứu khả năng cải tạo, khai thác toàn bộ các vùng đất quanh Hồ Tây thành công viên văn hoá nghỉ ngơi chính của thành phổ Bao quanh công viên trung tâm này là bố trí toàn bộ (đại bộ phận) công trình công cộng thành phố Từ trung tâm chính này, các công trình công cộng nên được bố trí tiếp tục theo các nêm cây xanh từ HồTây về các phía Tây, Tây – Nam, Nam, Đông và Đông Bắc Vấn đề trung tâm chính thủ đô nàynên được tham khảo và khai thác ý đồ quy hoạch đã được Chính phủ phê duyệt năm 1981
Các trung tâm chính các quận mới, các khu quy hoạch mới này cũng nên nghiên cứu
bố trí thành đường phố, trung tâm riêng, tốt nhất là bao quanh các công viên trung tâm của quận, các khu quy hoạch Nên khai thác kinh nghiệm truyền thống về khu vực quanh Hồ Gươm của Hà Nội cũ Không nên bố trí các trung tâm của các quận mới, các khu quy hoạch mới chỉ có 2 bên đường phố đối ngoại theo kiểu “phố chợ” ở bản vẽ số 13
- Cần quan tâm bố trí hệ thống công viên các quận mới, các phường mới: Mỗi
quận, mỗi phường phải đủ tiêu chuẩn diện tích theo đầu người để nâng cao tiêu chuẩn cây xanh toàn bộ thành phố Hệ thống cây xanh này cần được thể hiện rõ ở các quận mới từ Cầu Giấy, Từ Liêm, Hoàng Mai, Thanh Xuân, Hà Đông và các quận ở Hà Nội trung tâm mở rộng
- Về hệ thống đường phố của cả thành phố và từng quận mới chưa được PPJ thể
hiện liên thông với nhau, chưa nối trực tiếp từ khu ở đến khu làm việc và các khu vực tập trung đông người vào các ngày lễ hội
Đặc biệt ở các đồ án quy hoạch các đô thị “vệ tinh” thể hiện chưa tốt hệ thống đường phố, quá ngoằn ngoèo Hệ thống đường phố còn sơ lược (Sơn Tây, Hoà Lạc, Xuân Mai, Phú Xuyên,
Mê Linh, Gia Lâm)
- Cấu trúc các đô thị “vệ tinh” còn nhiều bất hợp lý Điển hình là đô thị Phú Xuyên;
đô thị được bố trí cả hai bên trục giao thông quốc gia (đường sắt, đường bộ); gây khó khăn cho đi lại làm việc, tai nạn giao thông Tại sao không bố trí đại bộ phận đô thị ở một bên hành lang giao thông?! Phân khu chức năng cũng không hợp lý: Khu đất ven sông Hồng có cảnh quan, môi trường tốt thì không bố trí khu dân cư đô thị; khu công nghiệp có diện tích tới 500
ha được bố trí phía đông đô thị, đầu hướng gió thịnh hành cả mùa đông và mùa hè sẽ gây ô
Trang 15nhiễm không khí khu đô thị ở phía tây Trung tâm y tế vùng lại được bố trí ở giữa đô thị, cạnh trung tâm đô thị.
Cấu trúc các đô thị “vệ tinh” khác nghiên cứu còn sơ lược
Tóm lại, đồ án quy hoạch chung Thủ đô Hà Nội, được thể hiện ở giai đoạn cuối để gửi
đi thẩm định còn có quá nhiều vấn đề Giá như các vấn đề nêu trên được hội thảo, góp ý trongquá trình nghiên cứu để chỉnh sửa, hoàn thiện thì có tác dụng tích cực hơn Nay được góp ý thì
Trong phần “I PHẦN MỞ ĐẦU”:
Mục “3 Mục tiêu quy hoạch” có đoạn viết “
• Định hướng, thực hiện triển khai các chủ trương chính sách, chiến lược phát triển kinh tế,văn hoá, xã hội, an ninh quốc phòng của Quốc gia & Thủ đô
• Xây dựng mô hình chính quyền đô thị, tự chủ và phân quyền hợp lý cho các đô thị trực thuộc nhằm tạo năng động trong công tác quản lý đô thị và thu hút đầu tư.”
Phải chăng có sự nhầm lẫn trong dịch thuật?
Bởi lẽ hai nội dung này thuộc quyền những cơ quan điều hành xã hội chứ không phải của người làm quy hoạch Người làm quy hoạch chỉ căn cứ vào các định hướng để tạo lập cấu trúc đô thị sao cho đáp ứng các yêu cầu nêu trên của cơ quan điều hành xã hội
Trong phần “II CÁC NỘI DUNG QUY HOẠCH”:
Mục “2.1 Đặc điểm tình hình xây dựng và phát triển Thủ đô Hà Nội”
Sau khi khẳng định “Trong suốt 10 thế kỷ (từ năm 1010-2010) lịch sử hình thành và phát triển của thủ đô Hà Nội gắn liền với quá trình đô thị hoá Khu thành cổ, khu 36 phố phường, khu phố Pháp qua các thời kỳ đều được xác định là trung tâm Hà Nội cổ hay đô thị lõi lịch
Trang 16sử ” Văn bản cũng đã nêu rõ “Giai đoạn từ Hòa bình lập lại đến nay, Hà Nội đã nhiều lần quyhoạch lại thành phố quy hoạch lại thành phố Trong đó Quy hoạch Hà Nội năm 1998 với ý tưởng phát triển hai bờ sông Hồng và hành lang xanh dọc sông Nhuệ là thành phố trung tâm trong chùm đô thị Hà Nội”
Tuy nhiên, khi đề cập “Sau khi sáp nhập mở rộng địa giới hành chính thủ đô Hà Nội, gồm Thành phố Hà Nội cũ với tỉnh Hà Tây cũ, huyện Mê Linh tỉnh Vĩnh Phúc và 4 xã thuộc huyện Lương Sơn tỉnh Hòa Bình với tổng diện tích tự nhiên 3.344,6km2, dân số 6.448.837người (1/4/2009)”, thiết nghĩ, người làm quy hoạch nên nêu rõ những vấn đề cần được lưu ý trong quá trình nghiên cứu quy hoạch, khi có sự kiện sáp nhập này Có như thế mới có thể chỉ ra những căn cứ có sức thuyết phục cho những ý tưởng và giải pháp được đề xuất là phù hợp với nét đặc thù do địa giới hành chính mới hình thành của Thủ đô tạo nên
Theo thiển nghĩ của bản thân, tôi thấy rằng người làm quy hoạch cần chỉ ra rằng “Sau khi sáp nhập mở rộng địa giới hành chính thủ đô Hà Nội ”, đã giải quyết được một vấn đề quan trọng là: Tạo được quỹ đất cho việc phát triển mở rộng Thủ đô mà ít ảnh hưởng tới đất sản xuất nông nghiệp tốt trong vùng
Mặc dù vậy, yếu tố mở rộng địa giới hành chính lớn như vậy đã làm cho một số ý tưởng cóthể rất hợp lý trong các quy hoạch trước đây của thành phố Hà nội (Kể cả quy hoạch đã duyệt năm 1998), nay cũng cần xem xét điều chỉnh, bởi lẽ địa giới hành chính mới đã khác xa so với trước đây
Ngoài ra, yếu tố này còn tạo nên một số vấn đề phức tạp khác trong quá trình nghiên cứu quy hoạch cũng như trong công tác quản lý sau này, đòi hỏi cần được làm rõ (sẽ được đề cập
ở phần sau)
Mục “2.2 Các tồn tại trong xây dựng phát triển đô thị và những vấn đề cần giải quyết trong quy hoạch”, có nêu “ Quá trình triển khai và thực hiện quy hoạch Hà Nội đến nay có nhiều vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu để giải quyết, gồm có 15 điểm chính, đó là:
1 “Chưa hình thành được các trung tâm đô thị có tầm cỡ để tổ chức các sự kiện lớn của đất nước và Thủ đô ”
Nội dung nêu trên có lẽ đã phủ nhận những gì mà chúng ta đã làm được trong các hoạt động quốc tế mấy năm qua của khu trung tâm Mỹ Đình mới xây dựng?
Trong mục “2.3 Những kinh nghiệm quốc tế” có nêu “Quy hoạch chung Hà Nội được nghiên cứu dựa trên các kinh nghiệm quy hoạch và thiết kế của mười sáu thành phố lớn trên
Trang 17thế giới, thuộc các khu vực châu Á, châu Âu, Trung Mỹ, Nam Mỹ và Hoa Kỳ, có các đặc điểm tương đồng với Vùng Thủ đô Hà Nội, là: Bangkok - Thái Lan, Manila – Philippines, Bắc Kinh, Hàng Châu, Nam Kinh, Thượng Hải - Trung Quốc, Kuala Lumpur – Malaysia, Seoul - Hàn Quốc,Barcelona - Tây Ban Nha, Thành phố Mê-hi-cô – Mexico, Brasilia – Brazil, Chicago, New York, Thủ đô Washington - Hoa Kỳ, Luân Đôn – Anh, Paris - Pháp.”
Rất hoan nghênh các đồng nghiệp quốc tế đã vận dụng nhiều kinh nghiệm quy hoạch của
16 thành phố lớn trên thế giới
Tuy nhiên, trong số các thành phố lớn nêu trên, thiết nghĩ có một số thành phố hầu như không có, hoặc có quá ít các “đặc điểm tương đồng” với Hà Nội Thí dụ: Thượng Hải của Trung Quốc có lẽ có nhiều đặc điểm tương đồng với TP Hồ Chí Minh của Việt Nam hơn, Nam Kinh nhiều đặc điểm tương đồng với Huế hơn Còn Hàng Châu, phải chăng đặc điểm tương đồng với
Hà Nội là “Tây Hồ”?
Ngoài ra, là người trong chuyên ngành quy hoạch, chúng tôi cũng mong muốn được biết các đồng nghiệp quốc tế đã vận dụng điểm tương đồng cụ thể nào của Brasilia (thủ đô Brazil) vào đặc điểm tương đồng của Hà nội như thế nào? Qua đó chúng tôi có thể học tập được cách nhìn nhận và đánh giá của các đồng nghiệp; bởi lẽ nhiều nhà quy hoạch trên thế giới đã bàn nhiều về vấn đề quy hoạch của thủ đô này
Mục “2.4 Mối liên hệ vùng” có nêu “ Việc sáp nhập mở rộng địa giới hành chính, mang lại cho Hà Nội một vùng sinh thái rộng lớn, phong phú về tài nguyên văn hóa và cảnh quan Tạo nên những lợi thế cạnh tranh ”
Đúng là “Việc sáp nhập mở rộng địa giới hành chính đã mang lại cho Hà Nội một vùng sinhthái rộng lớn ” như đã nêu trên
Tuy nhiên, nó cũng tạo nên những vấn đề nan giải trong công tác quy hoạch, bởi lẽ việc sáp nhập như vậy tạo nên sự thiên lệch quá lớn của “đô thị lõi” với địa giới hành chính mới hình thành của Thủ đô, trong khi các hoạt động kinh tế - xã hội quan trọng của cả vùng Bắc
bộ, mà “đô thị lõi” Hà Nội là Trung tâm, chủ yếu lại ở phía ngược lại (đó là “Tam giác tăng trưởng Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh” và “Hai hành lang, một vành đai kinh tế”), cũng như trước đây Hà Nội đã từng nêu chủ trương “Hướng ra biển”
Phần nội dung tiếp theo của mục này nêu “ Trong đó, Thủ đô Hà Nội tác động đến vùng bằng việc thể hiện vai trò là đầu tàu Trung tâm tăng trưởng kinh tế, thúc đẩy toàn vùng phát triển thông qua sự mở rộng, lan toả các hoạt động kinh tế, đô thị hóa ra các tỉnh xung quanh thủ đô.”
Trang 18Nhưng trong mục “2.7 Định hướng phát triển không gian vùng Thủ đô:
2.7.1 Thủ đô Hà Nội trong chùm đô thị vùng Thủ đô Hà Nội.”, lại nêu: “Hà Nội là Đô thị hạt nhân - đa chức năng với chức năng hành chính, chính trị quốc gia là nổi bật; Các đô thị đốitrọng là thành phố thủ phủ của các Tỉnh xung quanh Hà Nội; Các đô thị vệ tinh có chức năng riêng biệt hỗ trợ đô thị hạt nhân phát triển tạo thành chùm đô thị vệ tinh xung quanh Đô thị hạt nhân tránh mô hình đô thị phát triển theo dạng lan tỏa và đô thị tập trung phát triển quá mức.”
Như vậy, trong khi khẳng định “Thủ đô Hà Nội tác động đến Vùng bằng việc thể hiện thông qua sự mở rộng, lan toả các hoạt động kinh tế, đô thị hóa ra các tỉnh xung quanh thủ đô.” người làm quy hoạch dự kiến sẽ phải làm gì để “tránh mô hình đô thị phát triển theo dạnglan toả”, trong khi thực tế hiện nay, khả năng nối liền giữa Hà Nội (trước ngày sáp nhập) với Bắc Ninh đang trở thành hiện thực?; rồi còn có xu hướng từ Gia lâm “lan toả” dọc theo đường
5 về phía Trâu Quỳ Theo chúng tôi hiểu, “dạng lan toả” ở đây muốn nói tới hiện tượng mà Jean Gottmann dùng thuật ngữ “Megalopolis” để chỉ hình thái đô thị của các dải Tokyo - Nagoya - Osaka ở Nhật, Boston - Washington ở Mỹ mà giới quy hoạch đã nhiều lần bàn thảo
Về vấn đề này, chúng tôi đã nêu lưu ý của mình đối với thành phố Hà Nội trước đây, trong Hội thảo quốc tế thuộc đề tài “KX 09.05”, năm 2005
Nếu đã có những giải pháp hữu hiệu cho vấn đề này (không phải bằng các biện pháp mang tính “hành chính” không phù hợp với cơ chế thị trường), thì đây sẽ là một kinh nghiệm lớn cho các nhà hoạch định chính sách của nước ta; đồng thời, chúng tôi, những người trong giới quy hoạch cũng mong muốn được tìm hiểu, học tập thực tế về vấn đề này tại Nhật và Mỹ hiện nay được vận dụng vào Hà nội ra sao?
Mặt khác, thiết tưởng cần làm rõ các khái niệm “Đô thị hạt nhân” (nêu trong mục 2.7.1)
và “đô thị lõi lịch sử” (trong mục 2.1) và từ “Hà Nội” trong cụm từ “Hà Nội là đô thị hạt nhân” nêu trên, không rõ người viết muốn chỉ phần Hà Nội cũ trước ngày sáp nhập hay tất cả địa giớiThủ đô Hà Nội hiện nay?
Tiếp theo, mục “2.7.2 Mô hình không gian thủ đô Hà Nội.” nêu rõ
(2) Hình thành hành lang xanh dọc sông Đáy, sông Tích, sông Cà Lồ nhằm phân tách kiểmsoát ngưỡng phát triển của đô thị hạt nhân và các đô thị vệ tinh Hành lang xanh chiếm 68% tổng diện tích đất tự nhiên, có chức năng bảo vệ ”
Về mặt môi trường mà xét, chỉ tiêu này thật là tuyệt vời đối với bất kỳ phương án quy hoạch chung của một thành phố nào, mà “Phương án quy hoạch chung thành phố Hà Nội” này
Trang 19đã xác lập được Chỉ tiêu này vượt trội nhiều lần so với chỉ tiêu về cây xanh của tất cả các phương án quy hoạch chung Hà Nội trước đây
Thực tế hiện nay “hành lang” này về cơ bản vẫn đang “xanh”
Tuy nhiên, mặc dù có chỉ tiêu cây xanh lớn như vậy, nhưng “hành lang xanh” này sẽ góp phần cải thiện điều kiện vi khí hậu đối với “đô thị hạt nhân” (nội thành Hà Nội cũ, trước khi sáp nhập) ra sao là vấn đề mà không chỉ những người làm công tác môi trường sẽ phải băn khoăn
Tóm lại, nhiều vấn đề cần được bàn thảo nêu trên, hầu hết đều xuất phát từ một vấn đề mang tính bao trùm, cần được làm rõ, mà chúng ta có thể nêu tóm lược như sau:
Trước khi sáp nhập, “Thủ đô Hà Nội” chỉ bao gồm “Thành phố Hà Nội”, nên việc lập “Quy hoạch chung Thủ đô Hà Nội” cũng chính là lập “Quy hoạch chung thành phố Hà Nội”
Còn sau khi đã sáp nhập tỉnh Hà Tây, huyện Mê Linh (Vĩnh Phúc) và 4 xã thuộc huyện Lương Sơn (Hoà Bình) với “Thành phố Hà Nội” (trước thời điểm sáp nhập), thành “Thủ đô Hà Nội” hiện nay, thì đơn vị hành chính được gọi là “Thủ đô Hà Nội” lúc này bao gồm một “đô thị hạt nhân”(Xin tạm thời gọi thành phố Hà Nội bằng từ này - có thể chưa thoả đáng) là thành phố Hà Nội trước đây với cả một vùng địa lý gồm các thành phố Sơn Tây, Hà Đông, một số thị trấn và nhiều điểm dân cư nông thôn
Do đó, khái niệm “Thủ đô Hà Nội”, với địa giới hành chính mới được mở rộng, mà chúng ta đang nghiên cứu để làm quy hoạch ở đây, cần phải được thống nhất cả trong các văn bản chính thức, cũng như trong quan niệm cụ thể của xã hội: đó là một “Vùng” hay một “Thành phố”?
Nếu là một vùng, thì ngay từ đầu đề “Quy hoạch chung Thủ đô Hà Nội” đã là không hợp lý.Nhưng nếu là một thành phố để có thể lập quy hoạch chung, thì không chỉ riêng chỉ tiêu cây xanh nêu trên là không phản ánh đúng bản chất vấn đề, mà còn nẩy sinh hàng loạt vấn đề không thể giải quyết nổi
Chính vì vậy, “Thủ đô Hà Nội” với địa giới hành chính đã được mở rộng như hiện nay, thực chất là một vùng, là đơn vị hành chính tương đương cấp tỉnh Do đó, Quy hoạch Thủ đô Hà Nội
là “Quy hoạch vùng”, không thể là “Quy hoạch chung” như đối với một thành phố “Quy hoạch Thủ đô Hà Nội” có lẽ không nên là “Quy hoạch chung” mà sẽ phải là “Quy hoạch vùng Thủ Đô” Bởi lẽ nó có quy mô ngang với một tỉnh lớn về mặt diện tích; đồng thời lại bao gồm một
Trang 20thành phố loại đặc biệt (đô thị hạt nhân), hai thành phố (Hà Đông và Sơn Tây), một số thị trấn và nhiều điểm dân cư nông thôn
Đương nhiên, khi nghiên cứu “Quy hoạch vùng Thủ đô” trong phạm vi địa giới hành chính của Thủ đô như vậy, cần phải nghiên cứu “Vùng ảnh hưởng của Thủ đô”, bao gồm phạm vi địa
lý rộng hơn, với nhiều diểm dân cư đô thị và nông thôn khác có liên quan, ngoài phạm vi hànhchính của Thủ đô; như Bắc Ninh, Hải Dương, Phủ Lý
Cách đặt vấn đề như vậy sẽ thuận lợi cho việc giải quyết thoả đáng những vấn đề dường như chưa rõ ràng hoặc chưa hợp lý nêu trên Đồng thời cũng thuận lợi về mặt quản lý hành chính, cũng như tạo vị thế phát triển cho Thủ đô Hà Nội trong tương lai
(Cũng có lẽ chính vì chưa làm rõ khái niệm và mối quan hệ này, nên vừa qua đã phải quyết định cho (thành phố Sơn Tây vừa được nâng cấp lên “thành phố”, trở lại thành “thị xã”
Đó là điều mà không ai mong muốn
Sự việc như vậy mặc nhiên như một dự báo rằng Thủ đô Hà Nội sau này dù có phát triển đến đâu cũng chỉ là “một thành phố”; trong khi với sự phát triển mạnh mẽ sau này, biết đâu lại chẳng có những tỉnh có nhiều “thành phố”)
Trên đây là một số suy nghĩ cá nhân, sau thời gian theo dõi các tin tức về quy hoạch Hà Nội trên các phương tiện thông tin đại chúng và đặc biệt là tư liệu do Tổng Hội Xây dựng Việt nam cung cấp, tôi xin nêu lên và mong muốn được góp phần mình cùng các đồng nghiệp trướcnhiệm vụ lớn lao này
Từ đó nhiều cuộc hội thảo, tranh luận đã diễn ra sôi nổi nóng ngoài dư luận lan vào cả Nghị trường mà gần đây nhất mới có “bằng chứng” qua trả lời báo chí của ông Lê Quốc Bình Chủ nhiệm UB AN-QP của QH trên VN net tuần trước về Hà Nội mở rộng Và rồi thuê công ty
tư vấn nước ngoài PPJ làm QH cho HN mở rộng vào tháng 1/2009!
Trang 212/ Sau 3 tháng nhập cuộc, ngày 24/4/09 Liên danh PPJ báo cáo Thường trực CP lần thứ nhất.
3/ Ngày 9/7/09 Liên danh báo cáo lần 2 với Lãnh đạo HN thì Trung tâm HCQG được họ đề nghị ở Đông Anh hoặc Thạch Thất!
Chủ tịch HN và Viện trưởng QH HN họ Lã đã đề nghị phải ở Tây Hồ Tây Ông Chủ tịch còn nói nếu TTHCQG ở một khu tách rời HN sẽ là TP chết và trên thế giới ít có Thủ đô nào, ít có QGnào tách TTHCQG khỏi cái Lõi của Đô thị!
4/ Ngày 16-7-09 tại Hội trường Viện KT-QH Bộ XD, Liên danh PPJ vẫn chỉ giới thiệu TTHCQG tại hướng Đông Anh - Thạch Thất
Lần này Viện trưởng Viện KT-QH Bộ XD, sau này là thứ trưởng Bộ XD Nguyễn Đình Toàn còn giải thích thêm PA Thạch Thất cũng có cấu trúc “tựa núi nhìn sông”, đúng với yêu cầu của
dư luận là phải ở nơi “Núi chầu - Sông Tụ“ ! Đó là Núi Tam Đảo và Sông Tích, sông Đáy Cả Hội trường rộ lên sự ngạc nhiên
5/ Ngày 21-8-09 Khi báo cáo thường trực CP, Liên danh tư vấn PPJ đã đưa ra PA thứ 3 ở Láng - Hoà Lạc, nghe nói được nhiều người tán thưởng
Ngày 26-10 09, Ông Chủ tịch HN, một thạc sĩ kinh tế kiêm KTS, phó ban thẩm định QHTĐ,người đã phát biểu chính kiến trên VN net ngày 9-7-09 rằng TTHCQG có thể sẽ ở Phú Diễn hayđâu đó trên trục Hồ Tây - Ba Vì Ông không phủ nhận trục linh mạch quan trọng cho Thủ đô Ông nói Hồ Tây tuy đẹp, nhưng nếu TTHCQG ở đó thì dự án Tây Hồ Tây của Hàn Quốc phải di dời đi chỗ khác mà như thế sẽ rất khó khả thi !
6/ Một tháng sau, ngày 26-11-09 ông Chủ tịch TPHN lại nói TTHCQG sẽ ở Hoà Lạc!
Vậy chỉ mới trong 3 tháng, người đứng đầu TP đã 3 lần thay đổi ý kiến
Nhưng ngay sau đó nghe nói Thủ tướng CP đã phản đối, mà đặt TTHCQG tại vùng Mỹ Đình!
Trong cái ngổn ngang giữa học thuật - thực tiễn xã hội - thực tiễn của hơn nửa thế kỷ làm
và thực hiện quy hoạch (QH) ở xứ Ta, mỗi người có cách tiếp cận với QH ở những góc độ và bình độ khác nhau:
- Từ phương pháp luận làm quy hoạch (của TS Phạm Sỹ Liêm)