1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đề tài:Triết học cổ điển Đức pot

35 1,4K 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Triết học cổ điển Đức
Tác giả Nguyễn Thị Thùy Trang
Người hướng dẫn TS. Trịnh Tiến Thuận
Trường học Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Lịch sử văn minh thế giới
Thể loại Đề tài
Năm xuất bản 2013
Thành phố TP Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 35
Dung lượng 1,55 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Kếthừa và phát huy những tư tưởng thời kỳ Phục Hưng và Cận đại, các nhà triết học cổđiển Đức đã khẳng định con người là chủ thể, là kết quả là sản phẩm của hoạt động tự nó, cho nó vì nó

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH

KHOA LỊCH SỬ - -

Đề tài:

TRIẾT HỌC CỔ ĐIỂN ĐỨC

GVHD: TS Trịnh Tiến ThuậnSVTH: Nguyễn Thị Thùy TrangMSSV: K37.602.104

Lớp: K37_Sử BMôn: Lịch sử văn minh thế giới

TP Hồ Chí Minh tháng 1 năm 2013

Trang 2

MỤC LỤC

Mở đầu 4

I Tiền đề kinh tế chính trị - xã hội, khoa học và một số đặc điểm cơ bản của triết học cổ điển Đức 5

1 Tiền đề kinh tế chính trị - xã hội 5

2 Những đặc điểm cơ bản của triết học cổ điển Đức 5

II Nội dung cơ bản của triết học cổ điển Đức thông qua các tác gia tiêu biểu 8

1 Immanuel Kant (1724 – 1804) 8

a) Vài nét về cuộc đời và triết học của Immanuel Kant 8

b) Những nội dung chính của “Triết học lí luận” 10

2 Johann Gottlieb Fichte (1762-1814) 14

a) Vài nét về Johann Gottlieb Fichte 14

b) Sơ lược về triết học của Johann Gottlieb Fichte 15

3 Friedrich Wilhelm Joseph Schelling (1775 – 1854) 16

a) Vài nét về Friedrich Wilhelm Joseph Schelling 16

b) Sơ lược về triết học của Friedrich Wilhelm Joseph Schelling .16 4 Georg Vinhem Phridich Hegel (1770 – 1831) 17

a) Vài nét về cuộc đời và triết học của Hegel 17

b) Những tác phẩm triết học lớn của Hegel 18

c) Phép biện chứng và những hạn chế trong phép biện chứng của Hegel 25

5 Ludwig Feuerbach (1804 – 1872) 27

Trang 3

a) Vài nét về cuộc đời và triết học của Ludwig Feuerbach 27

b) Chủ nghĩa duy vật nhân bản Ludwig Feuerbach 28

c) Những hạn chế trong triết học của Ludwig Feuerbach 29

III Kết luận 31

Phụ lục 32

Tài liệu tham khảo 35

Trang 4

MỞ ĐẦU

Khái niệm “Triết học cổ điển Đức” dùng để chỉ sự phát triển triết học của nướcĐức ở nửa cuối thế kỷ XVIII và nửa đầu thế kỷ XIX, được mở đầu từ hệ thống triếthọc của Kant (1724 – 1804) trải qua Phíchtơ (1762 – 1814), Schellinh (1775 – 1854)đến triết học duy tâm của Hêghen (1770 – 1831) và triết học duy vật của Feuerbach(1804 – 1872)

Triết học cổ điển Đức là giai đoạn phát triển mới về chất trong lịch sử tư tưởngTây Âu và thế giới cuối thế kỉ XVIII – đầu thế kỉ XIX Đây là đỉnh cao của thời kìtriết học cổ điển phương Tây, đồng thời có ảnh hưởng to lớn tới triết học hiện đại

Triết học cổ điển Đức ra đời và phát triển trong những điều kiện của chế độchuyên chế nhà nước Phổ và nó là sự bảo vệ về mặt tư tưởng cho chế độ đó Thời kìcuối thế kỉ XVIII, cuộc cách mạng Tư sản Pháp (1789) ảnh hưởng mạnh đến nướcPhổ, và Hêghen là một người tán dương cuộc cách mạng đó Đồng thời xã hội Phổ lúcnày với những điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt đã làm nảy sinh hệ tư tưởng có tínhchất tiểu tư sản, thỏa hiệp Tất cả cái đó tạo nên nét riêng của triết học cổ điển Đức

Do điều kiện kinh tế, chính trị và xã hội hết sức đặc biệt của nước Đức cuối thế

kỉ XVIII đầu thế kỉ XIX, triết học cổ điển Đức chứa đựng một nội dung cách mạng,nhưng hình thức của nó thì cực kì “rối rắm” và có tính chất bảo thủ

Trang 5

I Tiền đề kinh tế chính trị - xã hội, khoa học và một số đặc điểm cơ bản của triết học cổ điển đức

1 Tiền đề kinh tế chính trị - xã hội

Đến cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX chủ nghĩa tư bản được thiết lập và pháttriển mạnh mẽ hầu hết ở các nước Tây Âu Thành quả của cuộc cách mạng côngnghiệp đã tạo ra bước nhảy đột biến trong sự phát triển của lực lượng sản xuất, khẳngđịnh tính ưu việt hơn hẳn của chủ nghĩa tư bản so với tất cả các xã hội trước đó Trongkhi đó nước Đức vẫn đang ì ạch trong chế độ phong kiến Xu hướng phát triển theokhuynh hướng tư bản chủ nghĩa đã bị chế độ phong kiến quan liêu chuyên chế cản trở.Nhà nước liên bang chỉ tồn tại trên danh nghĩa, gồm 360 công quốc nhỏ bé làm chođất nước Đức trở thành một quốc gia manh mún, yếu kém về mọi mặt như Ănghen đãgọi nó là “sự cùng khổ Đức” của lịch sử nước Đức Giai cấp Tư sản nằm mơ về cáchmạng tư sản Pháp nhưng lại chưa dám hành động

Cùng với tình hình kinh tế - xã hội ở trong nước sự phát triển của khoa học, đặcbiệt là sự phát triển của khoa học tự nhiên đã đặt ra nhiều vấn đề phải xem xét lại Cácphát minh khoa học đã chứng tỏ rằng phương pháp tư duy siêu hình, tư biện không thểpát hiện ra bản chất của sự vật, hiện tượng trong giới tự nhiên và thực tiễn trong xãhội đang diễn ra ngày càng phong phú phức tạp

Thực tiễn và nhu cầu phát triển tư duy lý luận đòi hỏi và đã tạo tiền đề, điềukiện cho sự xuất hiện của một nền triết học mới–Triết học cổ điển Đức

2 Những đặc điểm cơ bản của triết học cổ điển Đức

Triết học cổ điển Đức là thế giới quan và ý thức hệ của giai cấp Tư sản Đứccuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX Như tình trạng nước Đức lúc bấy giờ trong tư

Trang 6

tưởng và hệ thống của các triết gia Đức có tính hai mặt Do các nhà triết học phần lớnxuất thân từ tầng lớp xã hội thượng lưu, gắn bó mật thết phong trào quý tộc về lợi íchkinh tế, địa vị chính trị, vì thế một mặt họ mong muốn thống nhất đất nước, phồnvinh, nhưng một mặt họ sợ sức mạnh của quần chúng lao động mà thoả hiệp với cácquý tộc phong kiến dẫn đến tư tưởng bảo thủ, cải lương về mặt chính trị - xã hội, mâuthuẫn với tính cách mạng và tính khoa học.

Triết học cổ điển Đức đặc biệt đề cao vai trò, vị trí tích cực của con người Kếthừa và phát huy những tư tưởng thời kỳ Phục Hưng và Cận đại, các nhà triết học cổđiển Đức đã khẳng định con người là chủ thể, là kết quả là sản phẩm của hoạt động tự

nó, cho nó vì nó cho nên thực tiễn cao hơn lý luận, lịch sử chỉ là phương thức tồn tạicủa con người, cá nhân có thể làm chủ được vận mệnh của mình và cao hơn là tưtưởng con người trong bản chất xã hội Như vậy triết học cổ điển Đức đã làm mộtbước rẽ trong việc hình thành, phát triển của triết học Nếu như trước đây triết họcphương Tây lấy những vấn đề nhận thức luận, bản thể luận…làm nền tảng, thì trongbối cảnh đầy sự biến động cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX con người lại trở thànhxuất phát điểm của mọi vấn đề triết học Tuy vậy trước sự phát triển mạnh mẽ củakhoa học và ảnh hưởng to lớn của nó đến đời sống kinh tế - văn hoá – xã hội đã đưađến quan niệm sùng bái và tuyệt đối hoá vai trò của lý tính, của tư duy Biến tư duycủa con người thành một thực thể độc lập đối với đời sống thực của nó, thực thể tinhthần tối cao làm căn nguyên để giải thích cho tất cả mọi cái, mọi hiện tượng đang hiệntồn

Trong triết học cổ điển Đức thực tiễn và khoa học đã đặt ra yêu cầu là cần phải

có phương pháp tư duy để phản ánh chân thực về tồn tại mà lại thể hiện được tinh thầncách mạng của thời đại Các nhà triết học cổ điển Đức đã tiếp thu những tư tưởng biệnchứng trong di sản triết học truyền thống để xây dựng nên phép biện chứng của mình.Lần đầu tiên phép biện chứng tồn tại là một phương pháp nhận thức có tính đồng kết,được biểu hiện chặt chẽ qua hệ thống các khái niệm phạm trù Mặc dù là phép biện

Trang 7

chứng duy tâm những vẫn được các nhà sáng lập ra chủ nghĩa Mác – Lênin đánh giácao Đó là một trong những cơ sở lý luận được triết học Mác đề ra.

Trên đây là những đăc điểm cơ bản của triết học cổ điển Đức Luận điểm củaMác coi những đặc điểm của triết học cổ điển Đức là “ lý luận của ngưòi Đức về cáchmạng tư sản Pháp” một mặt cho thấy đặc điểm riêng của triết học cổ điển Đức so vớitriết học Pháp thế kỷ XVIII, dù giữa chúng có sự kế thừa to lớn ; mặt khác khẳng địnhgiá trị tư tưởng vĩ đại của triết học cổ điển Đức

Trang 8

II Nội dung cơ bản của triết học cổ điển Đức thông qua các tác gia tiêu biểu

1 Immanuel Kant (1724 – 1804)

a) Vài nét về cuộc đời và triết học của Immanuel Kant

Imanuel Kant (1724- 1804) được mọi người biết đến là người sáng lập ra nềntriết học cổ điển Đức; là một trong những nhà tiết học vĩ đại nhất của lịch sử tư tưởngphương Tây trước Mác Triết học của ông là “nền tảng và điểm xuất phát của triết họcĐức hiện đại, những hạn chế trong triết học của ông không làm lu mờ công lao đó củaKant”

Kant sinh năm 1724 ở Kênisbec Năm 1745 ông tốt nghiệp đại học tổng hợpKênisbec và trở thành một gia sư Năm 1755 ông là giáo sư và từ năm 1770 là giáo sưcủa trường đại học Kênisbec Là một trong những học giả uyên bác nhất đương thời,ông giảng dạy về nhiều lĩnh vực: siêu hình học, logic học và toán học, cơ học, địa chấthọc…

Trong suốt cuộc đời 80 năm của mình, ông đã sản sinh ra hàng loạt các tác phẩm

nổi tiếng để đời như : Phê phán lý tính thuần túy (1781); Mở đầu khoa siêu hình học

tương lai (1783); Các nguyên tắc của siêu hình học về đạo đức (1785) Phê phán lý tính thực tiễn (1788); Phê phán năng lực phán đoán (1790); Nhân học (1798)…

Sự phát triển về tư tưởng triết học của Kant được phân làm 2 thời kỳ: thời kỳ tiềnphê phán (trước 1770) và thời kỳ phê phán (sau 1770)

 Thời kỳ tiền phê phán:

Thời kỳ đầu các tác phẩm chủ yếu của Kant viết về triết học tự nhiên, chẳng hạn

như tác phẩm Lịch sử tự nhiên đại cương và học thuyết về bầu trời viết năm 1755 ông

đưa ra giả thuyết giải thích nguồn gốc sự hình thành của vũ trụ Trong các tác phẩmtriết học của thời kỳ tiền phê phán lúc đầu Kant chịu ảnh hưởng của chủ nghĩa duy lý

Trang 9

của Lépnít và Vônphơ nhưng về sau trong các tác phẩm Về những sai lầm tinh tế của

bốn loại hình tam đoạn luận (Xuất bản 1762) và trong Kinh nghiệm của việc dựa vào triết học khái niệm các đại lượng phủ định (Xuất bản 1763) thì Kant đi tìm hạn chế

của chủ nghĩa duy lý và logic Với ảnh hưởng của Hium, Kant ngày càng xa rời cáchnhìn suy lý và logic Đó chính là xuất phát cho sự chuyển biến từ các tác phẩm thời kỳtiền phê phán sang các tác phẩm thời kỳ phê phán

 Triết học thời kỳ phê phán:

Do chịu ảnh hưởng của các biến đổi ở Pháp và Tây âu trước cách mạng tư sản

1789 và đặc biệt là ảnh hưởng của Hium, thế giới quan của Kant đã biến đổi Ông đặtnhiệm vụ nghiên cứu toàn bộ các vấn đề triết học từ trước tới nay, trên tinh thần phêphán như quan niệm về con người, về lý tính về khả năng nhận thức của con người, vềhành vi đạo đức, về trách nhiệm và hạnh phúc của con người Theo Kant khoa học vềcon người chưa được chú trọng nghiên cứu và phát triển đúng mức, chưa hướng vàoviệc giải quyết những vấn đề của cuộc sống và hoạt động thực tiễn cho con người cócách nhìn về bản thân và về thế giới từ đó vạch ra những nguyên tắc cơ bản cho hoạtđộng sống của con người vì những lý tưởng nhân đạo, đạo đức, tự do, xứng với nhân

vị cuả con người Hệ thống triết học của ông được thể hiện qua bộ 3 tác phẩm “phê

phán” nổi tiếng của ông Trong Phê phán lý tính thuần túy, ông trình bày nhận thức

luận Ngoài ra nhận thức luận còn được trình bày một các phổ cập hơn trong cuốn

Tiểu luận về mọi siêu hình học tương lai có quyền được tự coi là khoa học(1783).

Luân lý học của ông được trình bày trong cuốn Phê phán lý tính thực tiễn (1788) Cuốn Phê phán năng lực phán đoán (1790) dành chủ yếu cho những vấn đề mỹ học

và cả vấn đề về tính có mục đích trong thế giới hữu cơ

Theo Kant các triết gia từ xưa tới nay hình như quên mất vấn đề quan trọng làcon người Vì vậy Kant đặt nhiệm vụ hàng đầu cho mình là phải xác định bản chất củacon người, toàn bộ các vấn đề của triết học phải được hướng vào việc giải quyếtnhững vấn đề của cuộc sống và hoạt động thực tiễn của con người Triết học phải đem

Trang 10

lại cho con người một cơ sở và nền tảng thế giới quan mới, vạch ra những nguyên tắc

cơ bản của cuộc sống của con người vì những lý tưởng nhân đạo Để làm được điều

đó thì triết học phải lý giải các vấn đề : Tôi có thể biết được cái gì?, Tôi cần phải làmgì?, Tôi có thể hy vọng cái gì?, Con người là gì?

Bước ngoặt trong sự phát triển triết học của Kant là cuộc gặp gỡ của ông vớithuyết duy nghiệm của Hume Ông nói: tôi công khai thú nhận, gợi ý của David Humechính là điều lần đầu tiên đã đánh thức tôi ra khỏi giấc ngủ giáo điều nhiều năm vềtrước và đã vạch ra một hướng đi mới cho các tra cứu của tôi trong lĩnh vực tư duytriết học” Kant từ chối theo con đường của Hume không chỉ vì nó có thể dẫn ông tớichủ nghĩa hoài nghi mà còn vì ông cảm thấy rằng mặc dù Hume đã đi đúng đườngnhưng không hoàn thành nhiệm vụ giải thích làm thế nào đạt được tri thức Vì vậy,Kant đã tìm cách xây dựng trên điều mà ông nghĩ là có giá trị cả trong chủ nghĩa duy

lý lẫn trong chủ nghĩa duy nghiệm, và bác bỏ điều gì không thể bảo vệ trong hệ thốngnày Ông bắt đầu một đường lối mới mà ông gọi là “triết học phê phán”

Triết học phê phán của Kant chủ yếu phân tích khả năng của lý trí con người,được ông hiểu là “ một sự truy tìm phê phán khả năng của lý trí liên quan tới mọi nhậnthức mà nó có thể cố gắng đạt tới một cách độc lập với mọi kinh nghiệm” Đường lốicủa triết học phê phán của ông đặt ra là “năng lực hiểu biết và lý trí có thể biết những

gì và bao nhiêu mà không cần kinh nghiệm?” chính vì vậy mà triết học lý luận củaKant chủ yếu đề cập tới nhận thức luận và logic học với mục đích xây dựng một nềntảng thế giới quan mới cho con người nhằm giải đáp cho câu hỏi “ con người có thểbiết được cái gì?”

b) Những nội dung chính của “Triết học lí luận”

Triết học lý luận là một trong ba bộ phận cơ bản của triết học Kant, nó giảiquyết một trong ba vấn đề lớn được đặt ra trong hệ thống triết học của ông Bộ phận

Trang 11

này được ông trình bày một cách chi tiết và toàn diện trong tác phẩm “ Phê phán lýtính thuần tuý” được ông viết vào năm 1781 Tác phẩm này đã vạch ra giới hạn cho lýtrí con người trong hoạt động nhận thức và nó chính là lời giải đáp cho một trong bacâu hỏi lớn mà Kant đã đặt ra trong hệ thống triết học của mình: Với tư cách là conngười, tôi có thể biết gì? Câu hỏi này được trả lời trong “Triết học lý luận” Ở đây,ông xác định những điều kiện và giới hạn nhận thức của con người, vạch ra rằng conngười có tri thức về cái gì? Giới hạn của chúng ra sao, do đó địa vị con người đượcxác định trong hoạt động nhận thức như thế nào?

Trong hệ thống triết học của mình, Kant còn đặt ra hai câu hỏi lớn khác nằmtrong hai bộ phận còn lại: với tư cách là con người, tôi cần phải làm gì?, được trả lờitrong “ triết học thực tiễn”; với tư cách là con người, tôi có thể hy vọng gì?, được trảlời trong “triết học thẫm mỹ” và “ Mục đích luận”

Kant được coi là người đầu tiên trong lịch sử loài người đã đứng ra nghiên cứu

về khả năng cũng như giới hạn của tri thức con người Ông phân biệt thế nào là trithức và thế nào là suy tưởng Ông cũng là người phân biệt hai loại tri thức của conngười: tri thức thường nghiệm (tri thức kinh nghiệm cảm tính) và tri thức thực nghiệm(tri thức khoa học) Kant cho rằng mỗi tri thức bao giờ cũng là một thể thống nhất củaquan niệm và cảm giác; trong đó quan niệm là khuôn hình hay hình thức của tri thức,còn cảm giác là vật liệu hay chất thể của tri thức Thiếu cảm giác, những quan niệmcủa ta chỉ là những khuôn hình trống rỗng, không phải là tri thức; thiếu quan niệm thìnhững cảm giác của ta sẽ chỉ là những cảm giác mù, tức cảm giác mà không biết làcảm giác gì

Khi giải quyết vấn đề khả năng tri thức của con người, Kant đã bắt đầu từ chổphân biệt thế nào là tri thức khoa học và thế nào là tri thức kinh nghiệm cảm tính.Kant viết: “tất cả mọi tri thức của ta bắt đầu từ kinh nghiệm nhưng nói như thếkhông có nghĩa là tri thức của ta hoàn toàn do kinh nghiệm đâu, vì trong tri thức của tacòn có phần trí năng không lệ thuộc vào kinh nghiệm” Như vậy, giữa hai loại tri thức

Trang 12

trên có một sự khác biệt lớn; một bên hoàn toàn thụ động nhưng bê kia lại rất năngđộng và luôn tìm kiếm những phương pháp mới.

Khi nói về tri thức kinh nghiệm cảm tính, ông cho rằng, kinh nghiệm cho ta biết

sự vật thế này hay thế khác, nhưng không thể cho ta biết sự vật có thể là thế khácchăng Do đó, tri thức kinh nghiệm cảm tính luôn có tính chất vụn vặt, lẽ tẻ và bó hẹpvào từng sự kiện mà ta đã kinh nghiệm Trái lại, tri thức khoa học vượt tới mức phổquát và tất yếu, bao trùm lên tất cả mọi trường hợp có thể xãy ra giống như vậy, đóchính là trí năng của con người, Kant gọi loại tri thức này là tri thức tiên thiên Kantviết: “ tính chất tất yếu và tính chất phổ quát thực sự là những dấu hiệu chắc chắn củamột tri thức tiên thiên và hai tính chất này không khi nào lìa nhau” Từ quan niệm vềtri thức nêu trên, Kant đã phê phán nghiêm khắc những quan niệm của các triết giaduy cảm và duy lý

Như vậy, có thể thấy ở học thuyết của Kant, tri thức được cấu tạo bởi hai yếu tốkhông thể thiếu: quan niệm và cảm giác, không có yếu tố nào được coi là cần thiếthoặc quan trọng hơn yếu tố kia Trên cơ sở đó ông đã dùng phương pháp phê bình đểchứng minh sự khác biệt hoàn toàn giữa hai loại tri thức trên Từ đó, ông đi đếnkhẳng định chỉ có tri thức khoa học mới có thể vạch ra được quy luật của thế giới hiệntượng

Kant xác định đối tượng của “ triết học lý luận” không phải là bản thân thế giới

tự nhiên như nó tồn tại, mà là hoạt động nhận thức của con người, là nghiên cứunhững điều kiện và năng lực chủ thể của nhận thức Phù hợp với đối tượng đó thìnhiệm vụ của triết học lý luận là vạch ra xem khoa học sản sinh ra tri thức như thế nào

và từ đó xác định bản chất của con người trong lĩnh vực sinh hoạt tri thức

Để giải quyết các vấn đề đó, Kant đã chỉ ra đối tượng nhận thức của con người

là thế giới, nhưng bản thân thế giới này được Kant chia làm hai, thế giới hiện tượng vàthế giới “ vật tự nó”; trong đó thế giới hiện tượng là sản phẩm của sự tác động của thếgiới “ vật tự nó” vào chủ thể, còn thế giới “ vật tự nó” là thế giới của những gì tồn tại

Trang 13

do bản thân nó hay nó là nguyên nhân tồn tại của nó, nói cách khác đây là thế giới tồntại khách quan đối với con người Thế giới hiện tượng mang tính hữu hạn vì những sựvật của nó tồn tại trong không gian và thời gian, hơn nữa chúng có không gian và thờigian, do đó nó là cái tạm thời Còn thế giới “ vật tự nó” là cái vô hạn, vĩnh viễn vì nótồn tại ngoài không gian và thời gian, nó không có không gian và thời gian Nếu thếgiới hiện tượng tồn tại tuân theo quy luật, tất yếu thì thế giới “ vật tự nó” tồn tại khôngtuân theo quy luật, tất yếu hay nói cách khác nó không bị chi phối bởi quy luật, tấtyếu Nếu thế giới hiện tượng mang tính nhân quả thì thế giới “ vật tự nó” tồn tại ngoàiliên hệ nhân quả Từ đó Kant nhận xét, thế giới hiện tượng là thường nghiệm, là thếgiới của những cái tương đối, còn thế giới “ vật tự nó” là siêu nghiệm, nó là thế giớicủa những cái tuyệt đối.

Khi bàn về quá trình nhận thức của con người, Kant cho rằng con người ta nhậnthức và từ đó có tri thức bởi một năng lực tiên thiên mà ông gọi là lý tính lý luận (hay

lý tính tiên thiên, lý tính thuần tuý) Ông coi lý tính là một năng lực tinh thần có sẵn ởcon người từ đầu ngay khi mới sinh ra và có như nhau ở tất thảy mọi người Ông gọitính chất ấy là tiên thiên Lý tính lý luận trong hoạt động nhận thức của con người có

ba cấp độ: cảm năng, trí năng và lý năng Mặc dù đối tượng nhận thức là thế giới nóichung nhưng ba cấp độ này có chức năng khác nhau và tương ứng với chúng có bahọc thuyết nghiên cứu về những khả năng nhận thức của con người Như vậy “ triếthọc lý luận” của Kant không phải nghiên cứu giới tự nhiên mà là nghiên cứu hoạtđộng nhận thức của con người với mục đích là xác lập các quy luật, giới hạn của lýtính con người

Kant là một trong những nhà triết học vĩ đại nhất của triết học cổ điển Đức Hệthống của ông có ảnh hưởng đối với sự ra đời của triết học Mác, tạo nguồn cảm hứngmạnh mẽ cho nhiều khuynh hướng triết học Phương tây hiện đại Kant thực sự đã tạo

ra một bước ngoặt trong lịch sử triết học, đúng như ông muốn rằng cần phải làm một

“cuộc cách mạng Côpecníc” cho triết học.

Trang 14

Khi xác định nhiệm vụ của “Triết học lý luận” là vạch ra xem khoa học sản sinh

ra tri thức như thế nào, Kant đã chỉ ra đối tượng nhận thức của con người là thế giới

và bản thân thế giới này được Kant chia thành hai, thế giới “vật tự nó” mang tính siêunghiệm và thế giới hiện tượng có tính thường nghiệm Từ đó, Kant đi vào nghiên cứuquá trình nhận thức của con người và ông cho rằng trong hoạt động nhận thức, conngười có được tri thức bởi một năng lực tiên thiên là lý tính lý luận với các cấp độ:cảm năng, trí năng và lý năng; và ông đi sâu phân tích cơ cấu bên trong của mỗi cấp

độ để vạch ra công cụ và kết quả của quá trình nhận thức Đó là cái nhìn xuyên suốtcủa Kant trong tiến trình triển khai “triết học lý luận” của mình; bao gồm trong đó sựxuất hiện lập trường duy tâm, nhị nguyên luận, bất khả tri cũng như những cống hiếntích cực và hạn chế lịch sử của ông Mặc dù có những hạn chế nhất định, song chừng

ấy cũng đủ để thấy rằng, Kant là một nhà triết học vĩ đại của nền triết học cổ điển Đứcnói riêng và lịch sử triết học nhân loại nói chung Ông có nhiều đóng góp lớn lao cho

sự phát triển lịch sử tư tưởng nhân loại, trong đó “triết học lý luận” là một trongnhững hạt nhân cơ bản đã thể hiện rõ những cống hiến ấy

2 Johann Gottlieb Fichte (1762-1814)

a) Vài nét về Johann Gottlieb Fichte

Fichte (19/5/1762–27/1/1814) là một triết gia người Đức Ông là một trongnhững nhân vật sáng lập của phong trào triết học được biết dưới tên chủ nghĩa duytâm Đức, vốn phát triển trừ những bài viết về triết lý và đạo đức của Immanuel Kant.Fichte thường được xem là một nhân vật người mà triết học của ông đã bắc cây cầugiữa các tư tưởng của Kant với nhà duy tâm Đức Georg Wilhelm Friedrich Hegel.Gần đây, nhiều nhà triết học và học giả bắt đầu đánh giá như một nhà triết học quantrọng tự thân do những tầm nhìn độc đáo của ông vào bản chất của sự tự nhận thức

Trang 15

hay tự ý thức Giống Descartes và Kant đi trước, ông được thúc đẩy bởi vấn đề tínhchủ quan và nhận thức Fichte cũng viết các tác phẩm về triết học chính trị và đượccoi là một trong những người hình thành nên chủ nghĩa dân tộc Đức.

b) Sơ lược về triết học của Johann Gottlieb Fichte

Fichte phê phán nhị nguyên luận của Kant, và ông đã phát triển nó sang khuynhhướng duy tâm chủ quan Xuất phát điểm của Fichte chính là khái niệm cái tôi củacon người, cái tôi của ông là lý tính và cũng là ý chí, là nhận thức và cũng là hànhđộng

Từ cái tôi Fichte hình thành 3 nguyên lý dẫn luận sau đây:

Thứ nhất cái tôi thiết định “cái tôi” Cái tôi là cái tôi thuần tuý cái tôi tuyệt đối,cái tôi tự sản sinh “ là một hệ thống kín mít và hoàn chỉnh, nó hoàn toàn giống nhau ởtất cả mọi người” Đó chính là hình ảnh con người lý tưởng “Cái tôi” là cái tôi kinhnghiệm cái tôi hữu hạn, cái tương đối được sinh ra từ cái tôi

Thứ hai cái tôi thiết định cái – không – tôi Ở đây cái – không - tôi đó chính làthế giới, và thế giới này do cái tôi mãi mãi sinh ra và làm phong phú thêm

Thứ ba cái tôi thiết định “cái tôi” và cái–không–tôi

Fichte giải quyết mối quan hệ giữa chủ thể và khách thể trên lập trường chủnghĩa duy tâm Do đó ông không giải quyết được mối quan hệ giữa con người với conngười và con người với tự nhiên

Những quan điểm của Phich-tơ về xã hội có những điểm tiến bộ, phản ánh đượcnguyện vọng của một bộ phận dân cư đông đảo trong xã hội lúc bấy giờ Theo ông xãhội là một thức cộng đồng có tính mục đích để đảm bảo tự do và hoàn thiện con người

Trang 16

Về cuối đời Fichte chuyển dần sàng lập trường duy tâm khách quan và ông coicái tuyệt đối chỉ là tồn tại thuần tuý, hay ý thức thuần tuý vượt ra khỏi phạm vi ý thức

cá nhân

3 Friedrich Wilhelm Joseph Schelling (1775 – 1854)

a) Vài nét về Friedrich Wilhelm Joseph Schelling

Schelling là nhà triết học duy tâm khách quan, là một trong những người sánglập ra trường phái văn nghệ lãng mạng ở Châu Âu và Đức Sự thống nhất tuyệt đốigiữa tồn tại và tư duy, giữa vật chất và tinh thần, giữa khách thể và chủ thể chính làxuất phát điểm cũng như nền tảng triết học của ông, do đó triết học của ông được gọi

là triết học đồng nhất

“Sự đồng nhất tuyệt đối” được Schelling gọi là cái tuyệt đối Cái tuyệt đốikhông phải là cái ở giữa vật chất và tinh thần mà chỉ là trạng thái đặc biệt, trạng thái

vô ý thức của tinh thần thế giới Schelling giải thích sự vận động của giới tự nhiên, và

sự chuyển hoá của ý thức từ chủ thể lại trở thành khách thể thông qua cái tuyệt đối và

sự vận động nội tại của cái tuyệt đối đó

b) Sơ lược về triết học của Friedrich Wilhelm Joseph Schelling

Schelling từ lập trường duy tâm khách quan, đã chứng minh rằng cái tuyệt đối

là đấng sáng tạo tối cao Tuy nhiên thì trong quá trình lý giải về sự vận động phát triểncủa giới tự nhiên ông cũng đã đề cập đến những quan niệm biện chứng, và chúngđược xem như đóng góp của ông vào việc định hình phép biện chứng Đó là những tưtưởng về mối liên hệ phổ biến, về sự thống nhất và sự phát triển

Trang 17

Bên cạnh đó thì những tư tưởng triết học nghệ thuật của Schelling cũng đónggóp rất nhiều cho sự ra đời của trường phái văn nghệ lãng mạn ở Đức cũng như chotriết học nghệ thuật sau này Trong ba cái nghệ thuật, triết học và khoa học thì nghệthuật chính là hình thức thể hiện cao nhất của cái tuyệt đối Nghệ thuật của ông làcông cụ để giải thích cho tự nhiên chứ không phải là cái phản ánh tự nhiên.

Từ năm 1816 thế giới quan của Schelling ngày càng ngả sang lập trường tôngiáo với quan niệm coi tự nhiên là sản phẩm của sáng toạ của Chúa, cái tuyệt đối trởthành Chúa người ta gọi ông ở giai đoạn này là “ một kẻ lãng mạn đáng buồn, sống

mà cũng như chết” Tuy nhiên những tư tưởng triết học của ông được phổ biến và cóảnh hưởng rộng rãi ở Đức và nhiều nước Châu Âu

4 Georg Vinhem Phridich Hegel (1770 – 1831)

a) Vài nét về cuộc đời và triết học của Hegel

Gioócgiơ Vinhem Phriđrích Hêghen là nhà biện chứng lỗi lạc bậc tiền bối củatriết học Mác xít Theo nhận xét của Ph Ăngghen, ông “không chỉ là một nhà thiên tàisáng tạo, mà còn là một nhà bác học có tri thức bách khoa, nên những phát biểu củaông tạo thành thời đại”

G.V.Ph Hêgghen sinh năm 1770 trong một gia đình quan chức cao cấp ởStútga thuộc Đức, sau đó theo học khoa triết học và thần học ở đại học tổng hợpTubingen Thời trẻ, ông chủ yếu quan tâm nghiên cứu các vấn đề lịch sử, pháp quyền

và tôn giáo Những năm 1800 – 1803, Hêghen làm quen và kết bạn với Senlinh Từđây, ông bắt đầu chủ yếu say mê các vấn đề triết học Ông mất năm 1831 vì bệnh tả.Các tác phẩm lớn của Hêghen:

- Hiện tượng học tinh thần (1807)

- Khoa học lôgíc (1812 – 1814)

Ngày đăng: 06/03/2014, 03:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w