1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

tiền đề và đặc điểm triết học cổ điển đức

15 1,2K 6

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 15
Dung lượng 49,45 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

tiền đề và đặc điểm triết học cổ điển đức

Trang 1

LỜI MỞ ĐẦU

Triết học là môn khoa học ra đời sớm nhất trong lịch sử, khi xã hội phân chia thành giai cấp, chế độ chiếm hữu nô lệ ra đời và phát triển đã có triết học Sự phát triển của triết học là cả một quá trình kế thừa và chọn lọc các quan điểm tư tưởng của nhân loại Hệ thống sau phát triển và kế thừa dựa trên thành tựu của hệ thống trước đó Tuy nhiên, sự phát triển của triết học trước đó thường ít được xem xét một cách có hệ thống mà chủ yếu chỉ là sự tổng kết chủ quan, có tính phê phán của trường phái triết học này đối với trường phái triết học khác Tới khi chủ nghĩa Mác ra đời, triết học mới thực

sự trở thành một khoa học Triết học Macxit là hệ thống triết học cách mạng

và khoa học, là thế giới quan và phương pháp luận khoa học nhằm đánh giá, xem xét các hệ thống, trào lưu triết học song chính nó lại được phát triển trên cơ sở kế thừa những tinh hoa triết học, văn hóa của nhân loại Do

đó, để nắm bắt được và hiểu biết sâu sắc triết học Macxit thì chúng ta không thể bỏ qua giai đoạn triết học trước đó - triết học thời kỳ trước Mác.

Những chuyển biến mạnh mẽ của đời sống kinh tế- xã hội đòi hỏi các môn khoa học xã hội và nhân văn nói chung, triết học nói riêng phải tự nhận thức lại mình để tiếp tục phát triển Sự nhận thức bắt đầu từ việc nghiên cứu không chỉ những tác phẩm của các nhà sáng lập ra triết học Macxit mà cả những tác phẩm triết học của nhân loại đã được triết học Mac kế thừa, trong

đó có triết học cổ điển Đức Tìm hiểu khái quát đặc điểm của triết học cổ điển Đức là nền móng cho sự tìm hiểu triết học Mac sau này

Bài viết gồm hai chương:

1 Chương I Khái quát tiền đề và đặc điểm của triết học cổ điển Đức

2 Chương II Các nhà triết học cổ điến Đức tiêu biểu

Do điều kiện về thời gian, các kiến thức trong bài viết mới chỉ dựa trên

cơ sở thu thập tài liệu để phân tích và làm rõ chủ đề Vì vậy, tôi mong muốn nhận được những ý kiến đóng góp của các thầy cô hướng dẫn và bạn bè để bài viết trở nên hoàn thiện hơn

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Trang 2

MỤC LỤC

CHƯƠNG I.

KHÁI QUÁT TIỀN ĐỀ VÀ ĐẶC ĐIỂM TRIẾT

HỌC CỔ ĐIỂN ĐỨC

1.1 Tiền đề xuất hiện triết học cổ điển Đức.

Vào cuối thế kỷ XVIII, Tây Âu đã đạt được những thành tựu kinh tế- xã hội mới, khẳng định phương thức sản xuất TBCN( tư bản chủ nghĩa), đưa giai cấp tư sản lên địa vị thống trị Các cuộc cách mạng xã hội thế kỷ XVII- XVIII

mở đường cho sự phát triển các tư tưởng xã hội tiến bộ, tiêu biểu là cuộc cách mạng tư sản Pháp (1789- 1794)

Cách mạng công nghiệp Anh khẳng định sức mạnh của con người trong nhận thức thế giới, cùng với cách mạng tư sản Pháp thể hiện khả năng cải tạo thế giới, làm rung chuyển cả châu Âu, đánh dấu sự mở đầu của cách mạng công nghiệp

Hai cuộc cách mạng tiêu biểu đó ảnh hướng rộng lớn đến phong trào giải phóng ở các nước châu Âu chống lại chủ nghĩa phong kiến, phát triển hệ tư tưởng tư sản- hệ tư tưởng mới và tiến bộ trong lịch sử Các nhà tư tưởng tư sản đòi hỏi phải trả lại cho con người những quyền mà hệ tư tưởng phong kiến đang phủ nhận: các quyền tự do, bình đẳng, quyền sở hữu riêng của mỗi

cá nhân và quyền mưu cầu hạnh phúc Hệ tư tưởng tư sản tuyên bố: con người

là thực thể tối cao, con người phải vươn tới trí tuệ và tự do, phải thực hiện tiến bộ xã hội và hạnh phúc cho con người

Về mặt chính trị, chủ nghĩa phong kiến chưa bị tiêu vong hoàn toàn Ở những nước mà kinh tế TBCN chưa thể thực hiện việc cải tạo cách mạng tư sản, lực lượng phong kiến vẫn nắm quyền và không chịu phân quyền cho giai cấp non yếu Sự phục hồi của chế độ quân chủ nửa phong kiến Buocbong ở

Trang 3

Pháp, Hội nghị viên ở Áo thống nhất các lực lượng quân chủ- phong kiến toàn châu Âu Điều này chứng tỏ lực lượng phong kiến đang còn mạnh và chuẩn bị phản công lại giai cấp tư sản

Giai cấp tư sản cảm nhận được khả năng thất bại của mình không chỉ từ

sự phản công của thế lực phong kiến mà cả từ phía quần chúng bị áp bức, những người mà sự khẳng định của CNTB càng làm cho đời sống của họ tồi

tệ hơn Ngay từ những cuộc cách mạng tư sản trước đó trong “ đẳng cấp thứ ba” này đã xuất hiện những mâu thuẫn và giờ đây chúng trở thành mâu thuẫn đối kháng

Tình hình đó dẫn đến trong hệ tư tưởng tư sản khuynh hướng thỏa hiệp với các lực lượng phong kiến lại tăng lên, các thể chế phong kiến cũng thích nghi lại với trật tự tư sản và trong phạm vi đáng kể được tư sản hóa Những mâu thuẫn và thỏa hiệp đó được biểu hiện rõ nhất ở nước Đức, nơi có sự phát triển của CNTB bị cản trở bởi điều kiện kinh tế và chính trị

Trong thời kỳ đó, nếu nước Anh nhờ cách mạng tư sản và bước ngoặt công nghiệp mà trở thành quốc gia tư bản lớn mạnh nhất, và ở Pháp nhờ kết quả của cuộc cách mạng tư sản Pháp 1789, giai cấp tư sản đã tiêu diệt chủ nghĩa phong kiến, tiến nhanh trên con đường tư bản chủ nghĩa thì ở Đức còn

là một nước nửa phong kiến bị phân hóa của về kinh tế lẫn chính trị Những tàn tích của chế độ nông nô, chế độ phường hội, chúa đất, sự tồn tại của nhiều quốc gia nhỏ bé phụ thuộc lẫn nhau với các thể chế chính trị phản động… không chỉ làm kìm hãm sự phát triển mà còn làm tăng thêm mức độ lạc hậu của nước Đức so với các nước đã phát triển quan hệ sản xuất TBCN

F Enghen đã nhận xét rằng: đó là “thời kỳ nhục nhã về mặt chính trị và

xã hội”… “ mọi thứ đều nát bét, lung lay, xem chừng sắp sụp đổ, thậm chí chẳng còn tới một tia hy vọng chuyến biến tốt lên vì dân tộc, thậm chí không còn đủ sức vứt bỏ cái thây ma rữa nát của chế độ đã chết rồi”

Đồng thời F Enghen cũng nhận xét rằng thời kỳ nhục nhã đó lại mang một nét đặc biệt rất đáng tự hào: đó là thời kỳ vĩ đại trong lịch sử văn hóa, nghệ thuật và triết học Đức, mỗi tác phẩm xuất chúng của thời đại đó đều thắm đượm tinh thần phê phán, phản kháng, chống lại chế độ xã hội đương thời Tinh thần đó tràn đầy trong các tác phẩm nghệ thuật, triết học của

Trang 4

G.G.Heede (1744- 1803), G.V.F Heghen, Lútvích Phoiơbắc… các đại biểu lỗi lạc của triết học cổ điển Đức

Ở Đức cũng như ở Pháp, cách mạng đã chuẩn bị tư tưởng cho cách mạng

tư sản Nhưng khác với các nhà tư tưởng Pháp, các nhà triết học Đức không đồng thời là nhà hoạt động cách mạng Không như P.H Hônbach(1723-1789), R.Didiro và các nhà hoạt động khác ở thời kỳ khai sáng, các nhà triết học Đức

là những nhà duy tâm Điều đó được phản ánh trong sự bất lực tiến hành thành một cuộc cách mạng chống lại trật tự phong kiến, và cuối cùng thể hiện

ở sự thỏa hiệp của họ Các học thuyết triết học duy tâm của các nhà triết học

cổ điển Đức không thể làm tiền đề cho sự cải tạo tư sản nước Đức, theo mong muốn mà tuyên ngôn của họ đã nêu: tự do, trí truệ, hạnh phúc và quyền con người

Mác gọi triết học Cantơ là học thuyết Đức của cách mạng tư sản Pháp Định nghĩa đó cũng hoàn toàn đúng với triết học Phíchtơ, Sêling, Hêghen Học thuyết của các nhà triết học Đức về sự phát triển đã gián tiếp hoặc trực tiếp chống lại các lực lượng phong kiến phản động V.I.Lênin viết: “ lòng tin của Hêghen vào lý tính của con người và vào quyền lợi của con người và nguyên lý cơ bản của triết học Hêghen cho rằng trong thế giới luôn diễn ra trong một quá trình liên tiếp biến hóa và phát triển…, ngay cả cuộc đấu tranh chống hiện trạng, cuộc đấu tranh chống bất công đang tồn tại và chống điều

ác tung hoành cũng bắt rễ từ quy luật phổ biến là sự phát triển không ngừng” Song các học thuyết đó không tiến hành cách mạng được, nó duy tâm và yếu hèn Tính chất duy tâm và tinh thần yếu hèn đó dẫn tới những hạn chế trong triết học cổ điển Đức

Hạn chế của nó nằm ở chỗ các nhà triết học Đức hiểu sự phát triển như một quá trình tinh thần, một quá trình tự thức tỉnh và sự phát triển của lý tính Cách hiểu đó đã xóa nhòa bản chất vật chất của sự cải tạo xã hội hiện thực và

về lý thuyết nó biện hộ cho sự thỏa hiệp chính trị với các thế lực phong kiến của giai cấp tư sản

Vấn đề đặt ra là tại sao các nhà duy tâm tư sản yếu hèn trong điều kiện kinh tế xã hội thấp kém của nước Đức lại làm nên những thành tựu vĩ đại trong triết học Lịch sử tư tưởng chứng minh rằng, các học thuyết tư tưởng

Trang 5

tiến bộ có thể nảy sinh trong lòng một nước có trình độ kinh tế lạc hậu hơn nếu biết tiếp thu thành tựu mọi mặt của các nước tiến bộ khác

Ở Pháp thế kỷ XVIII nền kinh tế kém phát triển hơn Anh, song lại hình thành chủ nghĩa duy vật mà đại diện là: Hônbách, R.Điđrô… chính vì chủ nghĩa duy vật Pháp dựa trên những thành tựu của chủ nghĩa duy vật Anh thế

kỷ XVII Ở Đức tình hình cũng tương tự, triết học cổ điển Đức dựa trên những thành tự của triết học các nước phát triển châu Âu, nó tiếp thu được tư tưởng giải phóng, tư tưởng cách mạng của các nhà duy vật cách mạng Pháp Những tiền đề cho sự phát triển thế giới quan biện chứng đối với lịch sử nhận loại và sự khái quát lý thuyết phép biện chứng của các nhà duy tâm Đức

là bước ngoặt kinh tế- xã hội có tính chất thời đại của Anh, bước ngoặt tư tưởng xã hội có tính lịch sử thế giới của cách mạng tư sản Pháp, sự kế thừa truyền thống triết học biện chứng Đức và đặc biệt là những thành tựu của khoa học tự nhiên.Những bậc tiền bối của triết học cổ điển Đức là nhà triết học- nhà toán học R.Điđro, nhà vật lý học Anh I.Newton, C.Vonpho… Các học thuyết của học chứa đựng những tư tưởng biện chứng sâu sắc.Khoa học

tự nhiên lúc này với những phát minh xuất sức đã vạch rõ tính biện chứng của quá trình tự nhiên, thúc đẩy việc xây dựng phép biện chứng

Những thành tựu đó phản ánh vào trong tư tưởng, trong những học thuyết của các nhà triết học cổ điển Đức và là tiền đề cho những tư tưởng biện chứng thiên tài của họ Điều này chứng tỏ khoa học tự nhiên đã chín muồi cho

sự tổng kết biện chứng, cần xây dựng một phương pháp tư duy và khảo sát mới – phương pháp biện chứng để phản ánh đầy đủ những quy luật tự nhiên khách quan Thế kỷ XVII những nhà khoa học bắt đầu từ Bêcơn, Galileo…

đã xây dựng một cách tự phát phương pháp siêu hình cho nhận thức khoa học thì ở cuối thế kỳ XVIII đầu thế kỷ XIX, các nhà triết học Đức đã bắt đầu xây dựng phương pháp biện chứng cho khoa học Sự thực hiển nhiên đó trong triết học cổ điển Đức chưa tiến hành triệt để, nó là triết học đầy mâu thuẫn trên cơ

sở chủ nghĩa duy tâm xa lạ với tinh thần duy vật, càng xa lạ với biện chứng duy vật khoa học

Trang 6

1.2 Đặc điểm của triết học cổ điển Đức

1.2.1 Thành tựu và cống hiến

Tuy có những hạn chế trong lĩnh vực chính trị- xã hội nhưng những thành tựu của triết học cổ điển Đức có một vai trò quan trọng đóng góp cho triết học thế giới

Triết học cổ điển Đức mang lại cách nhìn mới về thực tiễn xã hội và tiến trình lịch sử nhân loại, đề cao vai trò hoạt động tích cực của con người, khắc phục triết học truyền thống phương Tây Nó coi con người là chủ thể hoạt động như là vấn đề nền tảng, xuất phát điểm của một vấn đề triết học

Kế tục tư tưởng triết học cổ đại và phục hưng, Cantơ lần đầu tiên hiểu con người là chủ thể đồng thời là kết quả của quá trình hoạt động của mình, khẳng định hoạt động thực tiễn cao hơn lý luân Hêghen phát triển thêm tư tưởng này và coi bản thân lịch sử là phương thức tồn tại của con người, mỗi

cá nhân hoàn toàn làm chủ vận mệnh của mình Ông khẳng định: con người là sản phẩm của một thời đại lịch sử nhất định vì vậy nó mang bản chất xã hội Trước những thành tựu khổng lồ của kinh tế- xã hội, khoa học- văn hóa, các nhà triết học cổ điển Đức từ Cantơ tới Hêghen đều đề cao sức mạnh trí tuệ

và khả năng hoạt động của con người Tuy nhiên, khi nhấn mạnh sức mạnh của con người họ đã rơi vào cực đoan, đã thần thánh hóa con người, coi con người là chúa tể tự nhiên, bản thân giới tự nhiên nhiều khi cũng được họ luận giải như kết quả hoạt động của con người

Một trong những thành tự to lớn của triết học cổ điển Đức đã khẳng định rằng tư duy và ý thức chỉ có thể phát triển trong những chừng mực con người nhận thức và cải tạo thế giới Con người là chủ thể, đồng thời là kết quả của toàn bộ nền văn minh do chính mình tạo ra, nghiên cứu tiến trình lịch sử nhân loại cũng như toàn bộ mối quan hệ con người- tự nhiên như một quá trình phát triển biện chứng Từ lập trường duy tâm, các nhà triết học cổ điển Đức

đã xây dựng nên các hệ thống triết học độc đáo, đề xuất được những tư duy biện chứng, logic biện chứng, học thuyết về các quá trình phát triển mà cái lớn nhất đạt được là phép biện chứng

Trang 7

Với cách nhìn tổng quát và phương pháp biện chứng, các nhà triết học cổ điển Đức có ý đồ hệ thống hóa toàn bộ tri thức và thành tựu mà nhân loại đã đạt được Tiếp thu tinh hoa của siêu hình học thế kỷ XVIII trong việc phát triển tư duy lý luận và hệ thống hóa toàn bộ tri thức loài người, Cantơ và Hêghen có ý đồ xây dựng một hệ thống triết học vạn năng làm nền tảng cho thế giới quan của con người, khôi phục lại các quan niệm coi triết học là khoa học của các khoa học

Triết học cổ điển Đức là giai đoạn phát triển mới về chất trong lịch sử tư tưởng Tây Âu vào thế giới cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX, là đỉnh cao của thời kỳ triết học cổ điển ở phương Tây, đồng thời ảnh hưởng to lớn đến triết học hiện đại

1.2.2 Mặt hạn chế

Hạn chế chung nhất trong thế giới quan của các nhà triết học cổ điển Đức thể hiện rõ mâu thuẫn giữa tính cách mạng- khoa học về tư tưởng với tính bảo thủ về lập trường chính trị- xã hội Hầu hết các nhà triết học thời kỳ này đều xây dựng được hệ thống triết học chưa đựng những tư tưởng khoa học lớn mang tính thời đại, đặc biệt là triết học Cantơ và Hêghen Tuy nhiên

họ lại không dám tiến hành, thực hiện những cuộc cải cách, bảo vệ chính thể nhà nước Phổ phong kiến

Chủ nghĩa duy tâm thần bí, phía trước và bên cạnh các nhà triết học cổ điển Đức là một dòng triết học duy vật, đặc biệt là tư tưởng duy vật của các nhà triết học khai sáng Song các nhà triết học cổ điển Đức thấy rằng: từ quan điểm duy vật người ta không giải thích được thế giới Bản chất của thế giới theo họ là tinh thần, điều đó chỉ có thể giải quyết được những vấn đề của thế giới bằng tinh thần Họ đã từ thế giới tinh thần xây dựng nên những hệ thống triết học duy tâm, thần bí

Triết học trừu tượng tách rời hiện thực, triết học cổ điển Đức đưa ra được những tư tưởng tiến bộ, chống lại xã hội cũ nhưng đó chỉ là những tư tưởng, nó không đi vào chính trị- xã hội và hoạt động cách mạng mà chỉ là những hệ thống triết lý trừu tượng ở bên trên

Nếu các nhà tư tưởng Pháp tiến hành cách mạng trong thực tiễn, công khai chống lại nhà nước và Giáo hội thì các nhà triết học cổ điển Đức chỉ suy

Trang 8

nghĩ nó trong tư tưởng, không dám công khai chống lại thực tại đó Họ là các giáo sự trong các trường đại học của Vương quốc Phổ, do sợ hãi hiện thực cách mạng, thỏa hiệp với giai cấp tư sản, tư tưởng cách mạng của họ đã bị phủ ngoài triết học một lớp vỏ thần bí duy tâm tự biện nặng nề và xa rời hiện thực

CHƯƠNG II.

CÁC NHÀ TRIẾT HỌC CỔ ĐIỂN ĐỨC TIÊU

BIỂU

Triết học cổ điển Đức bắt đầu Cantơ và kết thúc là chủ nghĩa duy vật của Phoiơbắc Trong chương này chỉ giới thiệu một cách tổng quát về cuộc đời và

sự nghiệp của các nhà triết học cổ điển Đức tiêu biểu bắt đầu từ Cantơ, tiếp theo là Hêghen và cuối cùng là Phoiơbắc

2.1 Cantơ (1724-1804)

I Cantơ là người sáng lập ra triết học cổ điển Đức Ông sinh ngày 22-4 -1724 và lớn lên trong một gia đình trung lưu gốc Scotland tại Kenitbec- một thành phố cổ vùng đông bắc nước Phổ trước đây Mùa thu năm 1740, ông vào học khoa triết tại trường đại học Kenitbec Ở đó ông được trang bị không chỉ triết học mà cả khoa học tự nhiên Ngay từ khi học trên ghế nhà trường ông đã quan tâm và có năng khiếu về các môn toán học, vật lý, cơ học…

Năm 1770, ông trở thành giáo sư và là giám đốc trường đại học Kenitbec Năm 1775, ông nhận học hàm tiến sĩ triết học với luận văn: “ Lịch

sử tự nhiên và lý thuyết về thiên hà” Cantơ không hề ra khỏi thành phố quê hương quá sáu mươi dặm và suốt đời độc thân Ông mất ngày 12- 04- 1804

Ở trường đại học Kenitbéc, Cantơ giảng một loạt các môn học: Siêu hình học (Triết học) và logic học, toán học và cơ học, vật lý học và địa chất học, nhân loại học và lịch sử tự nhiên đại cương Ông còn giảng cả vũ trụ học, địa

lý, nhân chủng học Thời gian này, Cantơ đã tập trung toàn bộ sức lực và thời gian để thực hiện nhiệm vụ mà cả cuộc đời ông đặt ra cho mình là xây dựng một hệ thống triết học mới Những công trình khoa học tự nhiên và triết học

Trang 9

của ông đã ra đời, nâng ông lên một vị trí là một trong những học giả uyên bác nhất thời đó Những học thuyết của ông thống trị tư tưởng khoa học và triết học tư sản thế kỷ XIX Quá trình phát triển của triết học Cantơ diễn ra qua hai thời kỳ: trước phê phán (trước 1770) và sau phê phán (sau 1770)

2.1.1 Thời kỳ trước phê phán (trước 1770)

Cantơ là nhà triết học theo tinh thần duy vật và khoa học tự nhiên Ông

có hai phát minh: giả thiết khoa học về sự hình thành vũ trụ (từ các hạt bụi dưới tác động của lực hút và đẩy); giải thích tác động của thủy triều (do tác động của sức hút mặt trăng) đã mang lại nhận thức về sự phát triển và mối liên hệ giữa các sự vật hiện tượng

2.1.2 Thời kỳ sau phê phán (sau 1770)

Có nhiều yếu tố duy tâm, tư tưởng, tín ngưỡng bất khả tri và nhị nguyên Cantơ tán đồng quan điểm về động lực học cho rằng: cái có trước không phải

là vật chất mà là vận động thuần túy không có vật chất “Vật tự nó” : con người không thể biết nó là gì, thể hiện tính chất bất khả tri

Chia nhận thức thành hai loại: tri thức kinh nghiệm cảm giác và tri thức tiên nhiệm Tri thức tiên nhiệm có sẵn trong ý thức, đem lại trật tự, mối liên

hệ nhân quả tất nhiên, tất yếu của sự vật hiện tượng

Thừa nhận sự tồn tại của thế giới khách quan, nhưng bản chất là từ ý thức của con người

2.2 Hêghen (1770- 1831)

2.2.1 Triết học duy tâm khách quan

Coi ý niệm tuyệt đối là điểm xuất phát, là nền tảng cho toàn bộ học thuyết của mình Ý niệm là đấng tối cao sang tạo ra con người Mọi sự vật hiện tượng xung quanh, kể cả con người chỉ là hiện thân của ý niệm tuyệt đối Con người là giai đoạn phát triển cao nhất của ý niệm tuyệt đối Vì vậy, hoạt động nhận thức và cải tạo của con người chính là công cụ để nhận thức bản thân Ý niệm luôn nằm trong trạng thái vận động và biến đổi Qua đó thế giới vật chất và đời sống tinh thần của con người mới được biểu hiện ra.Triết

Trang 10

học duy tâm được thể hiện trong toàn bộ hệ thống triết học của ông, gồm ba phần: logic học, triết học tự nhiên và triết học tinh thần

* Logic học: gồm ba học thuyết (tồn tại, bản chất và khái niệm)

Học thuyết về tồn tại: chứng minh cách thức về sự vận động & phát triển, cho rằng: tồn tại xuất phát không phải là tồn tại hiện hữu, mà là tồn tại thuần túy Nếu tồn tại ở một phương diện nhất định thì đồng nhất với hư vô

Do đó tồn tại dẫn đến sinh thành Quá trình chuyển từ tồn tại thuần tuý sang sinh thành là sự thống nhất của chất-lượng-độ Nếu lượng vượt quá, thì trở thành bước nhảy Thời lượng để thực hiện bước nhảy gọi là điểm mút

Học thuyết về bản chất: nguồn gốc của sự phát triển, đó là quá trình giải quyết mâu thuẫn của các mặt đối lập ở bên trong sự vật Trong bản thân ý niệm đã có sẵn sự khác biệt, được sinh ra từ cái đồng nhất Ban đầu là sự khác biệt nhỏ dẫn tới sự khác biệt cơ bản (đối lập)  hình thành mâu thuẫn  chuyển hóa

Học thuyết về khái niệm: Hêghen cho rằng nó không đứng yên, không bất biến và có đời sống của nó Khái niệm trải qua các giai đoạn khác nhau của sự nhận thức Về việc để nhận thức sự vật, phải trải qua hai giai đoạn nhận thức: trực quan cảm tính (với các hình thức cảm giác) và nhận thức lý tính (với các hình thức phán đoán, suy luận) Học thuyết này đã chỉ ra sự thống nhất biện chứng

* Triết học về tự nhiên:ba học thuyết (cơ học, vật lý học và suy luận)

Không chỉ giới vô cơ, mà giới hữu cơ cũng là sự tha hoá ý niệm Vì vậy nếu ý niệm luôn luôn vận động, biến đổi và phát triển thì ngược lại, giới tự nhiện lại không tự vận động, không biến đổi, cũng không phát triển Nó chỉ là sản phẩm thụ động (hay tha hoá) của ý niệm năng động Dù thụ động, nó vẫn vận động trong không gian, và chuyển hoá sang tinh thần

* Triết học về tinh thần: gồm ba học thuyết (học thuyết về tinh thần chủ quan, tinh thần khách quan và tinh thần tuyệt đối).

Ngày đăng: 19/11/2014, 16:00

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w