1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

BÀI TIỂU LUẬN học PHẦN SINH học đại CƯƠNG

60 3 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 60
Dung lượng 824,2 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Khái niệm: - Rễ cây là một cơ quan sinh dưỡng của thực vật, thực hiện các chức năng chính như bám cây vào lòng đất, rễ cây hút nước và các chất khoáng, hô hấp.. Đặc điểm của thân cây : -

Trang 1

BÀI TIỂU LUẬN

HỌC PHẦN: SINH HỌC ĐẠI CƯƠNG

Giảng viên: Lại Phương Liên

Học viên: Nguyễn Thế Anh

Mã SV: 20013148

Ngày, tháng, năm sinh: 05/02/1989

Nơi công tác: Trường THCS Trung Sơn Trầm Khóa học: 2020 – 2022

Trang 2

(Dành cho sinh viên khóa QH2020S - Khoa học tự nhiên)

Họ tên: Nguyễn Thế Anh Mã SV: 20013316

Ngày chấm: ……… Địa điểm:………

Điểm Thang

điểm

Cán bộ chấm thi 1

Cán bộ chấm thi 2

Trang 3

1 Bàn về Sinh học cơ thể thực vật từ đó vận dụng kiến thức đó vào thực tiễn.

2 Bàn về Sinh học cơ thể động vật tử đó vận dụng kiến thức đó vào thực tiễn.

3 Bàn về Sinh thái học từ đó vận dụng kiến thức đó vào thực tiễn.

- Em lựa chọn chủ đề : Bàn về Sinh học cơ thể thực vật từ đó vận dụng kiến thức

đó vào thực tiễn.

Trang 4

I.Phần mở đầu :

- Cơ thể sống dù là cơ thể đơn bào (chỉ gồm một tế bào) hay cơ thể đa bào (gồm rất nhiều tế bào biệt hóa khác nhau) là hệ thống mở luôn trao đổi vật chất, năng lượng và thông tin với môi trường Trong quá trình tiến hóa của sự sống, những cơ thể xuất hiện đầu tiên là những cơ thể đơn bào nhân sơ cách đây khoảng 3,5 tỷ năm, và về sau cách đây khoảng trên 2 tỷ năm, xuất hiện cơ thể đơn bào nhân chuẩn Các cơ thể đã bảo nhân chuẩn xuất hiện cách đây khoảng 1 tỷ năm trên cơ sở các tập đoàn đơn bào nhân chuẩn với sự biệt hóa tế bào và cấu trúc và chức năng đã hình thành nên nhiều loại mô và cơ quan trọng các cơ thể Tảo, Nấm, Thực vật và Động vật.

- Thực vật và động vật là những cơ thể đa bào gồm nhiều tế bào thuộc dạng tế bào nhân chuẩn (Bucaryota) có nguồn gốc chung từ cơ thể đơn bào nguyên thuỷ thuộc giới Nguyên sinh thông qua một dạng tập đoàn đơn bảo nào đấy Các cơ thể đơn bào nhân

sơ (freearyota) thường tồn tại ở dạng đơn bào là chủ yếu, một số dạng là tập đoàn (colonies) như một số vi khuẩn hoặc vi khuẩn lam nhưng không bắt buộc (nghĩa là chúng có thể sống ở dạng cá thể) Các cơ thể thuộc dạng nhân chuẩn (Eucaryota) đa số

là đa bào và có cấu tạo phức tạp Trong giới Nguyên sinh đã xuất hiện nhiều dạng tập, đoàn trong đó các tế bào liên kết với nhau trên cơ sở phân công lao động và chức năng

ví dụ phân công của các tế bào có chức năng dinh dưỡng và tế bào có chức năng bảo vệ (tập đoàn Pandorina bao gồm hàng chục đến hàng trăm tế bào trùng roi), hoặc phân công của tế bào có chức năng dinh dưỡng và tế bào có chức năng sinh sản (tập đoàn Volvox bao gồm hàng nghìn tế bào tảo lục).Sự phân hóa chức năng trong tập đoàn làm cho tập đoàn thích nghi với môi trường hiệu của hơn và dẫn đến phân hóa và biệt hóa các dạng tế bào khác nhau thì hiện những chức năng khác nhau Từ những tập đoàn này khi sự phân công về chức năng và biệt hóa về hình thái đạt mức độ lệ thuộc nhau một cách bắt buộc để tồn tại và phát triển, thì chúng trở thành những cơ thể đa bào thực thụ.

- Tổ tiên của thực vật có thể được bắt nguồn từ dạng tập đoàn tảo lục quang tự dưỡng tương tự như Volvox, sau đó trải qua giai đoạn đa bào nguyên thủy giống như tảo đa

Trang 5

bào Charophyta hiện nay (Charophyta là tảo lục đa bào có nhiều đặc điểm giống với Rêu hiện nay).

- Được biết thực vật có vai trò rất quan trọng đối với mọi cá thể trên hành tinh này Không dừng lại ở việc cung cấp nguồn thức ăn mà nó góp phần rất lớn trong bảo vệ môi trường sống, cân bằng thành phần không khí, bảo vệ sự trong lành của bầu khí quyển Thực vật là một phần không thể thiếu với sự hài hòa và sự tồn tại của sinh giới Nội dung trong bài tiểu luận bàn về sinh học cơ thể thực vật từ đó vận dụng một số kiến thức vào thực tiễn.

II.Phần nội dung :

A Bàn về thực vật học:

Trang 6

VI Vai trò của thực vật.

B Vận dụng kiến thức sinh học cơ thể thực vật vào thực tiễn.

I.Vi nhân giống hoa:

1.Ưu điểm.

2.Nhược điểm.

3.Các giai đoạn của quá trình nuôi cấy.

II Phương pháp tạo cây trồng không hạt

1 Parthenocarpy là gì?

2 Trái cây và rau củ không hạt được trồng như thế nào?

Trang 7

3 Kết luận

A Bàn về thực vật học:

I Phân loại học thực vật.

Trang 8

- Hệ thống phân cấp từ lớn đến nhỏ ở thực vật (Hầu như đúng với tất cả sinh vật nói chung):

 Bởi vì thực vật hạt kín hiện đang là loài chiếm ưu thế và thích nghi nhất, chiếm

số lượng lớn nhất trong giới thực vật.Nên sau đây chúng ta đều bàn các vấn đề

về thực vật hạt kín Các nhóm ưu thế kém hơn có thể có những đặc điểm sai khác – những đặc điểm này cũng không thể là tiêu biểu cho thực vật trên Trái Đất.

Trang 9

II Các cơ quan sinh dưỡng của thực vật.

1 Rễ:

1.1 Khái niệm:

- Rễ cây là một cơ quan sinh dưỡng của thực vật, thực hiện các chức năng chính như bám cây vào lòng đất, rễ cây hút nước và các chất khoáng, hô hấp Ngoài ra rễ cây còn

là cơ quan dự trữ các chất dinh dưỡng, là cơ quan sinh sản sinh dưỡng của thực vật

Ở thực vật có mạch, rễ là một cơ quan của thực vật thông thường nằm dưới mặt đất (khi so sánh với thân) Tuy nhiên, nó vẫn có ngoại lệ, chẳng hạn ở một số loài có rễ khí sinh (nghĩa là nó mọc trên mặt đất) hoặc thông khí (nghĩa là mọc trên mặt đất hoặc trên mặt nước) Rễ cũng đóng vai trò quan trọng trong tổng hợp cytokinin, một dạng hoóc môn tăng trưởng của thực vật, một trong các nhu cầu để phát triển các chồi và cành cây.

1.2 Phân loại rễ :

- Nếu trong quá trình sinh trưởng vòng đời của thực vật thì sẽ có hai loại :

+ Rễ sơ sinh: Là rễ của thực vật phát triển đầu tiên khi hạt cây (hoặc cơ quan sinh sản) nảy mầm Sau đó thì rễ này có thể là tiêu biến đi hoặc phát triển tiếp gắn bó với vòng đời sinh trưởng của thực vật.

+ Rễ thực thụ: Là những rễ cây sinh ra trong quá trình phát triển của cây, chúng có thể

là mới hoàn toàn hoặc phát triển từ rễ sơ sinh.

- Nếu phân loại vào vị trí của rễ cây thì chúng ta có thể phân loại thành ba loại chính:

Trang 10

+ Rễ bên: Là các rễ phát triển trong quá trình phát triển của cây khi chúng được mọc

ra, phân nhánh từ rễ chính hoặc rễ phụ mà không phải mọc ra từ cổ rễ của cây.

- Bộ rễ của thực vật sẽ được phân loại dựa theo số lượng và cấu tạo từ các rễ của cây Thường sẽ phân loại thực vật theo hai hệ rễ:

+ Hệ rễ cọc: Là cấu tạo của bộ rễ mà trong đó chỉ có tồn tại hai loại rễ là rễ chính và rễ bên.

+ Hệ rễ chùm: Là bộ rễ có cấu tạo chỉ từ các rễ phụ và rễ bên.

1.3 Cấu trúc của rễ:

- Rễ có 4 miền: Miền trưởng thành (dẫn truyền), miền hút (hấp thụ nước và muối khoáng hòa tan), miền sinh trưởng (làm cho rễ dài ra), miền chóp rễ (che chở cho đầu rễ).

+Miền trưởng thành: Mạch rây (libe) có chức năng vận chuyển các chất, mạch gỗ và mạch rây ở rễ sắp xếp theo kiểu phóng xạ để phù hợp với chức năng hút nước, hút khoáng của rễ Ruột chứa các chất dự trữ

+ Miền hút gồm có 2 phân chính: Vỏ biểu bì và trụ giữa Vỏ biểu bì gồm có nhiều lông hút Lông hút là tế bào biểu bì kéo dài có chức năng hút nước và muối khoáng hòa tan Phía trong thịt vỏ có chức năng chuyển các chất từ lông hút vào trụ giữa Trụ giữa gồm các mạch gỗ.

+ Miền sinh trưởng gồm các tế bào có khả năng phân chia thành tế bào con, giúp rễ dài được ra.

+ Chóp rễ là phần giúp rễ đâm sâu vào lòng đất Mặt đất rất cứng so với rễ, vì vậy để

có thể đâm sâu vào lòng đất, chóp rễ có nhiệm vụ che chở bảo vệ các mô phân sinh của

rễ khỏi bị hư hỏng và xây xát khi đâm vào đất Xung quanh chóp rễ có các tế bào hóa nhầy hoặc tế bào tiết ra chất nhầy để giảm bớt sự ma sát của đất Sự hóa nhầy này giúp cho các tế bào ngoài cùng của rễ không bị bong ra.

1.4 Sự hút nước và muối khoáng của rễ:

Trang 11

- Tất cả các cây đều cần nước Cây không chỉ cần nước mà còn cần các loại muối khoáng, trong đó cần nhiều: muối đạm, muối lân, muối kali Nhu cầu nước và muối khoáng là khác nhau đối với từng loại cây, các giai đoạn khác nhau trong chu kì sống của cây Rễ cây hút nước và muối khoáng hoà tan chủ yếu nhờ lông hút Nước và muối khoáng trong đất được lông hút hấp thụ chuyển qua vỏ tới mạch gỗ đi lên các bộ phận của cây.

- Các yếu tố bên ngoài như thời tiết, khí hậu, các loại đất khác nhau, có ảnh hướng tới

sự hút nước và muối khoáng của cây Cần cung cấp đủ nước và muối khoáng thì cây trồng mới sinh trưởng và phát triển tốt.

2.2 Đặc điểm của thân cây :

- Các bộ phận - Phần lớn thân các loài thực vật bậc cao thường có các thành phần: + Thân chính: thường có dạng hình trụ, có thể phân nhánh hoặc không, mang lá và chồi.

+ Cành: là những nhánh bên của thân chính.

Trang 12

+ Mắt: là nơi lá đính vào thân hoặc cành.

+ Nách lá: tạo bởi thân hoặc cành với cuống lá.

+ Gốc thân: ranh giới giữa thân và rễ.

- Chức năng:

+ Dẫn truyền nước, muối khoáng, các chất hữu cơ từ rễ lên lá và ngược lại

+ Giúp cây đứng vững (đối với các cây thân gỗ và thảo)

+ Hô hấp (đối với thân cây có tế bào tầng biểu bì có lục lạp

+ Cây gỗ: Thường là các loài cây có thân cao tự nhiên (không quấn tựa) có thể cao được hơn 6 m Mức chiều cao đo được tối đa trên 25m thường được phân loại biện chứng là nhóm cây gỗ lớn Nhóm cây cao tự nhiên trong khoảng cách từ 12– 25 m là nhóm cây gỗ nhỡ, gỗ trung bình Cây gỗ nhỏ có thân cao từ 6-12m.

+ Cây bụi: Là các nhóm cây có thân có thể hóa gỗ, phân cành thường sát gốc, có chiều cao dưới 6m Cây bụi thấp hơn 2m thường là cây bụi nhỏ, khoảng cách cao 2-4m là cây bụi nhỡ, cao tối đa nằm trong khoảng 4-6m là cây bụi lớn.

+ Cây leo: Là những dạng sống của thực vật mà ban đầu thân mềm, không thể tự đứng được mà phải leo vào thân cây khác hoặc vật thể cao cứng bên cạnh để vươn lên, sau

đó thân mới to ra, hóa gỗ và cứng lại Nhóm này người ta lại phân thành thân gỗ leo quấn và thân gỗ leo tựa.

Trang 13

- Thân thảo: Điển hình bởi nhiều loài thực vật của bộ Hòa thảo (Poales) Các loài thực vật có vòng đời ngắn, thân cây không chứa hoặc có chứa yếu tố lignin ở dạng sống đặc biệt Thân thường yếu, chịu tác động của các lực cơ học thấp Thực vậy có loại thân này cũng thường có chiều cao không lớn Các loại thường gặp: thân dạ, thân quấn, thân

cỏ leo.

+ Thân rạ: Thân thực vật thường rỗng, có đốt, có lóng Dạng thân dạ này có thể không chứa lignin như thân cây lúa, cũng có thể chứa nhiều lignin như thân khí sinh cây tre + Thân cỏ leo: Một dạng cây có thân cỏ (thân có đốt, lóng) leo khác hẳn thân bầu bí nhưng trên thân có phát triển những yếu tố giúp thân cây có thể nương tự leo vào giá thể hoặc thân cây lớn bên cạnh để phát triển chiều cao, tuy nhiên thân cây này không bao giờ hoá gỗ Rễ phụ sinh ở các khớp đốt mắt lóng và lông ở bề mặt bẹ lá giúp cho thân cây tạo ma sát và bám vào vật thể sẽ leo.

- Thân leo: Điển hình bởi các loài thuộc bộ bầu bí (Cucurbitales) Thân cây không bao giờ tự đứng được do hoàn toàn không có chứa các yếu tố lignin, Cây duy trì dạng sống nhờ bò trên bề mặt đất, bề mặt giá thể nâng đỡ hoặc bám bò vào thân cành các cây khác nhờ những dạng biến thái đặc biệt từ lá hoặc thân cây như gai móc (biến từ biểu

bì vỏ thân), tua cuốn (biến từ lá cây).

- Thân bò: Dạng thân cây khác các dạng thân cỏ leo, thân bầu bì Dạng sống thực vật trong rừng mưa nhiệt đới thường thấy nhiều đại diện cho hình thái thân cây này Thân cây bò tràn lan trên mặt đất hoặc bò, nương tựa, níu, quấn vào thân cây khác Thân cây

có hình thái này có thể hóa gỗ hoặc không Thân cây có thể sử dụng biểu bì gai hoặc dễ phụ sinh để vươn bò leo và bám vững giá thể.

2.4.Thân dài ra do đâu?

- Thân dài ra do sự phân chia tế bào mô phân sinh ngọn Sự dài ra của thân ở các loài cây không giống nhau.

2.5.Thân to ra do đâu?

- Thân cây to ra nhờ sự phân chia tế bào ở tầng sinh vỏ và tầng sinh trụ.

Trang 14

+ Tầng sinh vỏ: làm cho vỏ dày thêm.

+ Tầng sinh trụ: làm cho mạch rây và mạch gỗ dày thêm.

2.6.Vận chuyển các chất trong thân.

- Vận chuyển nước và muối khoáng hòa tan: Nước và muối khoáng được vận chuyển

từ rễ lên thân nhờ mạch gỗ.

- Vận chuyển chất hữu cơ: Các chất hữu cơ trong cây được vận chuyển nhờ mạch rây.

2.7.Biến dạng của thân:

- Với những chuyên biệt để thích nghi với điều kiện sinh thái, nhiều loài thực vật đã có những biến đổi phần thân mang các chức năng đặc biệt.

+ Thân ngầm: Hình thái thân cây này chủ yếu nằm ẩn dưới mặt đất, đại diện cho thực vật là các phần thân khí sinh Có thể thân này là bộ phận dự trữ chất dinh dưỡng chủ yếu (dong, giềng), nhiều khi chỉ đóng vai trò phân nhành khí sinh (tre, trúc).

+ Thân củ: Khoai tây, su hào, Khoai môn,củ hành, khoai mì,cà rốt…

+ Thân hành: Các loài Thủy tiên, Hành, Tỏi,

+ Thân mọng nước: Xương rồng,

+ Thân rễ: dong ta, gừng, nghệ, cỏ tranh,

+ Giò thân: củ cải, củ từ,

+ Cành hình lá: cây quỳnh, càng cua,

+ Gai: mọc ở nách lá do cành biến đổi làm nhiệm vụ bảo vệ thân như chanh, bưởi,

Trang 15

3.2 Cấu tạo lá rộng:

* Lá cây lá rộng hoàn chỉnh cấu tạo bao gồm cuống lá, gân lá, phiến lá Trên lá chứa nhiều tế bào mô dậu, lỗ khí và nhiều lục lạp Trên 1 cm² diện tích mặt lá có khoảng 30.000 lỗ khí thực hiện các chức năng sinh dưỡng chính của cây.

- Cuống lá: Cuống lá là phần gắn liền giữ phiến lá và thân cành, cuống lá có chức năng nâng đỡ phiến lá và dẫn truyền chất dinh dưỡng giữa thân cây và phiến lá Cuống lá có nhiều hình dạng và kích thước khác nhau tùy vào điều kiện Đôi khi cuống lá còn đóng vai trò quang hợp.

- Gân lá: Là bộ phận đóng vai trò xương sống cho phiến lá, nâng đỡ phiến lá và dẫn truyền chất dinh dưỡng Người ta thường phân gân lá thành các cấp khác nhau (cấp 1,

2, 3) tùy thuộc vào vị trí so với cuống lá Gân lá có cấu tạo giống như là cuống lá.Gân

lá có các dạng hình phân bố khác nhau:

+ Song song: Ví dụ: lá tre, trúc, lúa, ngô, rẻ quạt, trường sinh,

+ Lông chim: Đa số có ở các loài thực vật bậc cao.

+ Vấn hợp: Ví dụ: lá ổi, lá các loài trâm,

+ Gân hình mạng: lá gai, lá mai,

+ Gân hình cung: lá rau muống, lá địa liền,

- Phiến lá: Dạng bản dẹt, có màu lục, là phần rộng nhất của lá giúp lá nhận được nhiều ánh sáng Phiến lá có 2 mặt, mặt trên gọi là bụng, mặt dưới gọi là lưng Lá thường có màu xanh lục nhờ vào chất diệp lục, đôi khi lá có màu sắc khác do diệp lục bị che khuất bởi sắc tố khác Mép phiến lá là một đặc điểm để phân biệt các loại lá:

+ Có loại lá mép nguyên.

+ Có loại lá mép răng cưa nhọn

+ Có loại lá xẻ không quá 1/4 phiến lá.

+ Có loại lá chẻ, vết chẻ bằng 1/4 phiến lá.

+ Có loại lá khía, vết khía quá 1/4 phiến lá hoặc sát gân lá chính.

3.3 Sắp xếp lá trên cành:

Trang 16

- Lá cây đính trên thân cây về cơ bản được chia thành các nhóm chính:

+ Mọc cách (mọc sole); ở một số loài cây có lá mọc cách, chẳng hạn cây dâu, có một lá mọc từ một mấu thân, mỗi lá mọc cách nhau theo kiểu sole.

+ Mọc đối: ở một số loại cây, ví dụ cây dừa cạn, có 2 lá mọc từ một mấu thân, hai lá đó nằm đối nhau, cách sắp xếp của lá sao cho mỗi lá đều nhận được nhiều ánh sáng nhất + Mọc vòng: lá mọc theo vòng tròn vòng từ dưới lên.

3.4 Biến dạng của lá:

- Lá biến dạng được hình thành trong quá trình thích nghi và tiến hóa của thực vật Lá biến dạng được sử dụng với các chức năng khác lá bình thường hoặc thêm chức năng mới giúp cho cây thích nghi với điều kiện môi trường.

+ Lá gai: lá biến thành gai nhọn, lớp cutin dày làm giảm sự thoát hơi nước Lá gai thường thấy ở họ Xương rồng Ở một số cây lá gai còn có tác dụng bảo vệ lá non + Lá dự trữ: chứa chất dự trữ cho cây

+ Lá bắt mồi:bắt và tiêu hoá sâu bọ

+ Lá móc: thường thấy ở các loại cây leo, như mây Lá móc giúp cây có khả nang bám vào các vật.

3.5 Vai trò của lá:

- Lá cây có vai trò quan trọng trong đời sống sinh lý của cây Lá cây là cơ quan chủ yếu biến năng lượng mặt trời thành năng lượng hóa học (với đa số loài thực vật bậc cao) Trong quan hệ tương tác với các loài sinh vật khác, lá cây là điểm đầu của các chuỗi thức ăn (là thức ăn chủ yếu của đa số các loài sinh vật tiêu thụ bậc 1) Lá cây có vai trò chủ đạo trong đời sống của các sinh giới.

Trang 17

3.7 Một số dạng lá :

- Lá đơn là một dạng lá cây mà phiến lá gắn liền trực tiếp với thân cành cây Chỉ có 1 cấp cuống lá, khi thay lá theo sinh lý, toàn bộ phần phiến lá và cuống sẽ rơi rụng cùng một thời điểm Lá đơn chủ yếu xuất hiện ở lá dạng phiến và lá dạng dải.

- Lá kép là một dạng tiến hóa của lá cây mà mỗi phiến lá không gắn trực tiếp với thân cành mà thường thông qua hệ thống cuống lá Phiến lá này thường có cuống, gân lá như lá đơn nguyên, phần này là lá chét của lá kép Khi cây thay lá, lá chét thường rơi rụng trước rồi cuống chính mới rụng khỏi thân cành.

và tạo ra oxy như một sản phẩm phụ.

- Năng lượng hóa học này được lưu trữ trong các phân tử carbohydrate như đường, và được tổng hợp từ carbon dioxit và nước Trong hầu hết các trường hợp, oxy cũng được tạo ra như là một sản phẩm phụ Quang hợp giúp duy trì nồng độ oxy trong không khí và cung cấp tất cả các hợp chất hữu cơ và hầu hết các năng lượng cần thiết cho sự sống trên Trái Đất.

- Mặc dù quá trình quang hợp được thực hiện khác nhau với các loài thực vật khác nhau, quá trình này luôn luôn bắt đầu khi năng lượng từ ánh sáng được hấp thụ bởi các protein được gọi là trung tâm phản ứng có chứa sắc tố diệp lục màu xanh lá cây Ở thực vật, các protein này được tổ chức bên trong các bào quan gọi là lục lạp, vốn là chất chiếm nhiều nhất trong các tế bào lá Trong các phản ứng phụ thuộc vào ánh sáng trên, một

số năng lượng được sử dụng để tách các điện tử từ các chất thích hợp

Trang 18

như nước, sản xuất khí oxy Thêm vào đó, hai hợp chất tiếp tục được tạo ra: nicotinamide adenine dinucleotide phosphate (NADPH) và adenosine triphosphate (ATP), các "đơn vị tiền tệ năng lượng" của các tế bào.

- Ở thực vật đường được sản xuất bởi một chuỗi các phản ứng tiếp theo không phụ thuộc ánh sáng, được gọi là chu trình Calvin Trong chu trình Calvin, khí carbon dioxit được tích hợp vào các hợp chất carbon hữu cơ đã có sẵn, như ribulose

bisphosphate (RuBP) Sử dụng ATP và NADPH được các phản ứng phụ thuộc vào ánh sáng tạo ra, kết quả là các hợp chất này sau đó được giảm và loại bỏ để hình

thành carbohydrate cao hơn.

- Trong các chuỗi thức ăn tự nhiên, thực vật ( và các sinh vật quang dưỡng) thường là những mắt xích đầu tiên; nghĩa là các sinh vật còn lại đều sử dụng sản phẩm của quá trình quang hợp phục vụ nhu cầu dinh dưỡng của chúng Do vậy, quang hợp là chuỗi phản ứng hóa học quan trọng bậc nhất trên Trái Đất, vì nó tạo năng lượng cho sự sống trong sinh quyển Quá trình quang hợp cũng sản sinh ra khí oxy, tạo nên một bầu khí quyển chứa nhiều oxy cho Trái Đất, một bầu khí quyển vốn dĩ chỉ

chứa nitơ và cácbônic trước khi có sinh vật quang dưỡng.

- Ở thực vật, quá trình quang hợp chủ yếu được thực hiện nhờ diệp

lục (chlorophyll nghĩa là diệp lục; chloro- nghĩa là thứ có màu xanh lục) Sắc tố này thường chứa trong các bào quan gọi là lục lạp Mặc dù, hầu hết các phần của nhiều loài thực vật đều có màu xanh, năng lượng của quá trình quang hợp chủ yếu được thu nhận

từ lá Quá trình quang hợp của thực vật sử dụng chlorophyll và sản sinh ra oxy

4.2.Hô hấp:

- Hô hấp tế bào là một tập hợp các phản ứng và quá trình trao đổi chất diễn ra trong các tế bào của sinh vật để chuyển đổi năng lượng hóa học có trong chất dinh dưỡng thành thành adenosine triphosphate (ATP), và sau đó giải phóng các chất thải Các phản ứng liên quan đến hô hấp là các phản ứng dị hóa, phá vỡ các phân tử lớn thành các phân tử nhỏ hơn, giải phóng năng lượng trong quá trình, do liên kết yếu "cao năng" sẽ

Trang 19

được thay bằng liên kết mạnh hơn trong các sản phẩm Hô hấp là một trong những phương tức chính giúp tế bào giải phóng năng lượng hóa học để cung cấp năng lượng cho các hoạt động tế bào Hô hấp tế bào được coi là phản ứng oxy hóa-khử và giải phóng nhiệt Phản ứng tổng thể được thực hiện thông qua một loạt các bước khác nhau, hầu hết trong số đó là phản ứng oxy hóa-khử Hô hấp tế bào, nếu nói về mặt kỹ thuật là một phản ứng đốt cháy, nhưng thực chất thì không như vậy Khi hô hấp tế bào xảy ra trong tế bào sống, năng lượng được giải phóng từ từ qua hàng loạt các phản ứng, chứ không bùng nổ nhiệt như phản ứng cháy thông thường.

- Các chất dinh dưỡng thường được sử dụng bởi các tế thực vật cho hô hấp có thể kể đến như đường, amino acid và axit béo, và chất oxy hóa phổ biến nhất (chất nhận điện tử) là oxy phân tử (O ) Năng lượng hóa học được lưu trữ trong ATP (nhóm phosphate 2

thứ ba của nó liên kết yếu với phần còn lại của phân tử và bị phá vỡ một cách dễ dàng cho phép hình thành liên kết mạnh hơn, do đó chuyển năng lượng cho tế bào sử dụng)

có thể được sử dụng để thúc đẩy các quá trình đòi hỏi năng lượng, bao gồm sinh tổng hợp, vận động hoặc vận chuyển các phân tử qua màng tế bào.

III Các cơ quan sinh sản của thực vật (Cây có hoa).

1 Hoa

Trang 20

1.1 Khái niệm:

- Hoa hay bông là bộ phận chứa cơ quan sinh sản, đặc trưng của thực vật có hoa, cụ thể

là một chồi rút ngắn mang những lá biến đổi làm chức năng sinh sản của cây Về mặt cấu trúc thực vật học, hoa là một dạng cành đặc biệt Hoa có thể tạo điều kiện thụ phấn chéo (kết hợp của phấn hoa và nhụy từ các cây hoa khác nhau) hoặc cho phép tự thụ phấn (kết hợp của phấn hoa và nhụy từ cùng một hoa) Hoa tạo ra quả và hạt Nhiều hoa đã tiến hóa để hấp dẫn đối với động vật, nhằm mục đích nhờ động vật giúp đỡ việc chuyển giao hạt phấn.

Cấu tạo đầy đủ lý tưởng của hoa bao gồm: cuống hoa, lá bắc, đài hoa (lá đài), tràng hoa (cánh hoa), bộ nhị và bộ nhụy.

Ngoài chức năng chứa cơ quan sinh sản ở thực vật có hoa, hoa còn được con người trồng và khai thác nhằm mục đích trang trí, làm đẹp và thậm chí là nguồn cung cấp thức ăn, dược liệu.

1.2 Hình thái học:

- Một hoa điển hình bao gồm bốn loại cấu trúc gắn vào phần đỉnh (đế hoa) của một cuống ngắn (cuống hoa) Mỗi loại cấu trúc này được sắp xếp thành vòng trên đế hoa Bốn vòng chính tính từ gốc (móng) của hoa hay mấu thấp nhất và tính dần lên trên là: + Đài hoa : vòng ngoài cùng nhất, bao gồm các đơn vị gọi là lá đài Chúng thường có màu xanh và bao bọc phần còn lại của hoa khi ở trong nụ Tuy nhiên, các lá đài này có thể không có hoặc dễ thấy và sặc sỡ nổi bật như các cánh hoa ở một số loài.

+ Tràng hoa : vòng kế tiếp tính về phía đỉnh, bao gồm các đơn vị gọi là cánh hoa Chúng thường mỏng, mềm và có màu sắc sặc sỡ để thu hút động vật giúp thụ phấn + Bộ nhị : vòng kế tiếp (đôi khi sắp xếp thành nhiều vòng), bao gồm các thành phần đơn vị gọi là nhị hoa Nhị hoa bao gồm 2 phần: một cuống nhỏ gọi là chỉ nhị ; trên đầu của chỉ nhị là bao phấn , trong đó sinh ra hạt phấn nhờ phân bào giảm nhiễm để cuối cùng phát tán đi.

Trang 21

- Thân thảo: Điển hình bởi nhiều loài thực vật của bộ Hòa thảo (Poales) Các loài thực vật có vòng đời ngắn, thân cây không chứa hoặc có chứa yếu tố lignin ở dạng sống đặc biệt Thân thường yếu, chịu tác động của các lực cơ học thấp Thực vậy có loại thân này cũng thường có chiều cao không lớn Các loại thường gặp: thân dạ, thân quấn, thân

cỏ leo

+ Thân rạ: Thân thực vật thường rỗng, có đốt, có lóng Dạng thân dạ này có thể không chứa lignin như thân cây lúa, cũng có thể chứa nhiều lignin như thân khí sinh cây tre.+ Thân cỏ leo: Một dạng cây có thân cỏ (thân có đốt, lóng) leo khác hẳn thân bầu bí nhưng trên thân có phát triển những yếu tố giúp thân cây có thể nương tự leo vào giá thể hoặc thân cây lớn bên cạnh để phát triển chiều cao, tuy nhiên thân cây này không bao giờ hoá gỗ Rễ phụ sinh ở các khớp đốt mắt lóng và lông ở bề mặt bẹ lá giúp cho thân cây tạo ma sát và bám vào vật thể sẽ leo

- Thân leo: Điển hình bởi các loài thuộc bộ bầu bí (Cucurbitales) Thân cây không bao giờ tự đứng được do hoàn toàn không có chứa các yếu tố lignin, Cây duy trì dạng sống

0 0

Trang 22

bì vỏ thân), tua cuốn (biến từ lá cây).

- Thân bò: Dạng thân cây khác các dạng thân cỏ leo, thân bầu bì Dạng sống thực vật trong rừng mưa nhiệt đới thường thấy nhiều đại diện cho hình thái thân cây này Thân cây bò tràn lan trên mặt đất hoặc bò, nương tựa, níu, quấn vào thân cây khác Thân cây

có hình thái này có thể hóa gỗ hoặc không Thân cây có thể sử dụng biểu bì gai hoặc dễphụ sinh để vươn bò leo và bám vững giá thể

2.4.Thân dài ra do đâu?

- Thân dài ra do sự phân chia tế bào mô phân sinh ngọn Sự dài ra của thân ở các loài cây không giống nhau

2.5.Thân to ra do đâu?

- Thân cây to ra nhờ sự phân chia tế bào ở tầng sinh vỏ và tầng sinh trụ

0 0

Trang 23

+ Tầng sinh vỏ: làm cho vỏ dày thêm.

+ Tầng sinh trụ: làm cho mạch rây và mạch gỗ dày thêm

2.6.Vận chuyển các chất trong thân.

- Vận chuyển nước và muối khoáng hòa tan: Nước và muối khoáng được vận chuyển

từ rễ lên thân nhờ mạch gỗ

- Vận chuyển chất hữu cơ: Các chất hữu cơ trong cây được vận chuyển nhờ mạch rây

2.7.Biến dạng của thân:

- Với những chuyên biệt để thích nghi với điều kiện sinh thái, nhiều loài thực vật đã có những biến đổi phần thân mang các chức năng đặc biệt

+ Thân ngầm: Hình thái thân cây này chủ yếu nằm ẩn dưới mặt đất, đại diện cho thực vật là các phần thân khí sinh Có thể thân này là bộ phận dự trữ chất dinh dưỡng chủ yếu (dong, giềng), nhiều khi chỉ đóng vai trò phân nhành khí sinh (tre, trúc)

+ Thân củ: Khoai tây, su hào, Khoai môn,củ hành, khoai mì,cà rốt…

+ Thân hành: Các loài Thủy tiên, Hành, Tỏi,

+ Thân mọng nước: Xương rồng,

+ Thân rễ: dong ta, gừng, nghệ, cỏ tranh,

+ Giò thân: củ cải, củ từ,

+ Cành hình lá: cây quỳnh, càng cua,

+ Gai: mọc ở nách lá do cành biến đổi làm nhiệm vụ bảo vệ thân như chanh, bưởi,

Trang 24

vảy Thực vật bậc cao trên Trái Đất chiếm đa số là các nhóm lá rộng và lá kim.

12

0 0

Trang 25

nhiều tế bào mô dậu, lỗ khí và nhiều lục lạp Trên 1 cm² diện tích mặt lá có khoảng 30.000 lỗ khí thực hiện các chức năng sinh dưỡng chính của cây.

- Cuống lá: Cuống lá là phần gắn liền giữ phiến lá và thân cành, cuống lá có chức năng nâng đỡ phiến lá và dẫn truyền chất dinh dưỡng giữa thân cây và phiến lá Cuống lá có nhiều hình dạng và kích thước khác nhau tùy vào điều kiện Đôi khi cuống lá còn đóng vai trò quang hợp

- Gân lá: Là bộ phận đóng vai trò xương sống cho phiến lá, nâng đỡ phiến lá và dẫn truyền chất dinh dưỡng Người ta thường phân gân lá thành các cấp khác nhau (cấp 1,

2, 3) tùy thuộc vào vị trí so với cuống lá Gân lá có cấu tạo giống như là cuống lá.Gân

lá có các dạng hình phân bố khác nhau:

+ Song song: Ví dụ: lá tre, trúc, lúa, ngô, rẻ quạt, trường sinh,

+ Lông chim: Đa số có ở các loài thực vật bậc cao

+ Vấn hợp: Ví dụ: lá ổi, lá các loài trâm,

+ Gân hình mạng: lá gai, lá mai,

+ Gân hình cung: lá rau muống, lá địa liền,

- Phiến lá: Dạng bản dẹt, có màu lục, là phần rộng nhất của lá giúp lá nhận được nhiều ánh sáng Phiến lá có 2 mặt, mặt trên gọi là bụng, mặt dưới gọi là lưng Lá thường có màu xanh lục nhờ vào chất diệp lục, đôi khi lá có màu sắc khác do diệp lục bị che khuất bởi sắc tố khác Mép phiến lá là một đặc điểm để phân biệt các loại lá:

+ Có loại lá mép nguyên

+ Có loại lá mép răng cưa nhọn

+ Có loại lá xẻ không quá 1/4 phiến lá

+ Có loại lá chẻ, vết chẻ bằng 1/4 phiến lá

+ Có loại lá khía, vết khía quá 1/4 phiến lá hoặc sát gân lá chính

3.3 Sắp xếp lá trên cành:

0 0

Trang 26

- Lá cây đính trên thân cây về cơ bản được chia thành các nhóm chính:

+ Mọc cách (mọc sole); ở một số loài cây có lá mọc cách, chẳng hạn cây dâu, có một lámọc từ một mấu thân, mỗi lá mọc cách nhau theo kiểu sole

+ Mọc đối: ở một số loại cây, ví dụ cây dừa cạn, có 2 lá mọc từ một mấu thân, hai lá đónằm đối nhau, cách sắp xếp của lá sao cho mỗi lá đều nhận được nhiều ánh sáng nhất.+ Mọc vòng: lá mọc theo vòng tròn vòng từ dưới lên

3.4 Biến dạng của lá:

- Lá biến dạng được hình thành trong quá trình thích nghi và tiến hóa của thực vật Lá biến dạng được sử dụng với các chức năng khác lá bình thường hoặc thêm chức năng mới giúp cho cây thích nghi với điều kiện môi trường

0 0

Trang 27

+ Lá dự trữ: chứa chất dự trữ cho cây

+ Lá bắt mồi:bắt và tiêu hoá sâu bọ

+ Lá móc: thường thấy ở các loại cây leo, như mây Lá móc giúp cây có khả nang bám vào các vật

3.5 Vai trò của lá:

- Lá cây có vai trò quan trọng trong đời sống sinh lý của cây Lá cây là cơ quan chủ yếubiến năng lượng mặt trời thành năng lượng hóa học (với đa số loài thực vật bậc cao) Trong quan hệ tương tác với các loài sinh vật khác, lá cây là điểm đầu của các chuỗi thức ăn (là thức ăn chủ yếu của đa số các loài sinh vật tiêu thụ bậc 1) Lá cây có vai trò chủ đạo trong đời sống của các sinh giới

Trang 28

3.7 Một số dạng lá :

- Lá đơn là một dạng lá cây mà phiến lá gắn liền trực tiếp với thân cành cây Chỉ có 1 cấp cuống lá, khi thay lá theo sinh lý, toàn bộ phần phiến lá và cuống sẽ rơi rụng cùng một thời điểm Lá đơn chủ yếu xuất hiện ở lá dạng phiến và lá dạng dải

- Lá kép là một dạng tiến hóa của lá cây mà mỗi phiến lá không gắn trực tiếp với thân cành mà thường thông qua hệ thống cuống lá Phiến lá này thường có cuống, gân lá như lá đơn nguyên, phần này là lá chét của lá kép Khi cây thay lá, lá chét thường rơi rụng trước rồi cuống chính mới rụng khỏi thân cành

và tạo ra oxy như một sản phẩm phụ

- Năng lượng hóa học này được lưu trữ trong các phân tử carbohydrate như đường, vàđược tổng hợp từ carbon dioxit và nước Trong hầu hết các trường hợp, oxy cũng được tạo ra như là một sản phẩm phụ Quang hợp giúp duy trì nồng độ oxy trong không khí và cung cấp tất cả các hợp chất hữu cơ và hầu hết các năng lượng cần thiết cho sự sống trên Trái Đất

0 0

Trang 29

sáng được hấp thụ bởi các protein được gọi là trung tâm phản ứng có chứa sắc tố diệp lục màu xanh lá cây Ở thực vật, các protein này được tổchức bên trong các bào quan gọi là lục lạp, vốn là chất chiếm nhiều nhất trong các tế bào lá Trong các phản ứng phụ thuộc vào ánh sáng trên, một

số năng lượng được sử dụng để tách các điện tử từ các chất thích hợp

0 0

Trang 30

như nước, sản xuất khí oxy Thêm vào đó, hai hợp chất tiếp tục được tạo ra: nicotinamide adenine dinucleotide phosphate (NADPH) và adenosine triphosphate (ATP), các "đơn vị tiền tệ năng lượng" của các tế bào.

- Ở thực vật đường được sản xuất bởi một chuỗi các phản ứng tiếp theo không phụ thuộc ánh sáng, được gọi là chu trình Calvin Trong chu trình Calvin, khí carbon

dioxit được tích hợp vào các hợp chất carbon hữu cơ đã có sẵn, như ribulose

bisphosphate (RuBP) Sử dụng ATP và NADPH được các phản ứng phụ thuộc vào ánh sáng tạo ra, kết quả là các hợp chất này sau đó được giảm và loại bỏ để hình

thành carbohydrate cao hơn

- Trong các chuỗi thức ăn tự nhiên, thực vật ( và các sinh vật quang dưỡng) thường là những mắt xích đầu tiên; nghĩa là các sinh vật còn lại đều sử dụng sản phẩm của quá trình quang hợp phục vụ nhu cầu dinh dưỡng của chúng Do vậy, quang hợp là chuỗi phản ứng hóa học quan trọng bậc nhất trên Trái Đất, vì nó tạo năng lượng cho sự sống trong sinh quyển Quá trình quang hợp cũng sản sinh ra khí oxy, tạo nên một bầu khí quyển chứa nhiều oxy cho Trái Đất, một bầu khí quyển vốn dĩ chỉ

chứa nitơ và cácbônic trước khi có sinh vật quang dưỡng

- Ở thực vật, quá trình quang hợp chủ yếu được thực hiện nhờ diệp

lục (chlorophyll nghĩa là diệp lục; chloro- nghĩa là thứ có màu xanh lục) Sắc tố này thường chứa trong các bào quan gọi là lục lạp Mặc dù, hầu hết các phần của nhiều loàithực vật đều có màu xanh, năng lượng của quá trình quang hợp chủ yếu được thu nhận

từ lá Quá trình quang hợp của thực vật sử dụng chlorophyll và sản sinh ra oxy

4.2.Hô hấp:

- Hô hấp tế bào là một tập hợp các phản ứng và quá trình trao đổi chất diễn ra trong các tế bào của sinh vật để chuyển đổi năng lượng hóa học có trong chất dinh dưỡng thành thành adenosine triphosphate (ATP), và sau đó giải phóng các chất thải Các phảnứng liên quan đến hô hấp là các phản ứng dị hóa, phá vỡ các phân tử lớn thành các phân tử nhỏ hơn, giải phóng năng lượng trong quá trình, do liên kết yếu "cao năng" sẽ

0 0

Ngày đăng: 12/08/2022, 11:28

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w