1. Trang chủ
  2. » Y Tế - Sức Khỏe

KỸ THUẬT HỖ TRỢ SINH SẢN ppt

52 655 8
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Sự Tiến Hóa Của Loài Chim Sẻ Ở Quần Đảo Galapagos
Tác giả Peter Grant, Rosemary Grant, David Skelly
Trường học Đại học Princeton
Chuyên ngành Sinh học tiến hóa
Thể loại Báo cáo khoa học
Năm xuất bản 2004
Thành phố New Jersey
Định dạng
Số trang 52
Dung lượng 1,39 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Việt namcũng đang dẫn đầu khu vực về một số kỹ thuật điều trị như: ICSI với tinhphẫu thuật, xin trứng, nuôi trưởng thành trứng trong ống nghiệm, ápdụng phác đồ kích thích buồng trứng mới

Trang 1

Cuộc cạnh tranh giữa 2 loài chim sẻ ở quần đảo Galapagos đã khiến cho

mỏ của một loài nhỏ lại, giúp chúng tìm thức ăn dễ dàng hơn Các nhà khoa học đã chứng kiến được sự thay đổi này

Việc quan sát thấy quá trình thu nhỏ của mỏ chim mang lại một trong những mô tả tốt nhất về sự tiến hoá điển hình trong tự nhiên

Trong bài báo mới đây trên Science, Peter Grant và Rosemary Grant, cả hai đều là nhà sinh học tại Đại học Princeton, bang NewJersey (Mỹ) đã mô

tả cuộc cạnh tranh giữa loài chim sẻ đất trung bình (Geospiza fortis) và loài chim sẻ đất lớn (Geospiza magnirostris).

Loài sẻ đất trung bình G.fortis đã bị dồn dép và phải tiến hoá ra một cái mỏ nhỏ hơn khi xuất hiện kẻ cạnh tranh (loài chim sẻ đất lớn Geospiza

magnirostris, bay đến hòn đảo này hơn 20 năm trước) và điều kiện hạn

Kể từ đó, loài sẻ lớn G magnirostris này đã ăn hầu hết loại hạt lớn có gai

của những cây leo trên đảo và dần dần buộc loài sẻ trung bình phải phụ thuộc vào các loại hạt nhỏ hơn của những cây khác

Kết quả là sẻ G fortis với cái mỏ nhỏ hơn không cạnh tranh được với loài

lớn, và thường không nuôi nổi con của chúng Điều này buộc một số con phải phát triển theo hướng thu gọn lại dụng cụ kiếm ăn của mình

Nhưng vấn đề thực sự xảy ra vào giữa năm 2004-2004, khi mà hạn hán khắc nghiệt trên đảo xảy ra và tất cả các loại hạt cây đều khan hiếm

"Hầu hết các con chim có mỏ lớn trước hạn hán đã biến mất", Grant nói

Trong đó bao gồm đa số cá thể của loài sẻ mới đến G magnirostris và những con thuộc loài G fortis vẫn còn giữ cái mỏ lớn.

"Đây là một ví dụ kinh điển về sự tiến hoá nhanh chóng", David Skelly, mộtnhà sinh thái học và tiến hoá tại Đại học Yale nhận xét về tình huống này.Thông thường tiến hoá được xem là diễn ra chậm chạp ở những loài độngvật lớn như cá, chim, bò sát và thú Kích cỡ mỏ thay đổi trong vài thập kỷ

Trang 2

dường như đã là quá nhanh Chính vì thế, những con chim sẻ ở

Galapagos được xem là trường hợp tiến hoá nhanh tột độ gây ra bởi môi trường khắc nghiệt

"Giờ đây dường như như công trình của Grant đã chỉ ra một xu hướng mà

có thể rất phổ biến", Skelly nói

T An (theo Discovery)

Việt Báo Loài sẻ đất lớn (trên) đã cạnh tranh với loài sẻ đất trung bình để ăn các hạtlớn, khiến cho loài trung bình có xu hướng tiến hoá ra những cái mỏ nhỏ

hơn (dưới) Ảnh: Nature

A.R.T Ở VIỆT NAM – 10 NĂM PHÁT TRIỂN (1997-2007)

Ngày 19/8/1997, Bộ Trưởng Bộ Y tế ký quyết định cho phép Bệnh viện

Từ Dũ thực hiện những trường hợp TTTON đầu tiên ở Việt nam Bệnhviện Từ Dũ, đứng đầu là BS Nguyễn Thị Ngọc Phượng, với những nỗlực qua nhiều năm cho một quá trình chuẩn bị và thành công trong việctranh thủ được các nguồn lực từ hợp tác quốc tế đã tạo một sự khởi đầu

Trang 3

thật ấn tượng cho sự phát triển của lãnh vực này ở Việt nam

Với sự hợp tác và hỗ trợ của các chuyên gia người Pháp, các bác sĩBệnh viện Từ Dũ đã tiến hành các trường hợp TTTON đầu tiên tại Việtnam vào tháng 8 năm 1997 Gần 9 tháng sau, vào ngày 30/4/1998, 3 em

bé từ 3 trường hợp trường hợp TTTON thành công đầu Việt nam đãcùng chào đời vào một ngày Đến nay, ước tính cả nước Việt nam đã cóhơn 4000 em bé ra đời từ kỹ thuật hỗ trợ sinh sản trong tổng số trên 1triệu em bé đã ra đời trên thế giới

Mặc dù đi sau thế giới khỏang 20 năm và sau các nước trong khu vựcgần 15 năm, lãnh vực hỗ trợ sinh sản ở Việt nam đã đạt được nhữngbước tiến lớn trong 10 năm qua Việt nam hiện là nước có số chu kỳđiều trị hỗ trợ sinh sản cao nhất trong các nước Đông Nam Á Việt namcũng đang dẫn đầu khu vực về một số kỹ thuật điều trị như: ICSI với tinhphẫu thuật, xin trứng, nuôi trưởng thành trứng trong ống nghiệm, ápdụng phác đồ kích thích buồng trứng mới… Nhiều đồng nghiệp trongkhu vực trong những năm qua đã đến Việt nam để học hỏi kinh nghiệm.Ngày càng có nhiều báo cáo khoa học của các chuyên gia Việt nam về

kỹ thuật hỗ trợ sinh sản xuất hiện tại các hội thảo, hội nghị, tạp chí khoahọc của khu vực và trên thế giới

KỸ THUẬT HỖ TRỢ SINH SẢN LÀ GÌ ?

Kỹ thuật hỗ trợ sinh sản (ART) bao gồm các kỹ thuật giúp tăng khả năngsinh sản của người Theo định nghĩa, ART là những kỹ thuật trong đó cóthực hiện đem tế bào trứng người ra khỏi cơ thể Đây là những kỹ thuậtđược phát triển cơ bản dựa trên kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm

Trang 4

(TTTON) trên người

Nguyên tắc cơ bản của TTTON là tinh trùng và trứng được đem ra khỏi

cơ thể người, sau đó được xử lý và nuôi cấy trong điều kiện phòng thínghiệm Quá trình tạo phôi và nuôi cấy phôi trong những ngày đầu cũngdiễn ra bên ngòai cơ thể Sau đó, phôi hình thành sẽ được chọn lựa đểcấy trở lại vào buồng tử cung của người vợ Sự phát triển và làm tổ củaphôi, sự phát triển của thai sau đó diễn ra tương tự như những trườnghợp có thai tự nhiên

Vào năm 1978, em bé đầu tiên từ TTTON, Louis Brown, ra đời tại Anhđánh dấu bước đầu cho sự phát triển của TTTON trên người Đến nay,TTTON và các kỹ thuật hỗ trợ sinh sản nói chung, đã được thực hiệnthành công ở hầu hết các nước trên thế giới

THỤ TINH TRONG ỐNG NGHIỆM CỔ ĐIỂN VÀ CHUYỂN PHÔI (IVF/ET)

Kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm (TTTON) có nghĩa là cho trứng vàtinh trùng kết hợp với nhau trong phòng thí nghiệm (thay vì trong vòitrứng người phụ nữ) Sau đó phôi hình thành sẽ được chuyển trở lại vàobuồng tử cung Quá trình phát triển của phôi và thai sẽ diễn ra hoàn toànbình thường trong tử cung người mẹ Kỹ thuật này được thực hiện thànhcông trên thế giới lần đầu tiên năm 1978 và thành công lần đầu tiên ở

Trang 5

Việt nam năm 1998.

Phác đồ thực hiện TTTON và chuyển phôi hiện nay:

- Trong phác đồ kích thích buồng trứng tiêu chuẩn, bệnh nhân được tiêmthuốc kiểm soát nội tiết khoảng 2 tuần Sau đó, tiêm thuốc FSH để kíchbuồng trứng (khoảng 2 tuần) Với phác đồ kích thích buồng trứng mớihiện nay, thời gian kích thích buồng trứng giảm từ khỏang 4 tuần xuốngcòn dưới 2 tuần Các phác đồ mới này giúp đem lại sự tiện lợi và giảm

- Chọc hút trứng được thực hiện dưới hướng dẫn của siêu âm đầu dò

âm đạo Một cây kim chọc hút dài sẽ được đưa vào âm đạo, đâm xuyênqua cùng đồ để đi đến 2 buồng trứng và chọc hút các nang noãn Dịchchọc hút được sẽ được soi dưới kính hiển vi để tìm trứng

- Lấy tinh dịch chồng bằng cách thủ dâm hoặc sử dụng bao cao suchuyên dụng Tinh dịch sẽ được xử lý để tách tinh trùng có chất lượngtốt nhất Cấy trứng với tinh trùng trong môi trường nuôi cấy ở phòng thínghiệm

- Ngày hôm sau, chuyên viên về phôi học sẽ kiểm tra sự thụ tinh củatrứng Trứng thụ tinh sẽ được nuôi cấy tiếp tục và kiểm tra mỗi ngày

- Chọn phôi tốt và chuyển vào buồng tử cung (thường vào ngày 2-3 sauchọc chút trứng, có thể dời đến ngày 5, tùy phác đồ)

- Hai tuần sau khi chuyển phôi, người phụ nữ được lấy máu để thử thai.Nếu kết quả thử thai dương tính, 2-3 tuần sau, sản phụ sẽ được siêu âm

để xác định túi thai và tim thai trong buồng tử cung

- Quá trình theo dõi thai sẽ diễn ra bình thường như những thai kỳ khác

Tỉ lệ thành công của mỗi chu kỳ điều trị TTTON trung bình trên thế giớihiện nay khoảng 25%-30% Tỉ lệ này phụ thuộc vào tuổi bệnh nhân, chỉ

Trang 6

định điều trị và phác đồ điều trị của từng trung tâm.

Chỉ định

Chỉ định ban đầu của TTTON là tổn thương vòi trứng không có khả nănghồi phục do bệnh lý vùng chậu hoặc do phẫu thuật trước đó Tuy nhiên,sau đó TTTON được mở rộng cho nhiều chỉ định khác như: vô sinh nam,

vô sinh không rõ nguyên nhân, lạc nội mạc tử cung…

TIÊM TINH TRÙNG VÀO BÀO TƯƠNG TRỨNG (INTRACYTOPLASMIC SPERM INJECTION - ICSI)

Kỹ thuật được ra đời nhằm khắc phục tình trạng tỉ lệ thụ tinh thấp hoặckhông thụ tinh khi thực hiện TTTON, do bất thường quá trình thụ tinh haychất lượng tinh trùng kém Trong kỹ thuật TTTON cổ điển, để tinh trùngkết hợp tự nhiên với trứng trong môi trường nhân tạo, người ta phải cầnđến hàng trăm nghìn hay hàng triệu tinh trùng để thụ tinh được mộttrứng Với kỹ thuật ICSI này, người ta có thể tạo một hợp tử hoàn chỉnhbằng một trứng và một tinh trùng duy nhất Đây được xem là một cuộccách mạnh trong điều trị vô sinh do nguyên nhân ở nam giới Kỹ thuậtnày được thực hiện thành công đầu tiên trên thế giới vào năm 1993 vàthành công đầu tiên ở Việt nam năm 1999

Ở các trung tâm hỗ trợ sinh sản lớn, kỹ thuật ICSI hiện đang thay thếdần kỹ thuật TTTON cổ điển Ở một số trung tâm, 100% các chu kỳ

Trang 7

HTSS đều thực hiện ICSI Kỹ thuật này thường cho tỉ lệ thụ tinh caohơn, làm số phôi có được nhiều hơn, nhiều khả năng chọn lọc được phôitốt để chuyển vào buồng tử cung, dẫn đến tỉ lệ có thành công cao hơn

và tránh được một số trường hợp không có phôi để chuyển do thất bạithụ tinh Mặc dù có một số quan ngại, cho đến nay, ICSI được xem làmột kỹ thuật điều trị an toàn và đang được áp dụng rộng rãi trên toàn thếgiới

Kỹ thuật ICSI hiện nay có thể thực hiện với tinh trùng tươi hoặc sau trữlạnh; tinh trùng trong tinh dịch hoặc tinh trùng sinh thiết từ mào tinh vàtinh hoàn Nhờ đó, một số trường hợp các cặp vợ chồng vô sinh dochồng không có tinh trùng, vẫn có có con bằng cách mổ để tìm tinh trùngtrong tinh hoàn hoặc mào tinh hoàn

XIN TRỨNG

Xã hội ngày càng phát triển, người phụ nữ càng lập gia đình muộn vàtuổi bắt đầu mong con cũng muộn hơn Sau 30 tuổi, buồng trứng củangười phụ nữ bắt đầu suy giảm chức năng và khả năng có thai cũnggiảm dần Sau 35 tuổi khả năng có thai giảm càng nhanh hơn và đến 40tuổi, hơn 1/3 phụ nữ đã không còn khả năng có thai tự nhiên, chủ yếu do

sự suy giảm chức năng buồng trứng Ngoài ra, một số bệnh lý hoặc cácphẫu thuật trên buồng trứng khiến buồng trứng suy giảm hoặc mất hẳnchức năng sớm hơn

Trang 8

Với kỹ thuật hỗ trợ sinh sản, các phụ nữ bất hạnh trên có thể mang thai,sinh nở và làm mẹ bằng cách xin trứng của những người hiến tặng Cácphụ nữ hiến tặng trứng sẽ được tiêm thuốc, theo dõi và chọc hút trứngnhư một trường hợp TTTON bình thường Sau đó, trứng được hiến tặng

sẽ được cho thụ tinh với tinh trùng chồng của người xin trứng Phôi sau

đó sẽ được cấy vào tử cung của người xin trứng Người phụ nữ này cóthể tiếp tục mang thai và sinh đẻ bình thường

Kỹ thuật này được thực hiện thành công trên thế giới năm 1986 và thànhcông đầu tiên ở Việt nam năm 2000 Cho đến nay, ở Việt nam đã cóhàng nghìn trẻ được ra đời từ hỗ trợ sinh sản bằng trứng hiến tặng, đemlại hạnh phúc cho nhiều gia đình

KỸ THUẬT ĐÔNG LẠNH VÀ LƯU TRỮ GIAO TỬ VÀ PHÔI

Nhằm lưu giữ khả năng sinh sản và gia tăng hiệu quả của các kỹ thuật

hỗ trợ sinh sản, người ta đã nghiên cứu đông lạnh và lưu trữ thành côngtinh trùng, phôi và trứng người

Bình thường tinh trùng người chỉ tồn tại được vài ngày sau khi xuất tinh;trứng người tồn tại không quá 1 ngày sau khi rụng trứng; phôi người nếukhông phát triển và làm tổ được trong buồng tử cung sẽ tự thoái hóa.Bằng các kỹ thuật đông lạnh, lưu trữ hiện nay, người ta có thể lưu trữtinh trùng, phôi và trứng người trong nhiều năm Hiện nay, các kỹ thuậtđông lạnh và lưu trữ trên đều có thể thực hiện ở Việt nam

Trang 9

Gần đây, với việc triển khai thành công phương pháp đông lạnh cựcnhanh bằng kỹ thuật thủy tinh hóa (vitrification) giúp tăng hiệu quả vàgiảm giá thành điều trị, các chuyên gia ở Việt nam đã đạt đến trình độthế giới trong công nghệ trữ lạnh phôi và trứng người.

SỨC KHỎE CÁC BÉ SINH RA TỪ CÁC KỸ THUẬT HỖ TRỢ SINH SẢN

Người ta ước tính hiện nay đã có hàng triệu người trên thế giới đượcsinh ra từ KTHTSS Tại Châu Au, hiện nay có từ 1-5% trẻ sinh ra hàngnăm là kết quả của KTHTSS Ở một số nước Bắc Au, hàng năm có gần

2000 trường hợp KTHTSS trên mỗi triệu dân Ở nhiều các nước pháttriển, chi phí thực hiện các kỹ thuật hỗ trợ sinh sản được nhà nước tàitrợ một phần hoặc toàn phần KTHTSS hiện là một phân ngành quantrọng trong Sản Phụ khoa hiện đại và một bộ phận không thể thiếu ở hầuhết các trung tâm Sản-Phụ khoa trên thế giới

Từ gần 30 năm qua, nhiều nghiên cứu qui mô lớn, theo dõi trong thờigian dài, được thực hiện trên thế giới để theo dõi sức khỏe và sự pháttriển của các bé sinh ra từ kỹ thuật hỗ trợ sinh sản đã được thực hiện Các báo cáo cho đến nay đều khẳng định sự an toàn của các kỹ thuật hỗtrợ sinh sản Đây là cơ sở cho sự phát triển ngày càng mạnh của các kỹthuật hỗ trợ sinh sản trên thế giới Ở Việt nam một số nghiên cứu lớntrên hàng trăm bé cũng đã được thực hiện và cho kết quả tương đươngvới các báo cáo khác trên thế giới Các nghiên cứu này của Việt nam

Trang 10

cũng đã được báo cáo tại các hội nghị khoa học khu vực và thế giới Tuynhiên, người ta cũng ghi nhận một số bất thường hoặc bệnh lý có liênquan đến nguyên nhân gây hiếm muộn, vô sinh ở bố mẹ có thể truyềnsang cho con.

http://www.hosrem.org.vn/index.php?cid=1&l=2&f=14&spid=20

Hỗ trợ sinh sản & các kỹ thuật liên quan

Một kỹ thuật mới làm tăng khả năng có thai - Hỗ trợ phôi thoát màng bằng Laser

Hơn 10 năm sau khi 3 em bé đầu tiên ra đời từ kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm tại Việt Nam, nhiều phương pháp mới trong điều trị vô sinh đã được ứng dụng tại bệnh viện Từ Dũ.08/09/2008

Hỗ trợ phôi thoát màng có thể làm tăng tỷ lệ có thai cho những bệnh nhân thụ tinh trong ống nghiệm

Hỗ trợ phôi thoát màng (Assisted hatching) đã được thực hiện từ những năm đầu của thập niên 90 Đây là kỹ thuật làm mỏng hoặc tạo một lỗ thoáttrên màng của phôi nhằm cải thiện tỉ lệ có thai và tỉ lệ làm tổ của phôi

Có 4 cách để hỗ trợ phôi thoát màng18/06/2009

Những nhân tố ảnh hưởng đến kết quả ICSI

Yếu tố tinh trùng: Nagy và các cộng sự đã tiến hành đánh giá ảnh hưởng của yếu tố tinh trùng lên kết quả ICSI trong 966 chu kỳ điều trị Mặc dù không có hình dạng bình thường trong mẫu tinh dịch, không có tinh trùng

“ảo”, hay không có tinh trùng di động khi xuất tinh, nhưng vẫn có thể mangthai.13/06/2009

Các kỹ thuật Hỗ trợ sinh sản tại bệnh viện Từ Dũ

Trang 11

Kỹ thuật hỗ trợ sinh sản (Assisted Reproductive Technologies – ART) bao gồm những kỹ thuật điều trị vô sinh trong đó có chọc hút trứng và đem trứng ra ngoài cơ thể01/06/2009

Trữ lạnh phôi

Như chúng ta đã biết, trữ lạnh mô hay trữ lạnh tế bào là để bảo tồn nó chotương lai Với những kỹ thuật hiện nay, trữ lạnh phôi là một trong những phương pháp hỗ trợ hiệu quả trong qúa trình điều trị vô sinh cho những trường hợp bệnh nhân có phôi dư sau chu kỳ chuyển phôi tươi31/05/2009

Lịch sử phát triển của kỹ thuật hổ trợ sinh sản trên thế giới và tại Việt nam

Trang 12

1959, Chang lần đầu tiên thành công trong việc cho thụ tinh giữa tinh trùng

và trứng động vật có vú (thỏ) trong điều kiện phòng thí nghiệm Đây được xem là thành tựu quan trọng nhất trong lịch sử phát triển của

TTTON.26/04/2004

Thụ tinh trong ống nghiệm: Tiêm tinh trùng vào bào tương trứng

Hơn 20 năm qua thụ tinh trong ống nghiệm (TTTON) đã gặt hái rất nhiều thành công trong điều trị hiếm muộn do vòi trứng, hiếm muộn vô căn hoặc

do chồng.Tuy nhiên, tỉ lệ thành công của TTTON với nguyên nhân do chồng thấp hơn so với trường hợp tinh trùng chồng bình

ra đời 1984 tại Monash Từ đó đến nay, kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm cho trứng ngày càng phát triển rộng rãi và trở thành một phương pháp điều trị thường qui tại các trung tâm TTTON trên thế giới với tỉ lệ có thai lâm sàng từ 22 - 67% tùy trung tâm

Trang 13

Đây là một nghiên cứu hồi cứu, được thực hiện nhằm xác định tỷ lệ thai lâm sàng từ kỹ thuật TTTON-xin trứng và một số yếu tố ảnh hưởng đến tỷ

lệ có thai Trong khoảng thời gian từ tháng 01 đến 08 năm 2000, có 59 chu

kỳ điều trị được tiến hành Bệnh nhân được kích thích buồng trứng bằng phác đồ down regulation, sử dụng FSH tái tổ hợp Niêm mạc tử cung của người nhận được chuẩn bị bằng estradiol (đường uống) phối hợp với progesterone (đặt âm đạo) Chuyển phôi được tiến hành hai ngày sau chọc hút trứng, với số phôi chuyển trung bình là 3.7 ( 0.8 phôi Số liệu được so sánh giữa hai nhóm có thai và không có thai

Các chỉ định điều trị bao gồm suy buồng trứng sớm (27.1%), đáp ứng kémvới kích thích buồng trứng trong các chu kỳ TTTON trước đây (56%) và phụ nữ mãn kinh (16.9%) Tuổi trung bình người nhận là 40 ( 5.3 tuổi Thờigian vô sinh trung bình là 11.5 ( 5.4 năm Nồng độ FSH vào ngày 2 vòng kinh là 22.8 ( 24.9 IU/L tuổi trung bình của người cho là 29.9 ( 4.2 tuổi, thay đổi từ 20 đến 38 tuổi, với nồng độ FSH vào ngày 2 vòng kinh là 4.6 ( 1.3 IU/L Tỷ lệ thai lâm sàng và thai diễn tiến (trên chu kỳ chuyển phôi) trong nghiên cứu lần lượt là 55.9% và 47.5%

Tỷ lệ sảy thai và đa thai lần lượt là 6.8% và 25.4% Không có sự khác biệt

có ý nghĩa thống kê giữa hai nhóm có thai và không có thai về tuổi người nhận, tuy nhiên, có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê khi so sánh tuổi người cho giữa hai nhóm (28.8 ( 4.5 so với 31.2 ( 3.6, p = 0/03)

Ngoài ra, tỷ lệ thai diễn tiến cũng cao hơn đáng kể khi tuổi người cho ( 29

so với nhóm phụ nữ từ 30 tuổi trở lên (57.6% so với 42.4%, p < 0.01) Không có mối liên hệ nào giữa tuổi người nhận và độ dày niêm mạc tử cung được tìm thấy Tuy nhiên, có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa hai nhóm có và không có thai về các yếu tố như số trứng chọc hút được,

số phôi được hình thành, số phôi có chất lượng tốt cũng như độ dày niêm mạc tử cung vào ngày cho hCG (lần lượt là 14.6 ( 7.1, 11.1 ( 6.3, 4.9 ( 3.2, 11.0 ( 1.7 so với 10.3 ( 5.2, 6.4 ( 2.7; p±4.1, 2.3 ( 2.5, 8.5 < 0.01)

Kết quả nghiên cứu này cho thấy TTTON-cho trứng là một biện pháp điều trị đem lại thành công khá cao cho những phụ nữ vô sinh do dự trữ buồng trứng giảm Sự đáp ứng của niêm mạc tử cung với nội tiết ngoại sinh sử dụng trong nghiên cứu có vẻ không phụ thuộc tuổi người nhận Bên cạnh tuổi người cho, độ dày niêm mạc tử cung, số trứng chọc hút được và số phôi có chất lượng tốt có thể được xem là các yếu tố tiên lượng tỷ lệ thànhcông của chương trình TTTON-cho trứng

http://www.ivftudu.com.vn/article/1140/

Thụ tinh trong ống nghiệm: Tiêm tinh trùng vào bào tương trứng

Trang 14

BS Hồ Mạnh Tường, BS.Vương Thị Ngọc Lan, BS Phạm Việt Thanh, BS.

Do đó, nhiều cố gắng nhằm cải thiện tỉ lệ thụ tinh cho những trường hợp tinh trùng yếu đã được thử nghiệm trong những năm gần đây Năm 1991,

Ng và cộng sự (Singapore) báo cáo trường hợp thành công đầu tiên bằng phương pháp tiêm tinh trùng vào khoang quanh noãn (SUZI) Năm 1992, Cohen và cộng sự (Mỹ) công bố trường hợp thành công đầu tiên bằng phương pháp tạo lỗ thủng nhân tạo ở zona pellucida (PZD) Tuy nhiên hai phương pháp nêu trên vẫn không làm tăng đáng kể tỉ lện thụ tinh ở những trường hợp tinh trùng chồng yếu Cũng vào năm 1992, phương pháp ICSI được giới thiệu sau một loạt những trường hợp thành công của Palermo (Bỉ) và cộng sự khi tiêm tinh trùng trưc tiếp vào bào tương trứng Từ đó đến nay, kỹ thuật ICSI đã không ngừng được cải tiến và áp dụng ngày càng rộng rãi Ở Mỹ, năm 1996, ICSI đã chiếm hơn 30% các chu kỳ hỗ trợsinh sản Hiện nay tỉ lệ này có thể còn cao hơn ICSI là kỹ thuật hỗ trợ cho quá trình thụ tinh giữa tinh trùng và trứng in-vitro Khi điều trị với ICSI, các bước tiến hành hoàn toàn tương tượng như TTTON thông thường, chì khác ở giai đoạn thụ tinh, 1 tinh trùng được tiêm trực tiếp vào trứng dưới

Trang 15

Các em bé sinh ra do thụ tinh trong ống nghiệm đầu tiên tại Việt Nam vào tháng 4 năm 1998 tại Bệnh viện Phụ sản Từ Dũ Đây cũng là nơi đầu tiên

ở Việt Nam thực hiên thành công kỹ thuật tiêm trùng vào bào tương trứng năm 1998, em bé đầu tiên được sinh ra kỹ thuật này vào tháng 2/1999 cho đến nay chưa có nghiên cứu nào báo cáo về khả năng ứng dụng và kết quả kỹ thuật ICSI trong điều trị vô sinh nam tại Việt Nam

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Đây là một nghiên cứu Chúng tôi thu thập các số liệu từ tất cả các trường hợp được điều trị với kỹ thuật ICSI tại khoa Hiếm muộn, Bệnh viện Phụ Sản Từ Dũ từ tháng 5/1999 đến tháng 3/2000

Qui trình thực hiện ICSI

Người vợ được cho thuốc kích thích buồng trứng để tăng tối đa nang noãnphát triển trong chu kỳ điều trị Chúng tôi sử dụng phác đồ dài, phối hợp GnRH agonist (Decapeptyl 0,1 mg) và FSH tái tổ hợp (Puregon) Bệnh nhân sau đó được theo dõi bằng siêu âm vá định lượng nội tiết (LH, E2)

để điều chỉnh liều thuốc và xác định thời điểm nang noãn trưởng thành hCG (Pregnyl) được sử dụng để kích thích sự trưởng thành của noãn Chọc hút trứng qua âm đạo, dưới hướng dẫn của siêu âm với đầu dò âm đạo Trứng chọc hút được tiến hành khoảng 35 giờ sau khi tiêm hCG Trứng chọc hút được sẽ được cấy với môi trường cấy (IVF-20) trong tủ cấy CO2 từ 5 đến 6 giờ

Tinh dịch được lấy khoảng 2 giờ sau khi chọc hút Sau đó chúng tôi tiến hành lọc tinh trùng bằng Sperm Grad-100 và rửa lại 2 lần với các môi trường Sperm Rinse-20 và Gamete-20

Khoảng 5-6 giờ sau khi chọc hút trứng, trứng được cho vào môi trừơng Gamete-20 chứa men hyaluronidase nồng độ 80IU/ml để tách các lớp tế bào nang xung quanh trứng Việc bóc tách các tế bào quanh trứng được

hỗ trự vói pipette Pasteru kéo nhỏ có đường kính nhỏ dần từ 100-150 mm dưới kính hiển vi soi nổi

Trứng sau đó được cho vào các giọt môi trường trên đĩa cấy đường kính 30mm Tinh trùng sau khi lọc và rửa cũng được cho vào giọt PVP 10% trên đĩa cấy Tất cả các giọt môi trường trong đĩa cấy được phủ một lớp dầu (Ovoil-150) Sau đó đĩa cấy được đặt vào kính hiển vi đảo ngược có

bệ sưởi ấm 370C để thực hiện tiêm tinh trùng vào trứng được thực hiên dưới kính hiển vi đảo ngược với hệ thống vi thao tác (micromanipulation)

ở độ phóng đại 200 lần

Trang 16

Kim tiêm tinh trùng (microinjection pipette) với đường kính khoảng 5-6 m

sẽ được đặt vào giọt PVP 10% để cố định và bắt tinh trùng Sau đó đặt kim giữ trứng (holding pipette) với đường kính trong khoảng 30-40 m cùngvới kim tiêm tinh trùng vào giọt môi trường chứa trứng Tạo áp lực âm trong kim giữ trứng để giữ cố định trứng lúc tịem tinh trùng Kim tiêm tinh trùng được đâm xuên qua màng trong suốt và màng tế bào trứng Tinh trùng sau đó được tiêm vào bào tương trứng

Trứng sau khi tiêm tinh trùng sẽ được nuôi cấy trong tủ cấy CO2 việc kiểm tra thụ tinh được thực hiên từ 16-18 giờ sau Sau đó trứng sẽ được đặt trở lại tủ cấy Trứng thụ tinh sẽ đựơc kiểm tra lần thứ hai vào ngày hôm sau để đánh giá sự phát triển của phôi và chọn phôi chuyển vào buồng tử cung

Hai tuần sau khi chuyển phôi, bệnh nhân được làm xét nghiệm thử thai bằng cách định lượng kCG trong huyết thanh (phư8ơng pháp mễim dịch men) Nếu xét nghiêm thử thai dương tính, bệnh nhân sẽ được hẹn siêu

âm 3 tuần sau để siêu âm xác định túi thai trong buồng tử cung Thai lâm sàng được định nghĩa khi trên siêu âm thấy có túi thai và tim trong lòng tử cung

Tất cả các số liệu đều được ghi nhận từ hồ sơ bệnh án theo dõi và xử lý bằng phần mềm Microsoft Excel 97

Trang 17

Tuổi trung bình của chồng là 37,6 (4,8 ở đa số các cặp vợ chồng tham giachương trình này, tuổi không cao

Số trứng được tiêm tinh trùng ít hơn số trứng được chọc hút do có một tỉ

lệ nhất định trứng chưa trưởng thành khi đánh giá dưới kính hiển vi

Chúng tôi chỉ thực hiên ICSI đối với các trứng trưởng thành Trứng trưởng thành được xác định bởi sự xuất hiện của thể cực thứ nhất ở khoang quanh noãn

Bảng 2 Kết quả kỹ thuật của ICSI

Cột thứ 2 cho thấy kết quả kỹ thuật của kỹ thuật ICSI thực hiện tại Phòng thụ tinh trong ống nghiệm, Bệnh viện Phụ Sản Từ Dũ Các tỉ lệ phần trăm được tính trên tổng số trứng đã được ICSI

Trứng sống sau ICSI được tính là số trứng không bị thoái hóa hoặc vỡ saukhi thực hiện ICSI Số trứng này có thể thụ tinh hoặc không thụ tinh Trứngthụ tinh được xác nhận dựa trên sự xuất hiện của các tiền nhân (pronulei) khi kiểm tra thụ tinh và 16-18 giờ sau ICSI Số phôi được tính dựa trên sự phân chia của các trứng đã thụ tinh

Trang 18

Bảng 3 kết quả điều trị

Có 2 trường hợp không chuyển phôi do sau khi tiêm ICSI, các trứng không

có thụ tinh hoặc có thụ tinh nhưng không phát triển thành phôi

Thai lâm sàng được xác định khi phát hiện thấy túi thai và tim thai trong lòng tử cung qua siêu âm, 3 tuần sau khi thử hCG dương tính Tỉ lệ làm tổ của phôi được tính bằng tổng só túi thai phát hiện trên siêu âm trên tổng

số phôi chuyển vào buồng tử cung

Tuổi trung bình của chồng không cao (bảng 1) cho thấy yếu tố tuổi có thể không đóng vai trò quan trọng trong số lượng và chất lựơng tinh trùng trong các trường hợp hiếm muộn do nam giới

Mật độ tinh trùng được gọi là bình thường khi có ít nhất 20 triệu tinh trùng

di động trong 1 ml tinh dịch Tỉ lệ di động của tinh trùng được gọi là bình thường khi có ít nhất 50% tinh trùng có di động tíên tới Mật độ tinh trùng

Trang 19

trung bình và tỉ lệ di động trung bình cao tương đối cao trong mẫu nghiên cứu (bảng 2) do các yếu tố sau: (1) có một số trường hợp tinh trùng có chất lượng tương đối bình thường nhưng bệnh nhân thất bại trong các chu

kỳ thụ tinh trong ống nghiệm trước do tỷ lệ thụ tinh thấp khi cấy trứng và tinh trùng và (2) một số trường hợp số lượng tinh trùng bình thường

nhưng tỷ lệ dị dạng cao Thực tế trên 80% trường hợp của mẫu nghiên cứu có bất bình thường về tinh trùng vừa hoặc nặng (mật độ tinh trùng < 5triệu/ml kèm với bất thường về tỉ lệ di động và tỉ lệ dị dạng của tinh trùng)

Để có dữ liệu để đánh giá các số liệu của chương trình ICSI tại bệnh viện

Từ Dũ, chúng tôi tham khảo với số liệu liên quan với chương trình ICSI tại Trung tâm Y học sinh sản, thuộc Bệnh Viện Trường Đại học Brussels, Bỉ Đây là trung tâm thực hiện ICSI đầu tiên trên thế giới So với số liệu trong

5 năm đầu của trung tâm trên, các số liệu của chúng tôi đạt được gần tương đương

Các số liệu về số trứng sống, số trứng thụ tinh và số phôi sau ICSI thể hiện thành công của kỹ thuật thực hiên ICSI Tỷ lệ thành công của kỹ thuậtICSI phụ thuộc vào nhiều yếu tố: phác đồ chuẩn bị trứng, phác đồ chuẩn

bị tinh trùng, chất lượng kỹ thuật của máy móc và dụng cụ hỗ trợ như: kínhhiển vi, kim giữ trứng, kim tiêm tinh trùng… tuy nhiên vấn đề quan trọng nhất là kỹ thuật tiêm tinh trùng vào bào tương trứng và kỹ thuật nuôi cấy trứng và phôi

Kỹ thuật ICSI bao gồm một sự phối hợp rất chính xác của 2 tay của người thực hiện trên nhiều công đoạn: bất động tinh trùng, hút tinh trùng vào kim,giữ trứng và đặt kim đúng vị trí, đâm kim qua màng trong suốt làm thủng màng tế bào trứng, tiêm tinh trùng… Để đảm bảo một tỷ lệ trứng sống thụ tinh và có khả năng phát triển thành phôi cao, người thực hiện cần phải có

sự kiên nhẫn, khéo tay và tiû mỉ Các kết quả trên cho thấy dù mới bắt đầumột kỹ thuật rất mới ở Việt Nam, chúng tôi đã đạt được một kết quả hết sức khả quan, mở ra triển vọng ứng dụng và phát triển kỹ thuật này ở Việt Nam

Kết quả điều trị còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác ngoài các yếu tố kỹ thuật của ICSI như chọn phôi chuyển vào buồng tử cung, kỹ thuật chuyển phôi, phác đồ chuẩn bị nội mạc tử cung tạo điều kiện thuận lợi cho phôi làm tổ Do số trứng chọc hút được ở mỗi chu kỳ tương đối cao, nên dù kếtquả kỹ thuật ICSI của chúng tôi có thấp hơn so với nghiên cứu tham khảo,chúng tôi đạt được tỷ lệ có phôi chuyển cao tương đương Đây có thể là yếu tố góp phần làm cho tỷ lệ có thai lâm sàng đạt được của chúng tôi tương đối cao (bảng 2 và bảng 3)

Trang 20

Tỷ lệ làm tổ của phơi là chỉ số quan trọng nhất thể hiện hiệu quả của tồn

bộ cơng nghệ tạo phơi và nuơi cấy phơi cùng với sự chuẩn bị nội mạc tử cung Chỉ số này nĩi lên khả năng tồn tại và phát triển của phơi sau khi đặtvào buồng tử cung Nhiều báo cáo ước tính với phác đồ chuyền phơi vào ngày 2 sau khi cấy, tỷ lệ làm tổ của phơi nĩi chung trên Thế Giới cho đến hiện nay là khoảng trên dưới 15% Tỷ lệ làm tổ của phơi trong nghiên cứu của chúng tơi cũng tương đương với tỷ lệ chung trên thế giới (bảng 3)Kết quả ở một số trường hợp cho thấy tỷ lệ làm tổ của phơi của chúng tơi

cĩ thể đạt ở mức rất cao (50%-80%) Cơng nghệ tạo phơi với kỹ thuật ICSIbước đầu đưa vào ứng dụng đã đạt được thành cơng Tuy nhiên chúng tơicần thiết nghiên cứu cải tiến nhiều hơn để đạt được kết quả cao và ổn định

Một vấn đề thường đựơc đặt ra kể từ khi kỹ thuật ICSI được đưa vào ứng dụng trên người để điều trị vơ sinh và tỷ lệ dị tật và bất thường nhiễm sắc thể ở trẻ sinh ra do ICSI Rất nhiều nghiên cứu trên thế giới đã được thực hiện để xác định các nguy cơ cĩ thể cĩ, đặc biệt là về bất thường về di truyền đối với trẻ sinh ra do kỹ thuật ICSI Hầu hết các nghiên cứu lớn, với

số liệu và phân tích hồn chỉnh đều cho thấy ICSI là một kỹ thuật an tồn cho đến thời điểm hiện nay (gần 10 năm sau khi đưa vào ứng dụng) Nhiều nghiên cứu cho thấy trẻ sinh ra do ICSI cĩ tỷ lệ dị tật bẩm sinh và bất thường nhiễm sắc thể tương đương với dân số bình thường hoặc cao hơn khơng đáng kể (OR từ 1-1,28) Trong đĩ, người ta ghi nhận cĩ một số yếu tố chủ quan và khách quan trong khi thống kê cĩ thể làm tỷ lệ dị tật và bất bình thường nhiễm sắc thể ở trẻ sinh ra do ICSI cao hơn:

- Các trẻ sinh ra do ICSI được theo dõi trước và sau khi sanh kỹ hơn nêntần suất phát hiện bất thường cao hơn

- Tỷ lệ đa thai cao hơn ở các chu kỳ ICSI (so với bình thường) nên tỷ lệ các bất thường cao hơn

- Các bất thường về cấu trúc nhiễm sắc thể thường do truyền từ cha (cha

cĩ bất thường về cấu trúc nhiễm sắc thể gây thiểu năng tinh trùng)

Ít cĩ nghiên cứu nào ghi nhận các dị tật và bất thường nhiễm sắc thể do bản thân kỹ thuật ICSI gây ra Do đĩ cho đến nay, kỹ thuật ICSI vẫn được đánh gía là một kỹ thuật điều trị an tồn, mặc dù vấn đề theo dõi lâu dài vẫn được đặt ra

Trong số các trẻ sinh ra do ICSI tại bệnh viện Từ Dũ cho đến nay, chúng tơi chưa phát hiện trừơng hợp dị tật bẩm sinh và bất thường nhiễm sắc thểnào trên việc theo dõi sau sanh và nhiễm sắc thể đồ Chúng tơi cũng chưaphát hiện dị tật bẩm sinh nào trên siêu âm theo dõi tiền sản của các

trường hợp cĩ thai sau thực hiện ICSI

Trang 21

Kỹ thuật ICSI từ khi được báo cáo thành công năm 1992 đã phát triển rất nhanh trên toàn thế giới Ơû một số trung tâm lớn, tỷ lệ áp dụng ICSI vào các chu kỳ hỗ trợ sinh sản lên đến trên 60% Từ hơn 5 năm nay, người ta cũng đã mở rộng kỹ thuật ICSI cho các trường hợp không có tinh trùng Trong những trường hợp này, người ta sẽ sinh thiết từ mào tinh hoặc tinh hoàn để tìm tinh trùng sau đó thực hịên ICSI bình thường Hầu hết các kết quả đều báo đạt được tỷ lệ thành công tương đương với các trường hợp

có tinh trùng trong tinh dịch, nếu các tinh trùng từ sinh thiết đã trưởng thành về mặt hình thái

ICSI được thực hiện bằng kỹ thuật vi thao tác (micromanipulation) dưới kính hiển vi đảo ngược với sự hỗ trợ của hệ thống vi thao tác

(micromanipulation system) Vi thao tác là kỹ thuật được sử dụng để thao tác trên tế bào, trên giao tử và phôi Như vậy với sự hỗ trợ của vi thao tác, hiện nay chúng ta có thể “phẫu thuật” trên giao tử để tạo phôi Nếu Vi phẩuthuật trong ngoại khoa giúp ta phẫu thuật để bảo toàn hay thay đổi chức năng của một tổ chức, một cơ quan trong cơ thể người thì vi thao tác có thể giúp ta hình thành một cá thể hoàn chỉnh

Những nghiên cứu đầu tiên trên tế bào ứng dụng vi thao tác được báo cáo

ở đầu thế kỷ 20 Hện nay, đây là kỹ thuật cơ bản để nghiên cứu trong sinh học ở mức độ can thiệp lên tế bào, đặc biệt trong ngành sinh học sinh sản

Kỹ thuật vi thao tác đã và đang được ứng dụng vào nhiều công khác nhau trong nghiên cứu và ứng dụng như chuyển gien, tạo giống, nhân giống, sinh thiết phôi, sinh sản vô tính (cloning)… Vì những khả năng ứng dụng rộng rãi, vi thao tác được xem là một trong những công nghệ sinh học cơ bản của tương lai trong thế kỷ 21- thế kỷ của sinh học

KẾT LUẬN

Việc ứng dụng thành công kỹ thuật ICSI mang lại khả năng có con cho nhiều cặp vợ chồng hiếm muộn do nguyên bất thường chất lượng và số lượng tinh trùng, mà trước nay tưởng chừng như không còn hy vọng Một lần nữa, kết quả này cho thấy khả năng tiếp thu các kỹ thuật điều trị hiện đại trên thế giới vào thực tế Việt Nam

Theo chúng tôi được biết, chương trình ICSI tại bệnh viện phụ sản Từ Dũ

là một trong những chương trình đầu tiên ứng dụng kỹ thuật vi thao tác trên tế bào động vật, đặc biệt là trên trứng và tinh trùng người, ở Việt Nam Hiện nay chúng tôi đã tiếp xúc và có một số bước ban đầu chuẩn bị

để triển khai hỗ trợ triển giao công nghệ và hợp tác trong việc ứng dụng vi thao tác và nuôi cấy phôi cho các trung tâm Sản Phụ khoa và một số trungtâm nghiên cứu và giảng dạy trong cả nước như học Viện Quân Y, Viện

Trang 22

Bảo vệ Bà mẹ sơ sinh Hà Nội, Bệnh viện phụ sản Hải Phòng, Bệnh viện

đa khoa Cần Thơ, Khoa sinh học Trường đại học Khoa Học Tự Nhiên TP.HCM Với sự quan tâm của nhiều cơ quan nghiên cứu, giảng dạy và ứng dụng vào ICSI nói riêng và kỹ thuật vi thao tác nói chung, hy vọng cáccông nghệ sinh học này sớm được đưa vào ứng dụng rộng rãi ở Viêt Nam

để góp phần thúc đẩy sự phát triển ngành công nghệ sinh học còn non trẻ

ở nước ta

Tài liệu tham khảo

1 Cohen J, Malter HE, Talansky BE và Grifo J (1990) Micromaniputation

of Human Gametes and Embroys Raven Press, New York

2 Cohen J, Willadsen S, Schimmel T và Levron Jacob (2000)

Micromanipulation as a clinical tool Trong “Handbook of In Vitro

Fertilization” 2nd edition của Trounson A và Gardner D (Eds.) CRC Press,USA: 256-306

3 Devroey P, Tarlatzis BC và Van Steirteghem A (Eds) (1998) Current Theory and Practice of ICSI Human Reproduction, volume 13, supplement1

4 Flaherty SP và Matthews CD (1994).Intracytoplasmic Sperm Injection –The Revolution in Male Infertility CSIRO, Australia

5 Tarlatzis BC và Bili H (1998) Survey in intracytoplasmic sperm injection:report from the ESHRE ICSI Task Froce European society of Human Reproducion and Embryology Human Reproduction, 1998 Apr; 13 Suppl 1: 165-177

6 Van Steirteghem A (1999) Press Release: A Van Steirteghem on the Follow up of Children born after ICSI Ref.: www.eshre.com/?610

7 Van Steirteghem A (2000) Assisted fertilization Trong “Handbook of In Vitro Fertilization” 2nd edition của Trounson A và Gardner Được (Eds.), CRC Press, USA: 145-166

8 Wennerholm UB, Bergh C., Hamberger L và cs (2000) Incidence of congenital malformations in children born after ICSI Human Reproductive vol.15, no.14:944-948

9 American Society for Reproductive Medicine (2000) 1996 Assisted Reproductive Technology Success Rate Report

10 Hồ Mạnh Tường, Vương Thị Ngọc Lan, Phạm Việt Thanh, Nguyễn Thị Ngọc Phượng (1999) thụ tinh trong ống nghiệm Thời sự Y Dược Học, bộ

Trang 23

Trên thế giới

1959, Chang lần đầu tiên thành công trong việc cho thụ tinh giữa tinh trùng

và trứng động vật có vú (thỏ) trong điều kiện phòng thí nghiệm Đây được xem là thành tựu quan trọng nhất trong lịch sử phát triển của TTTON Nó chứng tỏ trứng và tinh trùng của động vật có thể thụ tinh được bên ngoài

cơ thể Từ sau thí nghiệm này TTTON đã được nghiên cứu trên nhiều loài động vật khác nhau, kể cả người

1966, các bác sĩ người Mỹ và nhà khoa học người Anh RG Edwards lần đầu tiên công bố trường hợp lấy được trứng người qua phẫu thuật nội soi tại Mỹ Tuy nhiên, nhóm nghiên cứu này thất bại trong việc chứng minh trứng và tinh trùng người có thể thụ tinh được bên ngoài cơ thể

1971, Steptoe và Edwards ở Anh bắt đầu báo cáo nuôi cấy được phôi nang người trong ống nghiệm và chuyển phôi vào buồng tử cung

1976, trường hợp có thai đầu tiên từ TTTON trên thế giới được ghi nhận tại Anh do Steptoe và Edwards công bố Tuy nhiên, rất tiếc đây lại là một trường hợp thai ngoài tử cung

1978, em bé đầu tiên từ TTTON, Louis Brown, ra đời đánh dấu bước đầu cho sự phát triển của TTTON trên người Sau đó, 2 trường hợp sanh khác

từ TTTON cũng đã được báo cáo tại Anh Sau đó, chương trình này tại Anh bị gián đoạn trong 2 năm

1980, em bé TTTON thứ tư trên thế giới được sinh ra tại Úc Trung tâm Monash ở Úc được ghi nhận là nơi thứ hai trên thế giới thực hiện thành công TTTON Trung tâm này sau đó liên tục báo cáo các trường hợp sanh sau TTTON Do trung tâm TTTON đầu tiên ở Anh tạm ngưng hoạt động sau trường hợp sanh đầu tiên, người ta ghi nhận rằng 12 trong số 15 em

bé TTTON đầu tiên trên thế giới được ra đời từ trung tâm Monash ở Úc

1981, em bé TTTON đầu tiên ở Mỹ ra đời Đây cũng là trường hợp TTTONđầu tiên sử dụng gonadotropin để kích thích buồng trứng

Sau đó, trong những năm 80, kỹ thuật TTTON đã phát triển rất mạnh và lần lượt được báo cáo thành công tại nhiều nước trên thế giới, kể cả ở Châu Á Trong đó, Singapore được ghi nhận là nơi thực hiện thành công TTTON đầu tiên ở Châu Á vào năm 1983 bởi nhóm nghiên cứu của SC Ng

và cộng sự

Trang 24

1983, siêu âm đầu dò âm đạo được giới thiệu và kỹ thuật chọc hút trứng qua ngả âm đạo với với hướng dẫn của siêu âm đầu dò âm đạo được giớithiệu lần đầu tiên và thay thế hoàn toàn việc chọc hút trứng quan nội soi tốn kém, nguy hiểm và kém hiệu quả.

1984, kỹ thuật chuyển giao tử vào vòi trứng (GIFT) được báo cáo thành công tại Mỹ

1984, em bé đầu tiên ra đời từ trường hợp một phụ nữ không còn buồng trứng, thực hiện xin trứng-TTTON tại Úc

1984, em bé đầu tiên sinh ra từ phôi người đông lạnh được báo cáo ở Úc bởi Trounson và Mohr

1986, Chen báo cáo trường hợp có thai từ trứng người sau đông lạnh và

rã đông tại Úc Tuy nhiên, tỉ lệ thành công được báo cáo rất thấp

1988, trường hợp tiêm tinh trùng vào dưới màng trong suốt (SUZI) được báo cáo thành công lần đầu tiên tại Singapore bởi SC Ng và cộng sự

1989, kỹ thuật đục thủng màng trong suốt (PZD) để hỗ trợ thụ tinh được giới thiệu ở Mỹ bời Cohen

1992, kỹ thuật tiêm tinh trùng vào bào tương trứng được báo cáo thànnh công lần đầu tiên tại Bỉ bởi Palermo và cộng sự

1994, trường hợp có thai đầu tiên từ trứng non trưởng thành trong ống nghiệm (IVM) được báo cáo tại Úc

1994, các trường hợp MESA-ICSI (hút tinh trùng từ mào tinh qua vi phẫu

và tiêm tinh trùng vào bào tương trứng) đầu tiên được báo cáo

1995, kỹ thuật PESA-ICSI (chọc hút tinh trùng từ mào tinh xuyên da và tiêm tinh trùng vào bào tương trứng) được giới thiệu

1995, kỹ thuật TESE-ICSI (phân lập tinh trùng từ tinh hoàn ở những

trường hợp giảm sinh tinh tại tinh hoàn và tiêm tinh trùng vào bào tương trứng) được báo cáo thành công

1997, trường hợp có thai ở phụ nữ 63 tuổi với kỹ thuật xin trứng-TTTON được báo cáo

Trang 25

1997, trường hợp có thai đầu tiên từ trứng trữ lạnh và rã đông của Mỹ được báo cáo 11 năm sau trường hợp đầu tiên trên thế giới được báo cáo.

2001, phác đồ mới trong kỹ thuật trữ trứng được báo cáo, cải thiện đáng

kể tỉ lệ thành công Đồng thời, những trường hợp sanh đầu tiên từ cả trứng và tinh trùng đông lạnh được báo cáo tại Ý

Tại Việt nam

TTTON được thực hiện thành công tại Việt nam khá muộn so với các nước trên thế giới và trong khu vực Tuy nhiên, trong những năm gần đây chúng ta đã đạt được những bước tiến nhanh và vững chắc Hiện nay, chúng ta đã thực hiện thành công các kỹ hỗ trợ sinh sản phổ biến trên thế giới hiện nay với tỉ lệ thành công khá cao và ổn định

Trung tâm TTTON tại Bệnh viện Phụ Sản Từ Dũ hiện được ghi nhận là trung tâm lớn nhất khu vực Đông Nam Á và là một trong những trung tâm hàng đầu ở châu Á Uy tín của ngành hỗ trợ sinh sản Việt nam đã bắt đầu được ghi nhận trong khu vực và trên thế giới trong những năm qua Bệnh viện Phụ Sản Từ Dũ đã có hơn 10 báo cáo khoa học về lãnh vực này tại các hội nghị khoa học trong vùng và trên thế giới Trong thời gian qua, chúng tôi đã thu hút được trên 100 trường hợp người ở nước ngoài đến điều trị Năm 2004, chúng ta cũng bắt đầu thu hút được bác sĩ từ các nước đến học hỏi kinh nghiệm trong lãnh vực này

Sự phát triển của TTTON tại Việt nam từ 1997 đến nay

• 1997, Bệnh viện phụ Sản Từ Dũ bắt đầu thực hiện TTTON

• 30/4/1998, 3 em bé TTTON đầu tiên ra đời ở Việt nam

• 1998-2000, Bệnh viện Phụ Sản Từ Dũ bước đầu đào tạo và chuyển giao công nghệ cho học viện Quân Y về kỹ thuật lọc rửa tinh trùng, trữ lạnh tinh trùng, TTTON

• 1999, Bệnh viện Hùng Vương bắt đầu thực hiện TTTON

• 1999-2000, Bệnh viện Từ Dũ bắt đầu đào tạo và chuyển giao công nghệ cho viện Bảo vệ bà mẹ và sơ sinh Trong thời gian này, 6 bác

sĩ và 2 kỹ thuật viên của Viện BVBMSS đã được đào tạo tại Bệnh viện Từ Dũ

• Cũng trong thời gian này, Bệnh viện Phụ Sản Từ Dũ đã đào tạo các

kỹ thuật viên của Viện BVBMSS kỹ thuật thực hiện tinh dịch đồ theo tiêu chẩn của WHO và kỹ thuật lọc rửa tinh trùng Nhờ đó, trước khi thực hiện được TTTON Viện BVBMSS cũng đã triển khai

Trang 26

được kỹ thuật IUI với tinh trùng lọc rửa thay vì bơm tinh dịch trực tiếp vào tử cung

• Từ 4/1999 đến hết năm 2001, 2 bác sĩ Huỳnh Thanh Liêm và

Nguyễn Việt Quang được Sở Y tế Cần thơ cử đến đào tạo chuyên sâu tại Bệnh viện Từ Dũ về các kỹ thuật hỗ trợ sinh sản

• Cuối năm 2000, Bệnh viện Từ Dũ hỗ trợ về kỹ thuật trong thời gian chuẩn bị và cử bác sĩ giúp Viện BVBMSS thực hiện các trường hợp TTTON đầu tiên Trong thời gian 3 tháng đầu thực hiện

chương trình, bác sĩ Huỳnh Thanh Liêm đã ở hẳn tại Viện

BVBMSS để trực tiếp tham gia và hướng dẫn cán bộ của Viện BVBMSS thực hiện các trường hợp đầu tiên

• 2001, em bé đầu tiên ra đời tại Viện BVBMSS

• Sau thời gian gửi cán bộ đào tạo tại Bệnh viện Phụ Sản Từ Dũ và tích lũy được kinh nghiệm, Học viện quân Y bắt đầu thực hiện các trường hợp TTTON đầu tiên với sự hỗ trợ của Bệnh viện Từ Dũ và Viện BVBMSS

• Cuối năm 2001, Bệnh viện Phụ Sản Từ Dũ hỗ trợ Bệnh viện Phụ Sản quốc tế thực hiện các trường hợp TTTON đầu tiên

• Đầu năm 2002, tạp chí định kỳ “Sinh sản & sức khỏe” ra mắt số đầu tiên Tạp chí đã đóng vai trò quan trọng trong việc góp phần phổ biến kiến thức liên quan đến hiếm muộn – vô sinh và các kỹ thuật

hỗ trợ sinh sản đến các cán bộ y tế, nhân dân và các đối tượng quan tâm trong cả nước

• 2002, các em bé TTTON đầu tiên ra đời tại Học viện quân Y và Bệnh viện Phụ Sản quốc tế

• Khóa đào tạo “Sơ bộ chuyên khoa về kỹ thuật hỗ trợ sinh sản” đầu tiên được khai giảng tại Bệnh viện Phụ Sản Từ Dũ

• 2/2003, Nghị định của Chính phủ về sinh và con theo phương pháp khoa học được ban hành

• Ngoài ra, trong khoảng thời gian từ 1999 đến nay, qua các khóa đàotạo thường xuyên, Bệnh viện Từ Dũ đã giúp đào tạo nhân sự cho các chương trình điều trị hiếm muộn và TTTON của nhiều đơn vị khác trong cả nước như: Trường Đại học Y Hà nội, Bệnh viện Phụ Sản Hà nội, Bệnh đa khoa Thái Nguyên, Bệnh viện Phụ Sản Hải phòng, Bệnh viện Phụ Sản Thanh Hóa, Bệnh viện TW Huế, Bệnh viện Trường đại học Y Huế, Bệnh viện Đa khoa Đà nẳng, Bệnh viện Sản Phụ khoa Bình Dương, Bệnh viện Hùng Vương, Bệnh viện đa khoa Cần Thơ

• Cho đến năm 2003, đa số các tỉnh thành phía Nam (khoảng 90%)

đã xây dựng được các đơn vị chuyên biệt khám, chẩn đoán và điều trị hiếm muộn theo quan điểm hiện đại và thực hiện được kỹ thuật bơm tinh trùng vào buồng tử cung với tinh trùng lọc rửa

Ngày đăng: 05/03/2014, 11:22

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1. Đặc điểm bệnh nhân - KỸ THUẬT HỖ TRỢ SINH SẢN ppt
Bảng 1. Đặc điểm bệnh nhân (Trang 16)
Bảng 3. kết quả điều trị. - KỸ THUẬT HỖ TRỢ SINH SẢN ppt
Bảng 3. kết quả điều trị (Trang 18)
• Tinh trùng cĩ hình dạng bất thường nặng - KỸ THUẬT HỖ TRỢ SINH SẢN ppt
inh trùng cĩ hình dạng bất thường nặng (Trang 30)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w