II QUẢN LÝ DANH MỤC ĐẦU TƯ CỔ PHIẾU I TỔNG QUAN VỀ QUẢN LÝ DMĐTCP 1 Khái niệm quản lý danh mục đầu tư Thông thường, để giảm thiểu rủi ro, chứng khoán không được nắm giữ một cách riêng lẻ mà được nắm giữ cùng các chứng khoán khác trong một danh mục đầu tư, vì như một quy luật rủi ro của một danh mục đầu tư sẽ giảm khi số chứng khoán trong danh mục tăng lên Quản lý danh mục đầu tư là nghiên cứu, lựa chọn cách thức kết hợp các loại chứng khoán riêng lẻ với các mức rủi ro khác nhau vào một tổ hợp đầ.
Trang 1QUẢN LÝ DANH MỤC ĐẦU TƯ CỔ PHIẾU
I TỔNG QUAN VỀ QUẢN LÝ DMĐTCP
1 Khái niệm quản lý danh mục đầu tư.
Thông thường, để giảm thiểu rủi ro, chứng khoán không được nắm giữ một cách riêng lẻ mà được nắm giữ cùng các chứng khoán khác trong một danh mục đầu
tư, vì như một quy luật rủi ro của một danh mục đầu tư sẽ giảm khi số chứng khoán trong danh mục tăng lên Quản lý danh mục đầu tư là nghiên cứu, lựa chọn cách thức kết hợp các loại chứng khoán riêng lẻ với các mức rủi ro khác nhau vào một tổ hợp đầu tư (danh mục đầu tư) để giảm rủi ro đầu tư (với mức lợi nhuận kỳ vọng xác định trước) hoặc để tăng lợi nhuận kỳ vọng cho danh mục đầu tư mà không làm tăng rủi ro tương ứng
Quản lý danh mục đầu tư là một nghiệp vụ quan trọng trong kinh doanh chứng khoán, là công cụ hữu hiệu để hạn chế rủi ro và tối đa hóa lợi nhuận Vấn đề đặt ra là làm thế nào để quản lý danh mục đầu tư một cách tối ưu nhất? Một danh mục đầu tư
có thể bao gồm tất cả các chứng khoán được giao dịch trên thị trường như cổ phiếu, trái phiếu, hay các giấy tờ sở hữu bất động sản
2 Vai trò của quản lý danh mục đầu tư.
Đa dạng hoá danh mục đầu tư là nhu cầu của người đầu tư, có trường hợp giá
cả của mọi chứng khoán được định giá đúng nhưng mỗi chứng khoán vẫn chứa đựng rủi ro và những rủi ro này có thể san sẻ thông qua việc đa dạng hoá danh mục đầu tư
Việc lựa chọn danh mục đầu tư phải tính đến ảnh hưởng của thuế Nhà đầu tư phải chịu mức thuế cao thường không muốn trong danh mục của mình có những chứng khoán giống như trong danh mục của những người chịu thuế thấp
Quản lý danh mục đầu tư là cần thiết vì liên quan đến lứa tuổi của khách hàng đầu tư Các nhà đầu tư ở các lứa tuổi khác nhau sẽ có nhu cầu riêng trong chính sách lựa chọn danh mục đầu tư và liên quan đến rủi ro Thông thường người già ưa thích đầu tư vào những chứng khoán có độ an toàn cao như trái phiếu Chính phủ, còn giới trẻ lại thích đầu tư vào những chứng khoán có độ rủi ro cao nhưng kỳ vọng mức lợi tức cao
3 Các buớc của quản lý danh mục đầu tư.
Đối với các nhà đầu tư cá nhân và tổ chức việc thiết lập và quản lý danh mục đầu tư là hết sức quan trọng có ý nghĩa quyết định thành công của hoạt động đầu tư
Quy trình quản lý danh mục đầu tư bao gồm bốn bước cơ bản sau:
3.1 Xác định mục tiêu đầu tư (policy statement):
Trong hoạt động đầu tư và quản lý danh mục đầu tư, đây là một bước tối quan trọng Khi thực hiện bước này các nhà đầu tư phải xác định rõ ba vấn đề chính Thứ nhất là kì vọng lợi nhuận của mình ở mức nào qua đó lựa chọn tài sản đầu tư thích hợp Thứ hai các nhà đầu tư cần phải nhận thức rõ các hạn chế của mình khi thực
Trang 2hiện hoạt động đầu tư như tiềm lực vốn, thời gian dự định đầu tư Thứ ba các nhà đầu
tư cần phải xác định rõ khả năng chịu đựng rủi ro của mình ở mức độ nào, điều này
sẽ rất có ích trong việc lựa chọn các tài sản để đầu tư thích hợp
3.2 Thiết lập chiến lược đầu tư(investment strategy):
Đây là bước nhằm thực hiện các quyết định đã được đưa ra ở bước thứ nhất bằng cách phân tích tài chính và kinh tế Qua các bước phân tích cẩn trọng các nhà đầu tư sẽ phải xác định một loạt các quyết định đầu tư cần thiết nhằm thỏa mãn các mục tiêu đầu tư của mình Xác lập những tiêu chuẩn, những hướng dẫn sẽ được sử dụng trong việc lựa chọn và phân bổ chứng khoán trong danh mục bao gồm trường hợp bình thường, đồng thời làm rõ những hoàn cảnh nào, như thế nào là hoàn cảnh không bình thường, và những cách thức nào mà việc phân bổ chọn lựa chứng khoán trong danh mục có thể thay đổi khác với trường hợp bình thường
3.3 Thực hiện chiến lược đầu tư.
Đây là bước cụ thể hóa các bước trên bằng cách xây dựng danh mục đầu tư cụ thể bao gồm danh sách các loại tài sản để đầu tư và tỷ trọng vốn đầu tư vào các loại tài sản đó Việc xây dựng danh mục đầu tư chú trọng nhất là khâu xác định tỷ trong phân bổ vốn đầu tư vì nó đóng vai trò quyết định trong thành công của hoạt động này Các thống kê cho thấy việc xác định đúng tỷ trọng phân bổ vốn đầu tư chiếm đến 90% khả năng thắng lợi của một danh mục đầu tư
3.4 Điều chỉnh và cập nhật.
Trong hoạt động đầu tư một danh mục đầu tư không phải là bất biến mà luôn cần được phân tích và điều chỉnh nhằm đáp ứng tốt mục tiêu đầu tư và thích ứng với
sự biến chuyển không ngừng của tình hình kinh tế vĩ mô cũng như tình hình kinh doanh của các doanh nghiệp Việc điều chỉnh này bao gồm điều chỉnh tỷ trọng đầu tư vào các tài sản, chấm dứt đầu tư vào một hay nhiều loại tài sản hay bắt đầu đầu tư vào các loại tài sản khác nhau Tuy nhiên sự điều chỉnh này phải luôn luôn tuân thủ các mục tiêu đầu tư đã được nêu ra ở các bước trên
Quản lý danh mục đầu tư được sử dụng để chọn một danh mục đầu tư của dự
án phát triển sản phẩm mới để đạt được mục tiêu thứ sau đây:
• Tối đa hóa lợi nhuận hoặc giá trị của danh mục đầu tư
• Cungcấp sự cân bằng
• Hỗ trợ chiến lược của doanh nghiệp
II.LÝ THUYẾT VỀ DANH MỤC ĐẦU TƯ
LÝ THUYẾT DANH MỤC MARKOWITZ
1 Tổng quan
Đầu những năm 1960, người ta đã bàn nhiều về rủi ro, nhưng không có một thước đo chuyên biệt nào đánh giá được yếu tố này Mô hình danh mục cơ bản được phát triển bởi Harry Markowitz đã chỉ ra rằng, phương sai của tỷ suất sinh lợi là một thước đo đầy ý nghĩa của rủi ro danh mục với một số giả định Ông ta đã công thức hóa để tính toán phương sai danh mục Công thức phương sai danh mục này đã chỉ ra
Trang 3tầm quan trọng của việc đa dạng hóa danh mục đầu tư để giảm thiểu rủi ro danh mục nhưng đồng thời cũng chỉ ra rằng phương pháp để đa dạng hóa danh mục một cách hiệu quả
Markowitz cũng chính là người đầu tiên đưa ra khái niệm danh mục đầu tư hiệu quả Theo đó, danh mục đầu tư hiệu quả được hiểu: là danh mục có rủi ro thấp
nhất ở bất kỳ tỷ suất lợi tức kỳ vọng được xác định trước; hoặc có tỷ suất lợi tức kỳ vọng cao nhất ở bất kỳ một mức rủi ro được xác định trước
2 Các giả định của mô hình: mô hình danh mục của Markowitz dựa trên
một số giả định như sau:
Nhà đầu tư xem mỗi sự lựa chọn đầu tư như một phân phối xác suất của tỷ suất sinh lợi kỳ vọng
Nhà đầu tư tối đa hóa hữu dụng kỳ vọng và đường cong hữu dụng của họ biểu diễn giá trị hữu dụng biên giảm dần
Nhà đầu tư ứoc lượng rủi ro dựa vào phương sai của tỷ suất sinh lợi
Căn cứ quyết định đầu tư chỉ dựa vào tỷ suất sinh lợi kỳ vọng và rủi
ro, vì vậy đường cong hữu dụng của họ là một hàm của tỷ suất sinh lợi kỳ vọng và độ lệch chuẩn của tỷ suất sinh lợi
Với mức độ rủi ro cho trước, nhà đầu tư sẽ lựa chọn tỷ suất sinh lợi
từ cao đến thấp Và tương tự như vậy, với một mức tỷ suất sinh lợi kỳ vọng cho trước, nhà đầu tư sẽ lựa chọn rủi ro từ thấp đến cao
3 Rủi ro
a./ Khái niệm:
Rủi ro là những điều không chắc chắn của những kết quả trong tương lại hoặc những sự cố xảy ra có kết quả sai khác giá trị kỳ vọng
b./ Thái độ của nhà đầu tư đối với rủi ro:
Ghét rủi ro là mức độ không sẵn lòng đầu tư nếu biết khả năng kết quả xấu sẽ xảy ra Trong lý thuyết danh mục, người ta thường giả định rằng những nhà đầu tư đều ghét rủi ro Điều này có nghĩa là, cho một sự lựa chọn giữa hai tài sản có cùng tỷ suất sinh lợi NĐT sẽ chọn tài sản nào có mức độ rủi ro thấp nhất
c./ Phương pháp ước lượng rủi ro:
Bằng cách giả định tỷ suất sinh lợi là một đại lượng ngẫu nhiên được phân phối theo một qui luật phân phối xác suất nào đó, người ta đã đo lường rủi ro thông qua các tham số đặc trưng của đại lượng ngẫu nhiên này đó là phương sai hay độ lệch chuẩn Nó ước lượng độ phân tán của tỷ suất sinh lợi quanh giá trị kỳ vọng Bởi vậy, một phương sai hay độ lệch chuẩn lớn chứng tỏ độ phân tán lớn Mà độ phân tán đối với lợi nhuận kỳ vọng lớn điều đó có nghĩa là một lợi nhuận trong tương lai càng không chắc chắn
Trang 4Rủi ro được đo lường bằng phương sai hay độ lệch chuẩn của tỷ suất sinh lợi chính là rủi ro tổng thể của một tài sản rủi ro, trong đó bao gồm:
- Rủi ro có thể phân tán được bằng cách đa dạng hóa danh mục đầu tư, được
gọi là rủi ro phi hệ thống Rủi ro này chỉ ảnh hưởng đến một doanh nghiệp hay
một ngành do các nguyên nhân nội tại như: lực lượng lao động, năng lực quản trị… Các nghiên cứu gần đây chỉ ra rằng, nếu lựa chọn đúng đắn, một danh mục chỉ khoảng 15 chứng khoán là có thể loại bỏ được rủi ro phi hệ thống này
- Rủi ro không thể phân tán được, được gọi là rủi ro hệ thống, là những rủi ro
đến từ bên ngoài một doanh nghiệp hay một ngành, chúng có ảnh hưởng rộng rãi như: thiên tai, chiến tranh, các chỉ tiêu kinh tế vĩ mô… đựoc đo lường bằng hệ
số beta
4 Tỷ suất sinh lợi
a./ Công thức tính tỷ suất sinh lợi:
Một tài sản A, ta xác định tỷ suất dinh lợi thời điểm t như sau:
At
1
,t A
ivt At
P
D P
Trong đó:
At
R : Tỷ suất sinh lợi của tài sản A vào thời điểm t
At
P và P A, t 1: giá trị tài sản A thời điểm t và thời điểm t-1
ivt
D : cổ tức (dòng tiền thu nhập) trong suốt thời kỳ từ t-1 đến t
Với giả định tỷ suất sinh lợi chứng khoán là một đại lượng ngẫu nhiên Do vậy,
nó có đầy đủ các tham số đặc trưng của đại lượng ngẫu nhiên như: kỳ vọng toán, phương sai, độ lệch chuẩn, giá trị tin chắc chắn nhất, mô men, hệ số bất đối xứng, hệ
số nhọn…
b./ Tỷ suất sinh lợi kỳ vọng của danh mục:
Tỷ suất sinh lợi kỳ vọng của danh mục Ký hiệu ER port được tính như sau:
n
i
i i port W E R R
E
Trong đó:
i
W : tỷ trọng tài sản thứ i trong danh mục
R i
E : Tỷ suất sinh lợi kỳ vọng của tài sản thứ i
c./ Phương sai (độ lệch chuẩn) của tỷ suất sinh lợi của một tài sản:
Phương sai (độ lệch chuẩn) của tỷ suất sinh lợi của một tài sản đôi khi ta còn gọi là phương sai (độ lệch chuẩn) của một tài sản, được xác định như sau:
Trang 5Phương sai:
n
i
i i
i E R P R
1
2 2
Trong đó:
i
P : là xác suất của tỷ suất sinh lợi R i
Độ lệch chuẩn:
n
i
i i
i E R P R
1
2 2
d./ Phương sai (độ lệch chuẩn) của tỷ suất sinh lợi danh mục đầu tư:
Trước tiên, ta xem xét định nghĩa về hiệp phương sai Hiệp phương sai của hai
tỷ suất sinh lợi của hai chứng khoán i và j (ký hiệu Cov ij) được định nghĩa:
i j i j
ij E R R E R E R
Hệ số tương quan của hai tỷ suất sinh lợi đo lường mức độ quan hệ tuyến tính giữa tỷ suất sinh lợi hai chứng khoán I và j, ký hiệu ij được xác định:
j i
ij ij
Cov
Hệ số tương quan có tính chất: -1 <ij < +1 Nếu ij càng tiến gần 0 thì ta gọi
là chứng khoán lỏng lẻo, còn nếu ij càng gần 1 thì có sự tương quan chặt Nếu hai chứng khoán có tỷ suất sinh lợi độc lập thì ij = 0 Tuy nhiên, lưu ý rằng điều ngược lại không đúng, tức là nếu hai tỷ suất sinh lợi của hai chứng khoán có hệ số tương quan bằng 0 thì chưa chắc chúng độc lập
Khi đó, độ lệch chuẩn của danh mục được xác định:
n
i
n
j
ij j i n
i i i
2
2
Trong đó:
i
w : tỷ trọng của tài sản i trong danh mục
2
i
: phương sai của tỷ suất sinh lợi của tài sản i Công thức trên chỉ ra rằng độ lệch chuẩn của tỷ suất sinh lợi của danh mục là một hàm của trung bình có trọng số của các hiệp phương sai riêng lẻ (ở đây các tỷ trọng được bình phương), cộng với hiệp phương sai có trọng số của các tài sản trong danh mục Độ lệch chuẩn của danh mục không chỉ bao hàm phương sai của các tài sản đơn lẻ mà còn bao hàm cả hiệp phương sai đôi một giữa các tài sản trong danh mục Hơn nữa, nó còn chỉ ra rằng trong một danh mục đầu tư với một lượng lớn các chứng khoán, công thức này là bình quân gia quyền của các hiệp phương sai Để đơn giản, ta quy ước một số ký hiệu như sau: Hiệp phương sai của hai tài sản i và j là
Trang 6r i r j
i i
r Var , được ký hiệu là
ii
Do đó, công thức 1.2 được viết lại:
n
i
n
j
ij j i port w w
1 1
5 Thành lập một danh mục đầu tư
a./ Danh mục đầu tư với hai tài sản:
Một danh mục đầu tư gồm hai tài sản, với một hệ số tương quan cho trước, nếu kết hợp tất cả các khả năng xảy ra của các tỷ trọng trong danh mục thì ta có một đường cong (hoặc đừơng thẳng nếu hệ số tương quan bằng 1)
Sự đa dạng hóa tài sản đầu tư sẽ mang lại hiệu quả làm giảm rủi ro danh mục, ngoại trừ trường hợp các tài sản có tương quan cùng chiều hoàn hảo Với một mức rủi
ro cho trước, nhà đầu tư sẽ chọn danh mục trên đường cong sao cho đạt tỷ suất sinh lợi cao nhất Do đó, trên đồ thị, vùng đường cong từ E đến G là vùng không đầu tư vì
nó đã được thay thế bằng vùng đường cong từ E đến C có tỷ suất sinh lợi cao hơn
b./ Danh mục đầu tư với n tài sản
Với danh mục gồm n tài sản, ta sẽ tính tỷ suất kỳ vọng và độ lệch chuẩn theo công thức 1.1 và 1.2 Sau đó, cũng giống như trường hợp danh mục gồm hai tài sản, nhà đầu tư sẽ lựa chọn các trường hợp khác nhau của tỷ trọng các tài sản sao cho ứng với một mức tỷ suất sinh lời cho trước sẽ đạt mức rủi ro tối thiểu
Tuy nhiên, với một số lượng lớn tài sản trong danh mục, chẳng hạn 100 chứng khoán, thì số lượng tính toán rất lớn, ta phải tính đến 4950 hệ số tương quan giữa các tài sản, chưa kể các phép tính về tỷ suất sinh lợi kỳ vọng và phương sai của các tỷ suất sinh lợi Đây chính là nhược điểm cơ bạn của mô hình danh mục Markowitz Nhưng sự phát triển của công nghệ thông tin ngày nay, chúng ta có thể tính toán dễ
Trang 7dàng nhờ các môi trường tính toán cực mạnh Tuy nhiên, vào những năm 1960,W.F.Sharpe đã đề suất “mô hình thị trường”, ước lượng rủi ro bằng mô hình hồi qui, đã giảm đáng kể khối lượng tính toán
6 Đường biên hiệu quả (Efficient Frontier):
Nếu kết hợp hai tài sản khác nhau, ta sẽ vẽ được một đường cong khi giả định tất cả các trường hợp có thể xảy ra của tỷ trong hai tài sản
Đường cong bao quanh thể hiện tất cả những khả năng kết hợp tốt nhất được gọi là đường biên hiệu quả Đặc biệt, đường biên hiệu quả đại diện cho tập hợp các danh mục có tỷ suất sinh lợi cao nhất ứng với mỗi mức rủi ro, hoặc là các danh mục
có rủi ro thấp nhất ứng với mỗi mức tỷ suất sinh lợi Mỗi danh mục nằm trên đường biên hiệu quả hoặc là có tỷ suất sinh lời cao hơn trong số các danh mục có cùng mức
độ rủi ro hoặc là có mức độ rủi ro thấp hơn trong số các danh mục có cùng tỷ suất sinh lời nằm gần đường biên hiệu quả Do đó, chúng ta có thể nói rằng, danh mục A trong hình 1.3 tốt hơn danh mục C vì chúng có cùng tỷ suất sinh lợi nhưng danh mục
A có rủi ro thấp hơn Tương tự như vậy, danh mục B là tốt hơn danh mục C vì chúng cùng mức rủi ro nhưng danh mục B có tỷ suất sinh lời cao hơn Vì lợi ích của việc đa dạng hóa đầu tư trong số các tài sản tương quan không hoàn hảo, chúng ta có thể kỳ vọng đường biên hiệu quả để thàng lập danh mục đầu tư hơn là các chứng khoán riêng biệt
Trang 8Một nhà đầu tư, họ sẽ chọn một điểm dọc theo đường biên hiệu quả tùy thuộc vào hàm hữu dụng và mức độ chấp nhận rủi ro của họ Không có một danh mục nào khác tốt hơn ngòai các danh mục nằm trên đường biên hiệu quả Tất cả các danh mục này đều có mức lợi nhuận và rủi ro khác nhau với tỷ suất sinh lợi gia tăng cùng với rủi ro
7 Đường biên hiệu quả và hàm hữu dụng
Hình 1.3 ở trên cho thấy độ dốc của đường biên hiệu quả giảm dần khi di chuyển về phía trên Điều đó nói lên rằng khi gia tăng những mức rủi ro bằng nhau (bằng cách di chuyển lên trên theo đường biên hiệu quả) thì sẽ nhận được những mức lợi nhuận gia tăng giảm dần Độ dốc:
p p
R E tg
Đường cong hữu dụng của một nhà đầu tư chỉ ra các kết hợp đầu tư mà họ sẵn lòng chấp nhận giữa rủi ro và lợi nhuận Kết hợp với đường biên hiệu quả, đường cong hữu dụng xác định danh mục trên thị trường hiệu quả phù hợp nhất với một nhà đầu tư Hai nhà đầu tư sẽ chọn danh mục tương tự nếu đường cong hữu dụng của họ như nhau
Đường cong hữu dụng của một nhà đầu tư sẽ tăng dần khi dịch chuyển từ dứoi lên trên bên trái bởi vì cùng một mức rủi ro như nhau nhưng đạt được tỷ suất sinh lời lớn hơn
Hình 1.4 biểu diễn hai tập hợp đường cong hữu dụng với một đường biên hiệu quả Đường cong hữu dụng U1U3U2U1 đại diện cho những nhà đầu tư ghét rủi ro nhất Những đường cong hữu dụng này hơi dốc đứng hàm ý rằng nhà đầu tư sẽ không thích nhiều rủi ro tăng thêm để đạt được lợi nhuận tăng thêm, tức là tốc độ tăng của lợi nhuận phải lớn hơn tốc độc tăng của rủi ro
Trang 9Những đường cong hữu dụng U1'U3'U2'U1' đại diện cho những nhà đầu tư ít ghét rủi ro Tức là nhà đầu tư sẵn lòng chịu một mức rủi ro cao để nhận được tỷ suất sinh lợi kỳ vọng cao hơn
Danh mục đầu tư tối ưu là danh mục nằm trên đường biên hiệu quả, có mức hữu dụng cao nhất đối với một nhà đầu tư Nó là điểm tiếp xúc giữa đường biên hiệu quả và đường cong hữu dụng cao nhất có thể Hữu dụng cao nhất của một nhà đầu tư thận trong là điểm X (hình 1.4), nơi đó đường hữu dụng U2 tiếp xúc với đường biên hiệu quả Hữu dụng cao nhất của một nhà đầu tư ít ghét rủi ro là điểm Y, đại diện cho danh mục có tỷ suất sinh lợi cao với mức rủi ro cao hơn so với danh mục tại điểm X
III CHIẾN LUỢC VÀ QUY TRÌNH QUẢN LÝ DMĐT CP
1 Chiến lược quản lý DMĐT CP :
1.1 Chiến lược quản lý thụ động :
Chiến lược quản lý danh mục đầu tư thụ động là chiến lược theo đó danh mục đầu tư
được quản trị nhằm cố gắng tạo ra một "bản sao" của một danh mục đầu tư chuẩn nào đó
(thường là các danh mục được sử dụng để tính toán các chỉ số chứng khoán, ví dụ: danh mục để tính chỉ số S&P 500 ở Mỹ)
Các nhà đầu tư thường ít tiến hành công việc phân tích chứng khoán, ít khi thực hiện thay đổi các chứng khoán đã được lựa chọn và tỷ trọng đầu tư vào các chứng khoán đó
Mục tiêu : Tạo ra danh mục cổ phiếu với số lượng và chủng loại gần giống với chỉ số
chuẩn Lợi tức của danh mục đầu tư được quản lý thụ động thường là gần bằng với lợi tức của danh mục đầu tư chuẩn
Trang 10Tuy nhiên, sự tồn tại của chi phí giao dịch, cũng như phải tiến hành những điều chỉnh đối với danh mục đầu tư khi cần thiết, làm cho lợi tức mà nhà đầu tư thụ động nhận được luôn khác với lợi tức của danh mục chuẩn (tuy rằng sự khác nhau này thường là không lớn).
Về mặt kỹ thuật, có 3 phương pháp chính xây dựng danh mục cổ phiếu thụ động như sau :
Lập lại hoàn toàn một chỉ số nào đó :
Theo phương pháp này, tất cả các loại cổ phiếu nằm trong chỉ số được mua vào theo một tỷ lệ bằng tỷ trọng vốn mà cổ phiếu đó chiếm giữ trong chỉ số này.
- Ưu điểm : phương pháp này giúp nhà quản lý chắc chắn thu được kết quả đầu tư gần giống với kết quả của chỉ số.
- Nhược điểm :
Chiếm nhiều chi phí giao dịch
Luồng cổ tức nhận về rải rác tái đầu tư phân tán.
Phương pháp chọn nhóm mẫu :
Với phương pháp này, nhà quản lý chỉ cần chọn một nhóm các chứng khoán đại diện cho chỉ số chuẩn theo tỷ lệ tương ứng với tỷ trọng vốn của từng cổ phiếu đó trong chỉ số chuẩn.
- Ưu điểm : hạn chế chi phí giao dịch vì số lượng chứng khoán mua vào ít.
- Nhược điểm : không đảm bảo chắc chắn rằng lợi suất đầu tư đạt được sẽ tương đương với lợi suất thu nhập của chỉ số chuẩn.
Phương pháp lập trình bậc 2 :
Phương pháp này khá phức tạp, thường chỉ những nhà đầu tư chuyên nghiệp mới áp dụng.
- Nhược điểm : Khi các số liệu đầu vào (thông tin quá khứ về giá cả và mối tương quan giữa chúng) có sự thay đổi thường xuyên thì lợi suất danh mục sẽ có chênh lệch lớn so với chỉ số.
Trong 3 phương pháp thì phương pháp chọn mẫu thường được áp dụng nhiều 1.2 Chiến luợc quản lý chủ động :
Mục tiêu : Chiến lược quản lý danh mục đầu tư chủ động là chiến lược theo đó danh
mục đầu tư được quản lý nhằm tạo ra lợi tức, trên cơ sở được điều chỉnh theo rủi ro, cao hơn
lợi tức của danh mục đầu tư chuẩn nào đó hoặc thu được mức lợi nhuận trên trung bình ứng
với một mức rủi ro nhất định.
Quản lý danh mục đầu tư chủ động được đặt trên nền tảng dự báo Trong quản lý danh mục đầu tư chủ động, việc điều chỉnh thay thế các chứng khoán cũng như thay đổi tỷ trọng nắm giữ các chứng khoán luôn được tiến hành thường xuyên, dựa trên cơ sở phân tích,
dự báo về các yếu tố có liên quan.
Quy trình quản lý danh mục đầu tư chủ động :