1. Trang chủ
  2. » Tài Chính - Ngân Hàng

Giáo trình Quản trị tác nghiệp ngân hàng thương mại: Phần 2

232 8 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Quản Trị Hoạt Động Cho Thuê Và Đầu Tư Của Ngân Hàng Thương Mại
Định dạng
Số trang 232
Dung lượng 1,76 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Giáo trình Quản trị tác nghiệp ngân hàng thương mại được biên soạn nhằm cung cấp tài liệu phục vụ cho giảng dạy và học tập của sinh viên ngành Tài chính - Ngân hàng của nhà trường, đồng thời là tài liệu tham khảo hữu ích cho các độc giả quan tâm đến lĩnh vực này. Giáo trình kết cấu thành 9 chương và chia là 2 phần, phần 2 trình bày những nội dung về: quản trị hoạt động cho thuê và đầu tư của ngân hàng thương mại; quản trị dịch vụ thanh toán của ngân hàng thương mại; quản trị các nghiệp vụ kinh doanh khác của ngân hàng thương mại;... Mời các bạn cùng tham khảo!

Trang 1

Nội dung chương 5 của Giáo trình giới thiệu các hình thức cho thuê tài chính và đầu tư chứng khoán; những nội dung cơ bản trong quản trị đầu tư và cho thuê tài chính của ngân hàng thương mại

5.1 QUẢN TRỊ HOẠT ĐỘNG CHO THUÊ

5.1.1 Một số vấn đề cơ bản về cho thuê và cho thuê tài chính

5.1.1.1 Sự hình thành và phát triển hoạt động cho thuê và cho thuê tài chính

Cho thuê tài sản là một hình thức ra đời từ rất sớm trong lịch sử nhân loại Theo các thư tịch cổ, các giao dịch thuê tài sản đã xuất hiện từ năm 2880 trước công nguyên tại thành phố Sumerian của người UR (Là một thành phố phía Nam của thành phố Masopotania - gần vịnh Ba Tư là một phần của IRAP ngày nay) Trong đó người cho thuê là những thầy tu còn những người đi thuê là những người nông dân tự do, tài sản được đem ra giao dịch cho thuê gồm: Công cụ sản xuất nông nghiệp, súc vật kéo, nhà cửa, ruộng đất

Những bộ luật quy định về nguyên tắc của hoạt động cho thuê tài sản cũng đã ra đời từ rất sớm Vào khoảng năm 1700 trước Công nguyên, vua Babilon là Hamunurabi đã ban hành nhiều văn bản pháp luật quan trọng tạo thành một bộ luật lớn trong đó có những quy định về hoạt động thuê tài sản Đồng thời, trong các nền văn minh cổ đại khác như Hy Lạp,

La Mã hay Ai Cập cũng đã xuất hiện các hình thức cho thuê để tài trợ cho hoạt động sản xuất Có thể nói rằng, rất nhiều vấn đề trong giao dịch cho thuê tài chính ngày nay đã xuất hiện từ nhiều thế kỷ trước

Trang 2

Tuy nhiên, các giao dịch thuê tài sản diễn ra ở thời kỳ trước chỉ là những hoạt động cho thuê kiểu truyền thống, phương thức giao dịch của

nó tương tự như giao dịch thuê vận hành ngày nay; và trong suốt hàng ngàn năm lịch sử tính chất giao dịch của hình thức này gần như không thay đổi

Cho đến đầu thế kỷ XIX, hoạt động cho thuê mới phát triển mạnh, diễn ra sôi nổi ở Anh, Mỹ, có sự gia tăng cả về số lượng lẫn những loại tài sản thiết bị cho thuê Đặc biệt, do sự phát triển mạnh mẽ của ngành đường sắt, vì nhu cầu máy móc rất lớn, các phương thức tài trợ sẵn có khó đáp ứng nổi, nên muốn đạt được mục đích cuối cùng là sử dụng thiết

bị, các công ty đường sắt phải tìm đến một phương thức tài trợ mới Điều này mở ra cơ hội cho các nhà sản xuất và các nhà đầu tư chuyên cung cấp thiết bị đường sắt như đầu máy, toa xe trên cơ sở cho thuê

Hoạt động cho thuê tài sản trở thành một ngành kinh doanh mới của nền kinh tế theo đà phát triển của phân công lao động xã hội Đến đầu những năm 50 của thế kỷ XIX, hoạt động cho thuê tài sản đã tiến một bước dài với việc công ty United States Leasing Corporation (Hoa Kỳ) sáng tạo ra một hình thức cho thuê mới gọi là cho thuê tài chính (Financial Leasing) và giao dịch cho thuê đã có sự thay đổi về chất Từ

đó cho tới nay, hoạt động cho thuê được chia làm 2 loại: cho thuê hoạt động hay còn gọi là cho thuê vận hành (Operating Leasing) hay cho thuê kiểu truyền thống (Traditional Leasing) và cho thuê tài chính (Financial Leasing)

Cho thuê tài chính (CTTC) phát triển sang các nước châu Âu và châu Á như ở Pháp, Nhật Bản… vào những năm đầu của thập kỷ 60 thế

kỷ XX; và sang đầu thập kỷ 70 nó đã phát triển rất mạnh mẽ, lan rộng sang các nước khác như Hàn Quốc, Malaysia, Indonesia… Cuộc cách mạng khoa học công nghệ vào những năm 1960 có ảnh hưởng then chốt đến sự phát triển của hoạt động cho thuê (Leasing) khi các công ty thấy

rõ những lợi thế cạnh tranh của CTTC, những thiết bị luôn đổi mới như máy vi tính, máy móc viễn thông sẽ tránh được hao mòn vô hình và giải quyết khó khăn về vốn CTTC ngày càng được áp dụng rộng rãi, không chỉ đối với các công ty nhỏ mới thành lập mà còn với các công ty

Trang 3

lớn; không chỉ với các nước công nghiệp phát triển mà còn với các nước đang phát triển Ở Việt Nam, hoạt động CTTC chính thức được triển khai vào những năm cuối thập niên 90 của thế kỷ XX và nó đã trở thành một lĩnh vực kinh doanh mới mẻ nhiều tiềm năng, góp phần đa dạng hoá và làm phong phú thêm thị trường các dịch vụ tài chính của nền kinh tế thị trường ở Việt Nam

Hiện nay, hoạt động CTTC đã có những bước phát triển mạnh mẽ, khi tốc độ phát triển của khoa học công nghệ ngày càng nhanh, nó là một phương thức tài trợ có độ an toàn cao, tiện lợi và hiệu quả đối với các bên tham gia CTTC trở thành phổ biến trong các hoạt động kinh tế quốc

tế và nó đã góp phần rất lớn vào việc thúc đẩy sản xuất kinh doanh phát triển Song cùng với sự phát triển mạnh mẽ, phương thức CTTC tại mỗi quốc gia, mỗi khu vực có đặc điểm riêng biệt thể hiện sự phong phú và đồng thời cũng là sự phức tạp của các giao dịch CTTC Lịch sử phát triển của ngành công nghiệp cho thuê thế giới cho thấy, ở mỗi quốc gia ngành công nghiệp này đều trải qua những giai đoạn phát triển như nhau, tuy nhiên chiều dài thời gian của mỗi giai đoạn ở mỗi quốc gia thì không hoàn toàn giống nhau do những tiến bộ về kỹ thuật tài trợ Nhờ những tiến bộ này, nền công nghiệp cho thuê phát triển sau có thể kế thừa và rút ngắn thời gian phát triển

5.1.1.2 Khái niệm và các đặc trưng của cho thuê tài chính

● Khái niệm cho thuê tài chính

CTTC là một trong những dịch vụ tài chính ngân hàng đã phát triển mạnh tại nhiều nước trên thế giới, nhất là các nước phát triển; tuy nhiên

nó vẫn là một dịch vụ còn khá mới mẻ ở Việt Nam Cho đến nay chưa có một khuôn khổ pháp lý chung nào cho mọi giao dịch CTTC trên thế giới, các bên giao dịch thường dựa vào một trong các nguồn luật sau:

- Hiệp định thống nhất dân sự về CTTC quốc tế (Hiệp hội CTTC quốc tế thoả thuận ngày 26/5/1988, tại Ohawa-Canada)

- Tiêu chuẩn CTTC của Ủy ban tiêu chuẩn kế toán quốc tế (International Accounting Standard Committee-IASC), chuẩn mực số 17)

- Luật điều chỉnh hoạt động CTTC của quốc gia

Trang 4

Về lý thuyết cũng như thực tiễn, hiện nay có nhiều quan điểm về CTTC Tuỳ theo góc độ nghiên cứu, hoặc theo quy định của luật pháp mỗi nước mà có các khái niệm khác nhau Theo công bố của Công ty tài chính Quốc tế (IFC) về cuộc điều tra được tiến hành tại 37 quốc gia thì chỉ có 19 quốc gia có định nghĩa rõ ràng về CTTC Trong số 19 quốc gia này cũng thể hiện trong nhiều văn bản pháp lý khác nhau: 9 quốc gia định nghĩa các giao dịch CTTC trong luật CTTC, 10 quốc gia còn lại định nghĩa chúng trong luật thuế, Nghị định của Chính phủ hay Thông tư

về hạch toán - kế toán của Bộ Tài chính

Uỷ ban tiêu chuẩn kế toán quốc tế (IAS) đưa ra định nghĩa về CTTC như sau: “Cho thuê tài chính là một giao dịch trong đó một bên (người cho thuê) chuyển giao quyền sử dụng tài sản thuộc sở hữu của mình cho bên kia (người đi thuê) trong một thời gian nhất định, mà trong thời gian

đó người cho thuê dự định thu vốn tài trợ cùng các chi phí liên quan; quyền sở hữu tài sản có được chuyển giao hay không tuỳ thuộc vào sự thoả thuận giữa hai bên”

Trên cơ sở định nghĩa của IAS, các quốc gia đưa ra khái niệm, tiêu chuẩn giao dịch phù hợp với môi trường kinh doanh của đất nước mình

Ở Việt Nam, khái niệm và các tiêu chuẩn giao dịch CTTC được thể hiện trong Nghị định của Chính phủ và hệ thống các chuẩn mực kế toán Việt Nam Theo Nghị định số 16/2001/NĐ-CP ngày 2/5/2001 của Chính phủ về tổ chức và hoạt động của công ty CTTC “Cho thuê tài chính là một hoạt động tín dụng trung, dài hạn thông qua việc cho thuê máy móc thiết bị, phương tiện vận chuyển và các động sản khác trên cơ sở hợp đồng cho thuê giữa bên cho thuê với bên thuê Bên cho thuê cam kết mua máy móc thiết bị, phương tiện vận chuyển và các động sản khác theo yêu cầu của bên thuê và nắm quyền sở hữu đối với tài sản cho thuê Bên thuê

sử dụng tài sản thuê và thanh toán tiền thuê trong suốt thời hạn thuê đã được hai bên thỏa thuận Khi kết thúc thời hạn thuê, bên thuê được quyền lựa chọn mua lại tài sản thuê hoặc tiếp tục thuê theo các điều kiện đã thoả thuận trong hợp đồng cho thuê tài chính Tổng số tiền thuê một loại tài sản quy định tại hợp đồng cho thuê tài chính ít nhất phải tương đương với giá trị của tài sản đó tại thời điểm ký hợp đồng”

Trang 5

Chuẩn mực số 06 “Thuê tài sản” trong hệ thống Chuẩn mực kế toán Việt Nam (VAS) ban hành theo Quyết định 165/2002/QĐ-BTC của Bộ trưởng Bộ Tài chính nêu định nghĩa dưới góc độ người đi thuê: “Thuê tài chính là thuê tài sản mà bên cho thuê có sự chuyển giao phần lớn rủi ro

và lợi ích gắn liền với quyền sở hữu tài sản cho bên thuê Quyền sở hữu tài sản có thể chuyển giao vào cuối thời hạn thuê”

Từ các định nghĩa trên có thể thấy rằng:

Theo thông lệ quốc tế, CTTC được hiểu đơn giản là một dịch vụ tín dụng dùng để thuận tiện hoá việc huy động vốn thông qua việc cung cấp các tài sản cho thuê mà không yêu cầu phải có một chứng khoán hay một tài sản cầm cố nào khác Người cho thuê chuyển giao quyền sử dụng tài sản kèm theo lời hứa bán lại cho người thuê khi hợp đồng kết thúc với giá cả được thoả thuận từ trước CTTC về bản chất là một hoạt động tín dụng, trong đó mục đích của người cho thuê cũng giống như mục đích của người cho vay là thu lãi trên vốn đầu tư, còn mục đích của người đi thuê là sử dụng vốn Người cho thuê cấp tín dụng dưới dạng hiện vật (tài sản) chứ không phải bằng tiền, nhưng thực chất là cung cấp tài chính (cho thuê quyền sử dụng vốn) nên được gọi là CTTC

Quan điểm về CTTC được quy định trong hai văn bản pháp lý của Việt Nam hiện nay về cơ bản là phù hợp với chuẩn mực quốc tế về mặt bản chất Tuy nhiên, cách đưa ra khái niệm như vậy đã gây ra một số giới hạn khi triển khai dịch vụ CTTC ở Việt Nam như: không áp dụng CTTC đối với bất động sản; người cho thuê là sở hữu chủ tài sản, như vậy không áp dụng phương thức thuê rồi cho thuê lại (cho thuê giáp lưng) Mặt khác, cách diễn đạt tại Điều 1 của Nghị định 16/2001/NĐ-CP là thiên về miêu tả trình tự và liệt kê các tiêu thức nhận biết một giao dịch CTTC; trong khi đó cách diễn đạt khái niệm theo chuẩn mực kế toán số

06 lại đề cập theo một khía cạnh khác mang tính chung chung, còn quá trừu tượng, gây khó hiểu

Vì vậy có thể đưa ra khái niệm về CTTC như sau: “CTTC là một dịch vụ tín dụng trung, dài hạn thông qua việc cho thuê tài sản trên cơ sở hợp đồng giữa hai bên, trong đó người cho thuê nắm giữ quyền sở hữu

Trang 6

tài sản và chuyển giao quyền sử dụng tài sản cùng với các rủi ro và lợi ích gắn liền với quyền sở hữu tài sản cho người đi thuê trong một thời gian nhất định Khi kết thúc thời hạn thuê, quyền sở hữu tài sản, quyền chọn mua hoặc quyền thuê tiếp được người đi thuê lựa chọn theo các điều kiện đã thoả thuận trong hợp đồng”

Khái niệm này thể hiện rõ bản chất và đặc trưng của hoạt động CTTC, phù hợp với thông lệ quốc tế và sự phát triển của nền kinh tế thị trường ở nước ta

Như vậy có thể thấy, hoạt động tín dụng trong nền kinh tế có thể diễn ra dưới hai hình thức: cho vay bằng tiền hoặc cho vay bằng tài sản Theo thời gian, cùng với sự phát triển của nền kinh tế và sự phân công lao động xã hội, các giao dịch tín dụng này được tiêu chuẩn hóa và do các tổ chức tài chính trung gian thực hiện Hình thức CTTC (cho vay bằng tài sản) do các công ty CTTC, NHTM… thực hiện Tuy ra đời sau

so với hình thức cho vay bằng tiền của các NHTM nhưng nó lại gắn kết chặt chẽ với yếu tố phát triển khoa học kỹ thuật, nên đã được ứng dụng rộng rãi và phát triển mạnh mẽ

● Các đặc trưng của cho thuê tài chính

Trong lĩnh vực công nghiệp cho thuê (Leasing) có hai hình thức cho thuê là CTTC và cho thuê vận hành Cho thuê vận hành là kiểu cho thuê tài sản có từ lâu đời, ngày nay nó còn được gọi là cho thuê hoạt động hay cho thuê kiểu truyền thống CTTC có những đặc trưng khác biệt so với cho thuê vận hành, căn cứ để phân biệt giữa CTTC và cho thuê vận hành là:

- Những rủi ro và những biện pháp đảm bảo cho giá trị còn lại của tài sản cho thuê do bên nào thực hiện

- Quyền sử dụng và hưởng dụng toàn bộ các lợi ích kinh tế do tài sản cho thuê mang lại có được chuyển giao cho người đi thuê không

Dựa trên căn cứ mang tính nguyên lý đó hoạt động CTTC và cho thuê vận hành có những điểm khác nhau cơ bản như sau:

- Đối với hoạt động CTTC thì không được huỷ ngang hợp đồng, trong khi đó hợp đồng cho thuê vận hành có thể được huỷ ngang

Trang 7

- Trong hoạt động CTTC, rủi ro và thiệt hại liên quan đến tài sản thuê do bên đi thuê gánh chịu; còn trong hoạt cho thuê vận hành, bên đi thuê không chịu rủi ro thiệt hại nếu không phải lỗi do mình gây ra Nói một cách khác, rủi ro liên quan đến tài sản được chuyển giao cho bên đi thuê trong hợp đồng CTTC còn trong hợp đồng cho thuê vận hành thì không

- Đối với hoạt động CTTC, tài sản thuê trước khi ký hợp đồng có thể không thuộc sở hữu của người cho thuê mà là do người đi thuê tìm, lựa chọn từ nhà cung cấp và yêu cầu công ty CTTC mua để cho thuê; còn đối với hoạt động cho thuê vận hành, tài sản trước khi ký hợp đồng đã thuộc quyền sở hữu của bên cho thuê

- CTTC thường có dự định chuyển quyền sở hữu tài sản cho người

đi thuê khi hết hạn hợp đồng, vì bên cho thuê đơn thuần là người cung cấp tài chính (vốn); cho thuê vận hành không có dự định đó

- Thời gian cho thuê trong hợp đồng CTTC thường chiếm phần lớn thời gian hữu ích của tài sản; trong khi đó thời hạn cho thuê của hợp đồng cho thuê vận hành thường chiếm một phần nhỏ so với thời gian hữu ích của tài sản

- Hiện giá của tổng số tiền thuê phải trả trong hợp đồng CTTC ít nhất bằng giá trị tài sản tại thời điểm ký hợp đồng, do đó người cho thuê thường thu hồi đủ vốn đầu tư vào tài sản trong một hợp đồng; còn trong hợp đồng cho thuê vận hành số tiền thuê nhỏ hơn nhiều so với giá trị của tài sản thuê ban đầu, do vậy để thu hồi vốn đầu tư và có lãi người cho thuê vận hành bắt buộc phải cho thuê với nhiều bên, qua nhiều hợp đồng Tuy có sự khác biệt như vậy nhưng trên thực tế vẫn tồn tại những trường hợp mập mờ, không có ranh giới rõ ràng giữa CTTC và cho thuê vận hành

Uỷ ban tiêu chuẩn kế toán quốc tế - IAS đã đặt ra 4 tiêu chuẩn làm

cơ sở chung để phân loại và nhận dạng hợp đồng cho thuê tài sản thuộc hình thức CTTC hay cho thuê vận hành Tiêu chuẩn phân loại giao dịch cho thuê do uỷ ban tiêu chuẩn kế toán quốc tế - IAS quy định được thể hiện theo sơ đồ dưới đây:

Trang 8

Sơ đồ 5.1: Sự khác nhau giữa cho thuê tài chính và cho thuê vận hành

Theo chuẩn mực trên, một hợp đồng cho thuê tài sản nếu thoả mãn 1 trong 4 tiêu chuẩn thì được coi là CTTC và nếu không thoả mãn cả 4 tiêu chuẩn thì đó là cho thuê vận hành

Trên cơ sở chuẩn mực chung của quốc tế, các tiêu chuẩn để phân loại và nhận biết một giao dịch CTTC ở Việt Nam được quy định trong Điều 1 Nghị định 16/2001/NĐ-CP và điểm 09 của chuẩn mực kế toán 06

- Thuê tài sản như sau:

- Bên cho thuê chuyển giao quyền sở hữu tài sản cho bên thuê khi kết thúc thời hạn thuê

TÀI SẢN CHO THUÊ

Quyền sở hữu tài sản được chuyển giao cho bên thuê tại thời

điểm chấm dứt hợp đồng

Không

Hợp đồng thuê quy định bên thuê được quyền chọn mua tài

sản với giá tượng trưng tại thời điểm chấm dứt hợp đồng

Thời hạn thuê chiếm phần lớn thời gian hữu dụng của tài sản

Giá trị hiện tại của các khoản tiền thuê tương đương hoặc lớn

hơn giá thị trường của tài sản tại thời điểm bắt đầu hợp đồng

Trang 9

- Tại thời điểm khởi đầu thuê tài sản, bên thuê có quyền lựa chọn mua lại tài sản thuê với mức giá ước tính thấp hơn giá trị hợp lý vào cuối thời hạn thuê hoặc tiếp tục thuê theo các điều kiện đã thoả thuận trong hợp đồng

- Thời hạn thuê tài sản chiếm phần lớn thời gian sử dụng kinh tế của tài sản cho dù không có sự chuyển giao quyền sở hữu

- Tại thời điểm khởi đầu thuê tài sản, giá trị hiện tại của các khoản thanh toán tiền thuê tối thiểu chiếm phần lớn giá trị hợp lý của tài sản thuê

5.1.1.3 Đặc điểm của hoạt động cho thuê tài chính

Hoạt động CTTC vừa mang đặc điểm của một hoạt động cho thuê tài sản nói chung, vừa mang đặc điểm của một hoạt động tín dụng ngân hàng Tuy nhiên, với những đặc điểm giao dịch đặc thù của loại hình dịch vụ này, nó tạo nên những đặc trưng riêng có khác với các loại dịch vụ kể trên

- Về hình thức cấp tín dụng: công ty CTTC tiến hành đầu tư mua sắm tài sản theo sự lựa chọn và yêu cầu của bên đi thuê, chuyển giao quyền sử dụng tài sản cho bên thuê và định kỳ thu tiền thuê để thu hồi vốn và kiếm lợi nhuận, quyền sở hữu tài sản thuộc bên cho thuê Như vậy, hình thức cấp tín dụng của CTTC là cấp tín dụng bằng hiện vật (cho vay bằng hiện vật) chứ không phải cấp tín dụng bằng tiền như hoạt động cho vay thông thường của các NHTM

- Có sự tách biệt về quyền sở hữu pháp lý và quyền sử dụng đối với tài sản cho thuê

Người cho thuê là chủ sở hữu của tài sản cho thuê trong suốt thời hạn thuê Khi quyền sở hữu đó chưa được chuyển giao cho người thuê theo hợp đồng thì người thuê chỉ được quyền sử dụng tài sản mà không được quyền bán, thế chấp tài sản thuê hay dùng tài sản thuê làm đồ thế nợ; không được thay đổi hình dáng, tính năng công dụng của tài sản thuê hoặc chuyển tài sản thuê khỏi địa điểm đã được lắp đặt trong hợp đồng

mà không được sự đồng ý bằng văn bản của người cho thuê; không được quyền sử dụng tài sản thuê với những mục đích không được thiết kế,

Trang 10

hoặc không mong đợi Nếu người đi thuê vi phạm điều khoản của hợp đồng thì người cho thuê sẽ thu hồi ngay tài sản với cương vị là sở hữu chủ về mặt pháp lý đối với tài sản đó

Mặc dù người cho thuê là người sở hữu về mặt pháp lý nhưng họ không trực tiếp sử dụng tài sản, quyền lợi này được trao cho người đi thuê Đây chính là người sở hữu về mặt kinh tế, người đứng ra khai thác tính hữu ích của tài sản và cam kết gánh chịu mọi rủi ro liên quan đến tài sản thuê Người đi thuê sẽ đền bù cho người cho thuê mọi mất mát hoặc thiệt hại về tài sản thuê với bất cứ nguyên nhân nào Người đi thuê đồng

ý bảo hiểm toàn bộ theo yêu cầu cụ thể của người cho thuê và sẽ duy trì việc bảo hiểm cho đến hết thời hạn thuê Người đi thuê sẽ tiến hành gìn giữ và khai thác tài sản thuê ở trạng thái tốt nhất và cam kết thanh toán mọi khoản chi phí liên quan đến việc chuẩn bị, thực hiện các bước của hợp đồng kể cả các khoản chi phí phát sinh ngoài thời hạn thuê như chi phí nhập khẩu, bảo trì và các dịch vụ kèm theo

- Thời hạn tín dụng trong giao dịch CTTC là thời hạn của hợp đồng thuê Thời hạn này không được hủy ngang và thường chiếm phần lớn thời gian hữu dụng của tài sản Hết thời hạn của hợp đồng thuê, người thuê có thể được chuyển nhượng quyền sở hữu tài sản hoặc được tiếp tục thuê theo thỏa thuận của hai bên Quyền chọn mua hoặc thuê tiếp này là một đặc trưng quan trọng để phân biệt CTTC với các hình thức cho thuê giản đơn mà chúng ta quen gọi là cho thuê vận hành

- Về khả năng kiểm soát của người cấp tín dụng đối với tính mục đích trong sử dụng vốn và khả năng hạn chế rủi ro Trong hoạt động CTTC, tài sản thuê thuộc quyền sở hữu của bên cho thuê cho nên công ty CTTC có quyền và có điều kiện để kiểm soát chặt chẽ quá trình sử dụng tài sản của bên thuê, đảm bảo tính mục đích của tiền vốn đầu tư Hình thái vật chất của vốn đầu tư được xác định chính xác và dễ dàng là tài sản cho thuê, công ty CTTC có quyền dán tem sở hữu lên tài sản đó, qua đó

dễ dàng kiểm tra quá trình sử dụng tài sản và đánh giá hiệu quả sử dụng tài sản thuê; phát hiện sớm các rủi ro tiềm ẩn và có biện pháp kịp thời phòng ngừa hạn chế rủi ro; chủ động thu hồi tài sản cho thuê khi cần thiết Trong hình thức cấp tín dụng bằng tiền của các ngân hàng thương

Trang 11

mại thì khả năng kiểm soát quá trình sử dụng vốn của người đi vay để đảm bảo tính mục đích của tiền vốn bị hạn chế hơn Do tài sản hình thành từ vốn vay thuộc quyền sở hữu của bên đi vay và tài sản đó còn được tài trợ bởi vốn chủ sở hữu cho nên ngân hàng khó có thể có đủ cơ

sở để đánh giá đúng kết quả sử dụng vốn vay, phát hiện sớm rủi ro cũng như biện pháp xử lý kịp thời với chi phí thấp Qua đó cho thấy độ an toàn của hình thức tài trợ bằng CTTC cao hơn so với hình thức tài trợ tín dụng ngân hàng thông thường

5.1.1.4 Sự khác biệt của cho thuê tài chính với tín dụng ngân hàng

Về bản chất thì CTTC cũng là một hình thức tín dụng trung dài hạn, tuy nhiên so với tín dụng ngân hàng nó có những khác biệt chính như sau:

- Hình thức cấp tín dụng của các công ty CTTC là cấp tín dụng bằng tài sản (hiện vật), còn các NHTM cấp tín dụng bằng tiền Vì vậy, sau khi hợp đồng được ký kết, đối với CTTC thì doanh nghiệp đi thuê sẽ được bổ sung trực tiếp bằng các tài sản cố định; còn đối với tín dụng ngân hàng, doanh nghiệp đi vay sẽ được bổ sung vốn bằng tiền

- Hoạt động CTTC (cho vay bằng hiện vật) thường gắn liền với quyền sở hữu về tài sản, bên cho thuê nắm quyền sở hữu tài sản; trong khi đó tín dụng ngân hàng (cho vay bằng tiền) thì tài sản hình thành từ vốn vay không thuộc quyền sở hữu của bên cho vay Vì vậy, nếu doanh nghiệp đi thuê bị phá sản thì bên cho thuê mặc nhiên thu hồi tài sản của mình, còn với tư cách là người cho vay, ngân hàng phải chờ sự phán xét của toà án Như vậy, về mặt lý thuyết CTTC có độ an toàn cao hơn tín dụng ngân hàng

- Hoạt động CTTC không bị ràng buộc bởi hạn mức tín dụng, do bên cho thuê nắm quyền sở hữu tài sản nên trong các hợp đồng CTTC mức tài trợ vốn có thể đạt tới 100% giá trị tài sản Trong khi đó, mức tài trợ vốn của các hợp đồng cho vay của ngân hàng thương mại lại bị giới hạn bởi một tỷ lệ nhất định so với giá trị của tài sản đảm bảo tiền vay Chính

sự khác biệt này đã tạo nên tính hấp dẫn của dịch vụ CTTC đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ khi họ muốn đầu tư mở rộng sản xuất kinh doanh nhưng lại hạn chế về khả năng tài chính

Trang 12

Bảng 5.1: Phân biệt cho thuê tài chính với tín dụng ngân hàng

Tiêu thức Cho thuê tài chính Tín dụng ngân hàng

Quyền sở hữu tài sản trong

thời gian thực hiện hợp

đồng

Thuộc bên cho thuê (người cấp tín dụng) Thuộc bên đi vay (người được cấp tín dụng)

Giá trị hợp đồng so với giá

trị tài sản Thường lớn hơn hoặc tương đương giá trị hợp lý của tài

sản ở thời điểm bắt đầu hợp đồng

Thường thấp hơn giá trị hợp lý của tài sản ở thời điểm bắt đầu hợp đồng

5.1.2 Các hình thức cho thuê tài chính

5.1.2.1 Các chủ thể liên quan đến cho thuê tài chính

 Các chủ thể cung cấp dịch vụ CTTC trên thị trường (người cho thuê)

Người cho thuê (Lessor): là nhà tài trợ vốn cho người đi thuê, là

người sẽ thanh toán toàn bộ giá trị mua tài sản theo thoả thuận giữa người đi thuê với nhà cung cấp, là chủ sở hữu tài sản về mặt pháp lý đối với tài sản thuê Trong trường hợp cho thuê tài sản của chính họ thì người cho thuê cũng đồng thời là nhà cung cấp tài sản

Người cho thuê chủ yếu là các công ty CTTC, ở một số nước còn có

sự tham gia của các công ty tài chính, các NHTM hoặc công ty tài chính con của các tập đoàn sản xuất

Tùy theo luật pháp và định chế của mỗi nước khác nhau mà các chủ thể chuyên cung cấp dịch vụ CTTC được quy định khác nhau Hầu hết các quốc gia đều coi các chủ thể cung cấp dịch vụ CTTC là các tổ chức tài chính phi ngân hàng Luật pháp của nhiều quốc gia đều cấm các thể nhân, doanh nghiệp tư nhân hay các công ty phi tài chính và có thể cả các NHTM không được tham gia hoạt động CTTC (Hàn Quốc, Anh quốc,…) Tuy nhiên, nhiều quốc gia có những quy định rộng rãi hơn, họ cho phép các tập đoàn công nghiệp tham gia hoạt động CTTC như là một hình thức hỗ trợ bán sản phẩm của mình thông qua các công ty con chuyên kinh doanh CTTC (Mỹ) Bên cạnh đó, có những nước coi công ty CTTC như một công ty thương mại (Thái Lan)

Trang 13

Ở các nước đang phát triển, do đặc điểm CTTC của các quốc gia này

là tiếp nhận vốn, công nghệ từ bên ngoài thông qua CTTC, nên các công

ty CTTC còn có chức năng hoạt động như một công ty xuất nhập khẩu để tài trợ cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ Các nước này thường cho phép các công ty 100% vốn nước ngoài, công ty liên doanh với nước ngoài chuyên doanh cho thuê theo định hướng của kế hoạch Nhà nước (Hàn Quốc, Trung Quốc)

Tóm lại, với bản chất và các đặc điểm của thị trường CTTC - một bộ phận của thị trường vốn, chủ thể cung cấp dịch vụ CTTC trên thị trường CTTC phải là một tổ chức tài chính trung gian, đó là các công ty CTTC; NHTM, công ty tài chính, công ty tài chính con của các tập đoàn công nghiệp lớn có thể tham gia kinh doanh CTTC như là một trong các chức năng hoạt động của các tổ chức đó Việc xác định rõ vị trí, tính chất hoạt động của các công ty CTTC và mức độ tham gia của các tổ chức tài chính trung gian khác có ý nghĩa quan trọng trong việc xây dựng môi trường pháp lý điều chỉnh hoạt động của thị trường CTTC Ngoài ra, các công ty CTTC hoạt động trên thị trường CTTC Việt Nam cần phải lấy mục tiêu CNH-HĐH làm định hướng phát triển, gắn hoạt động của mình với chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của đất nước

 Chủ thể cầu vốn qua dịch vụ cho thuê tài chính - Người đi thuê

Người đi thuê (Lessee): là người nhận tài trợ tín dụng của người cho

thuê Người đi thuê có quyền sử dụng, hưởng những lợi ích do tài sản đem lại và có trách nhiệm trả tiền thuê theo thoả thuận

Người đi thuê là các doanh nghiệp hoặc các cá nhân kinh doanh có nhu cầu trang bị máy móc thiết bị phục vụ cho mục đích của mình nhưng không có vốn đầu tư hoặc xét thấy việc đầu tư đem lại hiệu quả không cao

Cầu về thuê tài chính thường xuất hiện ở các chủ thể là các cá nhân sản xuất kinh doanh, các doanh nghiệp nhỏ và vừa, những chủ thể mà khả năng tài chính bị hạn chế và không có uy tín với ngân hàng trong quan hệ tín dụng Họ thường không đáp ứng được điều kiện về tài sản đảm bảo tiền vay của ngân hàng Mặt khác, giới hạn về hạn mức tín dụng của ngân hàng trong các hợp đồng cho vay (tối đa bằng 80% giá trị của

Trang 14

tài sản đảm bảo tiền vay) đã làm cho nhu cầu đầu tư trang bị những tài sản hiện đại tiên tiến, có giá trị lớn nhằm mở rộng sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp này không được thực hiện Trong bối cảnh đó tìm con đường tài trợ bằng đi thuê tài chính tỏ ra ưu việt hơn cả, các doanh nghiệp nhỏ và vừa hoặc các cá nhân kinh doanh sẽ có được máy móc thiết bị như mong muốn để gia tăng năng lực sản xuất kinh doanh của mình trong điều kiện hạn chế về nguồn vốn đầu tư

Với các doanh nghiệp lớn, khả năng tài chính lớn hơn, có thể huy động vốn từ nhiều nguồn một cách dễ dàng thì cầu về thuê tài chính sẽ xuất hiện khi họ cân nhắc chi phí sử dụng vốn, so sánh giữa các nguồn và thấy rằng đi thuê tài chính sẽ đem lại hiệu quả cao hơn do những đặc trưng vốn có của nó

Cầu về thuê tài chính cũng xuất hiện ở các doanh nghiệp có cơ cấu đầu tư không hợp lý, đầu tư quá nhiều vào tài sản cố định và đang thiếu vốn lưu động thường xuyên Thông qua nghiệp vụ bán và tái thuê - một phương thức giao dịch đặc thù của dịch vụ CTTC, các doanh nghiệp này

có thể lưu động hoá số vốn đã đầu tư cho tài sản cố định để phục vụ cho các mục đích sử dụng khác có hiệu quả cao hơn trong khi vẫn duy trì được quy mô hoạt động như cũ vì tài sản vẫn được tiếp tục sử dụng

5.1.2.2 Các hình thức cho thuê tài chính

Các giao dịch cho thuê tài chính diễn ra rất phong phú và đa dạng, tùy theo tính chất trong từng giao dịch mà có thể phân thành nhiều phương thức cho thuê tài chính khác nhau:

 Các hình thức cho thuê tài chính cơ bản

Căn cứ vào số bên tham gia trong một hợp đồng CTTC thì phương thức giao dịch CTTC cơ bản bao gồm: CTTC có sự tham gia của ba bên

và CTTC có sự tham gia của hai bên

Phương thức cho thuê tài chính có sự tham gia của 3 bên (còn gọi là thuê mua thuần - Net Lease)

Tuyệt đại đa số hợp đồng CTTC là các thỏa thuận 3 bên Hình thức thỏa thuận CTTC này thường được thực hiện dưới dạng hợp đồng CTTC trả hết Người cho thuê trông đợi sẽ thu hồi toàn bộ chi phí của tài sản

Trang 15

thuê cộng với tiền lãi trong thời hạn thuê được tính theo lãi suất ở mức mang lại lợi nhuận Do đó, người cho thuê nhận được tỷ suất lợi nhuận được xác định trước trên số vốn được dùng để tài trợ cho khoản đầu tư Trong phương thức giao dịch này các bên liên quan có những nghĩa

vụ và trách nhiệm như sau:

- Người đi thuê:

+ Lựa chọn loại máy móc thiết bị cần thiết

+ Lựa chọn nhà cung cấp thiết bị

+ Thương lượng các điều khoản bảo hành, cách thức bảo dưỡng, các chi tiết về thủ tục giao nhận, hải quan, vận chuyển, thủ tục cấp giấy phép (nếu có)

+ Thương lượng về thời gian biểu lắp đặt thiết bị, đào tạo, về giá mua, về bảo hiểm

- Người cho thuê:

+ Xét duyệt tài trợ cho người đi thuê

+ Xác nhận các chi tiết và giá cả của thiết bị từ phía người đi thuê và nhà cung ứng

+ Soạn thảo hợp đồng cho thuê và thực hiện hợp đồng đó với người

đi thuê và người bảo hành (nếu có)

+ Soạn thảo hợp đồng mua thiết bị giữa người cho thuê và nhà cung ứng

+ Sau khi thiết bị đã được giao nhận phải thông báo: "Xác nhận thiết

bị đã được giao" để xác nhận tính phù hợp và tình trạng làm việc của thiết bị, đồng thời thanh toán đầy đủ tiền mua thiết bị theo giá đã được quy định trong hợp đồng

Trong bất cứ trường hợp nào, người cho thuê cũng phải có quyền sở hữu pháp lý rõ ràng Người cho thuê sẽ đăng ký, công chứng hợp đồng cho thuê tài chính và đăng ký thiết bị Sau khi người cho thuê đã thanh toán tiền mua thiết bị thì thời hạn thuê thường bắt đầu

Trang 16

- Người cung ứng:

+ Đàm phán với người đi thuê

+ Giao thiết bị trong tình trạng làm việc tốt cho người đi thuê

+ Thực hiện hợp đồng CTTC với người cho thuê và người đi thuê, lập chứng từ mua bán trong đó bao gồm cả các chi phí cung cấp dịch

vụ sau khi bán và đào tạo cho người đi thuê nếu có thỏa thuận

Phương thức CTTC có sự tham gia của 3 bên có thể tổng kết qua

sơ đồ 5.2

Sơ đồ 5.2: Cho thuê tài chính có sự tham gia của ba bên

Phương thức cho thuê tài chính có sự tham gia của hai bên (còn gọi

là hợp đồng CTTC tài trợ trực tiếp - Direct leases)

CTTC tài trợ trực tiếp là phương thức mà người cho thuê sử dụng thiết bị, tài sản của họ có sẵn trực tiếp tài trợ cho người đi thuê Người cho thuê thường là nhà sản xuất hoặc các định chế tài chính, cũng có thể

Giao tài sản

Bảo trì

và phụ tùng thay thế

Trả tiền bảo trì

và phụ tùng thay thế

Trang 17

là công ty CTTC sử dụng tài sản của họ tài trợ cho người đi thuê Hình thức thỏa thuận thuê này thường được thực hiện dưới dạng hợp đồng CTTC trực tiếp và có những đặc điểm căn bản như sau:

- Thường do các công ty con của các hãng sản xuất máy móc thiết bị thực hiện

- Tài sản cho thuê thường có giá trị không quá lớn và thường là máy móc thiết bị

- Chỉ có 2 bên tham gia trực tiếp vào giao dịch là người cho thuê và người đi thuê

- Vốn tài trợ hoàn toàn do người cho thuê đảm nhiệm

- Người cho thuê có thể mua lại thiết bị khi chúng bị lạc hậu

Đây là một hình thức tài trợ mà các nhà sản xuất thường sử dụng để đẩy mạnh việc tiêu thụ sản phẩm do họ sản xuất ra Mặt khác nhờ luôn cập nhật những công nghệ mới để chế tạo các loại máy móc thiết bị nên các nhà sản xuất có thể mua lại những thiết bị đã lạc hậu về mặt công nghệ để tiếp tục cung cấp những máy móc thiết bị mới, hiện đại do họ chế tạo ra Phương thức tài trợ này có thể tổng kết qua sơ đồ 5.3

Sơ đồ 5.3: Cho thuê tài chính có sự tham gia của hai bên

Bán lại thiết bị lạc hậu

Hợp đồng thuê TC (1)

(3)

Trang 18

 Các phương thức cho thuê tài chính đặc biệt

Theo tính chất trong từng giao dịch và cách tiếp cận từ phương diện của người cho thuê và người đi thuê, thì CTTC bao gồm các loại sau:

a) Các phương thức cho thuê tài chính tiếp cận từ phương diện người cho thuê

Cho thuê tài chính liên kết - Syndicate Leases

Sơ đồ 5.4: Cho thuê tài chính liên kết

CTTC liên kết là một phương thức CTTC gồm nhiều bên tài trợ cho một người đi thuê Phương thức này áp dụng khi tài sản cho thuê có giá trị lớn, bản thân một NHTM, công ty CTTC không có khả năng đáp ứng hoặc muốn phân tán rủi ro nên phải liên kết với các NHTM, công ty CTTC khác, hay các nhà sản xuất để tiến hành đồng tài trợ (sự liên kết theo chiều ngang) Hoặc trong trường hợp các định chế tài chính hay các hãng sản xuất lớn giao tài sản cho chi nhánh của họ thực hiện giao dịch tài trợ cho khách hàng thì hình thành sự liên kết theo chiều dọc

Đặc trưng của phương thức giao dịch này không có sự khác biệt lớn

so với phương thức CTTC cơ bản có sự tham gia của ba bên Tuy vậy, hợp đồng CTTC này lại hoàn toàn phụ thuộc vào sự thỏa thuận liên kết vốn của nhiều định chế tài chính hay các nhà sản xuất

Trả tiền thuê tài sản

Các mối quan hệ tương tự như phương thức cho thuê tài chính

cơ bản có 3 bên tham gia Các chi nhánh

(1)

(2)

(3)

(4)

Trang 19

Cho thuê tài chính bắc cầu - Leveraged Lease

CTTC bắc cầu là một phương thức đặc biệt của CTTC căn bản, chỉ mới được áp dụng phổ biến trong thời gian gần đây, xuất phát từ thực tế các NHTM, công ty CTTC có những hạn chế về nguồn vốn, không đủ tài trợ cho một hợp đồng thuê, chẳng hạn như: cho thuê một máy bay hay một tàu chở hàng, hay một tổ hợp dây chuyên lớn Theo phương thức này, người cho thuê đi vay để mua tài sản cho thuê từ một hay nhiều người cho vay nào đó Như vậy, để đạt được một giao dịch CTTC theo phương thức này lại phụ thuộc vào thỏa thuận vay vốn giữa người cho

thuê với người cho vay

Sơ đồ 5.5: Cho thuê tài chính bắc cầu

Theo luật pháp của một số quốc gia, khoản tiền vay này không được vượt quá 80% tổng giá trị của tài sản tài trợ Vật thế chấp cho khoản vay này là quyền sở hữu tài sản cho thuê và các khoản tiền thuê mà người đi thuê sẽ trả trong tương lai Người cho vay được hoàn trả tiền vay từ các khoản tiền thuê mà người cho thuê nhận được hoặc có thể do người đi thuê trực tiếp chuyển trả theo yêu cầu của người cho thuê Sau khi trả hết

nợ vay, những khoản tiền thuê còn lại mới thực sự tạo ra thu nhập và hoàn vốn cho người cho thuê

Người đi vay

Tiền

trả

nợ

Tiền cho vay

Người cho thuê

Tài sản thuê

Trả tiền thuê

Người đi thuê

Trang 20

Về phía người thuê không có sự khác biệt căn bản trong giao dịch so với phương thức cho thuê cơ bản Hình thức cho thuê này đem lại lợi nhuận và mở rộng khả năng tài trợ ra khỏi phạm vi nguồn vốn của người cho thuê, góp phần đáp ứng nhu cầu đa dạng của người thuê

b) Các phương thức cho thuê tài chính tiếp cận từ phương diện người thuê

Trên phương diện người thuê, hợp đồng CTTC cơ bản cũng có những biến thể rất đa dạng Sự đa dạng này thể hiện tính linh hoạt trong các hình thức tài trợ của người cho thuê, tạo điều kiện cho người thuê có thể sử dụng có hiệu quả nguồn vốn tài trợ và đa dạng hóa các hình thức tài trợ của người cho thuê

Phương thức bán và tái thuê (Sale and leaseback)

Phương thức bán và tái thuê là một dạng đặc biệt của phương thức CTTC cơ bản có sự tham gia của hai bên

Bán và tái thuê là một thỏa thuận tài trợ tài chính mà theo đó người

đi thuê bán lại tài sản của chính họ cho người cho thuê và đồng thời thuê lại tài sản mà chính họ vừa bán Bán và tái thuê được áp dụng trong thực tiễn hoạt động sản xuất kinh doanh, khi mà doanh nghiệp, nhất là các doanh nghiệp vừa và nhỏ gặp khó khăn về nguồn vốn lưu động trong khi vay vốn ngân hàng lại gặp nhiều thủ tục, điều kiện khắt khe mà các doanh nghiệp khó có thể thỏa mãn; đồng thời năng lực sản xuất của doanh nghiệp vẫn phải duy trì nên không thể giảm bớt tài sản cố định để chuyển thành tài sản lưu động Trong trường hợp đó họ buộc phải bán lại một phần tài sản cố định cho công ty CTTC, sau đó thuê lại tài sản đó để

sử dụng và như vậy sẽ có thêm nguồn tài chính để đáp ứng nhu cầu vốn lưu động Đôi lúc các ngân hàng cũng áp dụng phương thức tài trợ này như là một biện pháp giải quyết nợ quá hạn mà không phải dùng đến biện pháp thanh lý, tức là đề nghị tuyên bố phá sản khi người đi vay lâm vào tình trạng khó khăn về tài chính

Trang 21

Sơ đồ 5.6: Phương thức bán và tái thuê

Đặc trưng chủ yếu của phương thức giao dịch này là: người đi thuê giữ lại quyền sử dụng tài sản và chuyển giao quyền sở hữu pháp lý cho người cho thuê, đồng thời nhận được tiền bán tài sản Điều đáng lưu ý là những tài sản được sử dụng vào giao dịch này phải là những tài sản còn giá trị sử dụng hữu ích Giá mua tài sản tùy thuộc vào giá cả hợp lý của tài sản đó trên thị trường ở thời điểm diễn ra hoạt động mua bán Người thuê có đầy đủ các nghĩa vụ thực hiện hợp đồng về bảo dưỡng và làm dịch vụ đối với tài sản để đảm bảo rằng tài sản thuê luôn được giữ trong tình trạng hoạt động tốt

Tiếp cận ở góc độ người cho thuê, ở Việt Nam phương thức này được gọi là mua và cho thuê lại

Phương thức cho thuê tài chính giáp lưng - Under Lease

CTTC giáp lưng là một loại giao dịch CTTC mà thông qua sự đồng

ý của người cho thuê, người đi thuê thứ nhất cho người đi thuê thứ hai thuê lại tài sản mà họ đã thuê được từ người cho thuê Kể từ khi hợp đồng CTTC giáp lưng được ký kết, quyền sử dụng tài sản và nghĩa vụ đối với tài sản đó sẽ được chuyển giao từ người đi thuê thứ nhất sang người đi thuê thứ hai

Công ty cho thuê

tài chính

Người mua

Người cho thuê

Chủ sở hữu TS ban đầu (DN)

Người bán

Người đi thuê

Thỏa thuận mua bán TS

Trang 22

Tuy nhiên, người đi thuê thứ nhất phải chịu trách nhiệm liên đới đối với những rủi ro và thiệt hại liên quan đến tài sản thuê, vì họ là người trực tiếp ký kết hợp đồng với người cho thuê ban đầu Hình thức này thường được ứng dụng trong trường hợp người đi thuê thứ nhất khi thực hiện được một phần hợp đồng, vì những lý do khác nhau không còn nhu cầu sử dụng tài sản thuê nữa, trong khi đó hợp đồng CTTC lại không thể hủy ngang Do vậy, họ phải tìm đến người thuê thứ hai để chuyển nhượng hợp đồng, bởi nếu không cho thuê tiếp được thì dù không sử dụng tài sản họ vẫn phải trả tiền thuê

Sơ đồ 5.7: Phương thức cho thuê tài chính giáp lưng

Phương thức thuê mua trả góp - Lease Purchase Arrangement

Đây là một phương thức tài trợ khá đặc biệt của hoạt động CTTC, theo đó các nhà sản xuất hay các định chế tài chính tiến hành thỏa thuận

và ký hợp đồng thuê mua với doanh nghiệp có nhu cầu Hợp đồng này cho phép người mua tài sản thanh toán tiền mua thành nhiều kỳ vào những thời điểm được ấn định trước và mỗi lần trả một phần giá trị của tài sản cùng tiền lãi Thông thường, khi hợp đồng có hiệu lực người mua phải trả ngay cho nhà tài trợ khoản thanh toán đầu tiên chiếm từ 25% - 30% giá trị của tài sản, phần còn lại trả góp theo quy định và kết thúc hợp đồng quyền sở hữu tài sản được chuyển giao cho người mua

Hình thức tài trợ này có nguồn gốc từ những biện pháp khuyến mại của các hãng chế tạo lớn nhằm đẩy mạnh việc bán sản phẩm của họ và thời kỳ đầu mang bản chất của một nghiệp vụ tín dụng thương mại Thời

kỳ đầu người bán thường chuyển giao quyền sở hữu tài sản ngay cho người mua khi hợp đồng có hiệu lực; nhưng biện pháp này đem lại cho người bán quá nhiều rủi ro, cho nên sau này người bán giữ lại quyền sở hữu của tài sản cho đến khi kết thúc hợp đồng và như vậy hình thức bán trả góp trở nên tương đồng với CTTC

Người

cho thuê

Người đi thuê thứ nhất Quyền sử dụng TS

Trả tiền thuê

Người đi thuê thứ hai Quyền sử dụng TS

Trả tiền thuê

Trang 23

Sự tham gia có tính chất chuyên môn hóa của các định chế tài chính trong bối cảnh nền KTTT có cạnh tranh đã tạo ra tính hấp dẫn của phương thức tài trợ này so với hình thức bán trả góp đơn thuần Các nhà kinh doanh cho thuê tuy yêu cầu trả trước một phần vốn tài trợ ngay kỳ thanh toán đầu tiên, nhưng chỉ trích một tỷ lệ thấp để trả nợ, phần còn lại được coi là khoản tiền gửi ký quỹ của khách hàng Tiền lãi từ khoản tiền

ký quỹ này sẽ được khấu trừ vào phí thuê mỗi kỳ do đó làm giảm chi phí của người thuê mà vẫn đảm bảo được sự an toàn cho giao dịch

Sơ đồ 5.8: Phương thức thuê mua trả góp 5.1.3 Quản trị cho thuê tài chính

5.1.3.1 Đối tượng dịch vụ của cho thuê tài chính

CTTC là dịch vụ do các NHTM, công ty CTTC cung cấp cho khách hàng Ngoài dịch vụ chính là CTTC còn có các dịch vụ kèm theo như dịch vụ tư vấn tài chính, dịch vụ đăng ký đảm bảo tài sản, dịch vụ xác định giá trị tài sản,…

Dịch vụ CTTC là một trong những dịch vụ tài chính - ngân hàng thuộc nhóm 1 theo cách phân loại của Tổ chức thương mại thế giới (WTO) về dịch vụ tài chính - kế toán Dịch vụ CTTC là một loại hàng

hoá vô hình (hàng hoá phi vật thể), do vậy khi cung cấp ra thị trường

phải đáp ứng các yêu cầu về chất lượng, số lượng, giá cả như sau:

- Chất lượng: cũng giống như các loại hình dịch vụ khác, dịch vụ CTTC khi cung cấp cho khách hàng cũng phải đảm bảo về chất lượng

Quyền sở hữu tài sản khi kết thúc hợp đồng

(2) (1)

(3)

(4)

(5)

Trang 24

Chất lượng của dịch vụ CTTC được hiểu là khả năng thoả mãn cao nhất đối với khách hàng đi thuê về mức độ vốn tài trợ thông qua tài sản thuê

và sự phù hợp về mục tiêu hiện đại hoá sản xuất mà tài sản thuê có thể đáp ứng, về tính kịp thời và đơn giản trong xét duyệt tài trợ, về tính phù hợp và thuận tiện cho khách hàng thuê trong thanh toán tiền thuê,…

- Khối lượng đủ lớn, chủng loại đa dạng và phong phú đáp ứng được các nhu cầu khác nhau của mọi đối tượng khách hàng Các NHTM, công

ty CTTC phải có đủ năng lực tài chính để tạo ra khối lượng dịch vụ đủ lớn đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của thị trường; mặt khác, phải tiến hành cung cấp dịch vụ theo nhiều phương thức khác nhau và cơ cấu tài sản cho thuê đảm bảo tính đa dạng và phong phú

- Giá cả của dịch vụ CTTC phải được hình thành trên cơ sở quan hệ cung cầu về cho thuê trên thị trường, song Nhà nước cũng cần phải quản

lý và điều tiết mức giá của loại hàng hoá đặc thù này trên cơ sở các chính sách kinh tế vĩ mô, các công cụ của thị trường để hạn chế các mặt tiêu cực

5.1.3.2 Giá cả dịch vụ cho thuê tài chính

Giá cả của dịch vụ CTTC là một vấn đề quan trọng, có tác động lớn đến sự phát triển của thị trường Mang bản chất là một dịch vụ tín dụng trung dài hạn, nên giá cả CTTC được hiểu là toàn bộ lãi tiền thuê phải trả tính trên tổng số vốn tài trợ biểu thị theo tỷ lệ % gọi là lãi suất cho thuê Như vậy, trong tổng số tiền thuê phải trả theo kỳ hạn, giá cả CTTC không bao gồm phần nợ gốc phải trả của khách hàng

Mức giá hợp lý là mức giá mà người đi thuê có thể chấp nhận được

và vẫn đảm bảo tính cạnh tranh trong kinh doanh Đối với người cho thuê, mức giá hợp lý là mức giá đem lại thu nhập đủ trang trải toàn bộ các chi phí và có lợi nhuận hợp lý Yếu tố rất quan trọng để định giá hợp

lý là phải hiểu nhu cầu của khách hàng, trên cơ sở đó phát triển mối quan

hệ tốt với khách hàng để có thể đáp ứng nhu cầu của họ ngày càng tốt hơn Những yếu tố này sẽ gây ấn tượng rất tốt với khách hàng và sẽ lôi cuốn họ đến với nhà tài trợ (các NHTM, công ty CTTC…) Về phía người đi thuê, hiểu biết về giá cả cũng là một yếu tố rất cần thiết để xem xét, lựa chọn mức giá có thể chấp nhận được trên cơ sở mức giá do nhà tài trợ đưa ra trong quá trình thương lượng, ký kết hợp đồng

Trang 25

Các yếu tố hình thành nên giá cả dịch vụ CTTC bao gồm:

- Chi phí sử dụng vốn tính trên lượng vốn đầu tư để hình thành nên tài sản cho thuê Phần chi phí này được tính theo một mức lãi suất nhất định xuất phát từ tình hình cung cầu vốn trên thị trường, lạm phát, công nghệ, cạnh tranh và nhiều yếu tố khác Có thể áp dụng lãi suất cố định hoặc lãi suất thả nổi theo từng trường hợp, nhưng mức lãi suất không thấp hơn lãi suất đầu vào trong huy động vốn của NHTM, công ty CTTC

- Chi phí marketing trực tiếp trong quá trình triển khai dịch vụ: bao gồm tất cả các chi phí liên quan trong quá trình mua tài sản, chi phí công chứng, chi phí trả hoa hồng cho người môi giới…

- Chi phí quản lý doanh nghiệp phân bổ cho tài sản cho thuê: bao gồm tất cả các chi phí cố định và chi phí biến đổi trong quản lý của công

ty CTTC được phân bổ cho tài sản thuê

- Khoản dự phòng cho trường hợp không thu hồi được vốn tài trợ

Độ lớn của các khoản dự phòng cho sự thiệt hại do không thu hồi được vốn tài trợ được xác định trên cơ sở kinh nghiệm hoạt động cho thuê trước đó và kết quả đánh giá xếp hạng tín dụng trong từng trường hợp

- Lợi nhuận dự tính Mức lợi nhuận dự tính thường chịu sự chi phối của yếu tố cạnh tranh của thị trường Người cho thuê thường chấp nhận mức lợi nhuận dự tính thấp hơn đối với các tài sản tài trợ cho các khách hàng lớn, nếu thấy rằng trong tương lai còn có thể thu được lợi nhuận từ những khách hàng này và tài sản cho thuê chỉ là một phần của các dịch

vụ hỗ trợ kèm theo

- Giá trị còn lại của tài sản thuê được tính toán tuỳ theo điều khoản quy định về chuyển giao tài sản tại thời điểm kết thúc hợp đồng Nếu tài sản được chuyển cho người đi thuê vào thời điểm kết thúc hợp đồng với mức giá tượng trưng hay hoàn toàn miễn phí, thì người cho thuê thường định giá cao hơn so với trường hợp tài sản được chuyển giao theo giá thị trường hay trả lại cho người cho thuê

Ngoài các yếu tố trên, nếu người cho thuê còn cung cấp các loại phụ tùng, thiết bị kỹ thuật hay các loại dịch vụ bảo trì khác theo hình thức tài trợ trọn gói thì giá thuê sẽ được tính cả những khoản tiền này Trong

Trang 26

trường hợp không phải là hợp đồng tài trợ trọn gói thì những chi phí này không được tính vào giá thuê mà được hai bên ký kết những hợp đồng phụ để cung cấp và thanh toán riêng

Đối với những giao dịch chỉ chiếm một phần đời sống hữu ích của tài sản thuê, người cho thuê thường định giá dựa trên cơ sở phần giá trị khấu hao tài sản trong giai đoạn đó cộng với các chi phí thành phần khác Tóm lại, giá cả CTTC - lãi suất cho thuê là một tỷ lệ chiết khấu sao cho tổng giá trị hiện tại của các khoản tiền thuê tối thiểu trả cho người cho thuê phải bằng giá trị hợp lý của tài sản cho thuê vào thời điểm bắt đầu hợp đồng

5.1.3.3 Các kênh phân phối dịch vụ cho thuê tài chính

Kênh phân phối là con đường mà hàng hoá, dịch vụ được lưu thông

từ các nhà sản xuất đến người tiêu dùng Nhờ nó mà khắc phục được những ngăn cách về thời gian, địa điểm và quyền sở hữu giữa hàng hoá, dịch vụ với những người muốn sử dụng chúng Các NHTM, công ty CTTC phải thiết lập các kênh phân phối phù hợp để đảm bảo triển khai dịch vụ CTTC đến các khách hàng mục tiêu Các kênh phân phối dịch vụ CTTC bao gồm:

- Kênh phân phối trực tiếp: Bao gồm mạng lưới các văn phòng giao dịch đặt tại trụ sở chính của công ty và các chi nhánh Nhân viên của công ty CTTC trực tiếp giao dịch với khách hàng để triển khai dịch vụ theo 3 phương thức bán hàng cơ bản là bán tại cửa hàng (văn phòng giao dịch), bán lưu động (nhân viên chủ động tìm đến khách hàng và bán dịch vụ), bán qua điện thoại hoặc internet Trong đó, việc cung cấp dịch vụ tại văn phòng giao dịch hay được triển khai bởi các nhân viên bán hàng lưu động là kênh phân phối truyền thống đã và đang áp dụng Ngày nay, trong thời đại khoa học kỹ thuật phát triển, thương mại điện tử ra đời, kênh phân phối trực tiếp hiện đại được triển khai đó là giao dịch để cung cấp dịch vụ qua điện thoại hoặc internet Những tiện ích của kênh này giúp các NHTM, công ty CTTC có thể tiết kiệm chi phí kinh doanh, hạ giá thành dịch vụ, mở rộng thị trường…để đạt tới mục tiêu lợi nhuận

Trang 27

- Kênh phân phối gián tiếp: Thông qua môi giới, hoặc thông qua các đại lý của các hãng sản xuất và hệ thống đại lý của công ty CTTC, hoặc

uỷ thác cho các NHTM để triển khai dịch vụ đến khách hàng Các công

ty CTTC thường không có mạng lưới giao dịch rộng khắp như các NHTM, do vậy việc triển khai dịch vụ trên kênh phân phối trực tiếp có những hạn chế nhất định và chi phí cao Để đạt hiệu quả cao trong kinh doanh các công ty CTTC đã chú ý khai thác kênh phân phối gián tiếp, ví

dụ sử dụng mạng lưới giao dịch của các NHTM: khi một doanh nghiệp

có nhu cầu vay vốn để đầu tư mua sắm máy móc thiết bị nhưng không đáp ứng được các điều kiện vay vốn của ngân hàng, trong trường hợp này nếu ngân hàng đó làm đại lý cho công ty CTTC thì có thể hướng dẫn cho khách hàng tiếp cận và sử dụng dịch vụ CTTC để thoả mãn nhu cầu

5.1.3.4 Phân đoạn thị trường cho thuê tài chính

Để xác định cầu về dịch vụ CTTC phải tiến hành phân đoạn thị trường và xác định cầu tại mỗi khúc thị trường Trên cơ sở đó các NHTM, công ty CTTC tiến hành lựa chọn thị trường mục tiêu và có các biện pháp tiếp cận và chiếm lĩnh thị trường

Cầu về thị trường CTTC có thể phân loại theo một trong các tiêu thức sau đây:

- Phân loại nhu cầu thuê tài chính theo loại hình sản xuất kinh doanh, bao gồm các nhóm sau:

+ Nhu cầu thuê tài chính trong lĩnh vực sản xuất công nghiệp;

+ Nhu cầu thuê tài chính trong lĩnh vực xây dựng cơ bản;

+ Nhu cầu thuê tài chính trong lĩnh vực thương mại dịch vụ;

+ Nhu cầu thuê tài chính trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp;

+ Nhu cầu thuê tài chính trong các ngành, lĩnh vực khác

Cách phân loại này giúp các NHTM, công ty CTTC có được các thông tin cần thiết về xu hướng phát triển cầu của từng khúc thị trường, đặc thù của các loại tài sản cho thuê trong từng lĩnh vực, để từ đó có chiến lược hoạt động và biện pháp tối ưu trong việc triển khai dịch vụ tài trợ

Trang 28

- Phân loại nhu cầu thuê tài chính theo đối tượng khách hàng thuê,

bao gồm các nhóm sau:

+ Nhu cầu thuê tài chính của các doanh nghiệp lớn, các tập đoàn kinh tế;

+ Nhu cầu thuê tài chính của các doanh nghiệp vừa và nhỏ;

+ Nhu cầu thuê tài chính của các HTX và hộ gia đình hay cá nhân Các đối tượng khách hàng khác nhau thì sẽ khác nhau về nhu cầu vốn tài trợ, mức độ rủi ro, Vì vậy, cách phân loại này giúp cho các NHTM, công ty CTTC có các biện pháp khác nhau khi triển khai dịch vụ nhằm thoả mãn ở mức cao nhất nhu cầu của từng đối tượng khách hàng

cụ thể, khai thác triệt để cầu của thị trường

- Phân loại nhu cầu thuê tài chính theo tài sản thuê , bao gồm các

nhóm sau:

+ Nhu cầu thuê bất động sản;

+ Nhu cầu thuê động sản, trong đó có thể phân loại chi tiết thành các nhóm như: máy móc thiết bị, phương tiện vận tải,

Các loại tài sản khác nhau chịu tác động của yếu tố khoa học kỹ thuật khác nhau và có tốc độ hao mòn vô hình khác nhau, do vậy đặc trưng biến động giá trị của chúng trên thị trường cũng khác nhau, ví dụ: máy móc thiết bị tin học và điện tử có tốc độ hao mòn vô hình nhanh hơn các loại khác, bất động sản có thể tăng giá sau một thời gian dài sử dụng, điều mà các loại động sản không thể có Vì vậy, cách phân loại này giúp cho các NHTM, công ty CTTC đưa ra các điều khoản ký kết phù hợp trong từng hợp đồng CTTC và có biện pháp dự phòng rủi ro nhằm đạt được mục tiêu của mình

5.2 QUẢN TRỊ HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ

Hoạt động đầu tư của ngân hàng thương mại được thể hiện dưới nhiều hình thức như: đầu tư mua bán chứng khoán, đầu tư góp vốn cổ phần, góp vốn liên doanh liên kết… Nhờ có những hoạt động này mà các ngân hàng thương mại có thể sử dụng và khai thác tối đa các nguồn vốn

đã huy động, đa dạng hoá kinh doanh và phân tán rủi ro, tăng cường khả năng thanh khoản cho dự trữ của ngân hàng Đồng thời nó cũng mang lại nguồn thu nhập đáng kể cho các ngân hàng thương mại

Trang 29

Tuy nhiên, hoạt động đầu tư thực hiện ở mức độ nào còn tuỳ thuộc vào mô hình tổ chức ngân hàng thương mại ở mỗi nước Xu hướng chung trong hoạt động của các ngân hàng thương mại hiện nay là ngày càng phát triển đa dạng các hoạt động kinh doanh và dịch vụ ngân hàng Đặc biệt khi TTCK ngày càng phát triển, cơ hội tìm kiếm lợi nhuận trong đầu tư chứng khoán cao, với những lợi thế của mình, các NHTM ngày càng quan tâm đến hoạt động đầu tư trong lĩnh vực này

5.2.1 Mục đích đầu tư và các loại chứng khoán đầu tư

5.2.1.1 Mục đích đầu tư chứng khoán của ngân hàng thương mại

Song hành với các hoạt động kinh doanh truyền thống, các NHTM ngày nay còn tham gia vào lĩnh vực đầu tư chứng khoán nhằm hướng tới các mục đích sau:

Thứ nhất, ổn định thu nhập của ngân hàng

Các NHTM tham gia đầu tư chứng khoán nhằm tạo cân bằng về thu nhập trong chu kỳ kinh doanh Khi thu nhập từ hoạt động tín dụng giảm xuống thì thu nhập từ đầu tư chứng khoán có thể bù đắp lại Trong thực

tế, các NHTM đặc biệt là các NHTM mới thành lập chưa có tập khách hàng đông đảo, thị phần triển khai các dịch vụ ngân hàng truyền thống còn hạn chế Các NHTM này thực hiện nghiệp vụ đầu tư chứng khoán mang lại nguồn thu nhập đáng kể, điều này được thể hiện rõ trong báo cáo kết quả kinh doanh và bảng cân đối tài sản của các NHTM hiện nay

Thứ hai, bù trừ rủi ro tín dụng

Các chứng khoán có rủi ro thấp có thể được ngân hàng mua và giữ lại để cân bằng với rủi ro tín dụng (đặc biệt là các chứng khoán nợ do Chính phủ phát hành như: Trái phiếu Chính phủ, tín phiếu kho bạc Nhà nước…) NHTM thường nắm giữ một lượng tín phiếu kho bạc Nhà nước khá lớn, vì khi phát hành công cụ này thường chỉ định các NHTM tham gia đấu thầu để nhằm thực hiện các mục tiêu của Chính phủ Hơn nữa loại chứng khoán này thường có thời hạn ngắn, lãi suất cố định và hầu như không có rủi ro thanh toán, trong khi những khoản cho vay là loại tài sản tiềm ẩn nhiều rủi ro đối với ngân hàng, chứa đựng trong đó nguy cơ

vỡ nợ của người đi vay

Trang 30

Thứ ba, cung cấp dự trữ cho ngân hàng

Vì chứng khoán có thể dễ chuyển đổi thành tiền để đáp ứng nhu cầu thanh khoản hiện hành, hoặc có thể được dùng để cầm cố, vay vốn bổ sung cho NHTM, trong khi các khoản tín dụng không dễ dàng chuyển đổi thành tiền trước thời điểm đáo hạn một khi ngân hàng cần tiền khẩn cấp

Thứ tư, cung cấp một sự đa dạng hoá về mặt địa lý trong hoạt động kinh doanh

Thông thường khi triển khai các dịch vụ ngân hàng truyền thống phải gắn với địa bàn hoạt động, phân vùng và hướng tới một tập khách hàng nhất định Còn chứng khoán thường xuất phát từ nhiều khu vực khác nhau và trong các lĩnh vực ngành nghề khác nhau Chính vì thế hoạt động đầu tư chứng khoán cho phép ngân hàng đa dạng hóa đầu tư và lợi nhuận của nó trên phương diện địa lý và lĩnh vực ngành nghề một cách

có hiệu quả hơn

Ngoài các mục tiêu trên, hoạt động đầu tư của NHTM còn nhằm các mục đích như:

- Giảm nghĩa vụ nộp thuế của ngân hàng Theo luật pháp của một số nước thì thu nhập có được từ đầu tư chứng khoán đặc biệt là các chứng khoán nợ không phải nộp thuế Do đó, đây là khoản đầu tư bù trừ thu nhập chịu thuế

- Tạo ra tuyến phòng thủ cho ngân hàng: Nhằm ngăn ngừa những thiệt hại mà có thể là hậu quả của sự thay đổi lãi suất trên thị trường

- Đem lại tính năng động cho danh mục tài sản: Không như phần lớn các khoản vay, các chứng khoán đầu tư có thể được mua và bán nhanh chóng nhằm mục đích tái cơ cấu các tài sản có của ngân hàng để phù hợp với điều kiện thị trường hiện tại

- Tăng cường hiệu quả của ngân hàng: Những chứng khoán có chất lượng ngân hàng đang nắm giữ sẽ góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của ngân hàng

5.2.1.2 Các loại chứng khoán ngân hàng thương mại đầu tư

Nhằm tăng cường hiệu quả tài chính và giảm thiểu rủi ro cho ngân hàng nên danh mục chứng khoán của ngân hàng ngày càng tăng nhanh

Trang 31

Hơn nữa, mỗi khoản mục đầu tư của ngân hàng có những đặc điểm khác nhau về rủi ro, về sự nhạy cảm đối với lạm phát, lãi suất, với những thay đổi trong chính sách của Chính phủ và những điều kiện kinh tế Nhằm mục đích xem xét từng khía cạnh cụ thể của mỗi phương tiện đầu tư khác nhau, có thể phân chia chúng thành hai nhóm: (1) Các loại chứng khoán trên thị trường tiền tệ, với thời gian đáo hạn tối đa một năm; (2) Các loại chứng khoán thuộc thị trường vốn, với thời gian đáo hạn trên một năm

- Các loại chứng khoán trên thị trường tiền tệ

Hàng loạt các công cụ của thị trường tiền tệ ra đời nhằm đáp ứng nhu cầu đa dạng của những người đầu tư Một chứng khoán có thể được coi là công cụ đầu tư tốt đối với nhà đầu tư này trong khi một chứng khoán khác có thể là công cụ đầu tư tốt hơn đối với nhà đầu tư khác Để

có thể lựa chọn được danh mục các chứng khoán cho quyết định đầu tư của mình một cách tối ưu trước hết cần có sự hiểu biết về các đặc trưng

cơ bản của các loại chứng khoán trên thị trường tiền tệ

Các loại chứng khoán phổ biến trên thị trường tiền tệ bao gồm: tín phiếu kho bạc, kỳ phiếu, trái phiếu đô thị ngắn hạn… Các chứng khoán này có đặc trưng cơ bản như: đối với tín phiếu kho bạc với ưu điểm là công cụ đầu tư an toàn, có tính thanh khoản cao, thế chấp tốt, nhưng hạn chế của nó là mức lãi suất tương đối thấp Với kỳ phiếu, ưu điểm là lãi suất tương đối cao, thế chấp tốt, rủi ro thấp tuy nhiên thị trường giao dịch mua bán lại hạn chế Đối với trái phiếu đô thị có đặc trưng riêng là được

ưu đãi về thuế (miễn thuế) và có mức lợi suất hấp dẫn tuy nhiên giống như kỳ phiếu, thị trường mua bán hạn chế

- Các loại chứng khoán trên thị trường vốn

Các loại chứng khoán phổ biến trên thị trường vốn gồm có: Trái phiếu Chính phủ, trái phiếu đô thị trung và dài hạn, trái phiếu công ty, cổ phiếu… Các công cụ đầu tư này mang các đặc trưng cơ bản sau: Đối với trái phiếu Chính phủ, đây là loại chứng khoán có mức an toàn cao, thị trường giao dịch mua bán thuận lợi, thế chấp để vay vốn dễ dàng, nhưng mức lợi suất lại thấp Trái phiếu đô thị có ưu điểm là được miễn thuế thu nhập, tính thanh khoản tốt và dễ bán lại, tuy nhiên nó có nhược điểm thị

Trang 32

trường biến động, một số chứng khoán loại này có mức lợi tức thấp Đối với trái phiếu công ty có đặc trưng là lợi suất trước thuế cao hơn trái phiếu chính phủ, lợi suất ổn định, tuy nhiên mức độ rủi ro cao hơn, kỳ hạn không linh hoạt và thị trường bán lại giới hạn Với cổ phiếu, đây là loại chứng khoán có lợi suất hấp dẫn, thị trường mua bán hoàn hảo, thế chấp đi vay tốt nhưng giá cả lại không ổn định

5.2.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định đầu tư chứng khoán của ngân hàng thương mại

Để đạt được các mục tiêu trong hoạt động kinh doanh của NHTM, việc xác định danh mục các chứng khoán đầu tư có vai trò hết sức quan trọng Mỗi loại chứng khoán có các đặc điểm riêng, đòi hỏi phải có sự chọn lựa khi đưa ra quyết định đầu tư sao cho phù hợp với những mục tiêu nhất định trong từng giai đoạn và tình hình cụ thể của NHTM Tuy nhiên, khi quyết định đầu tư vào bất kỳ loại chứng khoán nào,

về nguyên tắc chung các NHTM thường quan tâm tới các nhân tố sau:

5.2.2.1 Tỷ suất lợi nhuận dự kiến

Để chọn chứng khoán đầu tư, trước hết các NHTM phải xác định được tỷ suất lợi nhuận dự kiến tạo ra từ hoạt động đầu tư Thông thường, các NHTM không nắm giữ chứng khoán mà họ đầu tư cho đến lúc đáo hạn Một số chứng khoán cần phải được bán sớm để trang trải nhu cầu vay mới hoặc rút tiền gửi của khách hàng Để đáp ứng nhu cầu này, các NHTM cần phải tính lợi suất trong thời gian nắm giữ chứng khoán (HPY) mà ngân hàng có thể thu được

Công thức để tính HPY như sau:

Trang 33

HPY thực chất là tỷ suất lợi nhuận làm cân bằng giá mua của một chứng khoán với chuỗi thu nhập kỳ vọng từ chứng khoán đó đến khi được bán cho người đầu tư khác

Trong trường hợp NHTM đầu tư chứng khoán và giữ chứng khoán

đó cho tới lúc đáo hạn thì các dòng thu nhập bao gồm khoản tiền lãi do người phát hành cam kết trả cho chứng khoán đó và khả năng có được thu nhập hoặc mức lỗ về vốn Điều này đòi hỏi NHTM cần tính toán chính xác lãi suất đáo hạn (YTM: Yield to maturity) Ví dụ: trường hợp NHTM đầu tư vào trái phiếu và giữ nó đến khi đáo hạn thì YTM được xác định theo công thức sau:

Trong đó:

P : giá mua trái phiếu;

n : số kì trả lãi;

C : tiền lãi của một kì trả lãi;

F : mệnh giá trái phiếu;

y : lãi suất đáo hạn (YTM)

Lãi suất đáo hạn có thể xác định theo công thức gần đúng sau:

5.2.2.2 Rủi ro trong đầu tư chứng khoán

Khi đầu tư chứng khoán, ngoài mức lợi nhuận kỳ vọng các NHTM còn đặc biệt quan tâm tới mức độ rủi ro

Trang 34

Rủi ro trong đầu tư chứng khoán là khả năng hay xác suất xảy ra các biến cố bất lợi làm suy giảm kết quả đầu tư ngoài dự kiến, hay nói cách khác rủi ro là khả năng làm cho mức sinh lợi thực tế nhận được trong tương lai khác (thấp hơn) với mức sinh lời dự kiến ban đầu

Rủi ro trong đầu tư chứng khoán thường bao gồm các loại sau:

- Rủi ro thị trường: là sự phản ứng của thị trường đối với sự kiện hữu hình hoặc vô hình dẫn đến sự suy giảm của thị giá chứng khoán

- Rủi ro kinh doanh: là sự tác động tiêu cực của các biến cố tới hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty phát hành chứng khoán dẫn đến sự suy giảm lợi nhuận và cổ tức của chứng khoán đó

- Rủi ro tài chính: là rủi ro phát sinh trong lĩnh vực tài trợ cho hoạt động đầu tư chứng khoán Rủi ro tài chính liên quan đến sử dụng đòn bẩy tài chính của doanh nghiệp Nó xuất hiện khi công ty tài trợ cho hoạt động của mình bằng vốn vay, kéo theo nghĩa vụ phải trả nợ, tiền lãi trước khi thanh toán cổ tức cho cổ đông Nếu việc tài trợ bằng vốn vay không hiệu quả thì có ảnh hưởng xấu đến giá cổ phiếu, trái tức, cổ tức và tiền hoàn vốn cho trái chủ Thông thường một công ty có đòn bẩy tài chính cao thì mức độ rủi ro tài chính càng cao

- Rủi ro lãi suất: là rủi ro phản ánh sự không ổn định về giá trị thị trường và thu nhập trong tương lai bắt nguồn từ sự biến động của lãi suất chung Nguyên nhân cơ bản của rủi ro lãi suất là sự biến động của lãi suất trái phiếu chính phủ, từ đó có sự thay đổi về mức sinh lời kỳ vọng của các chứng khoán khác

- Rủi ro sức mua: là rủi ro xuất phát từ sự suy giảm sức mua của đồng tiền đầu tư tác động tiêu cực đến doanh lợi đầu tư chứng khoán Sự suy giảm sức mua của đồng tiền đầu tư chịu sự tác động của lạm phát Lạm phát tăng kéo theo sự suy giảm của lãi suất thực do đó mức sinh lời

từ hoạt động đầu tư có khuynh hướng giảm

- Rủi ro thanh khoản: chứng khoán có đặc điểm là tính thanh khoản thể hiện chúng có sẵn thị trường cho việc mua bán một cách dễ dàng, giá

cả tương đối ổn định theo thời gian, và khả năng cao để phục hồi nguồn vốn đầu tư nguyên thuỷ của ngân hàng (rủi ro đối với vốn gốc là thấp)

Trang 35

Khi lựa chọn chứng khoán để đầu tư, ngân hàng cần phải xem xét đến khả năng bán chúng trước khi đáo hạn để tái tạo nguồn vốn đầu tư ban đầu Nếu khả năng tái tạo kém, nghĩa là chứng khoán khó tìm được người mua hoặc phải bán với giá thấp, ngân hàng sẽ gánh chịu những tổn thất tài chính lớn trong những trường hợp như vậy Và điều này được gọi

là rủi ro thanh khoản trong đầu tư chứng khoán của ngân hàng

- Rủi ro vỡ nợ: là tình trạng mất khả năng thanh toán nợ dẫn đến nguy cơ phá sản doanh nghiệp, gây nên sự giảm sút mạnh mẽ giá trị tài sản đầu tư

- Rủi ro khác: ngoài các rủi ro nêu trên, các NHTM khi đầu tư chứng khoán có thể còn phải đối mặt với các loại rủi ro khác như: rủi ro mua lại, rủi ro tác nghiệp, rủi ro kĩ thuật, các rủi ro pháp lí, lừa đảo, tranh chấp quyền lợi

5.2.2.3 Khả năng chịu thuế

Phần lớn thu nhập từ tiền lãi và mức lợi về vốn trong đầu tư chứng khoán đều phải chịu thuế như mọi khoản thu nhập khác trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng Do vậy, các NHTM thường quan tâm đến tỷ suất sinh lợi sau thuế trên các khoản cho vay và đầu tư chứng khoán nhiều hơn là tỷ suất sinh lợi trước thuế của chúng Vì thế, nếu những nhân tố khác được giữ không đổi, ngân hàng sẽ so sánh kết quả tỷ suất sinh lợi sau thuế của mỗi hình thức và công cụ đầu tư với nhau để từ đó chọn hình thức và công cụ đầu tư nào là tối ưu nhất về mặt thuế (tỷ suất lợi nhuận sau thuế cao nhất), với công thức xác định tỷ suất sinh lợi sau thuế như sau:

Tỷ suất sinh lợi

sau thuế =

Tỷ suất sinh lợi trước thuế x (1 - thuế suất)

Ví dụ: Giả sử một ngân hàng đang xem xét 3 hình thức đầu tư sau

đây có cùng kỳ hạn đầu tư là 1 năm:

- Mua trái phiếu công ty chất lượng Aaa kỳ hạn 1 năm có lợi suất trung bình đến lúc đáo hạn là 12% năm, thuế suất thuế thu nhập 25%

- Cho vay kinh doanh kỳ hạn 1 năm có chất lượng tín dụng cao với lãi suất cơ bản 10% năm và thuế suất thuế thu nhập 25%

Trang 36

- Mua trái phiếu đô thị kỳ hạn 1 năm được xếp hạng tín dụng Aaa có lợi suất sau thuế 9,5% năm đến lúc đáo hạn

Sử dụng công thức trên, ngân hàng so sánh lợi suất sau thuế của 3 phương án đầu tư theo tính toán dưới đây:

+ Chứng khoán công ty hạng Aaa: 12% x (1 - 0,25) = 9,00%

+ Đầu tư tín dụng chất lượng cao: 10% x (1 - 0,25) = 7,50%

+ Trái phiếu đô thị hạng Aaa: 9,50%

Qua kết quả tính toán ở trên, có thể thấy rằng đầu tư vào trái phiếu

đô thị là hấp dẫn hơn cả Tuy nhiên, cần có thêm những xem xét khác để đưa ra quyết định lựa chọn đầu tư cuối cùng, chẳng hạn như để thu hút và thiết lập mối quan hệ với khách hàng, ngân hàng cần phải thoả mãn nhu cầu vốn cho các khách hàng vay cũ và mới Hay NHTM cần có trách nhiệm xã hội trong việc mua trái phiếu với mức lãi suất thấp theo các chương trình của chính quyền địa phương hay của Chính phủ…

5.2.3 Tổ chức hoạt động đầu tư và quy trình quản trị đầu tư chứng khoán của ngân hàng thương mại

5.2.3.1 Tổ chức hoạt động đầu tư của ngân hàng thương mại

Hiện nay, trong công tác tổ chức hoạt động đầu tư của NHTM tùy theo quy mô lớn hay vừa và nhỏ của các ngân hàng mà hoạt động đầu tư được tổ chức thành khối hay phòng phụ trách đầu tư Với các NHTM có quy mô nhỏ thường tổ chức thành phòng đầu tư do một trưởng phòng lãnh đạo, chuyên theo dõi, quản lý và tìm kiếm cơ hội đầu tư như NHTMCP Việt Á, NHTMCP Phương Đông…

Trang 37

SƠ ĐỒ TỔ CHỨC NGÂN HÀNG VIỆT Á VAB’S PRESENT ORGANIZATION CHART

Mô hình bộ máy tổ chức của NHTMCP Việt Á

Với các NHTM có quy mô lớn, hoạt động đầu tư được tổ chức thành khối, do một phó tổng giám đốc lãnh đạo

ĐẠI HỘI ĐỒNG CỔ ĐÔNG

GENERAL MEETING OF SHAREHOLDERS

ASSET APPRAISAL DEPT

PHÒNG ĐẦU TƯ LIÊN DOANH

INVESTMENT DEPT

P NGOẠI TỆ - VÀNG

FOREIGN CURRENCY - GOLD DEPT

PHÒNG GIAO DỊCH NGÂN QUỸ

TREASURY DEPT

PHÒNG THANH TOÁN QUỐC TẾ

INTERNATIONAL PAYMENTS DEPT

IT DEPT TRUNG TÂM THẺ BANKCARD CENTER

Trang 38

Mô hình bộ máy tổ chức của NHTMCP Sài Gòn Thương tín-Sacombank

Trang 39

Hiện nay, công tác tổ chức này ở các NHTM quy mô lớn còn có xu hướng thành lập các công ty con trực thuộc có chức năng đầu tư tài chính chuyên biệt như NHTMCP Quân đội-MB thành lập Công ty Quản lý Quỹ đầu tư MB (MB CAPITAL); Công ty Chứng khoán Thăng Long NHTMCP Á Châu-ACB thành lập Công ty Chứng khoán ACB (ACBS)

có chức năng đầu tư thông qua hoạt động tự doanh NHTMCP Sài Gòn thương tín-Sacombank thành lập công ty đầu tư Sacominvest…

5.2.3.2 Quy trình hoạt động đầu tư của ngân hàng thương mại

Trên thế giới, các NHTM bên cạnh phát triển hoạt động kinh doanh truyền thống thì hoạt động đầu tư cũng được chú trọng và phát triển từ rất sớm Ở Việt Nam trong những năm trở lại đây, đặc biệt giai đoạn thị trường chứng khoán phát triển sôi động, nhìn vào các báo cáo tài chính như bảng cân đối kế toán; báo cáo kết quả kinh doanh của các NHTM có thể nhận thấy hoạt động đầu tư mà đặc biệt là đầu tư tài chính và kinh doanh chứng khoán ngày càng thể hiện vai trò quan trọng trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng Lợi nhuận từ hoạt động này tăng rất nhanh trong những năm 2005-2006 (giai đoạn TTCK tăng trưởng nóng)

đã góp phần tạo ra mức tăng trưởng lợi nhuận của hoạt động kinh doanh chung một số NHTM rất cao mà điển hình là NHTMCP Á Châu - ACB Tuy nhiên, hoạt động đầu tư mà đặc biệt là đầu tư chứng khoán của NHTM tiềm ẩn rủi ro rất lớn (thực tiễn đã cho thấy trong những năm

2007 - 2008 khi TTCK suy giảm mạnh) đòi hỏi các NHTM phải chú trọng xây dựng cho mình một quy trình hoạt động đầu tư tối ưu và tuân thủ các nguyên tắc đầu tư nhất định Mỗi NHTM tuỳ thuộc vào mục tiêu

và chiến lược phát triển của mình, tuỳ thuộc vào tình hình thực tế của từng ngân hàng, và tuỳ thuộc vào từng giai đoạn cụ thể mà có các chiến lược về đầu tư là khác nhau Nhưng nhìn chung quy trình hoạt động đầu

tư của các NHTM là thống nhất và trải qua 8 bước cơ bản sau:

Bước 1: Xây dựng chiến lược đầu tư

- Xây dựng chiến lược đầu tư của NHTM

Phòng đầu tư phối hợp với các phòng ban khác xây dựng chiến lược đầu tư trên cơ sở phân tích đánh giá sự phát triển của nền kinh tế, thị trường chứng khoán và nguồn vốn kinh doanh của mình

Trang 40

- Thiết lập danh mục đầu tư

+ Trên cơ sở chiến lược đầu tư của NHTM trong từng thời kỳ, Phòng đầu tư xây dựng danh mục đầu tư cân đối và đa dạng nhằm tối ưu hóa lợi nhuận và tối thiểu hóa rủi ro thông qua việc xây dựng danh mục bao gồm các loại chứng khoán đang và sẽ niêm yết trên thị trường chứng khoán + Cơ cấu đầu tư: Vốn đầu tư của NHTM được phân bổ tùy thuộc quyết định của HĐQT trong từng giai đoạn cụ thể

+ Lĩnh vực, ngành nghề dự định đầu tư: Tập trung đầu tư vào các lĩnh vực, ngành nghề cụ thể theo đúng chiến lược đã được duyệt (các ngành nghề này có thể có thay đổi tùy theo chiến lược đầu tư trong từng giai đoạn)

Bước 2: Khai thác, tìm kiếm các cơ hội đầu tư

Nhân viên phòng đầu tư triển khai tìm kiếm các cơ hội đầu tư trên

cơ sở phân tích

- Phân tích vĩ mô: Cụ thể phân tích các chính sách và chỉ số sau: + Xu hướng vĩ mô: Kinh tế trong nước, đối ngoại, đầu tư và thị trường tiêu thụ (nhà nước, tư nhân);

+ Hệ thống tài chính: tài khoản vãng lai, cán cân thanh toán, tỷ giá hối đoái, lãi suất, lạm phát, nguồn tiền luân chuyển, thuế, chính sách tiền tệ; + Thị trường tài sản: thị trường chứng khoán, bất động sản;

+ Môi trường pháp lý, chính sách áp dụng;

+ Quan hệ với kinh tế khu vực, thế giới

Ngày đăng: 15/07/2022, 15:27

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ 5.1: Sự khác nhau giữa cho thuê tài chính và cho thuê vận hành - Giáo trình Quản trị tác nghiệp ngân hàng thương mại: Phần 2
Sơ đồ 5.1 Sự khác nhau giữa cho thuê tài chính và cho thuê vận hành (Trang 8)
Hình thức tài trợ  Bằng tài sản Bằng tiền - Giáo trình Quản trị tác nghiệp ngân hàng thương mại: Phần 2
Hình th ức tài trợ Bằng tài sản Bằng tiền (Trang 12)
Sơ đồ 5.2. - Giáo trình Quản trị tác nghiệp ngân hàng thương mại: Phần 2
Sơ đồ 5.2. (Trang 16)
Sơ đồ 5.3: Cho thuê tài chính có sự tham gia của hai bên - Giáo trình Quản trị tác nghiệp ngân hàng thương mại: Phần 2
Sơ đồ 5.3 Cho thuê tài chính có sự tham gia của hai bên (Trang 17)
Sơ đồ 5.4: Cho thuê tài chính liên kết - Giáo trình Quản trị tác nghiệp ngân hàng thương mại: Phần 2
Sơ đồ 5.4 Cho thuê tài chính liên kết (Trang 18)
Sơ đồ 5.5: Cho thuê tài chính bắc cầu - Giáo trình Quản trị tác nghiệp ngân hàng thương mại: Phần 2
Sơ đồ 5.5 Cho thuê tài chính bắc cầu (Trang 19)
Sơ đồ 5.6: Phương thức bán và tái thuê - Giáo trình Quản trị tác nghiệp ngân hàng thương mại: Phần 2
Sơ đồ 5.6 Phương thức bán và tái thuê (Trang 21)
Sơ đồ 5.7: Phương thức cho thuê tài chính giáp lưng - Giáo trình Quản trị tác nghiệp ngân hàng thương mại: Phần 2
Sơ đồ 5.7 Phương thức cho thuê tài chính giáp lưng (Trang 22)
Sơ đồ 5.8: Phương thức thuê mua trả góp - Giáo trình Quản trị tác nghiệp ngân hàng thương mại: Phần 2
Sơ đồ 5.8 Phương thức thuê mua trả góp (Trang 23)
SƠ ĐỒ TỔ CHỨC NGÂN HÀNG VIỆT Á  VAB’S PRESENT ORGANIZATION CHART - Giáo trình Quản trị tác nghiệp ngân hàng thương mại: Phần 2
SƠ ĐỒ TỔ CHỨC NGÂN HÀNG VIỆT Á VAB’S PRESENT ORGANIZATION CHART (Trang 37)
Bảng 6.1: Số lượng máy ATM và máy POS của các NHTM - Giáo trình Quản trị tác nghiệp ngân hàng thương mại: Phần 2
Bảng 6.1 Số lượng máy ATM và máy POS của các NHTM (Trang 73)
Bảng xếp hạng gồm các hạng sau được phân chia theo điểm: - Giáo trình Quản trị tác nghiệp ngân hàng thương mại: Phần 2
Bảng x ếp hạng gồm các hạng sau được phân chia theo điểm: (Trang 168)
Đồ thị thu nhập của người bán quyền chọn mua. - Giáo trình Quản trị tác nghiệp ngân hàng thương mại: Phần 2
th ị thu nhập của người bán quyền chọn mua (Trang 181)
Đồ thị thu nhập của người mua quyền chọn bán. - Giáo trình Quản trị tác nghiệp ngân hàng thương mại: Phần 2
th ị thu nhập của người mua quyền chọn bán (Trang 182)
Bảng cân đối kế toán   Các khoản mục Kì  trước Kì  này - Giáo trình Quản trị tác nghiệp ngân hàng thương mại: Phần 2
Bảng c ân đối kế toán Các khoản mục Kì trước Kì này (Trang 193)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w