Giáo trình Quan hệ lao động được biên soạn nhằm cung cấp kiến thức, rèn luyện kỹ năng chuyên môn còn giúp người học chủ động hệ thống và vận dụng lý luận vào việc giải quyết các bài tập dưới dạng tình huống hay thực hành. Giáo trình được kết cấu thành 8 chương và chia làm 2 phần, phần 1 trình bày những nội dung về: đối thoại xã hội trong quan hệ lao động; thương lượng trong quan hệ lao động; tranh chấp lao động; quản lý nhà nước về quan hệ lao động;... Mời các bạn cùng tham khảo!
Trang 1CHƯƠNG 5
ĐỐI THOẠI XÃ HỘI TRONG QUAN HỆ LAO ĐỘNG
Chương 5 - "Đối thoại xã hội trong quan hệ lao động" đề cập đến hình thức tương tác tiến bộ được khuyến khích sử dụng trong phát triển quan hệ lao động hiện đại thời kỳ hội nhập quốc tế Ngoài việc giới thiệu những nguyên lý như khái niệm, vai trò, phân loại, hình thức của đối thoại xã hội, hàm ý của chương này còn bao quát tới các điều kiện
để đối thoại xã hội trong lao động thành công và đặc biệt
đi sâu vào cung cấp những nội dung của đối thoại xã hội ở các cấp
5.1 Khái niệm và vai trò của đối thoại xã hội trong quan hệ lao động
5.1.1 Khái niệm và điều kiện đối thoại xã hội trong quan hệ lao động
5.1.1.1 Khái niệm và đặc điểm
Đối thoại xã hội là một hình thức tăng cường tính hợp tác, cải thiện mối quan hệ giữa người lao động và người sử dụng lao động
Theo tổ chức Lao động quốc tế ILO: "Đối thoại xã hội bao gồm tất
cả các hình thức thương lượng, tham khảo ý kiến hay đơn giản chỉ là sự trao đổi thông tin giữa đại diện chính phủ, đại diện người sử dụng lao động và đại diện người lao động về những vấn đề cùng quan tâm liên quan tới chính sách kinh tế xã hội"1 Do đó đối thoại xã hội sẽ giữ vai trò chủ chốt trong việc thực hiện mục tiêu của ILO về thúc đẩy các cơ hội cho người lao động có được làm việc trong điều kiện tự do, bình đẳng, an toàn và được tôn trọng nhân phẩm
Từ khái niệm về đối thoại xã hội của tổ chức Lao động quốc tế ILO
có thể thấy:
Thứ nhất, về chủ thể của đối thoại, ngoài ba bên đối tác chủ yếu
trong đối thoại xã hội là đại diện Nhà nước, người sử dụng lao động và người lao động (hoặc tổ chức đại diện cho người lao động và người sử
1 Publications, Geneva, Switzerland, trang 35
Trang 2dụng lao động), tuỳ thuộc vào vấn đề đối thoại, các chủ thể khác có thể được mời tham gia vào đối thoại xã hội (các tổ chức, hiệp hội về bảo vệ môi trường; các tổ chức, hiệp hội bảo vệ quyền phụ nữ và trẻ em; các tổ chức nhân quyền; )
Thứ hai, về cơ chế của đối thoại xã hội, đối thoại xã hội có thể là một
quá trình hai bên giữa người lao động và người sử dụng lao động (hoặc giữa công đoàn và đại diện của người sử dụng lao động) có hoặc không
có sự can thiệp gián tiếp của Nhà nước Đối thoại xã hội cũng có thể là một quá trình ba bên có sự tham gia của Nhà nước với vai trò là một bên chính thức, bình đẳng, độc lập trong các cố gắng tìm kiếm giải pháp cho các vấn đề cùng quan tâm
Thứ ba, về nội dung của đối thoại xã hội thường xoay quanh các vấn
đề mà các bên đối tác tham gia đối thoại cùng quan tâm như chính sách tiền lương, tiền thưởng, trợ cấp, phụ cấp, các vấn đề về bảo hiểm xã hội, điều kiện làm việc, môi trường làm việc, chất lượng sản phẩm, chất lượng dịch vụ,
Thứ tư, hoạt động cơ bản trong đối thoại xã hội có thể kể đến như:
trao đổi thông tin, tư vấn/tham khảo (tham vấn) và thương lượng về các vấn đề mà các đối tác quan tâm, đối thoại xã hội được thực hiện nhằm thúc đẩy sự đồng thuận và sự tham gia dân chủ giữa các bên đối tác chính trong lĩnh vực lao động
Đối thoại xã hội có một số đặc điểm cơ bản sau:
Một là, đối thoại xã hội là quá trình hợp tác, tự nguyện giữa các đối
tác xã hội Sự hợp tác tự nguyện này thể hiện ở chỗ các đối tác tự quyết định hình thức đối thoại, mức độ hợp tác với mỗi vấn đề mà các bên quan tâm Ví dụ, người sử dụng lao động thông báo kế hoạch tăng ca trong tháng; hoặc người sử dụng lao động tham khảo ý kiến của người lao động về chính sách phúc lợi của công ty Hoặc về phía người lao động và đại diện của người lao động có thể thương lượng với người sử dụng lao động về điều kiện làm việc, môi trường làm việc,…
Hai là, đối thoại xã hội được hỗ trợ bởi một khung pháp lý tạo điều
kiện thuận lợi trong quá trình hoạt động hoặc đề ra các quyết định thực hiện Khung pháp lý này được tạo bởi các chính sách, quy định của Nhà
Trang 3nước; các quy định, chính sách của doanh nghiệp; hay cam kết giữa các bên tham gia
Ba là, đối thoại xã hội là quá trình ủng hộ lẫn nhau của các đối tác xã
hội Từ góc độ của Nhà nước, quá trình tham khảo ý kiến của các bên giúp xây dựng, hoàn chỉnh định hướng chính sách phù hợp với thực tế, tạo hành lang pháp lý để vận hành quan hệ lao động Từ góc độ người sử dụng lao động, quá trình tham khảo ý kiến, thương lượng giúp xây dựng, hoàn thiện chính sách nhân lực của doanh nghiệp, giúp tạo điều kiện sử dụng có hiệu quả chi phí sử dụng nhân lực, giúp người lao động hài lòng,
là điều kiện giúp quan hệ lao động phát triển lành mạnh Thông qua đối thoại, người sử dụng lao động và người lao động có thể biết và cùng nhau giải quyết các mâu thuẫn, bàn bạc, thảo luận trên tinh thần hợp tác
Bốn là, đối thoại xã hội nhằm đưa ra giải pháp phù hợp mà cả hai
bên đều chấp nhận, thể hiện thông qua kết quả của quá trình thông báo thông tin, tư vấn, tham khảo, thương lượng về các vấn đề mà các đối tác cùng quan tâm
5.1.1.2 Các điều kiện đối thoại xã hội trong quan hệ lao động
Một số điều kiện thiết yếu để thực hiện đối thoại xã hội trong quan hệ lao động bao gồm:
Một là, các đối tác xã hội cần có ý thức tham gia đối thoại Bởi khi
các đối tác xã hội nhận thức rõ được vai trò của đối thoại xã hội đối với quá trình tạo dựng và duy trì quan hệ lao động lành mạnh tại doanh nghiệp thì mỗi bên sẽ tích cực trong việc cung cấp thông tin, tham khảo ý kiến, thương lượng về các vấn đề cùng quan tâm Nhận thức đúng về lợi ích mang lại của đối thoại xã hội sẽ giúp các đối tác xã hội có hành động tích cực, sẵn sàng tìm các biện pháp để giải quyết vấn đề Ngược lại, nhận thức không đúng, hành động sẽ mang tính tiêu cực làm giảm hiệu quả của đối thoại xã hội
Hai là, các đối tác xã hội cần có năng lực đối thoại Năng lực của
mỗi bên đối tác sẽ ảnh hưởng lớn đến kết quả của đối thoại Năng lực đối thoại được thể hiện ở khả năng phát hiện ra vấn đề cần đối thoại; khả năng diễn đạt, trình bày ý kiến quan điểm về vấn đề đối thoại; khả năng lắng nghe; khả năng phân tích tổng hợp; khả năng thương lượng;
Trang 4Do vậy để đối thoại hiệu quả đòi hỏi các bên đối tác phải tự trau dồi cho mình những kiến thức, rèn luyện những kỹ năng để thực hiện đối thoại, bao gồm các kiến thức cơ bản, kiến thức về tâm lý, kiến thức về luật pháp và các kỹ năng như kỹ năng giao tiếp, kỹ năng lắng nghe, kỹ năng giải quyết xung đột, kỹ năng làm việc nhóm, Ví dụ để tiến hành đối thoại hiệu quả, người cán bộ công đoàn cần có kỹ năng giao tiếp tốt, bởi
họ phải nắm bắt chính xác, đầy đủ tâm tư, nguyện vọng, những bức xúc của người lao động; đồng thời còn phải tìm hiểu kỹ đặc điểm, tâm lý, thói quen của người sử dụng lao động và tình hình sản xuất, kinh doanh, những thuận lợi, khó khăn của doanh nghiệp, những thông tin đó chỉ có thể nắm bắt được thông qua giao tiếp trực tiếp với người lao động và người sử dụng lao động Bên cạnh đó, các chủ thể cần có thái độ đúng đắn khi tham gia đối thoại xã hội, đó là sự thẳng thắn, trung thực, trách nhiệm, công bằng,
Ba là, cần có môi trường đối thoại thuận lợi, trong đó môi trường đối
thoại được tạo bởi các cơ chế, hành lang pháp lý thông qua các quy định pháp luật liên quan tới đối thoại để điều chỉnh hành vi của các đối tác tham gia, bên cạnh đó phải tích cực thực hiện cơ chế dân chủ trong quan
hệ lao động từ cấp trung ương, đến địa phương và doanh nghiệp, bởi khi
cơ chế dân chủ tồn tại và phát huy vai trò của mình ở các cấp thì các đối tác xã hội mới được tạo điều kiện để nói lên suy nghĩ, ý kiến, quan điểm, nguyện vọng của mình về những vấn đề các bên cùng quan tâm
5.1.1.3 Các nguyên tắc đối thoại xã hội trong quan hệ lao động
Để đối thoại xã hội đạt hiệu quả, giúp tăng cường sự hợp tác giữa các đối tác xã hội, phòng ngừa và kịp thời giải quyết tranh chấp lao động thì quá trình đối thoại phải tuân thủ những nguyên tắc nhất định Các nguyên tắc cơ bản trong đối thoại xã hội mà các đối tác tham gia phải tuân thủ đó là: Nguyên tắc 1: Đối thoại phải được tiến hành phù hợp với luật pháp quốc gia, thông lệ quốc tế Trong đó, nội dung và hình thức đối thoại phải trong khuôn khổ của pháp luật, đối thoại về quyền và lợi ích của các bên phải trên tinh thần tôn trọng pháp luật, thông lệ quốc tế
Nguyên tắc 2: Đối thoại phải được tiến hành phù hợp với văn hóa, cách ứng xử của từng vùng, địa phương, quốc gia
Trang 5Nguyên tắc 3: Đối thoại phải được tiến hành phù hợp với nhận thức, năng lực của các bên tham gia, để từ đó chọn mô hình, cách thức, nội dung đối thoại cho phù hợp, sao cho các bên diễn đạt được điều mình muốn đối thoại để bên kia có thể nghe, hiểu và thực hiện được
5.1.2 Vai trò của đối thoại xã hội trong quan hệ lao động
Đối thoại xã hội tạo ra sự hài hòa những mong muốn của người lao động, người sử dụng lao động, đồng thời tạo ra sự minh bạch, giảm thiểu hiểu lầm và xây dựng lòng tin giữa người lao động và người sử dụng lao động Đối thoại xã hội phát huy vai trò đối với cả người lao động, người
sử dụng lao động và tạo sự bình ổn cho xã hội
5.1.2.1 Vai trò của đối thoại xã hội đối với người lao động
Đối thoại xã hội giúp khẳng định vị trí, vai trò của người lao động trong doanh nghiệp thông qua việc người lao động nắm được thông tin
về hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp; được trình bày ý kiến, quan điểm về các kế hoạch, chính sách của doanh nghiệp nói chung và chính sách nhân lực nói riêng; được là một bên đối tác bình đẳng, độc lập với người sử dụng lao động khi thương lượng các vấn đề về lương, điều kiện làm việc, thời gian làm việc, chế độ phúc lợi, …
Đối thoại xã hội là cơ hội để người lao động trình bày quan điểm, ý kiến, thắc mắc, nguyện vọng của họ đối với các vấn đề liên quan đến quyền và lợi ích, là một trong những cách để người lao động bảo vệ được quyền lợi của mình
5.1.2.2 Vai trò của đối thoại xã hội đối với người sử dụng lao động
Đối thoại xã hội tốt là cơ sở để doanh nghiệp ổn định, phát triển sản xuất, góp phần làm giảm các mâu thuẫn xung đột lao động gây lãng phí Đối thoại xã hội giúp phát huy trí tuệ tập thể, tạo động lực, khuyến khích người lao động đem kiến thức của mình đóng góp cho nhà sản xuất, do đó làm tăng năng suất lao động và đem lại hiệu quả cao trong sản xuất, giúp người lao động yên tâm làm việc và gắn bó với doanh nghiệp hơn, bởi một khi người lao động cảm thấy được tôn trọng và họ biết rằng doanh nghiệp luôn quan tâm đến đời sống của họ thì họ sẽ có động lực để làm việc và làm việc với năng suất cao hơn Như vậy, đối
Trang 6thoại xã hội giúp tăng cường hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp thông qua việc tăng năng suất lao động
Đối thoại xã hội còn là tiền đề, là cơ sở để xây dựng quan hệ lao động hài hòa, ổn định, tiến bộ tại doanh nghiệp, bởi đối thoại xã hội góp phần tạo môi trường làm việc thân thiện, thoải mái, khích lệ tinh thần làm việc của người lao động, góp phần phòng ngừa các tranh chấp, mâu thuẫn và thông qua kênh thông tin hai chiều để giải quyết nhiều thắc mắc, khiếu nại của người lao động, từ đó giúp giảm tỉ lệ thay thế lao động, tăng sự gắn bó giữa người lao động với người sử dụng lao động Trên thực tế, doanh nghiệp chấp hành tốt pháp luật lao động chưa hẳn hạn chế tranh chấp, ở nhiều quốc gia tranh chấp về lợi ích lại chiếm
đa số, trong khi biện pháp quan trọng phòng ngừa tranh chấp này phải dựa trên đối thoại, nếu doanh nghiệp và người lao động đối thoại tốt về những vấn đề bức xúc thì ít xảy ra tranh chấp
5.2.1.3 Vai trò của đối thoại xã hội đối với quan hệ lao động 1
Đối thoại xã hội với tư cách là quá trình ủng hộ lẫn nhau, hợp tác, tự nguyện mà cả hai bên người lao động và người sử dụng lao động lựa chọn để cùng làm việc với nhau nhằm đưa ra một phương pháp tiếp cận chung được các bên chấp nhận để cùng giải quyết vấn đề mà các bên cùng quan tâm nên đối thoại xã hội mang tính quyết định đến sự phát triển của quan hệ lao động Đối thoại xã hội được ví như "chìa khóa vạn
năng" của quan hệ lao động trong tất cả các giai đoạn phát triển
Đối thoại xã hội là cơ sở để thiết lập quan hệ lao động lành mạnh,
đối thoại xã hội giúp hai bên có thể đưa ra các quan điểm cá nhân về các chính sách, quy định trong tiền lương, phụ cấp, trợ cấp, bảo hiểm, điều kiện lao động; tiến hành thương lượng và đi tới thống nhất các ý kiến nhằm đảm bảo cân bằng quyền và lợi ích của cả hai bên thông qua việc thương lượng đi đến ký kết hợp đồng lao động, thỏa ước lao động tập thể Đối thoại xã hội có tác động ngăn ngừa tranh chấp lao động, thúc đẩy sự ổn định và phát triển quan hệ lao động Nếu không có đối thoại xã hội, những xung đột, mâu thuẫn về lợi ích giữa các bên liên quan không
1 Nguyễn Thị Minh Nhàn (2014),“Đối thoại xã hội - công cụ quan trọng phát triển quan hệ lao động hiện đại” - Kỷ yếu Hội thảo quốc tế “Những vấn đề về quản lý kinh tế và quản trị
kinh doanh hiện đại”, NXB Thống kê, Hà Nội, tháng 05/2014, tr.520-537
Trang 7được xử lý kịp thời Những xung đột, mâu thuẫn này sẽ tích lũy dần dần
và có thể dẫn tới hiện tượng bùng nổ các tranh chấp và đình công Các bên đối tác xã hội, chủ yếu là người lao động và người sử dụng lao động
sẽ là thù địch của nhau Thông qua đối thoại, người sử dụng lao động có thể biết và cùng người lao động giải quyết kịp thời những mâu thuẫn phát sinh các xung đột này Từ đó, họ sẽ cùng bàn bạc với nhau, thỏa thuận trên tinh thần hợp tác, tư vấn, giúp họ tiến tới sự nhất trí trong các vấn đề liên quan và có thể đưa ra một giải pháp phù hợp được các bên chấp nhận Cũng nhờ đối thoại, những mầm mống tranh chấp không đáng có được xử lý kịp thời, tăng cường sự thỏa mãn về mặt lợi ích giữa hai bên thông qua đối thoại, thương lượng, hạn chế mâu thuẫn, xung đột, giúp xã hội ổn định hơn, văn minh hơn
Đối thoại xã hội giúp chấm dứt quan hệ lao động một cách ấn tượng, trong quá trình duy trì quan hệ lao động nếu vì một lý do nào đó hai bên không thống nhất và hợp tác được với nhau thì có thể thông qua đối thoại
xã hội để chấm dứt quan hệ lao động Việc chấm dứt này dựa trên cơ sở những thỏa thuận về việc thanh lý hợp đồng lao động, giải quyết chế độ phúc lợi, lương thưởng, phụ cấp, trợ cấp hoặc bồi thường chi phí đào tạo hoặc vi phạm thời hạn hợp đồng… Chấm dứt quan hệ lao động tốt đẹp với một đối tác là cánh cửa mở ra quan hệ lao động với một đối tác khác tốt đẹp hơn
5.2.1.4 Vai trò của đối thoại xã hội đối với xã hội
Đối thoại xã hội có vai trò quan trọng trong việc xây dựng, điều chỉnh có hiệu quả hệ thống luật pháp, chính sách của quốc gia nói chung
và quan hệ lao động nói riêng Vì thông qua việc tham khảo ý kiến của các bên đối tác về những vấn đề trong hệ thống luật pháp và chính sách, các cơ quan có thẩm quyền sẽ có cơ sở, căn cứ để xây dựng, điều chỉnh luật pháp, chính sách phù hợp hơn với tình hình thực tế
Đối thoại xã hội là một trong những công cụ hữu hiệu góp phần điều chỉnh chính sách nhằm tiến tới công bằng xã hội và tăng hiệu quả kinh tế Bên cạnh đó, đối thoại xã hội cũng giúp giảm thiểu các xung đột lợi ích, giúp tăng tính ổn định của xã hội thông qua việc ngăn ngừa và giải quyết mâu thuẫn tranh chấp phát sinh giữa người lao động và người sử dụng lao động
Trang 85.1.3 Phân loại đối thoại xã hội trong quan hệ lao động
5.1.3.1 Phân loại theo cấp tiến hành
Đối thoại xã hội có thể được thực hiện ở các cấp khác nhau từ cấp quốc tế, quốc gia, địa phương, đến cấp doanh nghiệp Trên thực tế, đối thoại xã hội diễn ra phổ biến nhất ở cấp quốc gia và cấp doanh nghiệp Ở cấp doanh nghiệp, đối thoại xã hội giúp giải quyết những vấn đề phát sinh một cách thường xuyên tại doanh nghiệp
Đối thoại xã hội cấp doanh nghiệp: Đối thoại xã hội cấp doanh
nghiệp được tiến hành theo cơ chế hai bên, giữa người lao động hoặc tổ chức đại diện cho người lao động và người sử dụng lao động nhằm trao đổi thông tin, thông báo kế hoạch, kết quả sản xuất kinh doanh, nắm bắt nhu cầu, nguyện vọng của người lao động, tuyên truyền luật pháp, chế độ chính sách, Đây là một quá trình giao tiếp thường xuyên, mang tính tích cực, cởi mở và chủ động giữa một bên là những người lao động và một bên là những người quản lý Đối thoại xã hội cấp doanh nghiệp có thể diễn ra ở cấp độ cá nhân hoặc tập thể, một cách chính thức hoặc không chính thức, với thái độ hợp tác hoặc đối đầu, một cách liên tục
hoặc gián đoạn
Mục tiêu của đối thoại xã hội tại doanh nghiệp nhằm trao đổi thông tin, thông báo kế hoạch, kết quả sản xuất kinh doanh, nắm bắt nhu cầu, nguyện vọng của người lao động, tuyên truyền luật pháp, chế độ, chính sách mới, bởi vậy, đối thoại xã hội không chỉ dừng lại ở việc tìm hiểu xem người lao động và nhà quản lý có giao tiếp với nhau hay không Lợi ích lâu dài của việc duy trì tốt các hình thức đối thoại xã hội ở chỗ nó tác động đến mọi mặt hoạt động của doanh nghiệp, từ chất lượng sản phẩm, năng suất lao động đến giảm tranh chấp, giảm tỷ lệ nghỉ việc trong doanh nghiệp Thực tế, khi tiến hành đối thoại tại doanh nghiệp có thể gặp khó khăn do tâm lý của chủ doanh nghiệp sợ mất tư thế của người quản lý, mất quyền lợi; tâm lý lo ngại của người lao động không muốn, không biết diễn đạt những mong muốn và lý giải những vấn đề bức xúc cần được tháo gỡ; hay có thể do năng lực, vị thế của công đoàn trong doanh nghiệp chưa ngang tầm, kỹ năng đối thoại, thương lượng của cán bộ công đoàn còn hạn chế chưa tương xứng với yêu cầu của việc đối thoại và tổ chức đối thoại trong doanh nghiệp
Trang 9Đối thoại xã hội cấp doanh nghiệp được thực hiện bằng cách hai bên nêu ra vấn đề, thuyết trình các luận cứ liên quan đến vấn đề đối thoại Trên đó tạo cơ sở cho việc đưa ra kiến nghị mang tính thuyết phục để giải quyết vấn đề theo hướng có lợi trước hết là cho bản thân mỗi bên và sau đó sẽ dàn xếp để cả hai bên cùng có lợi Đôi khi, các bên phải nhượng bộ nhau trong phạm vi cho phép để đi đến thống nhất chung nhằm tạo sự hài hòa cho lợi ích của các bên và đạt mục tiêu chung của doanh nghiệp
Tại Tây Ban Nha, luật pháp cho phép đại diện của tập thể lao động được thông tin trước về các vấn đề như: tái cơ cấu lực lượng lao động, di dời nhà máy, giảm giờ làm, kế hoạch đào tạo nghề, hệ thống tổ chức và quản lý công việc, nghiên cứu thời gian làm việc, thiết lập mức lương và thưởng theo sản phẩm, đánh giá công việc hoặc thay đổi địa vị pháp lý của doanh nghiệp mà có thể ảnh hưởng đến quy mô nhân sự trong doanh nghiệp Luật pháp cũng ghi nhận quyền được tham vấn của người lao động trước khi các quyết định về các vấn đề liên quan đến tập thể (luân chuyển, những thay đổi chính trong điều kiện làm việc, các trường hợp chấm dứt hợp đồng làm việc, sa thải tập thể) được đưa ra Trong những trường hợp như vậy, việc tham vấn thường với mục đích cụ thể là ngăn chặn tranh chấp lao động xảy ra và mở ra quá trình thương lượng có thể dẫn đến ký kết một thỏa thuận doanh nghiệp Luật nước này cũng ghi nhận đại diện công đoàn có quyền được tham vấn trước khi người sử dụng lao động đưa ra bất cứ quyết định nào ảnh hưởng tới người lao động nói chung và các đoàn viên công đoàn nói riêng, đặc biệt là vấn đề
sa thải và kỷ luật lao động
Tại Áo, hội đồng lao động được quy định tại Luật Lao động Hội đồng lao động phải được thành lập ở tất cả các doanh nghiệp có từ 5 lao động trở lên; Hội đồng là cơ quan đại diện cho tất cả người lao động trong doanh nghiệp Hội đồng lao động là cơ quan của người lao động và thành viên của Hội đồng do người lao động bình chọn Số lượng thành viên Hội đồng tùy thuộc vào số lượng người lao động trong doanh nghiệp Thành viên Hội đồng được bầu thông qua bỏ phiếu kín trực tiếp trên cơ sở tỷ lệ đại diện, và có nhiệm kỳ 4 năm Hội nghị toàn thể người lao động trong doanh nghiệp sẽ bổ nhiệm một Ban bầu cử có trách nhiệm
Trang 10giám sát toàn bộ quá trình bầu cử và đảm nhận việc tổ chức bầu thành viên Hội đồng Hội đồng lao động có quyền được thông tin, tham vấn và cùng ra quyết định Người sử dụng lao động phải tổ chức thảo luận thường xuyên với Hội đồng lao động và thông báo cho Hội đồng những vấn đề quan trọng đối với người lao động Các cuộc họp tham vấn phải được tổ chức mỗi quý một lần hoặc mỗi tháng một lần nếu Hội đồng yêu cầu Người sử dụng lao động có nghĩa vụ thông tin cho Hội đồng lao động về tất cả các vấn đề liên quan đến thu nhập và xử lý thông tin cá nhân của người lao động trên hệ thống máy tính Hội đồng lao động có quyền can thiệp trong trường hợp người sử dụng lao động bị cho là có lỗi
và Hội đồng được giám sát việc người sử dụng lao động tuân thủ các quy tắc đã quy định trong luật pháp về lao động, bảo hiểm xã hội và an toàn
và dạy nghề Đại diện người lao động được tiến cử vào danh sách ứng cử viên của công đoàn cũng tham gia vào Hội đồng quản trị ở doanh nghiệp Nhà nước, đây là tập quán thường thấy ở các doanh nghiệp Nhà nước được tư nhân hóa Ở các doanh nghiệp khối tư nhân, Hội đồng lao động
có thể chỉ định đại diện của mình tham gia các cuộc họp Hội đồng quản
trị với tư cách tham vấn
Trong các doanh nghiệp Việt Nam, đối thoại xã hội có thể được thực hiện thông qua:
- Đại hội công nhân viên chức đối với các doanh nghiệp Nhà nước; Hội nghị người lao động đối với các công ty trách nhiệm hữu hạn, công
ty cổ phần: Theo Nghị định số 60/2013/NĐ-CP ban hành ngày 19 tháng
6 năm 2013 quy định chi tiết khoản 3 điều 63 của Bộ luật Lao động 2012
về thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở nơi làm việc (có hiệu lực thi hành
kể từ ngày 15 tháng 8 năm 2013)
Trang 11- Gặp gỡ định kỳ giữa đại diện chủ sử dụng lao động và người lao động: Đây là cuộc họp thường kỳ, có thể là hằng ngày, hàng tuần, tháng, quý, 6 tháng giữa đại diện chủ sử dụng lao động (Giám đốc, trưởng các
bộ phận phòng ban, phân xưởng) với người lao động, tạo điều kiện cho người lao động phản ánh tâm tư, nguyện vọng, đề xuất, kiến nghị Cuộc họp này có thể diễn ra ngay tại nơi làm việc nhằm giải quyết những vấn
đề nảy sinh trong ngày (tuần) Trong cuộc họp, các bên có thể đưa ra ý kiến phản hồi ngay khi nhận được thông tin, đồng thời cũng là cơ hội để người lao động đặt câu hỏi về các vấn đề liên quan đến sản xuất Cán bộ công đoàn và đại diện người sử dụng lao động là chủ trì, khơi gợi và thúc đẩy việc trao đổi thông tin
- Hòm thư góp ý: Người lao động viết những đề xuất của họ trên giấy và để vào hòm thư góp ý, hòm thư góp ý được khóa và để ở vị trí kín đáo nhưng dễ tiếp cận Lãnh đạo doanh nghiệp hoặc người được ủy quyền (hằng ngày hoặc định kỳ) mở hòm thư góp ý, sau đó tổng hợp và trao đổi với đại diện công đoàn cùng quyết định sẽ đưa vào thực hiện góp
ý nào và trả lời tất cả các ý kiến của người lao động
Để phát huy hiệu quả của hình thức này, cần đặt hòm thư góp ý ở nơi thuận tiện Cần trả lời các ý kiến đóng góp trong thời gian ngắn và có tiêu chí đánh giá các góp ý một cách công bằng, nhất quán, đặc biệt không được kỷ luật người lao động vì họ đưa ra góp ý
- Họp định kỳ giữa ban chấp hành Công đoàn với đại diện hoặc chủ
sử dụng lao động: Thời gian giữa các cuộc họp tùy thuộc vào quy mô và tình hình thực tế của doanh nghiệp Các cuộc họp này về bản chất không phải là tiếp tục của quá trình thương lượng tập thể mà là nơi để nhà quản
lý và công đoàn trao đổi thông tin, phát hiện, thảo luận và tìm cách giải quyết cho những vấn đề nảy sinh không được quy định trong thỏa ước lao động tập thể Vì vậy nội dung thường xoay quanh các vấn đề như: Trao đổi thông tin, an toàn lao động, tiết kiệm sản xuất, điều kiện làm việc, năng suất lao động, quản lý chất lượng sản phẩm, thái độ lao động, các khiếu nại và nguyên nhân,…
- Thương lượng tập thể nhằm ký kết thỏa ước lao động, giải quyết các tranh chấp lao động tập thể, thỏa thuận ký kết các điều kiện lao động mới
Trang 12- Hội nghị, hội thảo, tuyên truyền phổ biến pháp luật của Nhà nước, chính sách của doanh nghiệp,…
Căn cứ nhiệm vụ và tình hình cụ thể của mỗi tổ chức, doanh nghiệp, Ban chấp hành công đoàn cơ sở cùng với người đứng đầu tổ chức, doanh nghiệp trao đổi, thảo luận để xây dựng quy chế về mối quan hệ hợp tác giữa hai bên trong mọi hoạt động có liên quan đến quyền và trách nhiệm của công đoàn nhằm xây dựng tổ chức, doanh nghiệp và chăm lo đời sống người lao động Chủ tịch công đoàn cơ sở được mời dự các hội nghị của tổ chức, doanh nghiệp bàn những vấn đề có liên quan đến nghĩa vụ, quyền và lợi ích của người lao động; được tổ chức, doanh nghiệp cung cấp các tài liệu, thông tin cần thiết về những vấn đề nói trên
Hộp 5.1: Quy định về đối thoại tại nơi làm việc
Điều 63 Mục đích, hình thức đối thoại tại nơi làm việc
1 Đối thoại tại nơi làm việc nhằm chia sẻ thông tin, tăng cường sự hiểu biết giữa người sử dụng lao động và người lao động để xây dựng quan hệ lao động tại nơi làm việc
2 Đối thoại tại nơi làm việc được thực hiện thông qua việc trao đổi trực tiếp giữa người lao động và người sử dụng lao động hoặc giữa đại diện tập thể lao động với người sử dụng lao động, bảo đảm việc thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở
3 Người sử dụng lao động, người lao động có nghĩa vụ thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở tại nơi làm việc theo quy định của Chính phủ
Điều 65 Tiến hành đối thoại tại nơi làm việc
1 Đối thoại tại nơi làm việc được tiến hành định kỳ 03 tháng một lần hoặc theo yêu cầu của một bên
2 Người sử dụng lao động có nghĩa vụ bố trí địa điểm và các điều kiện vật chất khác bảo đảm cho việc đối thoại tại nơi làm việc
Nguồn: Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam (2012),
Luật số 10/2012/QH13 - Bộ luật Lao động, Chương 5.
Trang 13Tại Việt Nam, Bộ luật Lao động có hiệu lực từ tháng 5/2013, đối thoại tại nơi làm việc được quy định cụ thể tại Điều 63, Điều 65, trong đó quy định rõ mục đích, hình thức, nội dung cũng như cách thức tiến hành đối thoại tại nơi làm việc Bên cạnh đó, Chính phủ cũng ban hành Nghị định số 60/2013/NĐ-CP quy định chi tiết khoản 3 Điều 63 của Bộ luật Lao động về thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở tại nơi làm việc Các quy định, chính sách về đối thoại tại nơi làm việc đã giúp hình thành khung pháp lý tạo điều kiện thuận lợi trong quá trình đối thoại được thực hiện
có hiệu quả hơn tại các doanh nghiệp Việt Nam
Đối thoại xã hội cấp địa phương: Đối thoại xã hội cấp địa phương
được thực hiện bởi đại diện các doanh nghiệp, đại diện người lao động với chính quyền địa phương về các vấn đề liên quan đến các bên tham gia Đối thoại cấp này chủ yếu liên quan tới các vấn đề môi trường, chính
sách địa phương, cơ sở hạ tầng kỹ thuật, phát triển nguồn nhân lực, …
Theo quy định của Bộ luật Lao động Liên bang Nga, ở cấp lãnh thổ
có thể thành lập Ủy ban ba bên về quan hệ lao động xã hội theo quy định pháp luật của các chủ thể Liên bang và những quy định của chính quyền địa phương Ủy ban về quan hệ lao động xã hội cấp địa phương tham gia đóng góp ý kiến với những bản dự thảo pháp luật và những quy định, các chương trình phát triển kinh tế - xã hội và việc thực hiện những quy định này ở địa phương
Ở Việt Nam, đối thoại cấp địa phương cũng đã được thực hiện tại một số tỉnh, thành phố Ví dụ, tại Hà Nội, vào cuối năm 2012, Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội đã chính thức ra mắt Ban Quan hệ lao động Ban Quan hệ lao động còn có nhiệm vụ tư vấn cho Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố những biện pháp và chính sách phát triển quan hệ lao động trên địa bàn thành phố như các giải pháp cải thiện, xây dựng quan hệ lao động hài hòa, ổn định và tiến bộ, phòng ngừa và hạn chế tranh chấp lao động trong các doanh nghiệp, các cơ sở sản xuất kinh doanh Đặc biệt, Ban Quan hệ lao động có hoạt động thường xuyên đó là tổ chức tiếp xúc đối thoại với doanh nghiệp, các nhà đầu tư về những vấn đề có liên quan đến pháp luật lao động và quan hệ lao động
Đối thoại xã hội cấp ngành: Đối thoại xã hội cấp ngành được thực
hiện với sự tham gia của các đối tác xã hội cấp ngành và được thực hiện
Trang 14theo cơ chế hai bên hoặc cơ chế ba bên Các cuộc đối thoại này thường tập trung vào vấn đề xuất nhập khẩu, phân bố nguồn lực, sử dụng lao động, liên quan trực tiếp đến ngành đó
Hộp 5.2: Quá trình ký kết thỏa ước lao động tập thể
ngành Dệt May Việt Nam
Quá trình đối thoại ký kết thỏa ước lao động ngành Dệt May được thực hiện như sau:
- Ban chấp hành Công đoàn Dệt May Việt Nam (hoặc ban chấp hành Hiệp hội dệt may Việt Nam) đề xuất các nội dung yêu cầu thương lượng tới đại diện người sử dụng lao động cấp ngành
- Ban chấp hành Công đoàn Dệt May Việt Nam và ban chấp hành Hiệp hội Dệt May Việt Nam cử ra số đại biểu đại diện cho mỗi bên theo thỏa thuận để tổ chức thương lượng về từng nội dung do bên đề xuất đưa ra
- Căn cứ kết quả thương lượng, hai bên xây dựng thành Dự thảo thỏa ước lao động tập thể ngành, Ban chấp hành Công đoàn Dệt May Việt Nam lấy ý kiến của công đoàn cơ sở, Ban chấp hành Hiệp hội Dệt May Việt Nam lấy ý kiến từ người sử dụng lao động của doanh nghiệp tham gia vào dự thảo này Việc lấy ý kiến được thực hiện bằng văn bản
- Công đoàn cơ sở tổ chức lấy ý kiến của tập thể lao động về nội dung
dự thảo thỏa ước lao động tập thể ngành
- Căn cứ kết quả lấy ý kiến, Ban chấp hành Hiệp hội Dệt May Việt Nam, Ban chấp hành Công đoàn Dệt May Việt Nam có trách nhiệm tổng hợp, hoàn thiện dự thảo Thỏa ước lao động tập thể cấp ngành Trường hợp còn có một hoặc một số ý kiến chưa thống nhất về một hoặc một số nội dung nào đó của dự thảo thỏa ước lao động tập thể ngành thì hai bên tiếp tục thương lượng về những nội dung đó
- Thỏa ước lao động tập thể cấp ngành sau khi được ký kết được gửi tới từng doanh nghiệp và doanh nghiệp phải phổ biến đến từng người lao động để triển khai thực hiện
Nguồn: Trích Quyết định số 1846/ QĐ-LĐTBXH về thí điểm thực hiện thương lượng, ký kết thỏa ước lao động tập thể ngành Dệt may
Trang 15Ví dụ, ngày 24/6/2011, tại Hà Nội, Hiệp hội Dệt - May Việt Nam và Công đoàn Dệt - May Việt Nam tổ chức Lễ ký thỏa ước lao động tập thể ngành Dệt - May Việt Nam Đây là năm thứ hai thỏa ước được đàm phán, ký kết và triển khai thực hiện sau một năm tiến hành thí điểm (xem Hộp 5.2) Việc cụ thể hóa các quy định của pháp luật phù hợp với tính chất, đặc điểm của ngành Dệt - May Việt Nam trong thỏa ước sẽ đảm bảo mối quan hệ hài hòa giữa người sử dụng lao động và tập thể người lao động với những chính sách, phúc lợi phù hợp
Đối thoại xã hội cấp quốc gia: Đối thoại xã hội cấp quốc gia thường
thực hiện theo cơ chế ba bên Các đối tác xã hội tham gia đối thoại xã hội cấp quốc gia là đại diện người sử dụng lao động, đại diện người lao động
và đại diện của nhà nước Đối thoại xã hội cấp quốc gia thường giải quyết các vấn đề mang tính vĩ mô, các vấn đề liên quan đến định hướng chính sách Khi đó, nhà nước có thể thực hiện tham vấn các bên trước khi đưa ra quyết định nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả thực thi quyết định Ở một số quốc gia trên thế giới nhà nước tạo lập một diễn đàn để các đối tác xã hội trao đổi thông tin, tư vấn, phản biện, về việc xây dựng các chính sách vĩ mô có liên quan đến các đối tác xã hội đó Điều này giúp nhà nước tham khảo ý kiến của các đối tác xã hội có liên quan trước khi quyết định, đảm bảo tính hiệu quả của việc thực thi các quyết
định sau này
Tại Cam-pu-chia1, một ủy ban tư vấn lao động trực thuộc Bộ Lao động sẽ được thành lập, bao gồm: Bộ trưởng Lao động, hoặc người đại diện giữ vai trò Chủ tịch; Một số đại diện của các Bộ có liên quan; Số lượng bằng nhau các đại diện của các công đoàn người lao động đại diện nhất ở cấp quốc gia và các đại diện từ các tổ chức của người sử dụng lao động đại diện nhất ở cấp quốc gia Ủy ban bầu ra hai phó chủ tịch, một phó chủ tịch từ trong số các đại diện của công đoàn người lao động và một phó chủ tịch từ các đại diện của người sử dụng lao động Ủy ban Tư vấn lao động phải họp ít nhất hai lần mỗi năm Tuy nhiên, ủy ban này có thể được Bộ trưởng Bộ Lao động triệu tập bất cứ lúc nào theo ý kiến riêng của Bộ trưởng hoặc theo yêu cầu của một trong hai Phó Chủ tịch
1 Trung tâm hỗ trợ phát triển quan hệ lao động (2011), Giới thiệu pháp luật về quan hệ lao động của một số quốc gia trên thế giới
Trang 16Chủ tịch tham khảo ý kiến của Phó Chủ tịch để đưa ra chương trình nghị
sự cho mỗi phiên họp của Ủy ban tư vấn lao động
Tại Cộng hòa Liên bang Nga1, Ủy ban quan hệ lao động - xã hội được thành lập để đảm bảo thực hiện quan hệ lao động - xã hội, thương lượng tập thể và chuẩn bị dự thảo thỏa ước lao động tập thể, các thỏa thuận, ký kết thỏa ước lao động tập thể, các thỏa thuận cũng như việc tổ chức kiểm tra việc thực hiện những văn bản đó ở tất cả các cấp trên cơ sở bình đẳng, các bên thành lập các Ủy ban bao gồm những đại diện có thẩm quyền để giải quyết Ở cấp Liên bang thành lập Ủy ban ba bên thường trực về quan hệ lao động - xã hội, hoạt động theo quy định của Luật Liên bang; thành phần của Ủy ban ba bên của Liên bang Nga bao gồm đại diện của Liên hiệp công đoàn Nga, của hiệp hội người sử dụng lao động toàn Nga, của Chính phủ Liên bang Nga Những văn bản dự thảo luật và những quy định khác của Chính phủ Liên bang Nga phải được gửi đến Ủy ban ba bên về quan hệ lao động của Liên bang, ý kiến của ủy ban này phải được xem xét trước khi ban hành những văn bản đó Tại Việt Nam, ngày 06 tháng 8 năm 2013, với sự giúp đỡ của Tổ chức Lao động quốc tế (ILO), Hội đồng tiền lương quốc gia đã chính thức ra mắt Theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ, Hội đồng tiền lương quốc gia được thành lập, gồm 15 thành viên, trong đó 5 thành viên đại diện cho người lao động; 5 thành viên đại diện cho người sử dụng lao động và 5 thành viên đến từ Bộ Lao động Thương binh Xã hội; Chủ tịch hội đồng là đại diện đến từ Bộ Lao động Thương binh Xã hội Hội đồng tiền lương quốc gia cho phép các tổ chức đại diện của người lao động và người sử dụng lao động làm việc một cách chủ động hơn khi xây dựng các đề xuất điều chỉnh tiền lương tối thiểu Theo đó, đại diện người lao động, người sử dụng lao động và Chính phủ cùng đưa ra quyết định các mức tiền lương tối thiểu vùng thỏa thuận được dựa trên thương lượng và đàm phán Trên cơ sở khuyến nghị của Hội đồng tiền lương quốc gia, Chính phủ sẽ quyết định và công bố mức tiền lương tối thiểu vùng
1 Trung tâm Hỗ trợ Phát triển Quan hệ lao động - Dự án Quan hệ lao động Việt Nam - ILO
(2011), Giới thiệu pháp luật về Quan hệ lao động của một số nước trên thế giới, NXB
Lao động - Xã hội, Hà Nội
Trang 17Đối thoại xã hội cấp quốc tế: Đối thoại xã hội cấp quốc tế được thực
hiện giữa các đối tác xã hội của các quốc gia Hai hay nhiều quốc gia đối thoại với nhau về các vấn đề liên quan nhằm tạo ra một sự thống nhất chung, giảm thiểu sự khác biệt giữa các quốc gia Các vấn đề đối thoại ở đây thường xoay quanh vấn đề di chuyển lao động, đào tạo phát triển lao động, chính sách lao động, mở cửa thị trường lao động, Đây là các vấn
đề liên quan ở tầm vĩ mô và có ảnh hưởng đến các quốc gia thành viên tham gia đối thoại Đối thoại xã hội cấp quốc tế có thể được thực hiện giữa hai hay nhiều quốc gia với sản phẩm là các hiệp định, các bản ghi
nhớ song phương, đa phương về vấn đề lao động
Trong thời gian vừa qua, Việt Nam đã thiết lập quan hệ hợp tác quốc
tế trong lĩnh vực xuất khẩu lao động với nhiều quốc gia trên thế giới và
đã trực tiếp ký kết một số điều ước quốc tế dưới các hình thức hiệp định, bản ghi nhớ với một số nước trên thế giới Các hiệp định và bản ghi nhớ song phương có ý nghĩa quan trọng trong việc tạo cơ sở pháp lý vững chắc để bảo vệ quyền cơ bản và hợp pháp của người lao động Việt Nam
đi làm việc ở nước ngoài Điển hình là các bản hiệp định và ghi nhớ sau: Hiệp định song phương được ký kết giữa Chính phủ nhà nước Qua-ta và Chính phủ Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam về vấn đề tuyển dụng lao động Việt Nam làm việc tại Qua-ta; Bản ghi nhớ giữa Chính phủ các Tiểu vương quốc Ả rập thống nhất và Chính phủ Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam về vấn đề nhân lực; Bản ghi nhớ về tuyển dụng lao động Việt Nam giữa Chính phủ Việt Nam và Chính phủ Ma-lai-xi-a; Tháng 10 năm 2010 Việt Nam quyết định chính thức tham gia đàm phán Hiệp định đối tác kinh tế chiến lược xuyên Thái Bình Dương (Trans-Pacific Strategic Economic Partnership Agreement, viết tắt là TPP) TPP về bản chất là một hiệp định thương mại tự do giữa 12 nước (Việt Nam, Bờ-ru-nây, Xin-ga-po, Ma-lai-xi-a, Chi-lê, Úc, Niu-di-lân, Pê-ru, Mê-xi-cô, Ca-na-đa, Nhật Bản và Mỹ) TPP là Hiệp định thương mại tự do lớn với phạm vi, mức độ cam kết rộng và sâu nhất mà Việt Nam từng tham gia cho đến nay Ngoài các nội dung truyền thống như
mở cửa thị trường hàng hoá, tự do hóa lĩnh vực đầu tư, dịch vụ Hiệp định TPP đề cập tới nhiều vấn đề mới hiện nay như lao động, môi trường, mua sắm của Chính phủ, doanh nghiệp nhà nước v.v Trong đó,
Trang 18các vấn đề lao động được đàm phán như: quyền lập hội (công đoàn), quyền tập hợp và đàm phán chung của người lao động, quy định cấm sử dụng mọi hình thức lao động cưỡng bức, quy định cấm khai thác lao động trẻ em, quy định không phân biệt đối xử trong lực lượng lao động
5.1.3.2 Phân loại theo cách thức tổ chức
Đối thoại xã hội trực tiếp: Là cách thức đối thoại mà các đối tác gặp
mặt trực tiếp để trao đổi thông tin, tham khảo hoặc thương lượng về các
vấn đề cùng quan tâm
Đối thoại trực tiếp có thể diễn ra thường xuyên hoặc bất thường Đối thoại trực tiếp diễn ra bất thường khi cần giải quyết các vấn đề phát sinh trong quá trình hợp tác làm việc Còn định kỳ hàng tuần, tháng, quý, … người sử dụng lao động cũng có thể tổ chức đối thoại trực tiếp với người lao động Ví dụ, đại diện người lao động và người sử dụng lao động tại doanh nghiệp tiến hành thương lượng để xây dựng thỏa ước lao động tập thể; người sử dụng lao động tại doanh nghiệp tổ chức gặp gỡ lấy ý kiến góp ý của người lao động về các chính sách nhân sự của công ty; Hoặc cuối mỗi năm kinh doanh, doanh nghiệp có thể tổ chức họp tổng kết hoạt
động của năm và đề ra phương hướng kinh doanh cho năm tới
Tổ chức đối thoại trực tiếp có thể tạo cơ hội để các bên dễ dàng chia
sẻ quan điểm, ý kiến, nguyện vọng của mình, nhanh chóng tạo ra sự đồng
thuận giữa các bên đối tác Tuy nhiên, cách thức tổ chức này có thể gây
tốn kém thời gian, chi phí hơn Nếu là đối thoại trực tiếp cấp doanh nghiệp, đòi hỏi người sử dụng lao động phải bố trí không gian, thời gian phù hợp, hoặc cử cán bộ tiếp xúc với người lao động
Bên cạnh đó, đối thoại xã hội trực tiếp muốn hiệu quả đòi hỏi các bên đối tác tham gia phải có tinh thần hợp tác và có kỹ năng đối thoại, giao tiếp tốt để tránh gây ra những mâu thuẫn, xung đột
Đối thoại xã hội gián tiếp: Là cách thức mà các đối tác trao đổi
thông tin, tham khảo, thương lượng thông qua các văn bản, giấy tờ hoặc phương tiện khác như hệ thống loa, đài, bảng thông báo, hòm thư góp ý, bản tin, mà không có sự gặp gỡ, tiếp xúc trực tiếp Trong nhiều trường hợp, đối thoại gián tiếp được lựa chọn như là phương thức nhằm thu thập
thông tin từ nhiều cá nhân, tập thể hay nhằm tiết kiệm thời gian, chi phí,
Trang 19Đối thoại xã hội gián tiếp có thể được thực hiện từ cấp quốc gia đến doanh nghiệp như: Nhà nước gửi thông báo, công bố trên các phương tiện thông tin về các quyết định, nội dung chính sách đã phê duyệt; Nhà nước tham khảo ý kiến của đại diện người lao động, người sử dụng lao động đối với dự thảo Luật Lao động; Doanh nghiệp thông báo quy chế trả lương tới người lao động thông qua văn bản; Doanh nghiệp đặt hòm thư góp ý để tiếp nhận ý kiến đóng góp của người lao động; …
Mặc dù có nhiều ưu điểm, nhưng để đối thoại xã hội gián tiếp không mang tính hình thức đòi hỏi phải có sự tham gia tích cực từ các bên Bên cạnh đó, hình thức tham khảo ý kiến cần trở thành căn cứ quan trọng cho quá trình điều chỉnh, xây dựng chính sách
5.2 Hình thức đối thoại xã hội trong quan hệ lao động
5.2.1 Trao đổi thông tin
Trao đổi thông tin là hình thức đối thoại xã hội được thực hiện khi một bên đối tác công bố, thông báo, đưa ra những thông tin mới có liên quan, tác động đến các bên đối tác khác, trong đó các đối tác nhận tin có nhiệm vụ thực hiện, phối hợp thực hiện Như vậy, trao đổi thông tin là hình thức đối thoại giúp các bên đối tác biết được chủ trương, chính sách của đối tác đưa ra thông tin, từ đó giúp quá trình phối hợp thực hiện thông tin được tốt hơn Đây là hình thức đối thoại đơn giản nhưng là nền tảng cho một cuộc đối thoại hiệu quả
Hình thức đối thoại này có thể được thực hiện dưới nhiều cách thức biểu hiện khác nhau như công văn, thông báo, báo cáo, bản tin…, có thể được thực hiện một chiều hoặc hai chiều Ví dụ: Doanh nghiệp thông báo
kế hoạch sản xuất kinh doanh, chính sách mới, nội quy, quy chế nội bộ của doanh nghiệp, v.v tới người lao động; Công đoàn phổ biến giáo dục pháp luật, chính sách có liên quan đến công nhân, lao động; Chính phủ
thông báo cho các đối tác xã hội về việc thông qua quy định đối với tiền
lương tối thiểu;
Quy trình trao đổi thông tin có thể được thực hiện thông qua các bước sau:
Bước 1 - Xác định thông tin cần trao đổi: Các thông tin được lựa chọn thường là các thông tin mới có liên quan, tác động đến các bên đối
Trang 20tác khác Ví dụ: Luật Lao động, các nghị định, thông tư, văn bản hướng dẫn, của quốc gia; Chính sách nhân lực, nội quy lao động, kế hoạch sản xuất kinh doanh, của doanh nghiệp;
Bước 2 - Xác định đối tượng trao đổi thông tin: Đối tượng trao đổi thông tin chính là các đối tác xã hội trong quan hệ lao động bao gồm người lao động, người sử dụng lao động, Nhà nước (hoặc các tổ chức đại diện);
Bước 3 - Triển khai trao đổi thông tin: Hình thức tổ chức trao đổi thông tin bao gồm: Triển khai trao đổi thông tin trực tiếp thông qua hội nghị, họp định kỳ, ; Triển khai trao đổi thông tin gián tiếp thông qua công văn, thông báo, bản tin, loa phát thanh, ; Nhận thông tin phản hồi Bước 4 - Sử dụng thông tin: Đưa thông tin vừa được trao đổi vào sử dụng trong thực tế quan hệ lao động
5.2.2 Tư vấn, tham khảo
Trong quan hệ lao động, tư vấn/tham khảo được sử dụng ở một số quốc gia với thuật ngữ là tham vấn (Consultation) Quá trình này đã được
đề cập cụ thể như sau:
Theo David Macdonald & Caroline Vardenabeele:
Tham vấn là một quá trình mà giới chủ tìm hiểu ý kiến của những người lao động, một cách trực tiếp hoặc qua các đại diện của họ về những vấn đề cụ thể, nhưng vẫn giữ quyền ra quyết định về các vấn đề này 1
Như vậy tham vấn hay tư vấn/tham khảo là hình thức đối thoại xã hội được thực hiện khi một bên đối tác tư vấn/tham khảo ý kiến của các bên đối tác khác trước khi đưa ra một quyết định có liên quan đến các đối tác đó Thông qua việc tư vấn/tham khảo ý kiến, các bên đối tác có thể đạt được sự hiểu biết chung với những vấn đề mà họ cùng quan tâm, nhờ
đó nâng cao chất lượng và hiệu quả thực thi quyết định Hình thức đối thoại này có thể được thực hiện dưới các cách thức biểu hiện khác nhau như: bên đối tác cần tư vấn/tham khảo mời các bên đối tác tham gia vào các cuộc họp, cuộc hội thảo; hoặc lấy ý kiến thông qua các công văn tham khảo, thông qua các phiếu điều tra… Trong trường hợp này, bên
1 David Macdonald and Caroline Vardenabeele (1996), Glossary of Industrial Relations and Related Terms
Trang 21đối tác cần tư vấn sẽ cân nhắc, tham khảo ý kiến của các bên đối thoại, sau đó đưa ra quyết định Tư vấn/tham khảo có thể được thực hiện một cách trực tiếp thông qua tổ chức hội nghị, hội thảo, tiếp xúc lấy ý kiến, hoặc có thể được thực hiện một cách gián tiếp thông qua hòm thư góp ý, phiếu điều tra,
Quy trình tư vấn/tham khảo có thể được thực hiện thông qua các bước sau:
Bước 1: Xây dựng kế hoạch tư vấn/tham khảo;
Để xây dựng được kế hoạch tư vấn/tham khảo cần thực hiện các công việc chi tiết như:
- Xác định vấn đề cần tư vấn/tham khảo;
- Xác định đối tượng cần tư vấn/tham khảo;
- Lựa chọn hình thức tư vấn/tham khảo: Trực tiếp (Hội nghị, họp định kỳ, gặp gỡ trực tiếp ); Gián tiếp (phiếu điều tra, hòm tư góp ý, thư điện tử, )
- Dự trù ngân sách triển khai kế hoạch tư vấn/tham khảo
Bước 2: Triển khai thực hiện tư vấn/tham khảo;
Bước 3: Sử dụng thông tin trong tư vấn/tham khảo;
Bước 4: Đánh giá kết quả tư vấn/tham khảo
Ở cấp quốc gia, trong quá trình xây dựng Luật lao động, Nhà nước tổ chức lấy ý kiến góp ý của đại diện người lao động và người sử dụng lao động đối với bản dự thảo, sau đó mới sửa chỉnh phù hợp và ban hành Hay khi Chính phủ chuẩn bị ra quyết định về tiền lương tối thiểu, Chính phủ có thể tổ chức các cuộc hội thảo về tiền lương tối thiểu, mời đại diện của người sử dụng lao động, đại diện người lao động và một số chuyên gia, đối tác khác đến dự và thảo luận Chính phủ sẽ tham khảo, cân nhắc những ý kiến và quan điểm mà các bên đối tác này đưa ra trước khi ra quyết định về mức tiền lương tối thiểu
Ở cấp doanh nghiệp có thể tổ chức hội nghị lấy ý kiến tham khảo về xây dựng nội quy, quy chế, quy định, quy trình kỹ thuật sử dụng thiết bị,
an toàn vệ sinh lao động, quy chế trả lương, khen thưởng, đào tạo lại tay nghề, bố trí, đề bạt cán bộ, quản lý tài chính… Hay công đoàn cơ sở tham gia ý kiến với người đứng đầu doanh nghiệp, cơ quan trong việc
Trang 22thực hiện các chế độ, chính sách, pháp luật quy định về nghĩa vụ, quyền
và lợi ích hợp pháp của người lao động
Tại Vương quốc Anh, tư vấn/tham khảo tại doanh nghiệp là một quá trình bàn thảo và tranh luận giữa công đoàn và người sử dụng lao động, hoặc giữa người sử dụng lao động và người lao động Tư vấn/tham khảo thường được phân biệt với đàm phán và thương lượng tập thể ở chỗ nó không phản ánh quá trình thương lượng, dàn xếp và thỏa thuận chung,
mà là một phương tiện để thông qua đó, người sử dụng lao động thu thập
ý kiến trước khi quyết định hành động Luật pháp quy định người sử dụng lao động phải tham vấn công đoàn được thừa nhận về đề xuất sa thải, luân chuyển lao động, kế hoạch an toàn vệ sinh lao động và trợ cấp.1
Tại Việt Nam, theo Nghị định số 60/2013/NĐ - CP ban hành ngày 19 tháng 6 năm 2013 quy định chi tiết khoản 3 điều 63 của Bộ luật Lao động 2012 về thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở nơi làm việc, doanh nghiệp có từ 10 người lao động trở lên phải tổ chức hội nghị người lao động Hội nghị người lao động được tổ chức 12 tháng một lần, hội nghị người lao động được tổ chức theo hình thức hội nghị toàn thể đối với doanh nghiệp có dưới 100 lao động, theo hình thức hội nghị đại biểu đối với doanh nghiệp có từ 100 lao động trở lên Thành phần tham gia hội nghị toàn thể bao gồm toàn thể người lao động trong doanh nghiệp, trường hợp người lao động không thể rời vị trí sản xuất thì người sử dụng lao động và tổ chức đại diện tập thể người lao động tại cơ sở thỏa thuận thành phần tham gia hội nghị Thành phần tham gia hội nghị đại biểu bao gồm: Đại biểu đương nhiên bao gồm thành viên Hội đồng quản trị hoặc Hội đồng thành viên hoặc Chủ tịch công ty, Trưởng ban kiểm soát hoặc Kiểm soát viên; Tổng giám đốc, Giám đốc, Phó tổng giám đốc, Phó giám đốc, Kế toán trưởng, Ban chấp hành công đoàn cơ sở hoặc người đại diện của Ban chấp hành công đoàn cấp trên trực tiếp cơ sở ở nơi không có công đoàn cơ sở, người đứng đầu tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội trong doanh nghiệp (nếu có); Đại biểu bầu là những người được hội nghị người lao động cấp phòng, ban, phân xưởng, tổ, đội sản xuất bầu theo quy định Nội dung và quy trình của Hội nghị (xem Hộp 5.3)
1 Gianni Arrigo and Giuseppe Casale, 2006, Compilation of selected terms on workers’ participation
Trang 23Hộp 5.3: Quy định đối với Hội nghị người lao động
ở Việt Nam
Điều 18 Nội dung hội nghị người lao động
1 Hội nghị người lao động thảo luận các nội dung sau:
a) Tình hình thực hiện kế hoạch sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp và những nội dung trực tiếp liên quan đến việc làm của người lao động, lợi ích của doanh nghiệp;
b) Kết quả kiểm tra, giám sát tình hình thực hiện hợp đồng lao động, thỏa ước lao động tập thể, nội quy, các quy định, quy chế của doanh nghiệp;
c) Tình hình khiếu nại, tố cáo và giải quyết khiếu nại, tố cáo;
d) Điều kiện làm việc và các biện pháp cải thiện điều kiện làm việc; đ) Kiến nghị, đề xuất của mỗi bên;
e) Các nội dung khác mà hai bên quan tâm
2 Bầu thành viên đại diện cho tập thể lao động tham gia đối thoại định kỳ
3 Thông qua nghị quyết hội nghị người lao động
Điều 19 Quy trình tổ chức Hội nghị người lao động
1 Bầu đoàn chủ tịch và thư ký hội nghị;
2 Báo cáo tư cách đại biểu tham dự hội nghị;
3 Báo cáo của người sử dụng lao động;
4 Báo cáo của tổ chức đại diện tập thể lao động tại cơ sở;
5 Đại biểu thảo luận;
6 Bầu thành viên đại diện cho tập thể lao động tham gia đối thoại định kỳ;
7 Biểu quyết thông qua nghị quyết hội nghị người lao động
Nguồn: Trích Nghị định 60/2013/NĐ-CP về thực hiện quy chế dân chủ
ở cơ sở nơi làm việc
Trang 245.2.3 Thương lượng
Thương lượng là hình thức đối thoại được thực hiện khi đại diện của các bên đối tác cùng tham gia, thảo luận, thống nhất về các vấn đề liên quan trực tiếp đến họ, đề ra các biện pháp thực hiện các vấn đề đó, hoặc đạt được thỏa thuận dẫn tới cam kết của các bên liên quan Thương lượng
là một trong những biện pháp quan trọng để phòng ngừa và hạn chế việc xảy ra các tranh chấp lao động và đình công
Thương lượng cá nhân (Individual bargaining) là quá trình thương lượng giữa một người lao động duy nhất và người sử dụng lao động của người đó Các vấn đề thương lượng trong trường hợp này có thể khác nhau như tiền lương cá nhân, thăng chức, nghỉ phép hay giờ làm việc, 1Thương lượng tập thể (Collective bargaining): Áp dụng cho mọi cuộc thương lượng giữa một bên là một nhóm người sử dụng lao động hoặc một hay nhiều tổ chức của người sử dụng lao động với một bên là
một hay nhiều tổ chức của người lao động, để:
- Quy định những điều kiện lao động và sử dụng lao động;
- Giải quyết các mối quan hệ giữa người lao động và người sử dụng
- thua, thua - thắng, thắng - thắng, thua - thua, trong đó một cuộc thương lượng hiệu quả là cuộc thương lượng mà hai bên đều đạt được một số mục tiêu quan trọng của mình, lợi ích chung của các bên tăng lên, lợi ích
1 David Macdonald and Caroline Vardenabeele (1996), Glossary of Industrial Relations and Related Terms
2 ILO, Công ước số 154, Điều 2
Trang 25xung đột giảm và ở mức chấp nhận được, nghĩa là thương lương đạt đến kết quả dạng thắng - thắng
Thương lượng là một quá trình đấu trí của các bên tham gia thương lượng, vì vậy cần được thực hiện một cách bài bản, khoa học cùng với những điều kiện tốt Quá trình tổ chức thương lượng thường được chia thành ba giai đoạn: Giai đoạn chuẩn bị thương lượng; Tiến hành thương lượng và kết thúc thương lượng Trong đó:
Giai đoạn 1: Chuẩn bị thương lượng được thực hiện với mục đích chuẩn
bị các điều kiện cần thiết cho quá trình thương lượng, xác định mục tiêu thương lượng, xây dựng kế hoạch thương lượng cũng như xác định rõ những hậu quả trong trường hợp thương lượng không thành công
Giai đoạn 2: Tiến hành thương lượng: Giai đoạn này được thực hiện nhằm giúp các bên đưa ra những đề xuất, nhượng bộ lẫn nhau về vấn đề thương lượng trên cơ sở hiểu rõ quan điểm, lập trường của nhau
Giai đoạn 3: Kết thúc thương lượng: Giai đoạn này được thực hiện nhằm thống nhất lại những thỏa thuận đã đạt được cũng như văn bản hóa các kết quả đạt được
Ví dụ, quy định thủ tục tham vấn tập thể (thương lượng tập thể) để
ký kết hợp đồng tập thể (thỏa ước lao động tập thể) của Trung Quốc Giai đoạn chuẩn bị trước khi tiến hành tham vấn: Đại diện tham vấn
sẽ thực hiện các hoạt động: Làm quen với luật pháp, quy định, luật lệ và
hệ thống liên quan đến nội dung tham vấn; Nắm được các chi tiết và thông tin liên quan đến nội dung tham vấn tập thể và thu thập ý kiến của người chủ lao động và người lao động về nội dung tham vấn; Quyết định chương trình nghị sự của tham vấn tập thể mà có thể được dự thảo bởi một trong các bên trong tham vấn hoặc được dự thảo chung bởi các đại diện do hai bên chỉ định; Quyết định các vấn đề như thời gian và địa điểm tham vấn tập thể; Cùng quyết định về người không phải là đại diện tham vấn làm người cùng ghi biên bản tham vấn tập thể Người ghi biên bản có thể trung lập và không thiên vị, đảm bảo duy trì tính bảo mật cho các bên trong tham vấn tập thể
Giai đoạn tiến hành tham vấn: Một cuộc tham vấn tập thể sẽ được chủ trì bởi trưởng đại diện mỗi bên theo các thủ tục: Chương trình nghị
Trang 26sự và trình tự của hội nghị sẽ được tuyên bố; Trưởng đại diện của một bên sẽ trình bày nội dung cụ thể tham vấn và yêu cầu; trưởng đại diện bên kia sẽ phản hồi đối với yêu cầu của bên kia; Cả hai bên trong tham vấn sẽ đưa ra ý kiến và tham gia thảo luận đầy đủ về các vấn đề tham vấn; Trưởng đại diện của cả hai bên sẽ phát biểu kết luận Nếu đạt được sự đồng thuận, một dự thảo hợp đồng tập thể hoặc hợp đồng tập thể chuyên biệt sẽ được hoàn thành và ký kết bởi trưởng đại diện của cả hai bên Nếu không đạt được đồng thuận hoặc một vấn đề bất ngờ nảy sinh, cuộc tham vấn sẽ tạm hoãn Thời hạn hoãn, địa điểm và nội dung tái tham vấn phải có sự đồng ý của cả hai bên
5.3 Nội dung đối thoại xã hội trong quan hệ lao động
5.3.1 Nội dung đối thoại xã hội cấp doanh nghiệp
Nội dung đối thoại cấp doanh nghiệp thường xoay quanh các vấn đề liên quan trực tiếp đến hai bên như vấn đề về lương, thưởng, phụ cấp; bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế; Điều kiện làm việc, an toàn vệ sinh lao động; Hợp đồng lao động; Chế độ làm việc, nghỉ ngơi;… Nội dung đối thoại là các vấn đề gắn với đặc điểm hoạt động của từng doanh nghiệp cụ
thể được cả người sử dụng lao động và người lao động quan tâm
Tại Cộng hòa Liên bang Nga1, quy định hình thức tham gia điều hành doanh nghiệp của người lao động bao gồm: Cân nhắc ý kiến của cơ quan đại diện người lao động trong các trường hợp được quy định của Bộ luật lao động, thỏa ước lao động tập thể; Tiến hành trao đổi ý kiến giữa
cơ quan đại diện của người lao động và người sử dụng lao động về những vấn đề quy định nội bộ; Tiếp nhận thông tin của người sử dụng lao động về những vấn đề liên quan trực tiếp đến lợi ích của người lao động; Thảo luận với người sử dụng lao động những vấn đề liên quan đến việc làm và những đề xuất để hoàn thiện việc làm của doanh nghiệp; Tổ chức đại diện người lao động thảo luận với người sử dụng lao động về kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của doanh nghiệp; Tham gia soạn thảo
và thực hiện thỏa ước lao động tập thể Đại diện người lao động có quyền
1 Trung tâm Hỗ trợ Phát triển Quan hệ lao động - Dự án Quan hệ lao động Việt Nam - ILO
(2011), Giới thiệu pháp luật về Quan hệ lao động của một số nước trên thế giới, NXB Lao
động - Xã hội, Hà Nội.
Trang 27nhận được những thông tin về các vấn đề sau từ người sử dụng lao động:
Tổ chức hoặc thay đổi cơ cấu tổ chức; Do việc thay đổi công nghệ dẫn đến thay đổi điều kiện lao động của người lao động; Đào tạo, đào tạo lại
và nâng cao tay nghề cho người lao động; Những vấn đề khác theo quy định của thỏa ước lao động tập thể
Tại Việt Nam, quy định về nội dung đối thoại tại doanh nghiệp đã được luật hóa và quy định cụ thể tại Nghị định số 60/2013/NĐ-CP ban hành ngày 19 tháng 6 năm 2013 về thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở nơi làm việc Cụ thể như sau:
Về nội dung người sử dụng lao động phải công khai bao gồm: Kế hoạch sản xuất, kinh doanh và tình hình thực hiện kế hoạch sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp, phòng, ban, phân xưởng, tổ, đội sản xuất; Nội quy, quy chế, quy định của doanh nghiệp, bao gồm: nội quy lao động; quy chế tuyển dụng, sử dụng lao động; định mức lao động; thang, bảng lương, quy chế nâng bậc lương, quy chế trả lương, trả thưởng; trang
bị bảo hộ lao động, quy trình vận hành máy, thiết bị, an toàn lao động, vệ sinh lao động, bảo vệ môi trường, phòng chống cháy nổ; bảo vệ bí mật kinh doanh, bí mật công nghệ; thi đua, khen thưởng, kỷ luật; Tình hình thực hiện các chế độ, chính sách tuyển dụng, sử dụng lao động, trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm, đào tạo, đào tạo lại, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ, tay nghề, tiền lương, tiền thưởng, khấu trừ tiền lương, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp và bảo hiểm y tế cho người lao động; Thỏa ước lao động tập thể doanh nghiệp, thỏa ước lao động tập thể ngành, hình thức thỏa ước lao động tập thể khác (nếu có); Việc trích lập
và sử dụng quỹ khen thưởng, quỹ phúc lợi, các quỹ do người lao động đóng góp; Trích nộp kinh phí công đoàn, đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp; Công khai tài chính hàng năm của doanh nghiệp về các nội dung liên quan đến người lao động; Điều lệ hoạt động của doanh nghiệp và các nội dung khác theo quy định của pháp luật
Về nội dung người lao động tham gia ý kiến bao gồm: Xây dựng hoặc sửa đổi, bổ sung nội quy, quy chế, quy định phải công khai tại doanh nghiệp; Các giải pháp tiết kiệm chi phí, nâng cao năng suất lao động, an toàn lao động, vệ sinh lao động, bảo vệ môi trường và phòng chống cháy nổ; Xây dựng hoặc sửa đổi, bổ sung thỏa ước lao động tập
Trang 28thể doanh nghiệp, thỏa ước lao động tập thể ngành, hình thức thỏa ước lao động tập thể khác (nếu có); Nghị quyết hội nghị người lao động; Quy trình, thủ tục giải quyết tranh chấp lao động, xử lý kỷ luật lao động và trách nhiệm vật chất; Nội dung khác liên quan đến quyền, nghĩa vụ của người lao động theo quy định của pháp luật
Về nội dung người lao động quyết định: Giao kết hợp đồng lao động, thực hiện hợp đồng lao động, sửa đổi, bổ sung, chấm dứt hợp đồng lao động theo quy định của pháp luật; Nội dung thương lượng thỏa ước lao động tập thể doanh nghiệp, thỏa ước lao động tập thể ngành, hình thức thỏa ước lao động tập thể khác (nếu có); Thông qua nghị quyết hội nghị người lao động; Gia nhập hoặc không gia nhập tổ chức công đoàn, tổ chức nghề nghiệp và tổ chức khác theo quy định của pháp luật; Tham gia hoặc không tham gia đình công; Các nội dung khác theo quy định của pháp luật
Về nội dung người lao động kiểm tra, giám sát: Thực hiện kế hoạch sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp, phòng, ban, phân xưởng, tổ, đội sản xuất; Thực hiện hợp đồng lao động, chế độ, chính sách đối với người lao động theo quy định pháp luật; Thực hiện các nội quy, quy chế, quy định phải công khai của doanh nghiệp; Thực hiện thỏa ước lao động tập thể doanh nghiệp, thỏa ước lao động tập thể ngành, hình thức thỏa ước lao động tập thể khác (nếu có); thực hiện nghị quyết hội nghị người lao động, nghị quyết hội nghị tổ chức công đoàn cơ sở; Trích lập và sử dụng quỹ khen thưởng, quỹ phúc lợi, các quỹ do người lao động đóng góp; trích nộp kinh phí công đoàn, đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp; Tình hình thi đua, khen thưởng, kỷ luật; khiếu nại, tố cáo và kết quả giải quyết khiếu nại, tố cáo; kết luận của thanh tra, kiểm toán và thực hiện các kiến nghị của thanh tra, kiểm toán liên quan đến quyền và lợi ích của người lao động; Thực hiện điều lệ doanh nghiệp và các nội dung khác theo quy định của pháp luật; Thực hiện các nội dung của quy chế dân chủ quy định tại Nghị định này
5.3.2 Nội dung đối thoại xã hội cấp địa phương
Nội dung đối thoại xã hội cấp địa phương thường xoay quanh các vấn đề về việc làm, an toàn vệ sinh lao động, an sinh xã hội, phát triển
Trang 29nguồn nhân lực, môi trường, … Đối thoại xã hội cấp địa phương diễn ra khi các chính sách phát triển của địa phương tác động tới doanh nghiệp, hoặc hoạt động của doanh nghiệp vượt ra ngoài phạm vi doanh nghiệp, gây ảnh hưởng đến đời sống xã hội của địa phương
Đối thoại cấp địa phương được thực hiện bằng cách tổ chức những buổi gặp gỡ, các kênh đối thoại giữa lãnh đạo địa phương, chủ doanh nghiệp và người lao động Đây là dịp để các bên cùng bày tỏ tâm tư, nguyện vọng, giải đáp thắc mắc, qua đó xây dựng mối quan hệ tốt đẹp hơn
Ví dụ: Dưới sự chỉ đạo của Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, hàng năm Bảo hiểm xã hội Thành phố Hồ Chí Minh đã tham gia tất cả các chương trình đối thoại trực tiếp với doanh nghiệp về lĩnh vực bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp do Trung tâm xúc tiến Thương mại và Đầu tư lên kế hoạch tổ chức; trực tiếp lắng nghe, giải đáp, giải thích, trả lời chu đáo hàng trăm câu hỏi, vướng mắc cho doanh nghiệp Ngoài việc đối thoại trực tiếp, khi có bất cứ câu hỏi, yêu cầu giải đáp, giải thích nào của doanh nghiệp và người lao động thông qua trang web của Trung tâm Xúc tiến Thương mại và Đầu tư, Bảo hiểm xã hội thành phố đều kịp thời đáp ứng trong thời gian sớm nhất Bên cạnh việc tham gia tích cực vào hoạt động đối thoại do thành phố tổ chức, hàng năm trang Thông tin điện tử bảo hiểm xã hội thành phố đã tiếp nhận hàng ngàn câu hỏi của người lao động, người dân trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh, cũng như các tỉnh, thành trên cả nước Thông qua đó hướng dẫn, giải thích làm rõ những quy định mới; giải đáp, trả lời những vấn đề vướng mắc phát sinh thường xảy ra trong việc giải quyết chế độ, chính sách liên quan đến bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp đối với người lao động, hoặc mối quan hệ giữa doanh nghiệp với cơ quan bảo hiểm xã hội
5.3.3 Nội dung đối thoại xã hội cấp ngành
Nội dung đối thoại xã hội cấp ngành thường xoay quanh các vấn đề phân bổ nguồn nhân lực, xuất nhập khẩu, về lương, an toàn vệ sinh lao động, trách nhiệm xã hội,… của ngành
Đối thoại xã hội cấp ngành được thực hiện thông qua quá trình thương lượng, cuộc họp, trao đổi, bàn bạc định kỳ hoặc bất thường giữa
Trang 30đại diện người sử dụng lao động và người lao động ở cấp ngành về những vấn đề các bên quan tâm, những vấn đề này gắn với đặc điểm hoạt động riêng của từng ngành cụ thể
Ví dụ: Tại Hội nghị đại biểu người lao động Tập đoàn công nghiệp cao su Việt Nam (VRG) tổ chức ở Thành phố Hồ Chí Minh ngày 27 tháng 3 năm 2014, Công đoàn ngành Cao su và lãnh đạo Tập đoàn Công nghiệp Cao su đã ký kết thỏa ước lao động tập thể ngành Cao su năm
2014 - 2015 Quá trình thương lượng giữa đại diện tập đoàn công nghiệp cao su và đại diện công đoàn ngành cao su đã đi đến thống nhất một số điều khoản trong thỏa ước lao động tập thể ngành: người sử dụng lao động đảm bảo mức lương thấp nhất trả cho người làm công việc giản đơn nhất trong các doanh nghiệp theo từng địa bàn thuộc Tập đoàn công nghiệp cao su Việt Nam cao hơn mức tiền lương tối thiểu theo vùng là 5%; Căn cứ khả năng nguồn quỹ phúc lợi người sử dụng lao động sẽ hỗ trợ thêm cho người lao động một tháng tiền lương theo hợp đồng lao động khi nghỉ hưu; Căn cứ vào kết quả sản xuất kinh doanh và lợi nhuận hằng năm người sử dụng lao động sẽ phấn đấu chi thưởng cho người lao động tối thiểu một tháng lương thực nhận; Nếu người lao động yêu cầu nghỉ phép năm, nhưng người sử dụng lao động không sắp xếp được thời gian nghỉ phép do yêu cầu công việc, thì ngoài tiền lương phải trả theo quy định, người sử dụng lao động thanh toán bằng tiền theo chế độ lương ngoài giờ cho những ngày người lao động không được nghỉ phép; Căn cứ kết quả sản xuất kinh doanh và kết quả lao động của cán bộ, hàng năm Ban chấp hành công đoàn các doanh nghiệp phối hợp với người sử dụng lao động tổ chức cho người lao động đi tham quan, nghỉ mát trong hoặc ngoài nước trong điều kiện cho phép
5.3.4 Nội dung đối thoại xã hội cấp quốc gia
Nội dung đối thoại cấp quốc gia thường xoay quanh các vấn đề xây dựng, đổi mới các chính sách và điều chỉnh các vấn đề mang tính vĩ mô
về quan hệ lao động ở phạm vi quốc gia
Đối thoại xã hội cấp quốc gia được thực hiện với sự tham gia của đại diện Chính phủ, đại diện người sử dụng lao động và đại diện người lao động ở cấp quốc gia Đối thoại cấp quốc gia có thể được thực hiện một
Trang 31cách trực tiếp thông qua các cuộc họp, làm việc giữa đại diện các bên, hoặc thông qua trao đổi bằng văn bản
Tại Hàn Quốc, theo Luật về Ủy ban ba bên phát triển kinh tế và xã hội: Ủy ban ba bên về phát triển kinh tế và xã hội Hàn Quốc được thành lập nhằm giúp người lao động, người sử dụng lao động và Nhà nước tư vấn những chính sách lao động và những chính sách liên quan tới các vấn đề kinh tế và xã hội dựa trên sự tin tưởng lẫn nhau và hợp tác nhằm đưa ra thảo luận chung, trả lời chất vấn của Chủ tịch nước và quy định những vấn đề cần thiết về tổ chức, hoạt động của Ủy ban nhằm thúc đẩy hòa bình lao động và đóng góp vào sự phát triển cân bằng nền kinh tế của quốc gia Hội đồng bao gồm chủ tọa và thành viên lần lượt đại diện cho quyền lợi của người lao động, người sử dụng lao động, chính phủ và công chúng Ủy ban sẽ thảo luận những vấn đề sau:
- Chính sách lao động liên quan đến điều kiện làm việc, an toàn lao động và những vấn đề liên quan tới chính sách công nghiệp, kinh tế và xã hội có ảnh hưởng lớn tới chính sách lao động;
- Những vấn đề liên quan tới việc cải thiện hệ thống, cách suy nghĩ
và thực hiện phát triển của quan hệ quản lý lao động;
- Những vấn đề liên quan tới quá trình thực hiện các phương thức nhằm đạt được thỏa thuận trong ủy ban;
- Những vấn đề liên quan tới những phương thức hỗ trợ các hoạt động nhằm tăng cường hợp tác giữa ba bên liên quan
Ở Việt Nam, đối thoại cấp quốc gia chủ yếu tập trung để xây dựng
và điều chỉnh hệ thống chính sách, pháp luật Ví dụ, Tổng liên đoàn Lao động Việt Nam tổ chức đối thoại, tham gia xây dựng các chính sách đối với người lao động, bao gồm:
- Chính sách tiền lương tối thiểu;
- Chính sách việc làm, thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi;
- Chính sách bảo hiểm thất nghiệp;
- Chính sách bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế;
- Chính sách nhà ở;
- Chính sách với người lao động khi sắp xếp, chuyển đổi doanh nghiệp nhà nước;
Trang 32- Chính sách với người lao động trong khu công nghiệp, khu chế xuất và nhiều chính sách khác liên quan trực tiếp tới quyền và lợi ích người lao động;
- …
Hay tổ chức đại diện cho người lao động ở cấp quốc gia là Tổng liên đoàn lao động Việt Nam, với vai trò đại diện của mình, Tổng liên đoàn tham gia đối thoại với đại điện của các chủ thể khác như: Đoàn chủ tịch Tổng liên đoàn Lao động Việt Nam hằng năm có cuộc làm việc với Thủ tướng chính phủ; Đoàn chủ tịch Tổng liên đoàn Lao động Việt Nam làm việc và ký kết các chương trình phối hợp với các Bộ, Ngành liên quan;
Tổ chức các cuộc đối thoại với tổ chức đại diện người sử dụng lao động như: Phòng Thương Mại và công nghiệp Việt Nam, các hiệp hội doanh nghiệp Hàn Quốc, Nhật Bản, Hiệp hội Dệt may…; Tham gia xây dựng pháp luật, các chính sách liên quan đến người lao động, tổ chức các cuộc hội thảo trong nước và quốc tế, lấy ý kiến tham gia xây dựng chính sách, pháp luật
5.3.5 Nội dung đối thoại xã hội cấp quốc tế
Nội dung đối thoại cấp quốc tế thường xoay quanh các vấn đề mà các bên cùng quan tâm như vấn đề về di chuyển lao động, chính sách mở cửa thị trường lao động, Đối thoại cấp quốc tế được thực hiện giữa hai hay nhiều quốc gia, là các đối tác cùng có sự quan tâm đến các vấn đề chung về lao động như cải thiện điều kiện làm việc, di chuyển lao động, Đối thoại cấp quốc tế có thể được thực hiện định kỳ theo cam kết, thỏa thuận của các quốc gia là đối tác đối thoại, hoặc được tiến hành một cách bất thường để bàn bạc, giải quyết vấn đề phát sinh mà các quốc gia cùng quan tâm Các quốc gia tham gia đối thoại một cách tự nguyện, bình đẳng, cùng hướng tới mục tiêu giúp lành mạnh hóa quan hệ lao động
Ở Việt Nam, theo thỏa thuận về hợp tác và đối thoại lao động ký kết tháng 11 năm 2000 giữa hai nước Việt Nam và Mỹ, đại diện hai nước có các cuộc đối thoại thường niên thảo luận nhiều vấn đề, bao gồm chương trình việc làm tốt hơn của Tổ chức Lao động Quốc tế, xây dựng năng lực, cải cách luật lao động và các tiêu chuẩn lao động quốc
Trang 33tế Trong các cuộc đối thoại đó, hai bên thông báo cho nhau tình hình kinh tế - xã hội của mỗi nước và thảo luận về những vấn đề cùng quan tâm như quyền của người lao động, vấn đề lao động trẻ em, lao động cưỡng bức, lao động trong ngành dệt may và hợp tác với Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO); đồng thời điểm lại quá trình thực hiện các dự án hợp tác Việt Nam - Mỹ do Bộ Lao động Mỹ tài trợ Thông qua các cuộc thảo luận lao động định kỳ, góp phần cải thiện các điều kiện làm việc của người lao động, tạo thuận lợi cho Việt Nam hội nhập sâu rộng kinh
tế toàn cầu
Quá trình tổ chức đàm phán hiệp định TPP - hiệp định đối tác kinh tế chiến lược xuyên Thái Bình Dương giữa 12 nước (Việt Nam, Bờ-ru-nây, Xin-ga-po, Ma-lai-xi-a, Chile, Úc, New Zealand, Peru, Mexico, Canada, Nhật Bản và Mỹ), bên cạnh các vấn đề về mở cửa thị trường hàng hoá, tự
do hóa lĩnh vực đầu tư, dịch vụ các quốc gia còn tiến hành đàm phán các vấn đề lao động như: quyền lập hội (công đoàn), quyền tập hợp và đàm phán chung của người lao động, quy định cấm sử dụng mọi hình thức lao động cưỡng bức, quy định cấm khai thác lao động trẻ em, quy định không phân biệt đối xử trong lực lượng lao động
NỘI DUNG THẢO LUẬN:
1 Các hình thức đối thoại xã hội tại doanh nghiệp Liên hệ thực tiễn tại doanh nghiệp Việt Nam?
2 Vai trò của đối thoại xã hội trong việc lành mạnh hóa quan hệ lao động Nghiên cứu tình hình đối thoại xã hội trong quan hệ lao động ở Việt Nam hiện nay?
3 Phân tích vai trò của tổ chức Công đoàn trong thực hiện đối thoại
xã hội tại doanh nghiệp Việt Nam hiện nay?
4 Phân tích các rào cản thường gặp khi thực hiện đối thoại xã hội trong quan hệ lao động ở Việt Nam hiện nay?
Trang 34CÂU HỎI ÔN TẬP:
1 Phân tích khái niệm của đối thoại xã hội? Tại sao đối thoại xã hội được coi là công cụ cơ bản nhất của quan hệ lao động?
2 Trình bày các tiêu chí phân loại đối thoại xã hội?
3 Trình bày các hình thức đối thoại xã hội tại doanh nghiệp Theo anh (chị) đối thoại xã hội trực tiếp hay đối thoại xã hội gián tiếp sẽ mang lại hiệu quả cao hơn? Vì sao?
4 Trình bày các nội dung cơ bản của đối thoại xã hội ở cấp doanh nghiệp?
5 Trình bày các nội dung cơ bản của đối thoại xã hội ở cấp ngành?
6 Trình bày các nội dung cơ bản của đối thoại xã hội ở cấp quốc gia?
7 Trình bày các nội dung cơ bản của đối thoại xã hội ở cấp quốc tế?
Để xây dựng mối quan hệ hài hòa với người lao động, từ năm 2011 đến nay, năm nào Công ty cũng tổ chức buổi giao lưu-đối thoại với người lao động vào dịp Tháng công nhân Đại diện lãnh đạo Công ty cho biết, đối thoại với người lao động nhằm mục đích lắng nghe tâm tư, nguyện vọng và những vướng mắc về việc thực hiện các chế độ, chính sách đối với người lao động Bên cạnh đó, thông qua đối thoại, Công ty nắm bắt được những khó khăn của người lao động trong thực hiện chuyên môn,
từ đó đưa ra những điều chỉnh hợp lý, những biện pháp thực hiện tốt hơn Nhờ đó, thời gian qua, mối quan hệ giữa người lao động và doanh nghiệp
đã được cải thiện tốt hơn
Trang 35Trên thực tế, tại công ty việc tổ chức các cuộc đối thoại với người lao động đã được thực hiện từ lâu, song việc này tổ chức không thường xuyên và chưa được bài bản Bởi thế, những cuộc đối thoại vẫn chưa chạm tới thực chất những vấn đề mà người lao động quan tâm
Câu hỏi:
1 Phân tích những thành công và hạn chế trong hoạt động đối thoại
xã hội tại công ty cổ phần may Yên Thành?
2 Đề xuất giải pháp tăng cường đối thoại xã hội tại công ty cổ phần may Yên Thành?
Bài tập 2: Tình huống: ĐỐI THOẠI XÃ HỘI TẠI CÔNG TY
Hàng tháng, cùng với chủ tịch công đoàn, những người đại diện mới này ngồi lại với ban quản lý công ty (với số lượng mỗi bên bằng nhau) để giải quyết các vấn đề liên quan đến tiêu chuẩn lao động và thắt chặt quan
hệ hợp tác ở nơi làm việc
Với tên gọi Ban Tư vấn cải tiến Doanh nghiệp (PICC), cơ chế này được Better Work Việt Nam - một chương trình hợp tác giữa Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) và Tổ chức Tài chính Quốc tế (IFC) - đưa vào hoạt động từ năm 2009 Các đại diện công nhân được bầu lại hai năm một lần
Sau hơn một năm đưa cơ chế mới vào hoạt động tại Ando International, bà Dương Thúy Tú, Giám đốc điều hành công ty, cho rằng các cuộc họp PICC đã đem lại "một sự thay đổi lớn" và nâng cao nhận thức của người lao động (về vệ sinh an toàn lao động) và cải thiện đáng
kể tinh thần hợp tác tại nơi làm việc
Anh Võ Kim Long, người có thâm niên 6 năm làm việc tại nhà máy, cũng đồng tình "Xưởng may giờ đây thoáng và gọn gàng hơn, giúp
Trang 36chúng tôi dễ thở hơn khi làm việc Đó là nhờ vấn đề này được đưa ra trong các cuộc họp PICC và đã được giải quyết" Anh cho rằng nhờ có người đại diện cho công nhân trong ban PICC mà những người như anh giờ đây "có thể giao tiếp với ban quản lý"
Theo anh Phạm Ngọc Vượng, chủ tịch Công đoàn công ty, cơ chế mới đã "nâng tầm hoạt động công đoàn và nâng cao hiệu quả của các hoạt động này"
Câu hỏi:
1 Phân tích tình hình thực hiện các nguyên tắc trong đối thoại xã hội tại công ty Ando International
2 Theo anh (chị), các rào cản nào thường gặp phải trong đối thoại
xã hội tại các doanh nghiệp dệt may ở Việt Nam? Đề xuất giải pháp tăng cường đối thoại xã hội tại các doanh nghiệp dệt may ở Việt Nam hiện nay
TÀI LIỆU THAM KHẢO:
1 Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Quyết định số 1846/ LĐTBXH về thí điểm thực hiện thương lượng, ký kết thỏa ước lao động tập thể ngành dệt may
QĐ-2 ILO, Công ước số 154, Điều QĐ-2
3 Nguyễn Thị Minh Nhàn (2014),"Đối thoại xã hội - công cụ quan trọng phát triển quan hệ lao động hiện đại"- Kỷ yếu Hội thảo quốc tế
"Những vấn đề về quản lý kinh tế và quản trị kinh doanh hiện đại", NXB Thống kê, Hà Nội, tháng 05/2014, tr.520-537
Trang 374 Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Trích
"Chương V - Đối thoại tại nơi làm việc, thương lượng tập thể, thỏa ước lao động tập thể" - Bộ luật Lao động 2012
5 Thủ tướng Chính phủ, Nghị định 60/2013/NĐ-CP về thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở nơi làm việc
6 Trung tâm hỗ trợ phát triển quan hệ lao động (2011), Giới thiệu pháp luật về quan hệ lao động của một số quốc gia trên thế giới
7 David Macdonald and Caroline Vardenabeele (1996), Glossary of Industrial Relations and Related Terms
8 Gianni Arrigo and Giuseppe Casale (2006), Compilation of selected terms on workers’ participation
9 Robert Heron, Social dialogue and workplace cooperation - An overview
Trang 38CHƯƠNG 6
THƯƠNG LƯỢNG TRONG QUAN HỆ LAO ĐỘNG
Chương 6 - "Thương lượng trong quan hệ lao động" được coi là linh hồn của quan hệ lao động Trong chương này thương lượng được xác định vừa là khoa học vừa là nghệ thuật đối thoại giữa các chủ thể quan hệ lao động vì vậy cần hiểu rõ đặc điểm thương lượng và nắm rõ quy trình tổ chức vận hành thương lượng trong quan hệ lao động một cách bài bản, khoa học để mang lại hiệu quả
6.1 Khái niệm, đặc điểm của thương lượng trong quan hệ lao động
6.1.1 Khái niệm thương lượng trong quan hệ lao động
Thương lượng là một dạng của đối thoại xã hội nhằm đạt được thỏa thuận dẫn tới những cam kết của các bên liên quan Ở đây, đại diện của các bên đối tác cùng tham gia, thảo luận, thống nhất về các vấn đề liên quan trực tiếp đến họ và đề ra các biện pháp thực hiện các vấn đề đó Thương lượng là một biện pháp quan trọng để phòng ngừa, hạn chế việc xảy ra các tranh chấp lao động và đình công và giải quyết chúng nếu khi
đã xuất hiện Thương lượng là hình thức quan trọng chứa đựng tinh thần cốt lõi của đối thoại xã hội
Theo Tổ chức lao động quốc tế (ILO), thương lượng được định nghĩa là một quá trình trong đó hai hoặc nhiều bên có lợi ích chung và lợi ích xung đột ngồi lại cùng nhau để thảo luận nhằm tìm kiếm một thỏa thuận chung1
Thương lượng trong quan hệ lao động bao gồm thương lượng cá nhân và thương lượng tập thể Thương lượng cá nhân là sự thảo luận giữa hai bên để tìm kiếm những thỏa thuận chung về những vấn đề liên quan giữa cá nhân người lao động với người sử dụng lao động Thương lượng tập thể trong doanh nghiệp là sự thảo luận giữa hai bên được áp dụng cho mọi cuộc thương lượng giữa một bên là người sử dụng lao
1 Nguyễn Tiệp (2008), Giáo trình quan hệ lao động, NXB Lao động - Xã hội, Hà Nội, tr.179.
Trang 39động với một bên là tổ chức của người lao động hay đại diện người lao động (cụ thể là đại diện công đoàn hoặc các đại diện được người lao động bầu ra) theo đúng những quy định của pháp luật quốc gia Trong quá trình thương lượng tập thể, người sử dụng lao động và người lao động cùng nhau bàn bạc, thống nhất điều kiện lao động sản xuất cũng như những phương pháp thực hiện qua đó dễ dàng phát hiện, giải quyết các bất đồng, mâu thuẫn, tranh chấp lao động Do có những lợi ích nhất định nên các quốc gia và thế giới đang khuyến khích áp dụng các biện pháp xúc tiến thương lượng tập thể Thương lượng cá nhân thì chỉ phụ thuộc vào năng lực và nguyện vọng của chính cá nhân người lao động còn thương lượng lao động tập thể, nói lên tiếng nói của tập thể người lao động đòi hỏi những người đại diện không chỉ có kiến thức, kỹ năng, sự tỉnh táo sáng suốt mà cần có sự hiểu biết sâu sắc và đặc biệt phải thấu hiểu mọi nguyện vọng, trăn trở, khó khăn trong cuộc sống người lao động là một việc khó khăn hơn nhiều
Thương lượng lao động được tiến hành thích hợp nhất vào thời điểm thiết lập quan hệ lao động cá nhân, quan hệ lao động tập thể và trong quá trình giải quyết tranh chấp lao động Trong quá trình diễn ra quan hệ lao động, các bên tham gia mối quan hệ này nên tiến hành thương lượng nếu gặp vấn đề mới phát sinh mà các bên chưa kịp thỏa thuận với nhau trước
đó vì chưa lường hết được diễn biến phát triển của quan hệ lao động hoặc những vướng mắc mới xuất hiện mà chưa đến mức trở thành mâu thuẫn Thương lượng là một quá trình phức tạp, thương lượng không đơn thuần là quá trình theo đuổi nhu cầu lợi ích riêng lẻ của một bên, mà là quá trình đôi bên đều đạt được sự thống nhất thông qua việc không ngừng điều chỉnh nhu cầu của mình Sự thành công hay thất bại của một cuộc thương lượng lao động không chỉ được đánh giá dựa vào mục tiêu
dự định đạt được của một chủ thể nào đó mà còn phải dựa vào nhiều tiêu chuẩn đánh giá tổng hợp Đó là thực hiện mục tiêu tối ưu của mỗi bên và mục tiêu duy trì, phát triển quan hệ giữa các bên, Tính chất phức tạp của thương lượng được thể hiện thông qua tính khẩn trương, tính chặt chẽ, tính quyết liệt, tính bất ngờ và đột biến của hoạt động này
Thương lượng là sự thống nhất giữa hai mặt "hợp tác" và "xung đột"
Vì "xung đột" nên cần thương lượng giữa các bên, "xung đột" tiếp tục ở trên bàn đàm phán để rồi "hợp tác" để giải quyết "xung đột"
Trang 40Thương lượng vừa là một khoa học vừa là một nghệ thuật Khoa học thương lượng đã được hình thành và phát triển cùng với khoa học giao tiếp và ngày càng có vị trí quan trọng trong giao lưu quốc tế với việc hình thành những nguyên tắc, hình thức, chiến lược thương lượng Mặt khác, trong thương lượng rất cần sự tinh tế, nhạy bén, khéo léo, linh hoạt, ứng xử mềm dẻo, cương nhu đúng lúc của các chủ thể quan hệ lao động - đó là biểu hiện tính nghệ thuật của thương lượng
Sản phẩm cụ thể của thương lượng lao động trong doanh nghiệp bao gồm: Thỏa ước lao động tập thể hay thỏa thuận doanh nghiệp; Hợp đồng lao động
6.1.2 Đặc điểm của thương lượng trong quan hệ lao động
Với vị trí là một trong những phương thức cơ bản của đối thoại xã hội, là một công cụ để xác định điều kiện lao động và sử dụng lao động, tạo điều kiện cho quan hệ lao động phát triển lành mạnh; đồng thời góp phần phòng ngừa, hạn chế và giải quyết các tranh chấp lao động phát sinh trong quan hệ đó Thương lượng thể hiện sự thỏa thuận của các bên tham gia thương lượng, mang những đặc điểm cơ bản sau:
Thứ nhất, đặc điểm về mục đích thương lượng: Mục đích thương lượng là nhằm đạt đến một thỏa thuận về các vấn đề các bên quan tâm và
thường là nguyên nhân gây ra xung đột, thiết lập các điều khoản, các quy tắc chung về quan hệ lao động Xung đột trong quan hệ lao động là sự tồn tại tất yếu khách quan, không thể tránh khỏi nên các bên cần có những biện pháp để phòng ngừa xung đột và khi xuất hiện xung đột thì các bên phải cùng nhau tìm cách giải quyết nhằm đảm bảo sự ổn định và phát triển của mối quan hệ đó Việc giải quyết xung đột nếu được thực hiện tốt sẽ làm giảm đi những căng thẳng giữa các bên và làm tăng cường hợp tác trong công việc Bản chất của mọi xung đột chính là sự khác biệt và mâu thuẫn về lợi ích giữa các chủ thể trong quan hệ lao động Dù rằng chủ thể nào cũng muốn tăng lợi ích của mình, điều đó cùng nghĩa với phải giảm lợi ích của đối tác - điều mà đối tác không mong muốn và không dễ dàng chấp nhận nếu không đánh đổi một "lợi ích" khác Chính vì lẽ đó tất cả các biện pháp hợp lý được sử dụng trong thời điểm trước cũng như sau khi xung đột xuất hiện đều phải thực hiện