1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

BUỔI THẢO LUẬN THỨ NHẤT CHỦ THỂ của PHÁP LUẬT dân sự

19 12 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 19
Dung lượng 43,15 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Khi một người do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi thì theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan hoặc của cơ quan, tổ chức hữu qua

Trang 1

BUỔI THẢO LUẬN THỨ NHẤT: CHỦ THỂ CỦA

PHÁP LUẬT DÂN SỰ

DANH SÁCH NHÓM 3

4 Phạm Đăng Việt Hưng 2153801015104

5 Dương Nguyễn Trà My 2153801015151

Trang 2

BÀI TẬP

BÀI TẬP 1: Năng lực hành vi dân sự cá nhân

* Năng lực hành vi dân sự cá nhân  

 Định nghĩa : Năng lực hành vi dân sự cá nhân là gì ? 

 “Năng lực hành vi dân sự của cá nhân là khả năng của cá nhân bằng hành vi

của mình xác lập, thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự”– Điều 19 Bộ luật dân sự năm

2015 Nếu năng lực pháp luật dân sự là tiền đề, là quyền dân sự khách quan của chủ thể thì năng lực hành vi là khả năng hành động của chính chủ thể để tạo ra các quyền, thực hiện quyền và nghĩa vụ của họ Ngoài ra, năng lực hành vi dân sự còn bao hàm cả năng lực tự chịu trách nhiệm dân sự khi vi phạm nghĩa vụ dân sự 

Điều 22 (BLDS 2015) Mất năng lực hành vi dân sự 

1 Khi một người do bị bệnh  tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi thì  theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan hoặc của cơ quan, tổ chức hữu  quan, Tòa án ra quyết định tuyên bố người này là người mất năng lực hành vi dân  sự trên cơ sở kết luận giám định pháp y tâm thần. Khi không còn căn cứ tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự thì theo yêu cầu của chính người đó hoặc của người có quyền, lợi ích liên quan hoặc của cơ quan, tổ chức hữu quan, Tòa án ra quyết định hủy bỏ quyết định tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự. 

2 Giao dịch dân sự của người mất năng lực hành vi dân sự phải do người đại diện theo pháp luật xác lập, thực hiện. 

Điều 58 Quyền của người giám hộ 

1 Người giám hộ của người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự

có các quyền sau đây: 

a) Sử dụng tài sản của người được giám hộ để chăm sóc, chi dùng cho những nhu cầu thiết yếu của người được giám hộ; 

b) Được thanh toán các chi phí hợp lý cho việc quản lý tài sản của người được giám hộ; 

c) Đại diện cho người được giám hộ trong việc xác lập, thực hiện giao dịch dân

sự và thực hiện các quyền khác theo quy định của pháp luật nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người được giám hộ. 

Trang 3

2 Người giám hộ của người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi có quyền theo quyết định của Tòa án trong số các quyền quy định tại khoản 1 Điều này. 

Điều 62 Chấm dứt việc giám hộ 

1 Việc giám hộ chấm dứt trong trường hợp sau đây: 

a) Người được giám hộ đã có năng lực hành vi dân sự đầy đủ; 

b) Người được giám hộ chết; 

c) Cha, mẹ của người được giám hộ là người chưa thành niên đã có đủ điều kiện

để thực hiện quyền, nghĩa vụ của mình; 

d) Người được giám hộ được nhận làm con nuôi. 

2 Thủ tục chấm dứt việc giám hộ thực hiện theo quy định của pháp luật về hộ tịch 

Bảng tóm tắt nội dung Quyết định số 52/2020/DS-GĐT ngày 11/9/2020 của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao:

Bản án sơ thẩm số 10/2008/DSST ngày 31/1/2008, do TAND TP Hà Nội xét xử

vụ án do ông Lê Văn Tiếu ( nguyên đơn) yêu cầu khởi kiện đòi chia thừa kế nhà, đất thuộc sở hữu chung của nhà dòng trưởng là ông Lê Văn Chỉnh (trai trưởng) (bị đơn) và ông Lê Văn Chảng (em ruột ông Chỉnh) Ông Chảng là một trong những người có quyền và nghĩ vụ liên quan chủ yếu, nhưng ông không đủ năng lực hành vi lập di chúc ( theo giám định y khoa trung ương- Bộ y tế , tỉ lệ mất khả năng lao động là 91%).Theo

đó ông Lê Văn Chảng và vợ là bà Nguyễn Thị Chung (vợ hợp pháp của ông Chảng) là người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ( có con chung tên Nguyễn Thị Bích Thủy ) Thế nhưng Tòa án cấp sơ thẩm đã kết luận bà Chung không phải là vợ chính thức của ông Chảng mà thừa nhận việc ông Lê Văn Chảng kết hôn với bà Nguyễn Thị Bích)

(người sống không hợp pháp với ông Chảng) ,đưa bà Bích trở thành người có quyền lợi

nghĩa vụ liên quan đến vụ án, bác bỏ quyền và nghĩa vụ chính đáng theo pháp luật của

bà Chung Mặc dù việc phân chia tài sản gây thiệt hại cho ông Chảng nhưng bà Bích ( tự xưng là người giám hộ của ông Chảng đã được tòa sơ thẩm và phúc thẩm đồng ý) không có kháng cáo phân chia tài sản gây thiệt hại dẫn đến quyền và lợi ích hợp pháp của ông Chảng không được pháp luật bảo vệ Còn vợ hợp pháp – Bà Chung thì không thể thực hiện quyền kháng cáo cho ông Chảng Sau khi Tòa phúc thẩm - TAND Tối cao

ra Bản án số 07/2009/DSPT nêu trên, bà Chung đã có đơn đề nghị xem xét giám đốc thẩm bản án trên tại TAND Tối cao Tuy nhiên, ngày 19/7/2010, do quá uất ức bà

Trang 4

Chung đã đột tử, dẫn đến việc giải quyết vụ án theo thủ tục Giám đốc thẩm tại TAND tối cao bị gián đoạn  Sau khi xem xét, dựa trên điều khoản, Hội đồng thẩm phán TAND Tối cao quyết định:

1 Chấp nhận Quyết định kháng nghị tái thẩm số 47/2020/KN-DS ngày 23/6/2020 của Chánh án TAND Tối cao

2 Hủy bản án dân sự phúc thẩm số 07/2009/DSPT ngày 14/1/2009 của Tòa phúc thẩm TAND Tối cao tại Hà Nội và Bản án dân sự sơ thẩm số 10/2008/DSST ngày 31/01/2008 của TAND TP Hà Nội về vụ án dân sự “Chia thừa kế và chia tài sản thuộc

sở hữu chung” giữa nguyên đơn là ông Lê Văn Tiếu với bị đơn là ông Lê Văn Chỉnh

(anh trai của ông Lê Văn Chảng – PV).

3 Giao hồ sơ vụ án cho TAND TP Hà Nội xét xử lại theo thủ tục sơ thẩm đúng quy định của pháp luật

******************************************

1.Những điểm giống nhau và khác nhau giữa hạn chế năng lực hành vi dân sự

và mất năng lực hành vi dân sự.

Năng lực

hành vi

Hạn chế năng lực hành vi

dân sự

Mất năng lực hành vi dân sự

Giống nhau

_Đều phải có người giám hộ, đại diện cho người được giám hộ trong việc xác lập, thực hiện giao dịch dân sự và thực hiện các quyền khác theo quy định của pháp luật nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người được giám hộ

_Đều do tòa án ra quyết định công bố dựa trên cơ sở kết luận của giảm định pháp y tâm thần, đều dựa vào yêu cầu cảu người có quyền, lợi ích liên quan hoặc cơ quan,tổ chức hữu quan

_Qua đó, sự hủy bỏ quyết định tuyên bố người đó hạn chế năng lực hành vi dân sự hay mất năng lực hành vi dân sự cũng do cơ quan tòa án tuyên bố theo yêu cầu của người đó hoặc người có quyền, lợi ích liên quan hoặc cơ quan tổ chức hữu quan

Trang 5

Khác nhau

Về mặt nguyên nhân :

-Người hạn chế năng lực hành vi dân sự sẽ liên quan đến nghiện các chất kích thích cao, ma túy dẫn đến phá tán tài sản gia đình

- Người hạn chế năng lực hành vi dân sự họ không mất đi năng lực hành vi dân sự mà bị hạn chế trong thực giao dịch dân sự và thực hiện các quyền khác theo quy định của pháp luật trừ giao dịch cơ bản, thiết yếu) mà họ vẫn

có thể tự mình tham gia được một

số giao dịch dân sự nhằm phục vụ cho nhu cầu sinh hoạt của họ

Về mặt nguyên nhân :

-Người mất năng lực hành vi dân sự

là người  mắc bệnh tâm thần hoặc bệnh khác mà không thể nhận thức

và làm chủ được hành vi của mình

- Người mất năng lực hành vi dân sự

không có khả năng để tham gia các hoạt động dân sự, sẽ không còn năng lực hành vi dân sự, không thể tham gia bất kì một giao dịch dân sự nào, các giao dịch dân sự của họ sẽ do người đại diện của họ xác lập và thực hiện

2 Những điểm khác nhau cơ bản giữa người bị hạn chế năng lực hành vi dân

sự và là người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi.

Năng lực hành vi Hạn chế năng lực hành vi

dân sự

Người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành

vi

Khác nhau Về định nghĩa: Người hạn

chế năng lực hành vi dân sự

là người liên quan đến nghiện các chất kích thích cao, ma túy dẫn đến phá tán tài sản gia đình

-Toà án quyết định người đại diện theo pháp luật và phạm vi đại diện

Người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi

là “người thành niên do

tình trạng thể chất hoặc tinh thần mà không đủ khả năng nhận thức, làm chủ hành vi nhưng chưa đến mức mất năng lực hành vi dân sự” Có nghĩa là sau tai

Trang 6

nạn Một người do tai nạn mà bị tổn thương thần kinh, dẫn đến ảnh hưởng đến khả năng nhận thức, làm chủ hành vi trong thời gian điều trị, sau đó có thể xảy ra hai trường hợp : người này sẽ hồi phục hoặc không thể hồi phục hoàn toàn nên vẫn

có đủ nhận thức, làm chủ hành vi của mình, có lúc không nhận thức, làm chủ được hành vi của mình, nhưng chưa đến mức mất đi hoàn toàn năng lực hành vi của mình

Vd : Sau tai nạn bản thân

anh A không còn khả năng

đi lại được nhưng vẫn còn ý thức và có người giám hộ

đại diện cho để thực hiện

giao dịch dân sự và thực hiện các quyền khác theo quy định của pháp luật

-Tòa án chỉ định người

giám hộ, xác định quyền và nghĩa vụ của người giám hộ

3 Trong quyết định trên, Toà án nhân dân tối cao đã xác định năng lực hành vi dân sự của ông Chảng như thế nào?

Căn cứ vào "Biên bản giám định khả năng lao động" số 84/GĐYK-KNLĐ ngày 18/12/2007, Hội đồng giám định y khoa Trung ương - Bộ Y tế xác định ông Chảng:

Trang 7

"Không tự đi lại được Tiếp xúc khó, thất vận ngôn nặng, liệt hoàn toàn ½ người phải Rối loạn cơ tròn kiểu trung ương, tai biến mạch máu não lần 2 Tâm thần: Sa sút trí tuệ Hiện tại không đủ năng lực hành vi lập di chúc Được xác định tỉ lệ mất khả năng lao động do bệnh tật là: 91% " nên trong quyết định trên, Tòa án nhân dân tối cao đã

xác định năng lực hành vi dân sự của ông Chảng là mất năng lực hành vi dân sự

4 Hướng của Toà án nhân dân tối cao trong câu hỏi trên có thuyết phục không? Vì sao?

_Hướng của Toà án nhân dân tối cao trong câu hỏi trên có thuyết phục vì:

Dựa trên căn cứ của quyết định, Tại “Biên bản giám định khả năng lao động” số 84/GĐYK-KNLĐ ngày 18/12/2007, Hội đồng giám định y khoa Trung ương – Bộ Y tế

xác định ông Chảng: “Không tự đi lại được Tiếp xúc khó, thất vận ngôn nặng, liệt hoàn toàn ½ người phải Rối loạn cơ tròn kiểu trung ương, tai biến mạch máu não lần 2 Tâm thần: Sa sút trí tuệ Hiện tại không đủ năng lực hành vi lập di chúc Được xác định tỉ lệ mất khả năng lao động do bệnh tật là: 91% ”

_Vì thế căn cứ theo khoản 1, Điều 22 BLDS 2015 “Khi một người do bị bệnh

tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi thì theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan hoặc của cơ quan, tổ chức hữu quan, Tòa

án ra quyết định tuyên bố người này là người mất năng lực hành vi dân sự trên cơ sở kết luận giám định pháp y tâm thần.” Theo căn cứ trên có thể cho thấy hướng của tòa án

nhân dân tối cao là hoàn toàn thuyết phục, đủ cơ sở để kết luận rằng ông Chảng là

người mất năng lực hành vi dân sự

5 Theo Toà án nhân dân tối cao, ai không thể là người giám hộ và ai mới có thể

là người giám hộ của ông Chảng? Hướng của Toà án nhân dân tối cao như vậy có thuyết phục không, vì sao?

_Theo TANDTC thì bà Bích không thể là người giám hộ của của ông Chảng vì qua kiểm tra xác minh sổ đăng kí kết hôn 2001 của phường không có trường hợp nào đăng kí kết hôn giữa ông Lê Văn Chảng và bà Nguyễn Thị Bích, không xác định tình trạng hôn nhân, lập hồ sơ về đăng kí hộ tịch Vì thế “ Giấy đăng kí kết hôn- đăng kí lại

”( 15/10/2001) do bà Bích xuất trình là không đúng thực tế Do đó theo khoản 1 điều

53 BLDS 2015 “Trường hợp vợ là người mất năng lực hành vi dân sự thì chồng là

người giám hộ; nếu chồng là người mất năng lực hành vi dân sự thì vợ là người giám

Trang 8

hộ” thì bà Bích không đủ điều kiện làm người giám hộ cho ông Chảng Và theo đó thì

hướng giải quyết của TANDTC là hoàn toàn hợp lý

_Trong tài liệu của hồ sơ vụ án thể hiện bà Chung sống chung với ông Chảng từ năm 1975, có tổ chức đám cưới và có con chung và sống với nhau như vợ chồng trước ngày 3/1/1987 Căn cứ vào đó có thể xác định bà Chung và ông Chảng là vợ chồng hợp

pháp (theo khoản 1 điều 9 Luật Hôn nhân gia đình 2014) Vì thế mà dựa khoản 1 điều 53 BLDS 2015 ta có thể kết luận bà Chung mới là người giám hộ đương nhiên của

ông Chảng

6 Cho biết các quyền và nghĩa vụ của người giám hộ đối với tài sản của người được giám hộ (nêu rõ cơ sở pháp lý).

Khoản 3 Điều 55 Nghĩa vụ của người giám hộ đối với người được giám hộ chưa đủ mười lăm tuổi

3 Quản lý tài sản của người được giám hộ

Khoản 2 Điều 56 Nghĩa vụ của người giám hộ đối với người được giám hộ

từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi

2 Quản lý tài sản của người được giám hộ, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác

Điểm c, khoản 1 Điều 57 Nghĩa vụ của người giám hộ đối với người được giám hộ mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi

1 Người giám hộ của người mất năng lực hành vi dân sự có các nghĩa vụ sau đây:

c) Quản lý tài sản của người được giám hộ;

Khoản 1 Điều 58 Quyền của người giám hộ

1 Người giám hộ của người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự

có các quyền sau đây:

a) Sử dụng tài sản của người được giám hộ để chăm sóc, chi dùng cho những nhu cầu thiết yếu của người được giám hộ;

b) Được thanh toán các chi phí hợp lý cho việc quản lý tài sản của người được giám hộ;

Trang 9

c) Đại diện cho người được giám hộ trong việc xác lập, thực hiện giao dịch dân

sự và thực hiện các quyền khác theo quy định của pháp luật nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người được giám hộ

Khoản 1 Điều 59 Quản lý tài sản của người được giám hộ

1 Người giám hộ của người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự

có trách nhiệm quản lý tài sản của người được giám hộ như tài sản của chính mình; được thực hiện giao dịch dân sự liên quan đến tài sản của người được giám hộ vì lợi ích của người được giám hộ

Việc bán, trao đổi, cho thuê, cho mượn, cho vay, cầm cố, thế chấp, đặt cọc và giao dịch dân sự khác đối với tài sản có giá trị lớn của người được giám hộ phải được

sự đồng ý của người giám sát việc giám hộ

Người giám hộ không được đem tài sản của người được giám hộ tặng cho người khác Các giao dịch dân sự giữa người giám hộ với người được giám hộ có liên quan đến tài sản của người được giám hộ đều vô hiệu, trừ trường hợp giao dịch được thực hiện vì lợi ích của người được giám hộ và có sự đồng ý của người giám sát việc giám hộ

7 Theo quy định và Toà án nhân dân tối cao trong vụ án trên, người giám hộ của ông Chảng có được tham gia vào việc chia di sản thừa kế (mà ông Chảng được hưởng) không? Vì sao? Suy nghĩ của anh/chị về hướng xử lý của Toà án nhân dân tối cao về vấn đề vừa nêu.

_Người giám hộ của ông Chảng là bà Bích không được tham gia chia di sản thừa

kế vì:

+Thứ nhất, xét về quan hệ vợ chồng:

Bà Bích không phải là vợ hợp pháp của ông Chảng mà bà Chung mới là

vợ hợp pháp của ông Chảng Vì thế căn cứ theo điểm a, khoản 1, Điều 651 quy định về

người thừa kế theo pháp luật: “Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết” thì bà Chung mới được tham gia

vào việc chia tài sản Tuy nhiên, bà Chung đã mất ngày 19/07/2010 nhưng bà có người thừa kế quyền và nghĩa vụ tố tụng của bà Chung là chị Lê Thị Bích Thủy, sinh năm

1976 và đồng thời chị Thủy cũng là con chung của ông Chảng và bà Chung nên chị Thủy sẽ là người được tham gia chia di sản thừa kế và là người thừa kế hàng thứ nhất của ông Chảng Do đó bà Bích không thể tham gia vào việc chia di sản thừa kế

Trang 10

+Thứ hai, xét về người giám hộ:

Trong quá trình điều tra thì UBND phường Yên Nghĩa, thành phố Hà Nội

và CQCSDT Công an quận Hà Đông, thành phố Hà Nội cũng đã có kết luận bà Bích không phải là vợ hợp pháp của của ông Chảng, và cũng tại thời điểm Tòa giải quyết vụ

án thì bà Bích cũng không đủ điều kiện được cử làm người giám hộ cho ông Chảng theo quy định tại khoản 1 Điều 62 Bộ luật dân sự 2005 nên việc Tòa án cấp sơ thẩm xác định bà Bích là người giám hộ cho ông Chảng là không đúng Do đó bà Bích không thể tham gia vào việc chia di sản thừa kế

_Theo em thì hướng xử lý của Toà án nhân dân tối cao về vấn đề vừa nêu là hợp lý Bởi vì bà Bích không phải là vợ hợp pháp và việc bà là người giám hộ là không

đúng nên nếu không xử lý như thế thì bà Bích sẽ được tham gia vào việc chia di sản thừa kế Điều đó sẽ không công bằng và bảo đảm quyền lợi của bà Chung trong việc trông nom, bảo quản nhà đất cũng như công lao của bà trong việc thực hiện tốt bổn phận làm dâu, làm vợ Đồng thời nếu không xử lý như thế thì chị Thủy là con chung của ông Chảng và và Chung bị mất quyền lợi của hàng thừa kế thứ nhất Nên hướng xử

lý của tòa án như thế là hoàn toàn hợp lý

BÀI TẬP 2: Tư cách pháp nhân và hệ quả pháp lý

1 Những điều kiện để tổ chức được thừa nhận là một pháp nhân (nêu rõ từng điều kiện)

Một tổ chức được công nhận là pháp nhân khi có đủ các điều kiện sau đây:

Căn cứ theo Điều 74 của Bộ Luật Dân sự 2015 quy định

a) Được thành lập theo quy định của Bộ luật này, luật khác có liên quan;

b) Có cơ cấu tổ chức theo quy định tại Điều 83 của Bộ luật này;

c) Có tài sản độc lập với cá nhân, pháp nhân khác và tự chịu trách nhiệm bằng tài sản của mình;

d) Nhân danh mình tham gia quan hệ pháp luật một cách độc lập

Căn cứ theo Điều 84 của Bộ Luật Dân sự 2005 quy định

1 Được thành lập hợp pháp;

2 Có cơ cấu tổ chức chặt chẽ;

Ngày đăng: 08/11/2022, 15:24

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w