1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

VIỆT bắc full chi tiết

14 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Việt Bắc
Tác giả Tố Hữu
Trường học Trường Đại Học Sư Phạm Hà Nội
Chuyên ngành Văn học
Thể loại Bài luận văn, Nghiên cứu
Năm xuất bản 2002
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 14
Dung lượng 107,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

VIỆT BẮC Tố Hữu I Giới thiệu chung 1 Tác giả ( 1920 2002) Thuộc thế hệ sinh rs trong cảnh nước mất nhà tan , Tố Hữu không tự nhận mình sinh nhầm thế kỉ trong lúc bạn bè cùng trang lứa chìm trong “cái tôi” cô đơn thì Tố Hữu đã băn khoăn đi kiếm lẽ yêu đời Và người thanh niên giàu nhiệt huyêt ấy dã bắt gặp ánh sáng của lí tưởng cộng sản 18 tuổi Tố Hữu được kết nạp vào ĐCS Tố Hữu trở thành ngọn cờ đầu của thơ ca cách mạng Việt Nam, là nhà thơ lớn của dân tộc Việt Nam Các chặng đường thơ của Tố Hữu.

Trang 1

VIỆT BẮC

-Tố

Hữu-I.Giới thiệu chung

1.Tác giả ( 1920-2002)

-Thuộc thế hệ sinh rs trong cảnh nước mất nhà tan , Tố Hữu không tự nhận mình sinh nhầm thế kỉ trong lúc bạn bè cùng trang lứa chìm trong “cái tôi” cô đơn thì Tố Hữu đã băn khoăn

đi kiếm lẽ yêu đời Và người thanh niên giàu nhiệt huyêt ấy dã bắt gặp ánh sáng của lí tưởng cộng sản 18 tuổi Tố Hữu được kết nạp vào ĐCS

-Tố Hữu trở thành ngọn cờ đầu của thơ ca cách mạng Việt Nam, là nhà thơ lớn của dân tộc Việt Nam

- Các chặng đường thơ của Tố Hữu song hành với các chặng đường phát triển của cách mạng VIệt Nam

2.Tác phẩm

a.Hoàn cảnh ra đời

-Cuộc kháng chiến 3000 ngày kết thúc thắng lợi vẻ vang Hiệp định Giơ-ne-vơ được kí kết,

hòa bình lập lại trên một nửa đất nước

-10-1954, cơ quan trung ương Đảng và chính phủ từ chiến khu Việt Bắc trở về thủ đô để chuẩn bị bước vào nhiệm vụ mới Nhân sự kiện lịch sử trọng đại này Tố Hữu đã viết bài thơ “ Việt Bắc” để ghi lại những giây phút thiêng liêng không thể lãng quên trong tâm thức dân tộc

b.Bố cục

-Bài thơ gồm 150 câu thơ

+90 câu đầu: Những hoài niệm về cuộc kháng chiến chống Pháp

+Còn lại: Viễn cảnh tương lai hai miền xuôi ngược chung tay xây dựng đất nước, ca ngợi công ơn của Đảng, Bác

c.Thể thơ: Lục bát truyền thống, giàu nhạc điệu, ngôn từ giản dị,mộc mạc, giàu hình ảnh Tố

Hữu đã có sáng tạo độc đáo đưa thể thơ lục bát lên một tầm cao mới, đạt đến trình độ nhuần nhuyễn

d.Kết cấu đối đáp

-Đây là lối đối đáp quen thuộc trong ca dao về tình yêu và nhũng câu hát giao duyên

-Bình cũ rượu mới- hình thức nghệ thuật cũ nhưng nội dung mới: không phải chuyện tình yêu, nỗi nhớ nhung của những chàng trai cô gái sau lũy tre làng, bên gốc đa, giếng nước mà

Trang 2

là nghĩa tình của nhân dân với cách mạng trong bối cảnh hào hùng của lịch sử dân tộc -> trữ tình đằm thắm dễ đi vào lòng người

e.Đại từ “mình”-“ta”: để diễn tả tình cảm công dân của hàng vạn, hàng triệu con người nhà

thơ đã chọn cho bài thơ một lối xưng hô thật phù hợp: ta-mình.Lối xưng hô này đậm chất dân gian, rất quen thuộc trong ác bài ca dao dân ca về tình yêu

 Cách xưng hô này đem đến một sắc thái ý nghĩa thân mật, gần gũi vì tình cảm con người phải thật gắn bó, người ta mới xưng hô là ta-mình Tuy nhiên, ttheo cách hiểu thông thường

“ta” và “mình” chỉ số ít, được nhà thơ chuyển sang số nhiều Ta là đại từ nhân xưng ngôi thứ nhất Còn mình có thể cả ngôi thứ nhất và ngôi thứ hai Nhưng trong bài thơ “ta”-“mình” hiểu còn linh hoạt hơn hiểu chung cho cả người đi kẻ ở Có lúc không phân biệt được rõ ràng

giữa ta-mình vì có lúc “ta” chỉ người ở lại, có lúc ta lại chỉ người ra đi Lối sử dụng từ ngữ

như vậy càng làm rõ sự khăng khít gắn bó nghĩa tình giữa người đi và kẻ ở.

II.Kiến thức trọng tâm

1,Khổ 1: Lời của người ở lại

Mình về mình có nhớ ta

Mười lăm năm ấy thiết tha mặn nồng.

Mình về mình có nhớ không

Nhìn cây nhớ núi, nhìn sông nhớ nguồn?

-Trong đoạn thơ, cặp đại từ mình-ta đứng ở đầu câu thơ thứ nhất gợi ra một khoảng không gian của sự xa cách,hai con người ở hai đầu nỗi nhớ Một chư xta đứng cạnh bốn chữ mình cho thấy đối tượng người ở lại muốn nói tới là “mình”-người ra đi Đối với người ra đi, đi cũng có nghĩa là về-trở về quê hương trở về gia đình, trở về nơi phồn hoa đô hội cuộc trở về này là cuộc trở về mong đợi nên dễ làm người ta lãng quên Vì thế, trong lòng người ở lại hình thành một nỗi băn khoăn thật lớn không biết người ra đi có nhớ những ngày tháng nghĩa tình Hai câu hỏi cất lên đều xoay quanh điệp ngữ “ có nhớ”, gợi một nỗi niềm đau đáu nhớ thương, lo lắng và những băn khoăn của người ở lại

-Vế thứ hai của câu hỏi mang ý nghĩa gợi nhớ

+ Nếu “ mười lăm năm”là cụm từ chỉ một thời gian dài với biết bao kỉ niệm thì các từ láy

“thiết tha”, “ mặn nồng” lại diễn tả những tình cảm thật đằm thắm, vừa là tình, vừa là tình, vừa là nghĩa

+ Người ở lại không chỉ gợi nhớ nghĩa tình trong lòng người ra đi mà còn gợi lại một Việt Bắc hùng vĩ với cây,núi, sông, nguồn giữa đại ngàn hoang sơ Chữ nguồn còn mang ý nghĩa

là nguồn cội ý muốn nhắc trong lòng người ra đi về Việt Bắc- cội nguồn của kháng chiến

2,Khổ 2: Lời người ra đi

- Tiếng ai tha thiết bên cồn

Trang 3

Bâng khuâng trong dạ, bồn chồn bước đi

Áo chàm đưa buổi phân li

Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay

-Tha thiết với bao nỗi niềm là tâm trạng của người ở lại Tâm trạng ấy đã tạo nên nỗi buâng khuâng bồn chồn trong lòng người ra đi: buâng khuâng tưởng nhớ, buâng khuâng với những lưu luyến, bịn rịn Bồn chồn vì trong lòng ngổn ngang bao nỗi niềm tâm sự, bao điều muốn nói mà chưa nói hết.Ở đây có sự đồng vọng giữa hai tâm trạng: tâm trạng người ở lại và tâm trạng người ra đi

-“Phân li” là từ HánViệt, mang đậm sắc thái tâm trạng : « phân » là chia cắt, « li » là li biệt Trong buổi chia li đó, hình ảnh của người ở lại thân thương trong màu áo chàm, gợi nhớ, gợi thương da diết Cử chỉ cầm tay nhau diễn tả bao xúc động-nhưng chưa thể diễn tả bằng lờivì cảm xúc đến thật mạnh mẽ, thật bất ngờ không lời nào nói hết, đó cũng là lời chào tạm biệt, lời động viên tiếp sức cho nhau bước vào nhiệm vụ mới

-Dấu ba chấm cuối dòng thơ thứ tư là một khoảng lặng diến tả bao nỗi niềm buâng khuâng

3.Đoạn 3: Lời người ở lại

*Khái quát:Đoạn thơ có12 câu nhưng có lối cấu trúc tương đồng với lời thoại thứ nhất của người ở lại Lời thoại thứ nhất chỉ có 2 câu hỏi còn lời thoại thứ hai có 6 câu hỏi Những câu hỏi được đặt ra nhiều hơn diễn tả những băn khoăn còn lớn hơn trước vì người đi chưa đáp lời chưa bày tỏ lòng mình với người ở lại Sáu câu hỏi đều xoay quanh một chữ

“nhớ”.Điệp ngữ “có nhớ” được lặp lại 6 lần diễn tả những nỗi băn khoăn đầy tình nghĩa, nỗi

lo lắng, nuối tiếc sợ rằng tình nghĩa trong quá khứ sẽ ngày một phai nhạt

a.Bốn câu đầu: Những câu hỏi gọi nhắc lại những kỉ niệm trong kháng chiến gian khổ

Mình đi, có nhớ những ngày

Mưa nguồn suối lũ, những mây cùng mù

Mình về, có nhớ chiến khu

Miếng cơm chấm muối, mối thù nặng vai?

-Câu hỏi tu từ thứ nhất: Việt Băc hỏi: mình đi có nhớ những ngày mà ta và mình đã sống chung với lũ, cùng với sự khắc nghiệt của thời tiết “những mây cùng mù hay không” Câu hỏi

đã khơi gợi trong lòng người ra đi những ngày gian khó Những ngày ấy “ giặc đến giặc lùng” để bảo vệ cách mạng non trẻ, cán bộ và nhân dân Việt Bắc đã phải rút vào rừng sâu chịu cảnh “nếm mật nằm gai” chờ thời cơ đến Thời tiết ở đây khắc nghiệt dữ dội “mưa nguồn suối lũ” , lạnh lẽo “ mây cùng mù” những hình ảnh ấy là ẩn dụ cho những ngày tháng vất vả, cực khổ gian nan của cán bộ và nhân dân Việt Bắc mà suốt đời có khi nào quên

- Câu hỏi tu từ thứ 2: Gợi nhắc đến chiến khu với sự thiếu thốn về vật chất “ miếng cơm chấm muối” Ngày ấy, dân ta còn nghèo, trang thiết bị còn thô sơ, lương thực thì lại càng hạn

Trang 4

chế Nhắc đến “ miếng cơm chấm muối” lại quặn lòng vì đói, vì gian khổ thiếu thốn Nhưng

họ tạm quên đi nhũng khó khăn ấy bởi phải gánh vác một nhiệm vụ nặng nề, to lớn: Đó là mối thù giặc Pháp đang đè nặng trên đôi vai của dân tộc

b.Bốn câu tiếp theo:Kỉ niệm gắn bó với thiên nhiên núi rằng kháng chiến, con người nặng nghĩa nặng tình.

Mình về, rừng núi nhớ ai

Trám bùi để rụng, măng mai để già

Mình đi, có nhớ những nhà

Hắt hiu lau xám, đậm đà lòng son

-Câu hỏi tu từ thứ nhất gợi tình cảm thiên nhiên với con người Cách nói “rừng núi nhớ ai”

là nghệ thuật nhân hóa gợi nỗi niềm buâng khuâng da diết “Rừng núi” là hoán dụ chỉ người Việt Bắc Từ “ai” trong “nhớ ai” là chỉ người cán bộ Trám và măng là lương thực chủ yếu của bộ đội ta khi còn ở Việt Bắc Nay người ra đi rồi, trám để rụng, măng để già không người thu hái nên nỗi nhớ buồn mênh mông Thiên nhiên mang nỗi buồn thiếu vắng Thiên nhiên như nặng tình nặng nghĩa với con người

-Câu hỏi tu từ thứ hai: Gợi nhớ những con người Việt Bắc Câu thơ có hai hình ảnh tương phản: những ngôi nhà lá đơn sơ, mộc mạc, nghèo khổ trong dáng vẻ “ hắt hiu lau xám” gợi nỗi buồn hiu quạnh Bên trong những ngôi nhà ấy lại chứ đựng tấm lòng son sắt thủy chung, nghĩa tình của nhân dân Việt Bắc với cách mạng

c.Bốn câu cuối: gợi nhắc những sự kiện lịch sử gắn với những địa danh, những tên gọi

đã trở thành điểm mộc chiến khu

Mình về, còn nhớ núi non

Nhớ khi kháng Nhật, thuở còn Việt Minh

Mình đi, mình có nhớ mình

Tân Trào, Hồng Thái, mái đình cây đa?

-Câu hỏi tu từ thứ nhất:Gợi nhắc người đi hãy nhớ về núi rừng Việt bắc nơi căn cứ địa kháng chiến cùng với hai sự kiện: Phong trào kháng Nhật năm 1940 khi Nhật xâm lược nước ta Phong trào Việt Minh được thành lập năm 1941 Đây là phong trào lớn đã tạo thành một mặt trận vũ trang góp phần làm nên chiến thắng của cách mạng tháng Tám và tiền đề cho những thắng lợi chống Pháp sau này

-Câu hỏi tu từ thứ hai: “Mình đi, mình có nhớ mình” Chữ “mình” thứ nhất chỉ người cán bộ,

chữ “mình” thứ hai chỉ Việt Bắc Cả hai chữ “mình” cũng có thể hiểu là một( kẻ đi, người ở

đã hòa vào nhau Đi hay ở đều cùng một tâm trạng buồn nhớ như nhau) Hình ảnh cây đa Tân Trào gợi nhắc sự kiện lịch sử ngày 2-12-1944-đồng chí Võ Nguyên Giáp làm lễ xuất quân cho Việt Nam tuyên truyện giải phóng quân ( sau này là quân đội nhân dân Việt Nam) Mái

Trang 5

đình Hồng Thái gợi nhắc những cuộc họp quan trọng mang tầm chiến lược đi đến sự thắng lợi của cách mạng

*Nghệ thuật

-Thể thơ lục bát

-Cách xững hô: mình –ta ngọt ngào thắm thiết

-Ngôn ngữ giản dị

-Sử dụng nhiều câu hỏi tu từ, nghệ thuật hoán dụ, tương phản điệp từ “ nhớ”

-Phép điệp :”mình đi:-“mình về” như một khúc nhạc cứ vang lên ,ngân nga trong lòng người

4.Đoạn 4: Lời người ra đi

Ta với mình, mình với ta

Lòng ta sau trước mặn mà đinh ninh

Mình đi, mình lại nhớ mình

Nguồn bao nhiêu nước nghĩa tình bấy nhiêu

-Câu thơ thứ nhất, cặp đại từ « mình »-« ta » xuất hiện với tần số cao Câu lục có 6 chữ mà có tới 2 chữ « ta », 2 chữ « mình » Từ « với »lặp lại 2 lần nối giữa 2 đại từ tạo thành một cấu trúc song hành gắn bó : « ta với mình » sau đó đổi ngược lại « mình với ta » Cách diễn đạt cho thấy tình cảm quấn quýt, vấn vương không lỡ rời xa của người ra đi

-Cuối cùng người ra đi cũng có câu trả lời cho người ở lại Trong câu trả lời có 3 điều đáng nói Điều thứ nhất là người ra đi vẫn nhớ người ở lại Điều thứu hai giữa họ không chỉ có tình

mà còn có nghĩa, hơn nữa nghĩa và tình không sao kể hết « Nguồn bao nhiêu nước nghĩa tình bấy nhiêu »Thứ 3, quan hệ tình nghĩa ấy là mãi mãi, không boa giờ phai nhạt theo thời

gian, trước sau không thay đổi, đinh ninh bền vững như một lời thề

-Người ra đi đã dừng lời nhưng có bao điều muốn nói Sự xuất hiện của dấu chấm lửng diễn

tả một khoảng lặng dành cho sự tưởng nhớ Trong khoảng lặng đó, người ra đi sống lại những hồi ức về Việt Bắc

5.Nỗi nhớ về Việt Bắc của người ra đi : Nhớ cuộc sống sinh hoạt trên quê hương cách mạng

Nhớ gì như nhớ người yêu

Trăng lên đầu núi, nắng chiều lưng nương

Nhớ từng bản khói cùng sương

Sớm khuya bếp lửa người thương đi về.

Nhớ từng rừng nứa bờ tre

Trang 6

Ngòi Thia sông Ðáy, suối Lê vơi đầy

Ta đi, ta nhớ những ngày

Mình đây ta đó, đắng cay ngọt bùi

Thương nhau, chia củ sắn lùi

Bát cơm sẻ nửa, chăn sui đắp cùng

Nhớ người mẹ nắng cháy lưng

Ðịu con lên rẫy bẻ từng bắp ngô

Nhớ sao lớp học i tờ

Ðồng khuya đuốc sáng những giờ liên hoan

Nhớ sao ngày tháng cơ quan

Gian nan đời vẫn ca vang núi đèo.

Nhớ sao tiếng mõ rừng chiều

Chày đêm nện cối đều đều suối xa

a 6 câu đầu: Không gian cảnh vật quen thuộc

-Câu thơ mở đầu vừa bất ngờ vừa đặc sắc: “Nhớ gì như nhớ người yêu” Tình nghĩa cách mạng được nhà thơ biểu đạt bằng nỗi nhớ ngọt ngào của tình yêu đôi lứa.Trong câu thơ cảm xúc riêng chung như hòa quyện Đây cũng là nét đẹp của thơ trữ tình-chính trị Câu thơ đã chạm đến tình cảm của những con người Việt Nam trong kháng chiến gian khổ ân tình Trong kháng chiến chống Mĩ nhà thơ Chế Lan Viên cũng có những ý thơ thật xúc động về sự hòa quyện giữa tình yêu và quê hương đất nước với tình cảm gia đình

Ôi tổ quốc ta yêu như máu thịt

Như mẹ như cha như vợ như chồng

-Những câu thơ tiếp theo mở ra vẻ đẹp của núi rừng Việt Bắc ở những không gian , thời điểm khác nhau nhưng đều rất thi vị nên thơ

Trăng lên đầu núi, nắng chiều lưng nương

Nhớ từng bản khói cùng sương

Sớm khuya bếp lửa người thương đi về.

Nhớ từng rừng nứa bờ tre

Ngòi Thia sông Ðáy, suối Lê vơi đầy

Gắn bó máu thịt với Việt Bắc cùng sự quan sát tinh tế của tâm hồn nhạy cảm dễ xúc động giúp nhà thơ đã phát hiện ra những khoảng khắc kì diệu nhất của núi rừng: Trăng lấp ló trên những rặng núi; đó là lúc nắng chiều sắp tắt trên những thửa ruộng bậc thang giống như

Trang 7

những cánh quạt khổng lồ;Đó còn lúc sớm mai nhìn ra thấy những bản làng ẩn hiện bồng bềnh trong sương khói Cảnh thực mà như mộng in đậm trong tâm khảm người kháng chiến

Để lúc chia xa thấy lòng mình trào dâng một nỗi nhớ thiết tha

-Việt Bắc là quê hương của tre nứa và rừng nứa bờ tre đã trở thành kỉ niệm bởi nó đã từng

“che bộ đội”, “vây quân thù” Rồi những dòng sông con suối, những địa danh đã có tự bao giờ Những tên đất tên làng đã ra đời từ thời kháng chiến.Đất nước giờ đây đã trở thành niềm thương, trở thành nguồn cội, thành quê hương yêu dấu

b.Sáu câu tiếp:cuộc sống chiến khu, nghĩa tình của đồng bào Việt Bắc

Ta đi, ta nhớ những ngày

Mình đây ta đó, đắng cay ngọt bùi

Thương nhau, chia củ sắn lùi

Bát cơm sẻ nửa, chăn sui đắp cùng

Nhớ người mẹ nắng cháy lưng

Ðịu con lên rẫy bẻ từng bắp ngô

-4 Câu đầu: Vận dụng cách nói quen thuộc trong ca dao, nhà thơ đã sáng tạo nên những hình

ảnh thơ ý nghĩa biểu tượng cho tấm lòng thủy chung son sắt với cách mạng Đó là những tháng ngày đắng cay ngọt bùi đồng cam cộng khổ giữa nhân dân với cách mạng, là sự

nhường nhịn chia sẻ đầy tình nghĩa “ Bát cơm sẻ nửa, chăn sui đắp cùng”- vật chất thật

nghèo nàn Dù cuộc sống có thiếu thốn trăm bề nhưng những người dân Việt Bắc vẫn cương quyết mộ lòng theo kháng chiến

-Và nhớ nhất, đẹp nhất về những người Việt Bắc chịu thương chịu khó, hết lòng chắt chiu cho

kháng chiến đã được khắc họa đậm nét và gợi cảm qua hình ảnh nguwoif mẹ Việt Bắc địu

con lên nương: Nhớ người mẹ nắng cháy lưng

Ðịu con lên rẫy bẻ từng bắp ngô

Hai dòng thơ làm toát lên nét đẹp của người phụ nữ Việt Nam muôn đời tần tảo, gánh vác việc nhà việc nước, nhân hậu, vị tha giàu đức hi sinh Câu thơ của Tố Hữu cho ta nhớ đến những câu thơ của Chế Lan Viên

Con nhớ mế!lửa hồng soi tóc bạc

Năm con đau,mế thức một mùa dài.

Con với mế không phải hòn máu cắt

Nhưng trọn đời con nhớ mế ơn nuôi.

c.6 câu còn lại: Nỗi nhớ về cuộc sống sinh hoạt trên quê hương cách mạng

Nhớ sao lớp học i tờ

Ðồng khuya đuốc sáng những giờ liên hoan

Nhớ sao ngày tháng cơ quan

Trang 8

Gian nan đời vẫn ca vang núi đèo.

Nhớ sao tiếng mõ rừng chiều

Chày đêm nện cối đều đều suối xa

-Việt Băc chở che, cưu mang, đùm bọc cho kháng chiến thì kháng chiến lại đem đến cho Việt Bác một sinh khí mới vui tươi nhộn nhịp Những lớp học bình dân học vụ đêm đêm lại vang lên tiếng học bài Những cánh đồng khi đêm xuống vẫn hăng say lao động Sau một ngày làm việc lại là những giây phút vui liên hoan văn nghệ.Tất cả đã in sâu để nhắc mãi về những năm tháng không thể nào quên Cảm giác âm u, heo hút của núi rừng bị đẩy lùi chỉ còn lại niềm hân hoan phấn chấn

-Cuộc sống Việt Bắc trong hoài niệm thật thanh bình êm ả Những âm thanh của tiếng chày đêm đêm, tiếng mõ rừng chiều có sức ngân vang lay động Nó gợi nhớ về một vùng đất đã trở thành điểm tựa, thành niềm hi vọng của mỗi người Việt Nam yêu nước

6.Nỗi nhớ cảnh và người trên quê hương cách mạng ( Bức tranh tứ bình)

Ta về, mình có nhớ ta

Ta về ta nhớ những hoa cùng người

Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi

Ðèo cao nắng ánh dao gài thắt lưng.

Ngày xuân mơ nở trắng rừng

Nhớ người đan nón chuốt từng sợi giang

Ve kêu rừng phách đổ vàng

Nhớ cô em gái hái măng một mình

Rừng thu trăng rọi hoà bình

Nhớ ai tiếng hát ân tình thuỷ chung.

a.Câu 1,2

-Đoạn thơ mở đầu bằng một câu hỏi để người ra đi bày tỏ nỗi niềm với người ở lại, đồng thời gợi nhớ trong lòng người Việt Bắc Trong nỗi nhớ của người ra đi, « hoa », « người » quấn quýt hài hòa với nhau, tứclà nỗi nhớ cảnh đan xen với nhớ người chữ « những », « cùng » để diễn tả vô vàn những hình ảnh về nỗi nhớ không thể nào kể hết

b.Mùa đông

Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi

Ðèo cao nắng ánh dao gài thắt lưng.

-Thiên nhiên : Đây cũng là mùa đông đầu tiên sau khi đất nước được hòa bình nên cảnh vật như bừng sáng Mặc dù trong cảnh đông lạnh lẽo vẫn là rừng xanh, là màu đỏ tươi của hoa chuối người nghệ sĩ đặt hai gam màu ấm nóng trong sự tương phản làm cho thiên nhiên như lấp lánh đầy ánh sáng

Trang 9

-Con người : Hình ảnh con người hiện ra qua cách miêu tả gián tiếp Chỉ một chi tiết « nắng ánh, dao già thắt lưng » cũng đã làm nổi bật lên hình ảnh con người trong khung cảnh lao động Đó là những con người không còn âm thầm trong khiếp sống ngựa trâu Họ là những con người trong kỉ nguyên độc lập tự do, làm chủ cuộc sống làm chủ núi rừng với tầm vóc sánh ngang cũng vũ trụ Trong bức tranh thơ, người lao động đã trở thành trung tâm có sức tỏa sáng xung quanh

c.Mùa xuân

Ngày xuân mơ nở trắng rừng

Nhớ người đan nón chuốt từng sợi giang

-Thiên nhiên : Câu thơ thứ nhất đem đến một cảm giác thật thi vị Sau một giấc ngủ đông dài thiên nhiên tạo vật như bừng thức muôn hoa khoe sắc, làm cho Việt Bắc những ngày xuân như trong cõi mộng cõi mơ Vói cách diễn đạt tài hoa nhà thơ không chỉ miêu tả cái vẻ đẹp bên ngoài mà còn miêu tả vẻ đẹp bên trong của cảnh vật Trong sắc xuân tràn trề, trong màu trắng ngập tràn của hoa mơ, thiên nhiên Việt Bắc nhẹ nhàng với vẻ đẹp vừa dịu dàng vừa thanh khiết

-Con người : Câu 2đã thể hiện thật gợi cảm từng động tác của những con người đang cần mẫn

say mê làm việc.Từ những sợi giang- những vật liệu tưởng như bé nhỏ cũng được « chuốt

»-được vót thật đẹp, thật trơn, thật đều Hai từ « chuốt » và « từng » cho thấy sư tỉ mỉ, cần mẫn khéo léo của những bàn tay lao động tài hoa Bàn tay của con người trên quê hương cách mạng không chỉ mạnh mẽ khi cầm súng, cầm quốc mà còn rất tìa hoa làm ra những chiếc nón đan bằng sợi giang Sản phẩm mang đặc trưng của một vùng đất anh hùng cũng là quê hương của tre nứa

d.Mùa hạ Ve kêu rừng phách đổ vàng

Nhớ cô em gái hái măng một mình

-Thiên nhiên : Nhà thơ đã sử dụng tiếng ve kêu, sắc vàng của rừng phách như một tín hiệu để báo hè về Sự chuyển mùa của thiên nhiên đã được gợi tả đặc sắc qua chữ « đổ » Tiếng ve vừa vang lên cả rừng phách chuyển sang màu vàng rực trong cái nắng chói chang của mùa

hè làm cho không gian rộng lớn như lai láng sắc vàng Với nghệ thuật chuyển đổi cảm giác nhà thơ đã cho thấy cái kì diệu của thiên nhiên Từ âm thanh của tiếng ve kêu đến sắc vàng của rừng phách cho người đọc hình dung tưởng tượng những chú ve kêu gọi rừng phách đổ vàng, cả rừng phách đổ vàng gọi tiếng ve ngân nga

-Con người : Con người Việt Bắc hiện lên trong sựu trẻ trung yêu đời Trong khu rừng lộng lẫy hoa vàng là hình ảnh một thiếu nữ vùng cao hái măng Vẻ đẹp của khu rừng tôn lên vẻ đẹp người thiếu nữ hay ngược lại Với biện pháp điệp vần láy phụ âm đầu,nhà thơ làm cho câu thơ thêm giàu tính nhạc giúp người đọc hình dung ra một cô gái hồn nhiên, nhí nhảnh đang say sưa lao động.Mặc dù « một mình » nơi rừng vắng nhưng dường như người thiếu nữ không biết đến cô đơn mà cứ say mê mải miết lao động

e.Mùa thu

Rừng thu trăng rọi hoà bình

Nhớ ai tiếng hát ân tình thuỷ chung.

Trang 10

-Thiên nhiên : Cảnh thu vốn đã mơ màng trong không khí thanh bình lại càng như man mác xao xuyến hơn 5 thanh bằng của câu lục đã cho ta cảm nhận rõ điều này.Nhắc đến mùa thu, khó có thể quên được hững đêm trăng sáng Từ « rọi » miêu tả những luồng sáng từ trên cao chiếu xuống gợi một khung cảnh tràn trề ánh trăng trong trẻo tươi mát Vẻ đẹp của ánh trăng cho người đọc cảm nhận về sự bình yên Vì thế nhà thơ sử dụng hai từ « hòa bình »- phút giây thơ mộng, bình yên đến bất ngờ tưởng như nơi đây chưa biết đến chiến tranh và sự hủy diệt

- Con người : Con người Việt Bắc hiện lên qua tiếng hát dìu dặt, da diết trong đêm Nhà thơ không miêu tả hình thức cũng không miêu tả nội dung tiếng hát mà chỉ nói lên ấn tượng mà tiếng hát mang lại Song ta vẫn thấy được bao ý nghĩa sâu xa của tiếng hát đã được thử thách qua bao cay đắng ngọt bùi, qua máu lửa đấu tranh để hôm nay cất thành lời ca tha thiết réo rắt lòng người Trong giờ phút biệt li, chia tay với một chặng đường đầy vinh quang, kẻ ở người

đi người đi nghe tiếng hát đều thổn thức bồi hồi

*Nghệ thuật

-Đại từ « mình »-« ta » uyển chuyển linh hoạt

-Thể thơ lục bát với âm điệu nhịp nhàng tình cảm

-Cách miêu tả giàu hình ảnh, sử dụng nhiều động từ và hình ảnh giàu tính biểu cảm

-Điệp từ « nhớ » biến hóa linh hoạt để lại trong bao dư vị khó quên…

7 Đoạn 7,8,9 : Hình ảnh về cuộc kháng chiến ở Việt Bắc qua nỗi nhớ của người ra đi a.Đoạn 7

Nhớ khi giặc đến giặc lùng

Rừng cây núi đá ta cùng đánh Tây

Núi giăng thành luỹ sắt dày

Rừng che bộ đội rừng vây quân thù

Mênh mông bốn mặt sương mù

Ðất trời ta cả chiến khu một lòng.

Ai về ai có nhớ không?

Ta về ta nhớ Phủ Thông, đèo Giàng

Nhớ sông Lô, nhớ phố Ràng

Nhớ từ Cao-Lạng nhớ sang Nhị Hà

- Nhớ khi giặc đến giặc lùng : hồi tưởng kháng chiến ở những ngày đầu với những thử thách

cam go nhất : giặc mở những cuộc càn quét, tấn công lên Việt Bắc nhằm tiêu diệt đầu não kháng chiến cuộc kháng chiến và vận mệnh dân tộc đứng trước nguy cơ nghìn cân treo sợi tóc : một bên là quân đội viễn chinh thiện chiến lành nghề, một bên là chính quyền cách mạng còn non trẻ của một quốc gia nhỏ bé dựa vào một vùng đất nghèo khổ, thiếu thốn trăm

để kháng chiến

Ngày đăng: 08/07/2022, 22:08

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w