Nghiên cứu di sản văn hóa Việt Nam trong xã hội đương đại là cuốn sách thứ tư trong Tủ sách Khoa học xã hội, được thực hiện với sự tài trợ của Viện Harvard Yenching. Cuốn sách tập hợp chín bài viết về di sản văn hóa từ các góc nhìn khác nhau của các nhà nghiên cứu nhân học và văn hóa học, mời các bạn cùng tham khảo nội dung phần 2 cuốn sách.
Trang 1cả nhiều giai thoại, truyền thuyết dân gian mang đậm màu sắc huỵến hoặc, nhiệm mẩu Ở đây, tôi rất quan tâm tới dạng thức truyền thuyết m ở cõi thời Đàng Trong buổi đẩu, đặc biệt là lẻ hội Bà Tơ ở vùng Huế, cho đến lệ Bà Thu Bồn ở Quảng Nam, hay đến tận Phú Yên với lễ hội Phù Quận công Lương Văn C hánh.1
Linh hổn của một di tích, lễ hội, thường được kết tinh từ một trong hai quá trình: lịch sử hóa truyền thuyết, hoặc truyén thuyết hóa lịch sử Các giai thoại
cá voi cứu người, rái cá hoặc trâu xuất hiện kịp thời cứu nguy cho chúa tôi Nguyễn Ánh lúc bôn tẩu thuộc vể dạng thức đâu tiên, từ truyền thuyết dân gian được đưa vào chính sử.2 Ở dạng thức thứ hai, lễ hội Bà Tơ là m ột trường hợp đặc biệt, phát xuất từ sự kiện lịch sử ghi nhận m ột nữ ân nhân từng
1 Về vấn đề này, tôi đã có một số kết quả khảo sát bước đẩu: (2010), "Người Việt đi về phương Nam: Truyền thuyết mở cõi thời Đàng Trong buổi đầu ở vùng Huế (trường hợp
sự tích Bà Tơ)" tham luận tại Hội thảo khoa học quốc tế Vàn hóa trong thế giới hội nhập, Trường Đại học Văn hóa Hà Nội, ngày 25/11, H.: Nxb VHTT, (2011), Lẻ hội Bà Thu Bổn (Quàng Nơm), H.: Viện Văn hóa Nghệ thuật VN (đề tài NCKH); (2011), "Dấu ấn 'Việt' trên vùng đất mới: trường hợp lẻ hội Phù Quận cỏng Lương Văn Chánh", tham luận tại Hội
thảo khoa học quốc tế Di sản vàn hóa Nom Trung Bộ với sự phát triền du lịch trong hội nhập quốc tế, Phú Yên.: Bộ VH, TT&DL - UBND tỉnh Phú Yên, 2/4).
2 Quốc sử quán triều Nguyễn (1972), Quốc triều chánh biên toát yếu, Nhóm Nghiên cứu Sử Địa Việt Nam, Sài Gòn, tr 5- 9; Quốc sử quán triều Nguyễn (2002), Đại Nơm thực lục, Nxb
Giáo dục, tập 1, Hà Nội, tr 217 - 218.
Trang 2194 I Lễ hội Bà Tơ ở vùng Huế
cứu nguy chúa Tiên Nguyễn Hoàng Sau khi chết, Bà được tôn xưng Quốc tỷ Thánh Mẫu, hiển linh, được lập miếu thờ và đến nay, dân gian vẵn còn truyẻn tụng nhiều truyền tích vê' Bà
Điểm đáng ghi nhận là các dạng thức truyền thuyết, dù được diễn tả dưới góc
độ nào, m ang lớp áo vản hóa nào đi nữa, cũng mang đậm tính chất thiêng liêng, trở th àn h sức sống chính yếu, xuyên suốt của di tích, lễ hội Các chương trình mục tiêu quốc gia vể văn hóa, đặc biệt là chương trình văn hóa phi vật thể, trùng tu tôn tạo và chống xuống cấp di tích, mục tiêu nguyên ủy, vẫn
là ưu tiên đẩu tư kịp thời, hữu hiệu cho các di sản văn hóa đang đứng trước nguy cơ bị m ai một, xuống cấp Lập hổ sơ để di sản văn hóa được công nhận,
từ cấp tỉnh - quốc gia - UNESCO là nhu cẩu tiên quyết để khẳng định giá trị, kêu gọi và thu hút đẩu tư Tuy nhiên, do kinh phí khó khăn, vận hành theo nguyên tắc hành chính nên xu hướng “hành chính hóa” trở nên phổ biến, với nhiều hệ quả, như cách đặt vấn đề của Oscar Salemink, là quá trình “di sản hóa” văn hóa ở Việt Nam diễn ra ổ ạt, dẫn đến m ột quá trình khách quan hóa,
đồ vật hóa và chiếm đoạt các thực hành văn hóa.1 Có nghĩa là quá trình hành chính hóa lễ hội dân gian, sự can thiệp m ạnh của cơ quan nhà nước, cụ thể
là ngành văn hóa và du lịch vào di sản văn hóa ngày càng được cổ súy, trên
cơ sở có sự trợ lực, có khi trở thành đổng lõa, thỏa hiệp cùa các chủ trương, chính sách bảo tồn và phát huy giá trị của các di sản văn hóa truyền thống, của Đảng và Nhà nước Việt Nam cho đến của UNESCO Ở đó, thực sự đã
có tình trạng đẩy m ạnh quá trình lập hổ sơ, quá chú trọng đến hình thức và
số lượng, trở thành m ột cuộc chạy đua từ địa phương đến quốc gia, mà chưa thực sự chú tâm đến chất lượng, hiệu quả, làm phá vỡ kết cấu và không gian
đương đại), Oxon, ox, UK, tr 158-180.
2 Salemink, Oscar (2012), '"Di sỏn hóa' văn hóa ở Việt Nam: di sản văn hóa phi vật thể giữa các cộng đóng, nhà nước và thị trường" Tóm tắt kỷ yếu Hội thảo quốc tế Việt Nam học lẩn
thứ IV: Việt Nam trên đường hội nhập và phát triền bền vững, H.: Viện Khoa học xã hội Việt
Nam - Đại học Quốc gia Hà Nội, 26-28.11.2012, tr 243-267 Bản tiếng Anh "The 'heritagi- zation of culture ỉn vietnam : intangible culturale heritage betvveen com munities, State and market", tr 268-291.
Trang 3Theo tôi, điểu đó hoàn toàn có cơ sở, nhưng có phấn cực đoan bởi quá trình
đó còn tùy thuộc nhiều yếu tố, như bảo đảm tính thiêng, không phá vỡ giá trị tinh thấn cốt lõi xuyên suốt cùa di tích - lễ hội và vai trò tư vấn của các nhà chuyên môn, trên cơ sở tham vấn cộng đổng Đặc biệt là phải được cộng đông chấp nhận Ở đây, tôi đơn cừ trường hợp lễ hội Bà Tơ, từ tinh thần cốt lõi cùa quá trình truyển thuyết hóa lịch sử trong truyển thống cho đến khả năng vận dụng để tái hiện, cho thấy nó không thuộc xu hướng cực đoan đó
2 Lễ hội Bà Tơ: kết tinh từ quá trình truyền thuyết hóa lịch sử
2.1 B ố i cảnh lịch sử
Trong diễn trình lịch sử đi vê' phương Nam của người Việt, vùng H uế đóng vai trò rất quan trọng Buổi đẩu, các cộng đổng di dân từ miền ngoài đến đây rứnnh chóng tiếp cận vùng sông nước Tam Giang, gắn liền lỵ sở Hóa Châu nổi tiếng thời Trấn, Hồ, Hậu Lê, định hình nên tầm vóc thị tứ Sịa một thời giao thương sôi động, khi “phá Tam Giang ngày rày đã cạn” Từ đó, các cộng đổng cư dân dọc lưu vực sông Ô Lâu, sông Bồ, nhanh chóng “đông tiến” tiếp cận vùng bãi bồi sông nước ven đẩm phá, thiết lập xã hiệu, định hình nên Sịa - Quảng Điển, từ năm 1570 Nơi đây ghi nhận rỗ nét dấu ấn thời chúa Nguyễn Đàng Trong, đặc biệt là trong vai trò thủ phủ vùng miền của Phước Yên (1626), trước khi vào Kim Long (1636), Phú Xuân (1687) và trở lại Bác Vọng (1712), rồi Phú Xuân (1738).1
Trong b ố i cảnh đó, giá trị lịch sử nổi bật cẫn khẳng định ờ lễ hội Bà Tơ làng Bác V ọng (nay thuộc xã Quảng Phú, huyện Quảng Điển, tỉnh Thừa Thiên - Huế) là dấu tích văn hóa phi vật thể hiếm hoi duy nhất thời chúa Nguyễn, nay vẫn được bảo lưu rõ nét, sống động trong đời sống văn hóa, lễ nghi làng xã vùng Huế Từ những nét tương đồng trong sừ liệu, có thể thấy rằng, từ một
sự kiện lịch sử, đã được dân gian ghi nhận, nuôi dưỡng bằng nhiểu giai thoại, truyền thuyết, truyền tích, v.v Tất cả, lại được cụ thể hóa sinh động thông qua
di tích, lễ nghi, phẩm vật dâng cúng, lễ hội suy tôn, tưởng nhớ công lao to lớn của Bà
Lễ hội Bà Tơ ở vùng Huế I 195
1 Trần Đình Hằng (2013), "Phá Tam Giang ngày rày đã cạn: Sự thích ứng đa tình huống cùa cộng đổng CƯ dân làng xã vùng Huế" trong Bảo tàng và dì sản vân hỏa trong bốicỏnh biến đồi khỉ hậu [Kỷ yếu HTQT, Huế, 11 -12/6/2012] (Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam - Viện Văn hóa nghệ thuật Việt Nam, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 2013, tr 274-289).
Trang 4196 I Lễ hội Bà T ơ ở vùng H uế
Làng Bác Vọng được thành lập khá sớm; từ thế ký XVI, là m ột trong 53 làng
xã của huyện Đan Điển; thế kỷ XVIII, trở thành Bác Vọng Đông Tây xã, thuộc tổng Phú Ốc, huyện Quảng Điền và đến thời Nguyễn, mới tách thành hai đơn
vị Bác Vọng Đông - Ty giáp.1 Dưới thời phong kiến, Bác Vọng là một “đại xã”, được cấu thành từ tứ giáp ấp là Đông (Bác Vọng Đông), Tây (Bác Vọng Tây),
Đồ (Hà Đổ), Lạc (Hà Lạc) Đồ, Lạc chính là hai ấp “tân lập”, sản phẩm của
quá trình “đông tiến”, khai lập xã hiệu mới ven miền sông nước đầm phá Tam Giang của cộng đổng cư dân “làng gốc” Bác Vọng
2.2 Hai ngôi m iếu Bà Tơ ở Bác Vọng Đ ông và Hà Đ ổ
Ở Bác Vọng Đông, miếu Bà Tơ toạ lạc trên khu đất rộng khoảng 400m2, bên
bờ sông, phía trên ngã ba Quai Vạc, ngoảnh ra theo hướng Tây Nam Quy mô của ngôi miếu, nếu so sánh với các nguổn tài liệu đẩu thế kỷ XX, thì có thể dễ dàng nhận thấy hiện trạng của nó thật khiêm tốn Đó là m ột ngôi miếu nhỏ, xây dựng đơn sơ bằng vật liệu hiện đại từ những nảm 2000 - 2001 Nơi đây còn có tên gọi Đò Ba Bến bởi theo truyền khẩu, để ghi nhận và ban thưởng cho công lao của Bà, các chúa Nguyễn còn ban cấp cho Bà, cho làng Bác Vọng thêm hai khu đẫt ờ hai làng đối diện để làm bến đò: m ột ở làng Thanh Lương
và một ở Khúc Vạy (làng Phò Nam) Không gian thờ tự chính yếu là bàn thờ/ điện thờ, chính giữa là m ột bức tranh Phụng, tượng trưng cho Bà và m ột bài vị
nhỏ, cổ xưa: Quốc tỷ Thánh M ẫu nương nương trận tiến công huân, sắc phong
Trai Tĩnh thẩn vị Ngoài ra, nơi đây còn có nhiều hoành phi, câu đối được
phiên âm quốc ngữ, như bức hoành phi N ữ trung tuấn kiệt được treo ngay
phía trước ngôi miếu; hai cặp câu đối trên hai m ặt cùa bình phong:
Tam Giang công đức hậu/ĐỖ thủy miếu đền thiêng; và
M ột sợi tơ đền gây công lớn/Đông Tây Đó Lạc hưởng ơn sâu.
Qua khảo sát điển dã, chúng tôi còn được biết trước năm 1975, nơi đây vẫn
lưu giữ câu đối súc tích, đầy ý tứ, mà đến nay nhiểu người vẫn thuộc lòng: M ặt
nước hưởng nhờ ơn vũ lộ/ Dây tơ cứu khỏi trận phong ba.
1 Vô danh thị (1961), ồ châu cận lục, Dương Văn An nhuận sắc, tập thành, Bùi Lương phiên dịch, Văn hóa Ấ châu xuất bản, Sài Gòn, tr 40; Lê Quý Đôn (1977) Toàn tập, tập 1, Phủ biên tạp lục, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, tr 80; Quốc sử quán triều Nguyễn, 2003, Đổng Khánh địa dư chí, Hội Sử học Việt Nam, Viện Viễn Đông bác cổ Pháp, Trường Cao học Thực
hành Pháp - Nxb Thế giới, Hà Nội, tr.1427.
Trang 5Lễ hội Bà T ơ ở vùng H uế I 197
Tương tự như vậy, chúng tôi đã khảo sát ngôi miếu Bà Tơ ở thôn Hà Đồ, Phước Lập, ngay bên bò' phá Tam Giang (xã Quảng Phước, huyện Quảng Điền) Đó là một ngôi miếu nhỏ, khiêm tốn, được xây rất cao trên bốn trụ bê tông, phía trước có hai trụ đỡ và cũng mang chức năng bậc tam cấp Nội thất ngôi miếu được bài trí đơn sơ
Xem xét tẩm ảnh hưởng trong đời sống tín ngưỡng thờ Bà Tơ từ hai ngôi miếu này, có thể nhận thấy được bối cảnh đặc trưng của làng Bác Vọng xưa trong không gian văn hóa lưu vực sông Bồ Theo đó thì Hà Đổ chính là vùng “cửa khẩu” về phía đông của m ột nhánh sông Bổ, gắn liến công lao khai phá của các dòng họ Trẩn, Trương (tương tự với làng Hà Lạc là dòng họ Đặng, Hoàng) tù làng gốc Bác Vọng, nằm về phía thượng nguồn (khoảng hơn ìokm)
2.3 Bà Tơ: truyền thuyết và nghi lễ thờ cúng
Ở làng Bác Vọng và cả các làng lân cận dọc lưu vực sông Bổ, truyến tích Bà
Tơ được nhiều người biết đến và dân gian lưu truyền m ột cách đơn giản, thiết thực, dưới tên gọi miếu Bà Tơ Chí ít từ tên gọi, “miếu Bà Tơ” cũng dễ giúp gợi lên ngay từ đẩu sự mường tượng về m ột nữ nhân vật có liên quan đến tơ ]ụa, có công rất lớn đối với sự hình thành và phát triển của làng, nên mới được làng đưa vào quy chế thờ tự Đó là ngôi miếu nổi tiếng nhất, cùng với sự tôn vinh đặc biệt, rõ ràng, về hành trạng, công lao của Bà Tơ
Trong m ột trận thủy chiến trên phá Tam Giang, do thất thế, bị truy đuổi sát sao, “chúa tôi Nguyễn H oàng”, “nhà chúa”, “vua tôi nhà Nguyễn”, v.v phải một phen bôn tẩu Tình hình nguy nan hơn bởi quân lính phải hết sức chèo chỗng, làm đứt quai chèo Sự xuất hiện của Bà đã kịp thời dâng lên “mớ tơ”, hay “sọt tơ sống”, hay “tay lưới” , cho quân lính kịp bện lại quai chèo, nhờ
đó thoát hiểm
Bà làm một nghể gì đó, hay ít ra thì lúc thuyền của bậc quân vương bị “đứt quai chèo”, bà cũng đang làm m ột công việc có liên quan tới tơ lụa, trên sông nước Tam Giang: có thể là m ột thương nhân, hoặc con gái một gia đình thương nhân buôn bán tơ lụa, vải vóc; hoặc một ngư dân chài lưới, v.v Điểm mấu
chót, “chi tiết vàng” là tơ lụa> kịp thời giúp bện lại quai chèo bị đứt.
Cũng trong dạng thức truyền thuyết có liên quan tới quai chèo đó, nơi đây còn
có chi tiết thú vị trong các giai thoại truyền khẩu, rằng Bà là một người phi phàm, dám vén quẩn, giật lấy một đám “hạ thảo” cho thủy binh bện lại quai
Trang 6198 I L ễ h ội Bà T ơ ở vừng H uế
chèo Điểu này cũng có nét tương đổng trong khảo sát điển dã ở làng Thanh Phước, khi tôi được nhiểu người kể vể giai thoại cuộc đua ghe để xác định địa giới làng xã cùa làng Thủy Tú láng giềng: một người phụ nữ đại diện cho làng Thủy Tú, gặp tình huống bất ngờ là quai chèo bị đứt, cũng đã nhanh tay giật lấy đám “hạ thảo” để bện quai chèo, tiếp tục cuộc đua thắng lợi, nhờ đó mốc giới của làng được mở rộng Dân làng ghi ơn, tưởng nhớ công lao to lớn đó, đã đưa Bà vào quy chế thờ tự của cộng đổng
Rõ ràng, điểm chung xuyên suốt ở đây chính là thông điệp khẳng định công lao to lớn nổi bật cùa các bậc nữ nhân đối với lịch sừ văn hóa làng xã
Thân thế của Bà, chỉ biết là người “họ Trần làng Bác Vọng” Cũng có ý kiến cho rằng Bà và gia đình vốn chỉ là cư dân thủy diện nay đây mai đó, từ đâu không rõ, đã đến tụ cư ở Bác Vọng, làm ăn trên vùng sông nước phá Tam Giang, cùng với quá trình “đông tiến” của các cộng đồng cư dân làng xã dọc lưu vực sông Bổ như phẩn trên đã đê' cập.1
Điểm đáng chú ý là giai thoại dân gian có sự trùng khớp tài liệu chính sử, với
m ột nữ nhân vật có nhiều hành trạng và sự tích tương tự Bà Tơ: “N âm Quý Tỵ (1592), mùa hạ, Thái Tổ (tức Thái Tổ Gia Dũ hoàng đế Nguyễn Hoàng) lại ra
Đông Đổ, ở lại tám năm, nhiều lẩn đi đánh giặc, ư D ĩ theo hâu ồ tả hữu chúa
N ăm Canh Tý (1600), mùa hạ, Thái tổ vượt biển vê nam, thuyền đến của biển Thẩn Phù, dân nhiều người đi theo Nghe nói quân Trịnh đuổi riết, Ư Dĩ sai quân bơi thuyên đi nhanh Dây thừng bị đ ứ t Có người huyện Yên Mô là Phạm Thị Công dâng m ột sọt tơ sống để làm thừng kéo thuyền, thuyền bèn đi nhanh [Phạm Thị Công theo vào Thuận Hóa, đến lúc chết được phong là Thị Tùng Hỗ Giá Phạm Phu Nhân]).2
N hất thống chíy mục Liệt nữ tỉnh Ninh Bình, có đê’ cập đến hành trạng một
nhân vật tương tự, trở thành cản cứ xuyên suốt cho giai thoại Bà Tơ làng An
Mỏ (Ái Tử, Quảng Trị): “Người huyện Yên Mô, năm Lể Thận Đức I (1600),
Thái tổ Gia Dụ hoàng đế ta đem tướng sĩ thuyền ghe sở bộ thuộc theo đường biển vào Thuận Hỏa, quân Trịnh đuổi theo, thủy quân chèo thuyên gấp rút, quai chèo bị đứt, lúc ấỵ Thị Tôm theo hẩu, nhân có một mớ tơ sống:, thị liền
1 Chapuis A (1932)"Les lieux de culte du villagede Bac-Vong-Dong", B.A V H, N°4, pp.371
-410.
2 Quốc sử quán triều Nguyễn (1997), Đại Nom liệt truyện, tập 1, Tiền biên, Nxb Thuận Hóa,
Huế, tr.8 3 -8 4
Trang 7Lễ hội Bà T ơ ờ vùnẹ H u ế I ] 99
dâng để buộc chèo Về đến nơi thị chết, Gia Dụ hoàng đ ế khen là có công, truy tặng Thị Giá phu nhân, lập đển thờ dinh Cát Dinh Cát nay thuộc Quản% Trị”.1
Từ cấp độ các làng xã qua hình ảnh cô thôn nữ - Bà Tơ ờ làng Bác Vọng Đông;
thậm chí trên nguyên tắc “thiêng hóa”, chúng tôi cũng tiếp cận được tư liệu để từng bước khẳng định quá trình “lịch sử hóa” cùa mô típ nữ nhân vật như Bà
Tơ Trong quá trình điển dã, chúng tôi cũng đã từng nhận ra được m ột Bà Tơ thứ hai ở làng An Mô (Ái Tử, Quảng Trị) Nếu như Bà Tơ ở làng Bác Vọng Đông được ghi nhận công lao m ột cách rõ nét qua nghi thức cúng tế, lễ hội đua trải, cẩu ngư thường niên , nhưng không rõ mộ phẩn thì Bà Tơ ở làng
An Mô, được xác định cụ thể là con dâu họ Đổ, có mộ phẩn cụ thể, thậm chí còn có gia phả, và văn bia rất đầy đù - đương nhiên mới phụng soạn, sao chép sau này - nhưng nghi lễ cúng tế lại không phong phú, sinh động Dù m ột làng nhỏ, trước đây là “phường”, nhưng qua trường hựp Bà Tơ, An Mô như được khắc họa rõ nét hơn bằng nhiều nguồn tư liệu, kể cả chính sử, gia phả Việc sao chép, biên soạn gia phả được đặc biệt chú trọng cùng với việc tái thiết hoặc xây dựng mới hệ thống thiết chế văn hóa gia tộc như lăng mộ, nhà thờ Tuy nhiên, vấn để đáng quan tâm ở đây là sự nhấn mạnh đến mức thái quá vai trò của Bà Tơ, như trong văn bia được dựng ở nhà thờ họ Phạm (phụng tạo m ùa xuân Giáp Thân, 2004), dù rằng bà đã xuất giá, còn tôn bà làm Thành Hoàng của làng.2
1 Quốc sử quán triều Nguyễn (1997), Đại Nam nhất thống chỉ, tlđd, tập 3, tr 282.
2 "Thượng Cao tổ Phạm Vân Đạo, nguyên Thuyền lĩnh trong đạo thuyền hộ giá chúa Tiên vào Thuận Hóa nơm 1558 Trưởng nữ của ngài là Phạm Thị Còng Theo sách Đại Nam nhất thống chí, bà đỡ theo hâu chúa Tiên trở lọi Thuận Hóa nâm 1600 bồng đường biền, bị quân Trịnh đuổi theo Thuyền chúa bị đứt hết quai chèo, bà đõ hiến hai kiện tơ để buộc chèo cứu chúa thoát nạn Khi bà mất, chúơ truy tặng donh hiệu Thị Giá Phu N hâa và lập đền thờ tại Dinh Cát (phía tây sông Ái Tử, Quàng Trị) Khi nhà Nguyễn lập quốc; bà được phong sốc Bản Thổ Thành Hoàng, Dực Vặn Hoàng Chung Chính Nghi Siêu Thông Tỏn Thán củơ làng An
Mô và được xếp vào liệt nữ củơ tỉnh Ninh Bình"
Đó cũng là một trong những nguyên nhân làm nóng lên tình hình vốn căng thẳng lâu nay ở làng trong mối quan hệ, xác định thế thứ dòng họ Chúng tôi cho rằng, đã có sự
nhầm lẫn cơ bản ở đây, bởi Bàn Thồ Thành Hoàng, Dực Vận Hoàng Chung Chỉnh Nghi Siêu Thông Tôn Thân là một sắc phong khác cho chính vị Bản thồ thành hoàng của An Mô, mà
có lẽ chính xác là làng Ái Tử, chứ không phải íà Bà Tơ Chúng tôi cũng ghi nhận được từ
trong văn bia ở mộ phần của bà (tạo dựng ngày 13/6/Nhâm Dần - 1962): sổ c Khai khẩn thị tòng phù gió mệnh phụ trứ phong trinh uyển dực bảo trung hưng Phợm quý nương tôn thần chi mộ.
Trang 8Cho dù cụ thể Bà là ai, nguyên quán ở đâu, hành nghề gì thì thực tế được ghi nhận rõ ràng xưa nay, từ giai thoại dân gian đến nghi lễ thờ cúng cộng đồng,
là nhờ công lao phò giá đó mà vê' sau, họ Trần, và cả làng Bác Vọng, đã được ban cấp quyển được khai thác, đánh bắt thủy sản và thu thuế mặt nước trên
m ột giang phận rộng lớn của lưu vực sông Bổ và phá Tam Giang
Bản văn tế xưa bằng chữ H án của làng ghi rõ: Cung kính/ Tôn bà Quốc Tỷ
Thánh M ẫu Nương Nương, Trận tiến công thần, chánh thăn, sắc phong Dực Bảo Trung Hưng, gia tặng Trang Huy Trung đẳng thần Giáng Thẩn dục tú giúp phò bậc thánh, cứu nạn ách bâng một sọt tơ, đàn bà nhưng hào kiệt vè vang; hai thẻ kim bài còn ghi sự tích N ữ lưu xuất công thân, báo ân theo điển lệ lại ban thêm lợi lạc Tam Giang trải dài bách thế Nay đến ngày húy cung hành
lễ mọn xôi thịt tinh sạch để báo ơn, vật phẩm như thực, tôn bà gia huệ vậy/Căn cảo}
Ở chi tiết phân định ranh giới của sự ban thưởng này trên phá Tam Giang,
có hai mô típ truyền khẩu đặc biệt, gắn liền với hai thổ sản: vỏ/quả bưởi
và bã mía Nội dung cơ bản của truyền tích này là trước sự chứng kiến của triều đinh, các làng xã cận cư, người ta thả bưởi hay bã mía, từ sông Bổ, ở phía trước làng Bác Vọng, cho trôi theo dòng nước, đến khi nào dạt vào bờ, thì nơi đó được xác định là giới hạn xa nhất trong giang phận của làng Bác Vọng Không biết thực hư câu chuyện nhuốm đậm m àu sắc tâm linh ly kỳ, hấp dẫn, dân dã này ra sao, nhưng rõ ràng, làng Bác Vọng được quyền canh phá và khai thác (đánh bắt thủy sản, thu thuế) trên m ột khu vực phá Tam Giang rộng lớn, ít nhất củng từ vùng đầm Hà Lạc phía thượng nguồn phá Tam Giang (thôn Hà Lạc, xã Quảng Lợi) cho đến vùng “Trộ Bã Mía” ở giữa phá Tam Giang (thôn Mai Dương, thôn Hà Đổ, xã Quảng Phước, huyện Quảng Điển)
Ve sau, không có được thông tin cụ thể nào về hành trạng của Bà, chỉ biết Bà mất khi còn trẻ, bởi m ột sự ngộ/đẩu độc thức ăn Tưởng nhớ công lao to lớn
đó, làng đưa Bà vào quy chế thờ tự cộng đổng, xây dựng miếu thờ ở cả làng Bác Vọng lẫn ấp Hà Đổ Người ta tiến hành trọng thể nghi lễ thờ Bà tại miếu vào các dịp Minh niên (11- 12/1 âm lịch) và húy nhật (18/5 âm lịch) Đặc biệt
200 I Lễ hội Bà Tơ ở vùng Huế
1 Bản vản tế bằng chữ Hán được đính kèm trong bài viết của Chapuis A (1932) "Les lieux
de culte du village de Bac-Vong-Dong", tlđd, bàn dịch của Lê Đình Hùng, Phân viện Văn hóa nghệ thuật Việt Nam tại Huế.
Trang 9Lể hội Bà Tơ ở vùng ỉỉuế I 201
là trong vấn để lễ nghi, còn có tuổng hát, lễ hội đua trải nhân dịp lễ trọng “lục niên đáo lệ” tại bến sông phía trước miếu Bà làng Bác Vọng, ]ẻ hội cấu ngư ở làng Hà Đồ bên phá Tam Giang Trong số phẩm vật, đáng chú ý là phải luôn
có m ột con thuyển bằng tre hay đổ vàng mã để hạ thủy trong ý nghĩa dâng cúng phương tiện đi lại lên Bà, đổng thời, cũng là một cách thức nhờ Bà “tống
ô n ” Trong nghi lễ cầu ngư trên phá Tam Giang, như một minh chứng cho chi tiết Bà qua đời bởi ngộ độc/đẵu độc, ông chủ lễ trong lúc tiến hành nghi
lễ, cũng phải ăn trước một số thức ăn để cho “Bà tin” khi hưởng các lễ vật mà con cháu phàm trẩn dâng cúng, dạng thức tương tự như trong tín ngưỡng thờ cúng Ông Địa hiện nay (thịt quay, vào những ngày mổng 2, 16 âm lịch)
Trong lễ minh niên, làng dâng cúng bò, lợn hoặc vịt Lễ húy nhật tồ chức thường niên, tại miếu Bà và tồ chức trọng thể trong sáu năm một lẩn, bằng việc tổ chức đua ghe Do vậy, đây là lễ hội rất lớn, có cả kịch hát, thu hút nhiều người, vói niềm tin nhờ vậy mà nảm đó, việc đánh cá được bội thu Lễ Chánh tế/hiến sinh là nghi lễ chính, được thực hiện vào nửa đêm - giờ Tý, giống với cuộc lễ thứ nhất nhưng rất quan trọng; dâng cúng và hiến sinh dâng lẻn Bà Nghi lễ hiến tế kết thúc, mọi người cùng nhau uống rượu, ăn trẩu Sau đó, người ta mang bò, lợn và xôi lên nhà tăng, chia phần cho các làng Bác Vọng Đông - Tây và Hạ Lang, những làng được quyển đánh cá ờ phá Tam Giang và tương truyền, vốn được hình thành từ m ột làng gốc
Lễ đua trải được tổ chức vào rạng sáng ngày 18 Từ sáng sớm, người ta sửa soạn bàn thờ trong một lều trại phía trước cồng ngôi miếu, để Bà Tơ ngồi xem Trong ý nghĩa tôn vinh Bà, một bàn thờ khác được thiết trí dọc bờ sông, trên hai con đò được kết lại, gôm có một bàn vuông được bao phủ bởi màn trướng
và m ành sáo đỏ Sau khi các thuyền xuất phát, làng Bác Vọng Đông và Bác Vọng Tây cừ hành nghi lễ sau cùng của lễ hội - lễ tạ, nhằm tạ ơn Bà Tơ
Ngoài ra, để tôn vinh Bà Tơ, người ta cũng còn có m ột lễ hội thường niên khác, không kém phẩn long trọng, tưng bừng Từ lâu lắm rồi, làng đã dựng bên bờ phá Tam Giang m ột ngôi miếu khác, được xây dựng khang trang để thờ Bà Ở đó, hằng năm, các ngư dân làng Bác Vọng tập hợp lại vào tháng 4, để
cử hành nghi lễ Cẩu ngư, vào một ngày tốt trong tháng theo quan niệm truyền thống Trước tiên, người ta phải chuẩn bị một chiếc thuyên, được thiết trí một bàn thờ nhỏ, với đầy đủ bài vị tượng trưng cho sự hiện diện của Bà Khi những phầm vật, lợn quay và xôi đã được thiết trí trên bàn thờ và nến, nhang đâ được thắp lên, người ta cho thuyền chạy đến giữa đầm phá để mời Bà vể dự
Trang 10Ông hội chủ lễ phục tê' chỉnh, quỳ lạy trước bàn thờ, cắu khấn, trong khi m ột thầy cúng đứng bên cạnh cao giọng cẩu nguyện, thỉnh mời Trong thời gian này, những thuyển nhỏ bơi nhiều vòng xung quanh để kiếm tìm và đón rước linh hồn Bà vê' dự lễ Nghi lễ kết thúc bằng việc đốt giấy tiền vàng mã, và thuyền trở lại bờ Trên bờ, từ trước, đã có 5 - 6 ngư dân bước theo hàng dọc, cùng m ột chiếc cẩu cáng, trên đó đặt m ột bài vị nằm trên bàn thờ của con thuyền Đ ến gấn ngôi miếu, ông hội chù kính cẩn hai tay nâng bài vị và bước đến, đặt bài vị trên bàn thờ, trong khi m ột lão ngư khác vừa nhảy xung quanh
vừa vổ tay trong tiếng tung hô và lắc lư đầu: Mừng Bày Mừng Bà!
Trong suốt thời gian ông ta hát và nhảy múa, người ta mời ông ăn ba miếng thịt lớn và m ột ly rượu trong số phẩm vật dâng cúng, để cho Bà thấy rằng những phẩm vật này không độc hại Nghi lễ kết thúc bằng việc đốt m ột bộ áo giấy vàng mã, giấy tiền và đây vào đầm phá m ột chiếc thuyền được làm bằng giấy, trên bộ khung sườn bằng tre để làm nơi ở cho Bà Người ta đặt lên đó một miếng thịt và mâm xôi, không được buột miệng nói may m ẳn từ khi hạ thuỷ con thuyền trên đẩm phá Cuối cùng là bữa tiệc, người ta phải dùng hết mọi phẩm vật, cả đổ ăn lẫn thức uống nhưng thủ lợn chỉ được quyển dành riêng cho ông hội chủ
3 Lễ hội Bà Tơ: từ hiện trạng đến nhu cầu phục hồi, tái hiện
3.1 H iện trạng
Qua tài liệu thư tịch và điển dã làng xã, tôi nhận thấy tổn tại phổ biến dạng thức truyền khẩu dân gian ghi nhận nhiều địa danh, nhân danh gắn liền sự phò trợ các chúa Nguyễn, vua Nguyễn cùng bộ tướng, đặc biệt là trong những lúc bôn tẩu Để ổn định nhân tâm, trong nhiều trường hợp, các chính trị gia, triều đình phong kiến thường chính thống hóa m ột số truyển khẩu, truyền thuyết, hiện tượng từ dân gian, có khi tạo dựng, nâng cao bằng cách khoác lên bên trên m ột m àu sắc linh thiêng của tín ngưỡng Việc mang ơn cây trái lòn bon rừng từng giúp chúa tôi họ Nguyễn qua cơn bĩ cực, được ban tên Nam Trân và định ỉệ dâng tiến tôn miếu Mang ơn cứu mạng của loài vật biển cả sông nước mà Cá Voi được ban mỹ tự Nam Hải Ngọc Lân; hai con rái cá - Đông Nam Sát hải Lang Lại Nhị đại tướng quân, v.v Đối đãi có trước có sau,
từ loài cây, loài vật cho đến con người, như trường hợp Bà Tơ, và các vị thẩn Trảo Trảo phu nhân, Bà Trời Áo Đỏ Tất cả đểu là thông điệp điển hình nhất
202 I Lễ hội Bà Tơ ở vùng Huế
Trang 11Lể hội Rà Tơ ở vùng Huế I 203
cho chiến lược nhân tâm, định hình chính thể mới hợp lòng Người, thuận ý
Trời của nhà Nguyễn.1
Yếu tổ thiêng được xác lập bển vững, từ quá trình truyền ihuyết hóa lịch sử, hay lịch sử hóa truyền thuyết, đã tạo dựng nên sức sống chủ đạo, xuyên suốt của di tích, lễ hội Từ những phân tích ở trên, có thể thấy lễ hội Bà Tơ là một trường hợp điển hình
Đáng tiếc là từ sau năm 1975 đến nay, bởi nhiều điểu kiện chi phối, đặc biệt là quá trình vỡ ra của xã hội làng truyền thống, mà nghi lễ thờ cúng Bà Tơ bị giản lược nhiêu, như thiếu vắng lễ hội đua trải trên sông Bồ và nhiểu nghi lễ, phẩm vật thiết yếu khác Lâu nay, bà con dân làng có nguyện vọng tha thiết muốn được từng bước tổ chức lại không gian lễ nghi và quy trình truyền thống của
lễ hội đua trải tại miếu Bà Tơ nhưng chưa có điểu kiện Khó khăn trước tiên, chính là kinh phí, bởi nhiểu năm nay, bà con hai làng Bác Vọng Đông - Tây đểu phải đóng góp kinh phí để luân phiên tập trung cho việc trùng tu, tái thiết đình, chùa, miếu
Ồng Ngô Mễ, một bậc cao niên trong làng cho biết, từ trước đến nay, làng Bác Vọng Đông có lệ định vé việc ở từ cho ba thiết chế văn hóa truyền thống đặc biệt quan trọng của làng, là đình làng, cô đàn và miếu Bà Tơ Hằng năm, làng
cử ba người/phiên đàn ông trung niên (từ 46 tuổi - 60 tuổi), mỗi người “ở từ” tại m ột tự sở, với trách nhiệm quét tước dọn dẹp, hương khói trong những ngày sóc, vọng, những ngày tế lễ
Thông qua đối tượng khảo sát là những di tích, truyền tích, giai thoại có liên quan, bằng phương pháp điền dã dân tộc học, nhăt là phòng vẫn người dân địa phương, có sự bổ sung của phương pháp sừ học - thu thập dữ liệu thứ cấp, chúng tôi m uốn nhấn m ạnh đến vai trò cũng như ý nghĩa biểu tượng của Bà
1 Trần Đình Hằng (2008), "Từ Cô Gái Áo Xanh ở Ấi Tử (Quảng Trị) đến Bà Trời Áo Đỏ ở Thiên
Mụ (Huế): Sinh lộ tư tưởng cùa vùng đất mới Nam hà", Kỷ yếu Hội thảo khoa học Chúa Nguyễn và vương triều Nguyễn trong lịch sử Việt Nam thế kỷ XVI đến thế kỳ XIX, Thanh Hóa, 18-19/10, Nxb Thế giới, Hà Nội, tr 524 - 532 Xưa & Nay, số tháng 10;
Trần Đình Hằng (2012), "Hệ thống thẩn linh biển và vấn đề ý thức dân tộc, chủ nghĩa quổc gia Việt Nam thống nhất: Nhìn từvản hóa miền Trung, miền Nam", Tham ỉuận tại
Hội thảo quốc tế Việt Nam học lẩn thứ IV: Việt Nam trên đường hội nhập và phát triển bền,
Viện Khoa học xã hội Việt Nam - Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội, 26-28/11/2012 ỉn lại dưới tiêu đề"Hệ thống thần linh biển và vấn đề ý thức dân tộc: nhìn từ miền Trung - miền
Nam", Vân hóa học, số 4/2012, tr 16-31.
Trang 12204 I Lễ hội Bà Tơ ở vùng Huế
Tơ và lễ hội cẩu ngư trong diễn trình phát triển của làng xã và vấn đề tư tưởng
ở Nam hà, thể hiện sự ủng hộ mạnh mẽ của cả “ý trời”, lẫn “lòng người”.Đây cũng là một m inh chứng cho giả thiết nghiên cứu về dạng thức phổ biến
có liên quan đến người phụ nữ có công trong việc thành lập, xây dựng làng xã
trong thực hành đời sống tín ngưỡng làng xã miền Trung Tất cả, được “thiêng
hóa * qua những giai thoại, chuyện kể bất thành văn; cũng có khi được “thành vãn” trong một văn khắc ở đình, miếu, trong văn tế hoặc hương ước , được
làng xã đưa vào quy chế thờ tự cộng đổng
Vai trò thực tế vô cùng to lớn của Bà Tơ, trong nguyên tắc “thiêng hóa” đó,
càng có khả năng làm tăng thêm hiệu lực thực hành tín ngưỡng và cả trong cuộc sống thường nhật của cộng đổng Do vậy, tôi nghĩ rằng, đó cũng là bài học tham khảo thiết thực cho quá trình tái hiện lễ hội cẩu ngư làng Bác Vọng Đông nói riêng, lễ hội truyển thống hiện nay nói chung
Tinh thần cốt lõi trong lịch sử văn hóa vùng đất Quảng Điền là sự tiếp cận miền sông nước của các cộng đỗng làng xã, gắn liền quá trình “phá Tam Giang ngày rày đã cạn” và sự chuyển dịch vai trò trung tâm từ vùng Sịa - Hóa ch âu dẩn vào nam, nhường lại vai trò nổi bật đó cho vùng Kim Long - Phú Xuân
- Huế Đặc biệt, nó gắn liễn chặt chẽ với sự hiện diện của các chúa Nguyễn
và vùng dinh phủ, trong vai trò xác lập một thế lực chính trị mới đương thời Tẩm vóc và ý nghĩa của lễ hội Bà Tơ, do đó, hoàn toàn vượt ra khỏi phạm vi làng xã nói riêng hay vùng sông Bổ - Tam Giang nói chung, trở thành quốc lễ thời phong kiến, mà đến nay, qua bao thăng trẩm, vẫn được nuôi dưỡng đậm nét trong không gian văn hóa làng xã truyền thống
Đã từ lâu, nghi thức cúng tế ở miếu Bà Tơ vẫn được người dân làng Bác Vọng duy trì đểu đặn, nhưng rõ ràng là không đẵy đủ bởi còn nhiểu khó khăn Chỉ có
ở khu vực Hà Đô, trong môi trường sông nước, lại có nhiểu điểu kiện thuận lợi nhờ phát triển kinh tế thủy hải sản, nên việc thờ cúng Bà cùng nghi lễ, lễ hội cẩu
ngư vẫn được tổ chức thường niên, dù chỉ diễn ra trong phạm vi nội bộ làng xã.
Việc ƯBND huyện Quảng Điển tổ chức chương trình Sóng nước Tam Giang
năm 2012, trong đó có lễ hội Bà Tơ then chốt (tế lễ, đua thuyền) chính thức khẳng định sự hỗ trợ của nhà nước vào đời sống lễ nghi của làng xã ở Bác Vọng Từ đây, cho thấy rõ nét những điểm tích cực lẫn hạn chế trong mối quan hệ hỗ tương giữa yếu tố hành chính nhà nước và yếu tổ tự quản làng xã truyền thống, có thể làm củng cố hoặc nguy cơ làm phương hại đến tính chất
Trang 13Lề hội Bà Tơ ở vùng Huế I 205
cùa lễ hội Bà Tơ Bằng cái nhìn lịch đại qua các nguổn tài liệu thành văn và phương pháp quan sát tham dự, ghi nhận ý kiến cùa các thành phẩn dân cư nơi đây, tôi muốn bài viết này góp phần nêu bật giá trị đặc trưng của lễ hội, những thuận lợi và thách thức của một di sản văn hóa phi vật thể đặc biệt gắn liến với thời kỳ Đàng Trong, trong bối cảnh hiện nay
3 2 N h u cầu phục h ồ i lễ h ội truyền th ốn g làng xã trong b ố i cảnh
“S ó n g nước Tam G iang 2 0 1 2 ” của U B N D huyện Q uảng Đ iền
Rút kinh nghiệm từ chương trình lễ hội Sóng nước Tam Giang lần I (2010), thuần túy chỉ là m ột liên hoan ca múa nhạc tổng hợp, Ban Tổ chức của huyện Quảng Điển đã kịp thời bổ khuyết tinh thẩn chủ đạo, tính chất lễ nghi trọng tâm xuyên suốt này trong Sóng nước Tam Giang lẩn II (1.5.2012), theo vai trò
tư vấn chuyên môn của Phân viện Văn hóa nghệ thuật Việt Nam tại Huế Điểu
đó đã mang lại sức sống, sức cuỗn hút mạnh mẽ, đáp ứng như cẩu văn hóa tín ngưỡng chính đáng của các cộng đổng cư dân dọc lưu vực sông Bổ, phá Tam Giang, góp phẩn đặc biệt quan trọng đưa đến thành công của lễ hội
Điểm nhấn then chốt ở đây chính là UBND huyện Quảng Điển giao trách
nhiệm trực tiếp cho Phòng Văn hóa - Thông tin, chú trọng tư vấn chuyên môn,
phối hợp với bà con dân làng Bác Vọng và các làng xả cận cư trong việc khảo sát, nghiên cứu hổi cố, hổ trợ phẩm vật lễ tế Bà Tơ một cách đây đủ nhất, từ nghi thức cúng tế, nghi lễ hát bả trạo, đua thuyễn, v.v Toàn bộ quy trình tổ chức, nghi thức tế tự, quyết định các phẩm vật dâng cúng đểu thuộc sự điểu hành của ban nghi lễ truyền thống làng Bác Vọng, mà huyện đặc biệt tôn trọng, không can thiệp m ột cách trực tiếp, cụ thể Nhờ đó, lễ hội đã kích thích, đáp ứng được lòng mong mòi và nguyện vọng chính đáng của người dân địa phương, mang lại giá trị văn hóa tín ngưỡng tâm linh cao cả, xuyêt suốt chương trình lễ hội, tạo sự gắn kết cộng đổng Đặc biệt, nó đã trở thành trường hợp điển hình của sự can thiệp,
hổ trợ và phối hợp của chính quyền địa phương trong việc phục hổi m ột lẻ hội độc đáo, hiếm hoi phát xuất và gắn liền với thời chúa Nguyễn, tín ngưỡng thờ
nữ thẩn, được văn hóa làng xã bảo lưu hàng trảm nảm nay
3.3 Sự thay đ ổ i tron g m ô i trường, phương thức tổ chức quản lý với vấn đê tín h chất lễ h ộ i
Việc phục hổi lễ hội Bà Tơ trở thành trục tâm linh chù đạo đã góp phần quyết
định mang lại sự thành công của Sóng nước Tam Giang năm 2012, đáp ứng
Trang 14206 I Lể hội Bà Tơ ở vũng Huế
nguyện vọng tha thiết, chính đáng của làng xã C hính từ nỗ lực của chính quyển các cấp, được kết hợp hài hòa với nhu cẩu và sự cố gắng khắc phục mọi khó khăn của cộng đổng làng xã trong vùng là bài học kinh nghiệm quý báu, thiết thực trong việc kế thừa và phát huy giá trị di sản văn hóa truyền thống hiện nay Đây là vấn đề then chốt, dẫn đến sự thay đổi trong môi trường lễ hội, phương thức tổ chức quản lý, để rồi từ đó, dẫn đến việc quyết định tính chất của lễ hội
Từ trước đến nay, cho dù được tổ chức với quy mô, cấp độ nào, trong bối cảnh kinh tế - xã hội nào đi nữa, thì lễ hội Bà Tơ truyền thống vẫn được các cộng đông cư dân làng xã quanh vùng Bác Vọng chung tay tổ chức thường niên,
Từ sau năm 1975, phát xuất từ sự vỡ ra của xã hội truyền thống, vai trò của cộng đổng làng xã và đặc biệt là các thiết chế văn hóa tín ngưỡng tâm linh ít được coi trọng H ơn nữa, gắn liền với quá trình đó là sự lớn m ạnh của hợp tác xã và phong trào hợp tác hóa, làm cho nền tảng kinh tế vốn có của làng xã truyền thống không còn nữa, đặc biệt là các loại hoa lợi từ điển địa (tự điền, đất hương hỏa) Cho nên, lễ hội Bà Tơ chỉ được duy trì khiêm tốn, giản đơn
Sự phân rã các thiết chế làng xã truyền thống khó cho phép các cộng đổng làng
xã liên kết lại cùng tổ chức nghi lễ quy mô như xưa
*
Tính tự quản của cộng đổng cư dân làng xã truyền thống trong lễ tế Bà Tơ
là m ột thực tế xuyên suốt, gắn liền định chế làng xã truyền thống Mọi thu nhập của cộng đổng làng xã từ hoa lợi trong canh tác các loại tự điển, từ hoạt động đánh bắt và quản lý các nguồn lợi thủy sản trên đẩm phá Tam Giang và sông Bồ giúp cho lễ tế Bà Tơ truyền thống thường niên được tổ chức quy
mô, thiêng liêng, trang trọng, đúng tầm vóc của m ột vị nữ nhân thẩn có công
lao đặc biệt to lớn, hàm Quốc tỷ Thánh mẫu nương nương, Thượng đẳng thẩn
C hính từ tính thiêng, quy mô lớn mà lễ hội này đã th u hút được nhiều sự quan tầm đóng góp, cúng dường của các thành phẩn con dân, trên nhiều phương diện: tri thức, tinh thẩn lẫn vật chất Đó chính là tiền thân, là nét tương đỗng
và cũng là bài học kinh nghiệm thiết thực cho vấn để xã hội hóa các hoạt động văn hóa hiện naỵ, vốn còn nhiểu khoảng trống, sự bất hợp lý
N hưng rõ ràng trong bối cảnh kinh tế - xã hội làng xã gặp nhiều khó khăn như hiện nay, việc tổ chức lễ tế Bà Tơ với tính chất và quy mô như xưa là rất khó Chính vì vậy, sự hỗ trợ gẩn như toàn bộ chi phí vật chất và cả việc phục hổi m ột cách đầy đủ nhất những nghi thức theo đúng tập tục cổ truyền của các cơ quan hành chính từ huyện đến xã, vô hình trung, đã làm cho, đưa đến
Trang 15Lễ hội Bà Tơ ở vùng Huế I 207
cho cộng đổng làng xã m ột sự thụ động thái quá Tính chất phong trào cùa các hoạt động văn hóa lâu nay thường mang tính đồng nhất, nhất thể hóa, mà thiếu đi sự tôn trọng những giá trị mang tính bản sắc đặc trưng của lễ hội, của đời sống văn hóa làng xã truyển thống các địa phương Ý tưởng ban đầu còn đưa cả chương trình hát bả trạo thờ cúng Cá Ông vào lễ tế Bà Tơ là m ột m inh chứng, rất may đã có sự can thiệp kịp thời của các nhà nghiên cứu văn hóa
và nội dung này vẫn giữ nguyên nhưng được thay thế bằng những chủ để cẩu quốc thái dân an, mưa thuận gió hòa Sự hỗ trợ, giúp đỡ kịp thời của đội ngũ cán bộ huyện, xã, thôn m ột cách hợp lý là rất cần thiết, song cũng cần chú ý rằng sự can thiệp sâu rộng đến quá mức cẩn thiết, mang nặng tính chất hành chính, là điểu cẩn cảnh tỉnh, có nguy cơ triệt tiêu đi mọi sự năng động, sáng tạo và tri thức, phong tục tập quán vé lễ nghi cúng tế của cộng đồng cư dân làng xã đã được bổi đắp, phát huy tự bao đời nay
Do vậy, chúng tôi nhận thấy tù kinh nghiệm của lẩn hỗ trợ phục hổi nghi lễ cúng tế Bà Tơ năm 2012, phải đặc biệt tôn trọng và phát huy tinh hoa, kinh nghiệm tổ chức lễ hội truyền thống của cộng đổng cư dân làng xã, theo hướng phục hồi, hổi cố để phát huy tối đa mọi giá trị tích cực và kịp thời hạn chế những nét tiêu cực Mọi sự hỗ trợ, đặc biệt là trên phương diện chuyên m ôn và
kinh phí, phương tiện - trang thiết bị hữu hiệu của các cấp hành chính, là rất
cẩn thiết Huyện hay xã thôn hành chính, không thể đứng ra đảm trách toàn
bộ quy trình tồ chức lễ hội, từ chuẩn bị cho tới lịch lễ nghi tế tự, phẩm vật dảng cúng Lễ tế Bà Tơ, dù trong hoàn cảnh nào, cũng phải đảm bảo chủ thể xuyên suốt chính là cộng đổng cư dân làng xã Bác Vọng - Hà Đổ nói riêng và các cộng đồng cư dân làng xã dọc lưu vực sông Bô và phá Tam Giang nói chung, chứ không phải là UBND huyện Quảng Điển hay Phòng Văn hóa - Thông tin huyện, UBND xã Quảng Phú Hành chính hóa lễ hội là điểu không cấn thiết
và hoàn toàn phản tác dụng trong trường hợp này mà nếu không kịp thời nhận ra và khắc phục, bài học kinh nghiệm từ íestival Huế, hay trong Lệ Bà Thu Bồn ở Q uảng Nam sẽ tái diễn: vấn để chủ thể và hành chính hóa lễ hội - sự can thiệp cực đoan của các cơ quan hành chính.1
V
Kể từ sau chương trình Sóng nước Tam Giang năm 2012, lễ tế Bà Tơ và những
di sản văn hóa đặc trưng liên quan đã thu hút được sự quan tâm của chính quyền địa phương các cấp, và đặc biệt là của bà con dân làng Phòng Văn hóa
1 Trần Đình Hằng (2011), Lẻ hội Bà Thu Bồn (Quảng Nơm), Viện Văn hóa nghệ thuật Việt
Nam (đề tài NCKH), Hà Nội.
Trang 16- Thông tin huyện Quảng Điền đã có tờ trình để nghị Sở Vãn hóa, Thể thao và
Du lịch Thừa Thiên - H uế xem xét lập hổ sơ công nhận miếu Bà Tơ trờ thành
di tích lịch sử cấp tỉnh, để có căn cứ pháp lý cho việc trùng tu, tôn tạo sau này Tuy nhiên, theo chúng tôi, việc lập hổ sơ di tích cấp tỉnh trong giai đoạn hiện nay cần được tính toán kỹ và trước mắt, có thể tập trung nghiên cứu, khảo sát, lập hổ sơ di sản văn hóa phi vật thể đối với lễ hội Bà Tơ Từ đó, làm cơ sở pháp lý lẫn luận chứng, luận cứ khoa học cho việc trùng tu, tôn tạo di tích theo nguyên trạng những thập niên 1930 (tài liệu thành văn, hình ảnh) m à chúng tôi đã thu thập được M ột khi di tích và lễ hội Bà Tơ chưa được công nhận, trên phương diện hành chính, sẽ thiếu cơ sờ cho việc đẩu tư ngân sách trùng
tu, tôn tạo và phục hồi các giá trị lễ nghi truyền thống
Cho nên, vấn để cẩn xem xét ở đây là phương thức xã hội hóa, kế thừa truyền thống và hiện đại, để huy động m ọi nguổn lực xã hội cho công tác cấp bách này Ở đó, mô hình và phương thức tổ chức, điểu hành quản lý của làng xã truyền thống cẩn được tôn trọng, phát huy ở mức cao nhất, đặc biệt là trên phương diện tri thức dân gian và tính chủ động, phù hợp, hữu hiệu của nó Lễ
tế Bà Tơ thường niên vẫn nên do cộng đồng làng xã truyền thống Bác Vọng điểu hành, quản lý, có sự phối hợp hỗ trợ cùa các cấp chính quyền từ tỉnh, huyện đến xã thôn, trên các phương diện như tư vấn định hướng, đâu tư cơ
sở vật chất hạ tầng, trang thiết bị, an ninh trật tự, kinh phí Mọi sự đồi mới hay cải tiến, cẩn được xem xét cẩn trọng từ nhiểu phía: các nhà quản lý, các nhà nghiên cứu, và đặc biệt là từ chính ý kiến đổng thuận của Ban Nghi lễ, Hội đổng làng và đại diện dân làng Có như vậy, di sản lễ hội truyền thống cộng đông mới có cơ hội được kích thích, khơi gợi và khẳng định lòng tự hào,
ý thức bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa địa phương Đó là tiền để cơ sở, hữu hiệu cho vấn để xã hội hóa
4 Thay lời kết luận: vấn đề đặt ra
Vượt qua bao thăng trầm nghiệt ngã của thiên tai, địch họa, đặc biệt là sự triệt tiêu giữa các triểu đại chúa Nguyễn - Tây Sơn - Nguyễn , Bà Tơ vẫn sống mãi vói cộng đổng CƯ dân Bác Vọng, với cả các cộng đồng làng dọc lưu vực sông
Bổ Có được điểu đó chính là nhờ sự nuôi dưỡng, trao truyền m ạnh mẽ của
vản hóa làng xã suổt chiéu dài lịch sử Khái niệm xã hội hóa các hoạt động văn
hóa hiện nay, thực ra nội dung hoàn toàn không mới, rõ nét như trường hợp
lẻ hội Bà Tơ Sức sống chính cùa lễ hội Bà Tơ trong môi trường văn hóa làng
xã truyển thống chính là ở chất thiêng được cấu thành từ nguyên tắc thiêng
208 I Lễ hội Bà Tơ ở vùng Huế
Trang 17Lễ hội fìà Tơ ở vừng Huế I 209
hóa trên nén tảng cốt lõi truyền thuyết hóa lịch sử từ sự tích Bà Tơ và quá trình
thực hành nghi lễ, lễ hội Bà Tơ
Một vùng đất mới, hay thuở ban sơ của mọi quốc gia, dân tộc, thưởng được
mở đẩu bằng huyền thoại và huyển tích Ở đó, “những sự thực lịch sử bị khuất lấp toàn phần hay từng phẩn trong khói sương, khi dày đặc, khi tản loang, của những câu chuyện huyển hoặc, thần kỳ đó là số phận chung của buổi bình
m inh lịch sử loài người khi màn đêm tiển sừ đang dần tan nhưng hiện thực thân xác cùa con người tỏ mờ trong làn sương sớm ”.1 Hay nói m ột cách cụ thể hơn, “huyền thoại phủ lên những di tích và danh thắng”.2
Ở đây, mọi câu chuyện lại gẩn như có liên quan đến một vấn để học thuật quan trọng, đặc biệt hữu ích cho việc nghiên cứu văn hóa tín ngưỡng - ma thuật ở miền Trung Việt Nam: ma thuật và kinh nghiệm Theo đó, một khi con người cảm thấy căng thẳng hay bất lực trước m ột sự vật, hiện tượng thì sẽ cần đến những tác động có vẻ càng siêu nhiên càng tốt, những lớp áo huyền hoặc, u linh, kỳ bí , tất cả nhằm tạo niềm tin và hiệu quả một cách thiết thực
Đó chính là môi trường và nhu cẩu trực tiếp, chính đáng nhất cho sự ra đời của m ột hiện tượng khá phổ quát: thẩn thoại đương thời của ma thuật
Nhờ đó, các vị thẩn “hiển linh” thông qua những vòng hào quang được tạo
nên bằng những câu chuyện kỳ bí, huyển diệu, có thể là những bài thuốc chữa bệnh hiệu nghiệm đến tuyệt vời, hay gây nên những chết chóc Cho nên, có thể nói: “Thẩn thoại không phải là m ột sản phẩm chết của những thời đại
đã qua, đơn thuẩn chỉ tồn tại như m ột câu chuyện vu vơ Nó là nguồn sống, thường xuyên sản sinh ra các hiện tượng mới, thường xuyên bao trùm ma thuật bằng những lời chứng mới Ma thuật hoạt động trong vinh quang của truyén thống đã qua, nhưng nó cũng tạo ra không khí của thẩn thoại luôn luôn phát triển Thẩn thoại là lời tuyên bổ có tính lịch sử của một trong những sự kiện từng đảm bảo cho sự thật của m ột loại hình nhẩt định của ma thuật Mối quan hệ sâu sắc giữa thẩn thoại và cúng tế, chức năng thực tế của thẩn thoại trong việc củng cố niêm tin đã luôn bị bò sót ”.3
1 Trần Quốc Vượng (1993), Trong cõi, Caliíornia.: Trăm Hoa xb, bản điện tử 150 trang, tr 23.
2 Trẩn Quốc Vượng (1996), "Đất Tổ: huyén thoại và lịch sử", trong Theo dòng lịch sử, những vùng đất, thân và tâm thức Việt, Nxb Văn hóa, Hà Nội, tr.l 4.
3 Malinovvski B (2006), "Ma thuật, khoa học và tôn giáo", trong Những vấn đề nhân học tôn giáo, Tạp chí Xưa & Nay - Nxb Đà Nằng, Hà Nội - Đà Nẵng, tr 206 - 207.
Trang 18210 I L ễ hội Bà Tơ ở vùng Huề'
H ành chính hóa lễ hội luôn gắn liền sự phân bổ ngân sách nhà nước cho lễ hội, là những “quả ngọt” mà dưới góc nhìn tiêu cực, “quan lại” hành chính
thường hướng đến, chứ hoàn toàn không phải là mục tiêu của cộng đông cù dân làng xã, vốn là chù thể cùa lễ hội, luôn bị chi phối bởi tính thiêng, với khái vọng dân an vật phú Bảo tổn và phát huy giá trị của di tích hay lễ hội truyền
thống cần kết hợp hài hòa cái nhìn bên trong lẫn cái nhìn bên ngoài Mọi sự
can thiệp mang tính áp đặt cực đoan, thô thiển tù bên ngoài sẽ mang lại một cuộc “hôn phối” bất đắc dĩ, với nhiểu hậu quả nhãn tiền lẫn dài lâu Các vụ
việc xung quanh vấn để ]ễ hội Đọi Sơn, Lảnh Giang hay Bình Đà ở miền Bắc
vừa qua đã dấy nên nhiều tranh luận gay gắt, suy cho cùng, chính là phát xuấĩ
từ vấn để này Đã đến lúc các nhà quản lý hành chính, nghiên cứu, bảo tón, phát huy giá trị di sản văn hóa cần tĩnh tâm nhìn nhận, đánh giá thực trạng một cách xác thực, không quá chú trọng đến hình thức, số lượng để có thế đưa ra giải pháp, phương thức và lộ trình phù hợp đối với từng di tích, lễ hội.
Do vậy, vấn đề đặt ra hiện nay là cẩn ưu tiên chú ý đến môi trường nuôi dưỡng những giá trị lịch sử và tính thiêng đặc trưng trong lễ hội Bà Tơ Sự tác động qua lại giữa các yếu tố tự quản làng xă truyền thống và yếu tố hành chính, từ
xã đến huyện, tỉnh, trong những hoàn cảnh cụ thể, là một thực tế Lập hổ sơ di tích văn hóa vật thể lẫn phi vật thể là cẩn thiết, nhưng cẫn phân định rõ tinh thẩn chù đạo xuyên suốt để tính chất của lễ hội Bà Tơ vẫn được bảo đảm hệ giá trị văn hóa làng xã truyền thống và phù hợp với bối cảnh xã hội hiện nay, với ý nghĩa nhân văn cao cả của cả cộng đổng, chứ hoàn toàn không phải là
“quả ngọt” của một vài cá nhân, nhóm người.
TÀI LIỆU THAM KHẢO• í
Cadière, Léopold (1905), “Monuments et souvenirs chams du Quảng Trị et du Tkừa
Thiên”, B.E.F.E.Oị tập V, sổ 1 - 2, pp.185 - 195.
Chapuis A (1932) “Les lieux de culte du village de Bac-Vong-Dong”, BA V Hy số 4,
tr.371 - 410
Lê Đình Hùng (2005), “Dấu ấn nữ thẩn trên bước đường Nam tiến cùa Tiên ciúa
Nguyễn Hoàng”, trong Thông tin Khoa học, Phân viện Nghiên cứu VHTT tại Huế số
tháng 9, tr.36 - 45
Lê Nguyễn Lưu (1995), “S.ự tích miếu Bà Tơ ở làng Bác Vọng Đông và các lễ hội Lên
quan”, trong Nhiểu tác giả (1995), Từ Huế đến Quảng: Huế - đẹp thơ, ngàn năn di
sản, Nxb Đà Nảng, Đà Nảng, tr.103 - 109.
Trang 19Lê Quý Đôn (1977), Toàn tập, tập 1, Phủ biên tạp lục, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Malincnvski B (2006), “Ma thuật, khoa học và tôn giáo”, trong Những vấn để nhãn học
tôn giáo y Tạp chí Xưa Nay - Nxb Đà Nẵng, Hà Nội - Đà Nẵng
N guyễn Hữu Thông chủ biên, Trần Đình Hằng, Lê Anh Tuấn (2007), M ạch sống của
hương ước trong làng Việt Trung Bộ: dằn liệu từ các làng ở Quảng Bình, Quảng Trị và Thừa Thiên, Nxb Thuận Hóa, Huế.
Nguyễn Thế Anh (1995), “The Vietnamization of the Cham Deitỵ Po Nagar”, in
Essays into Vietnamese Pastsy K.w Taylor and John K Whitmore, biên tập, Cornell
Ưniversity Press, Ithaca (New York)
Nguyễn Thế Anh (2005), “Thiên Y A Na hay sự tiếp nhận nữ thẩn Po Nagar của các
triều đại Nho giáo Việt Nam ”, Xưa & Nay, số 4 (233), tr 29 - 33.
Phòng Văn hóa - Thông tin huyện Quảng Điển (2011), Kịch bản phục hổi lễ tế Bà
Tơ trong không gian chương trình Sóng nước Tam Giang nàm 2012 của huyện Quảng Điên.
Quốc sử quán triều Nguyễn (1972), Quốc triều chánh biên toát yếu, Nhóm Nghiến cứu
Sử Địa Việt Nam, Sài Gòn
Quốc sử quán triều Nguyễn (1997), Đại Nam liệt truyện, tập 1, Tiển biên, Nxb Thuận
Hóa, Huế
Quốc sử quán triều Nguyễn (1997), Đại Nam nhất thống chú Nxb Thuận Hóa, Huế Quốc sử quán triều Nguyễn (2002), Đại Nam thực lục, tập 1, Nxb Giáo dục, Hà Nội Quốc sử quán triều Nguyễn (2003), Đổng Khánh địa dư chí, Hội Sử học Việt Nam, Viện
Viễn Đông bác cổ Pháp, Trường Cao học Thực hành Pháp - Nxb Thế giới, Hà Nội.Salemink, Oscar (2012), “Appropriating Culture: The politics of intangible cultural heritage in Vietnam” (Chiếm đoạt văn hóa: chính trị cùa di sản văn hóa phi vật thể
tại Việt Nam), trong H-T Ho Tai & M Sidel biên tập, State, Society and the Market in
Contemporary Vietnam: Property, Power and Values Routledge (Nhà nước, xã hội và
thị trường ở Việt Nam đương đại), Oxon, o x , ƯK, tr 158-180
Salemink, Oscar (2012), “‘Di sản hóa vàn hóa ở Việt Nam: di sản văn hóa phi vật thể
giữa các cộng đổng, nhà nước và thị trường”, Tóm tắt kỷ yếu Hội thảo Quốc tế Việt
Nam học lẩn thứ IV: Việt Nam trên đường hội nhập và phát triển bển vững, Viện Khoa
học xã hội Việt Nam - Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội, 26-28/11/2012, tr 243-267 Bản tiếng Anh “The ‘heritagization of culture in vietnam: intangible culturale heritage betw een c o m m u n ities, State a n d m a rk e t”, tr 268-291.
Tôn Thất Bình (1988), Lể hội dân gian Bình Trị Thiên, Sở VHTT Bình Trị Thiên xb, Huế.
Lể hội Bà T ơ ở vùng H uế I 211
Trang 20Tôn Thất Bình (1997), Huế - lễ hội dân gian> Hội Vàn nghệ dân gian Thừa Thiên - Huế
xb, Huế
Trần Đại Vinh (1995), Tín ngưỡng dân gian Huê] Nxb Thuận Hóa» Huế.
Trẩn Đình Hằng (2004), “Sự tích miếu Bà Tơ và lễ hội cầu ngư ở làng Bác Vọng
Đông”, trong Thông báo văn hóa dân gian, Viện Nghiến cứu văn hóa, Nxb Khoa học
xã hội
Trẩn Đình Hằng (2004), “Không gian và mồi quan hệ làng - xã qua khảo sát một só
trường hợp ở miền Trung”, tham luận tại Hội thảo quốc tế Việt Nam học lần thứ 77,
Tp Hổ Chí Minh, 14-16/7
Trần Đình Hằng (2005), “Nữ ân nhân của chúa Nguyễn Hoàng trến phá Tam Giang
hói thế ký XVI”, Tạp chí Kiến thức ngày nay, số 519, ngày 10/01.
Trần Đình Hằng (2008), “Từ Cô Gái Áo Xanh ở Ái Tử (Quảng Trị) đến Bà Trời Áo Đỏ
ở Thiên Mụ (Huế): Sinh lộ tư tưởng của vùng đất mới Nam hà”, Kỷ yếu Hội thảo khoa
học Chúa Nguyễn và vương triều Nguyễn trong lịch sử Việt Nam thế kỷ XVI đến thể kỷ
XIX, Thanh Hóa, 18-19/10 Nxb Thế giới, Hà Nội, tr 524 - 532, Xưa Nay, số tháng 10.
Trần Đình Hằng (2009), “Cơ sở tiếp cận văn hóa làng Việt miễn Trung: nhìn từ làng
xã vùng Huế”, trong Nhận thức về miên Trung Việt Nam: hành trình 10 năm tiếp cận,
Phân viện Văn hóa nghệ thuật Việt Nam tại Huế, Nxb Thuận Hóa, tr 51-98
Trần Đình Hằng (2009), “Của Người, Của Ta: Thần điện làng Việt miền Trung”, Hội
thảo khoa học Văn hóa nghệ thuật miên Trung - Hành trình 10 năm tiếp cận, Phân
viện Văn hóa nghệ thuật Việt Nam tại Huế
Trẩn Đình Hằng (2010), “Người Việt đi vể phương Nam: Truyền thuyết mở cõi thời Đàng Trong buổi đẵu ở vùng Huế (trường hợp sự tích Bà Tơ)”, tham luận tại Hội thảo
khoa học quốc tế Văn hóa trong thể giới hội nhập, Trường Đại học Văn hóa Hà Nội,
ngày 25/11/2010, Nxb Văn hóa - Thông tin, Hà Nội
Trấn Đình Hằng (2011), Lễ hội Bà Thu Bồn (Quảng Nam), Viện Văn hóa Nghệ thuật
Việt Nam (để tài NCKH), Hà Nội
Trần Đình Hằng (2011), “Dấu ấn ‘Việt* trên vùng đất mới: trường hợp lẻ hội Phù
Quận công Lương Văn Chánh”, tham luận tại Hội thảo khoa học quốc tế Di sản văn
hóa Nam Trung Bộ với sự phát triển du lịch trong hội nhập quốc tê] Bộ VH-TT&DL -
ƯBND tỉnh Phu Yên xb, Phú Yên
Trần Đình Hằng (2012), “Hệ thống thẩn linh biển và vấn để ý thức dân tộc, chủ nghĩa quốc gia Việt Nam thống nhất: Nhìn từ văn hóa miền Trung, miền Nam”, tham
luận tại Hội thảo quốc tế Việt Nam học iắn thứ IV: Việt Nam trên đường hội nhập và
phát triển bền vững, Viện Khoa học xã hội Việt Nam - Đại học Quốc gia Hà Nội,
26-212 I Lễ hội Bà T ơ ở vùng H u ế
Trang 21Lễ h ội Bà T ơ ở vùny Ị Ị uế I 213
28/1 ỉ /2012 In lại dưới liêu để “Hệ thống thần linh biển và vấn đề ý thức dân tộc: nhìn
lù m iến T ru n g - m iên N am ”, Văn hóa họCy số 4/2012, tr 16-3].
Trăn Đ ình Hằng (2013), “Phá Tam Giang ngày rày đã cạn: Sự thích ứng đa tình huống
của cộng đổng cư dân làng xã vùng Huế”, trong Bảo tàng và di sản văn hóa trong bối
cảnh biển đổi khí hậu (Kỷ yếu hội thảo quốc tế, Huế, 11 - 12/6/2012), Bảo tàng Dấn
tộc học Việt Nam - Viện Văn hóa Nghệ thuật Việt Nam, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 2013, tr 274-289
Trân Quốc Vượng (1993), Trorỉg cõi, Trăm Hoa xb, Caliíornia, bản điện tử 150 trang.
Trần Quốc Vượng (1996), “Đất Tổ: huyền thoại và lịch sử”, trong Tlĩeo dòng lịch sử,
những vũnị đất, thần và tâm thức Việt, Nxb Vản hóa, Hà Nội.
Vô danh thị (1961), Ô châu cận ỉục, Dương Văn An nhuận sắc, tập thành, Bùi Lương
phiên d ịch , V ã n hóa Ả châu xuất bản, Sài G òn.
Trang 22BẢO TÔN VÀ QUẢN LÝ DI TÍCH CHĂM-PA
Ở MIỀN TRUNG VIỆT NAM:
NGHIÊN CỨU MẪU TẠI THẢNH ĐỊA MỸ SƠN ■
MỘT DI SẢN VĂN HÓA THẾ GIỚI
T rần Kỳ Phương
Mỹ Sơn là một trong những quẩn thể di tích kiến trúc tôn giáo quy mô và quan trọng nhất của nghệ thuật Chăm -pa1 tại miên Trung Việt Nam; những đến-tháp Ấn giáo của Mỹ Sơn, gổm khoảng 70 công trình được xây dựng liên tục trong vòng chín thế kỷ, từ cuối thế kỳ IV hay đầu thế kỷ V cho đến thế kỷ XIII Bài viết này trình bày m ột số vấn đề bao gổm lịch sử nghệ thuật, công tác bảo quản và cảnh quan văn hóa Mỹ Sơn trong khuôn khồ quản lý tài nguyên vấn hóa (cultural resource management/CRM)
Di tích lịch sử - kiến trúc Mỹ Sơn
Thánh địa Mỹ Sơn thuộc làng Mỹ Sơn, xã Duy Phú, huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam, ở vị trí 15°3r vĩ Bắc và 108°34’ kinh Đông, cách thành phố Đà Nẵng khoảng 70 cây số vé hướng tây - nam và khu phõ cổ Hội An khoảng 50 cây số về hướng tây; được m ột toán lính người Pháp thời thuộc địa tái phát hiện vào năm 1885 Mười năm sau, Camille Paris2 cho phát quang phế tích
1 Trong bài viết này, chúng tôi dùng thuật ngữ Chàm và Chảm-pa để chỉ vương quốc cổ
Chăm-pa, còn từ Châm để chỉ cho văn hóa, ngôn ngữ của cộng đóng dân tộc Chăm
hiện nay ở phía nam mién Trung cùa Việt Nam.
2 Mất năm 1898, nhà SƯU tập, nhà thám hiểm kiêm nhà khảo cổ học n g h iệ p dư người
Pháp, đồng thời là chủ một đồn điền ở làng Phong Lệ, huyện Hòa Vang, tỉnh Quảng Nam nơi ông phát hiện nhiều di tích kiến trúc Chàm; Paris cũng là người đâ tham gia vào việc thiết kế, quy hoạch và xây dựng hệ thống điện tín dọc theo duyên hải xứ An Nam (miền Trung Việt Nam ngày nay) trong thập niên 1880 (Southworth 2000:47).
Trang 23216 I Bảo tôn và quản lý d i tích Chàm-pa ở miền Trung.
này; đến năm 1896 và 1899, Louis Pinot1 và Etienne Lunet de Lajonquière2 đã nghiên cứu những văn khắc được phát hiện tại Mỹ Sơn
Vào những năm 1901-1902, Henri Parmentier3 khởi sự nghiên cứu nghệ thuật tại đây; và đến năm 1903-1904, cùng với Charles Carpeaux4, ông tiến hành các cuộc khai quật khảo cổ học ở Mỹ Sơn (Art Absolument 2005: 28-33) Các hoạt
động khoa học này được đẩy mạnh đến cao trào vào năm 1904, khi những
công trình của Finot và Parmentier được công bố trên tạp chí của Trường Viễn Đỏng bác cổ (BEFEO) thể hiện những nỗ lực của họ trong việc dịch thuật văn khắc và nghiên cứu các công trình nghệ thuật Chăm -pa của Mỹ Sơn (BEFEO 1904: 805-977)
Do giá trị quan trọng về lịch sử và kiến trúc của di tích này, Mỹ Sơn được tổ chức UNESCO công nhận là Di sản văn hóa thế giới vào tháng 12 năm 1999 Hai tiêu chí trình bày dưới đây minh chứng cho quyết định của UNESCO về việc công nhận Mỹ Sơn là Di sản Văn hóa Thế giới:
- Thánh địa Mỹ Sơn là một khuôn mấu ngoại lệ của sự tương quan chuyển đổi văn hóa, với việc giới thiệu nền kiến trúc Ấn giáo của đại lục Ấn Độ vào vùng Đông N am Á;
- Vương quốc Chăm-pa là một hiện tượng quan trọng trong lịch sử chính trị
và văn hóa của Đông Nam Á, được minh họa sinh động bởi phế tích Mỹ Sơn (UNESCO 1999a)
1 Louis Finot (1864-1935) là nhà bi ký học và sử học thuộc Trường Viễn Đông bác cổ Pháp
(EFEO) tại Hà Nội Công trình của ông gốm: La religion des Chơms d'ơprès lé monuments (1901) and Noté d'épigraphie indochinoise: Les inscriptions de Mi Son (1904) (Goloubevv
3 Henri Parmentier (1870-1949) là kiến trúc sư, nhà khảo cổ học và lịch sử nghệ thuật thuộc Trường Viễn Đỏng bác cổ Pháp Công trình của ông về nghệ thuật Chàm góm:
Inventaire descriptií des monuments Cams de 1'Annam (2 vols: 1909 and 1918) và Le Sculptures chames au Musée de Tourone (1922) {Baptiste 2009:14-25).
4 Charles Carpeaux (1870-1904) là nhà khảo cổ học và nhiếp ảnh người Pháp, làm việc tại Trường Viễn Đông bác cổ vào những nảm 1901-1904 (Baptiste 2009:14-25).
Trang 24Bào tốn và quản lý di tích Chăm -pa ở miền Trung I 217
Q uần thể đến-tháp Mỹ Sơn bao gổm m ột phức hợp đa dạng các phong cách kiến trúc và kiểu thức trang trí độc đáo; nó biểu hiện những giá trị truyền thống vế công nghệ xây dựng bằng gạch, đã đạt đến mức độ hoàn hảo trải qua nhiều thế ký được áp dụng và cải tiến Mặc dù người Chàm (urang Cam pà) không xây dựng những công trình bằng đá quy mô đồ sộ như A ngkor ở C am -pu-chia hay các đền đài Ấn giáo - Phật giáo (H indu - Buđdhist) ở m iền T rung Java (Indonesia), nhưng các công trìn h kiến trúc bằng gạch của họ lại phản ánh cảm quan thầm mỹ tinh tế và tài năng khéo léo cùa những nghệ nhân C hăm -pa qua nhiểu thế hệ N hững nghệ nhân này đã kết hợp kỹ th u ật xây dựng hoàn hảo với phẩm tính toàn bích cùa nghệ th u ật kiến trúc để tạo nên vẻ đẹp trang nghiêm lộng lẫy cho các đển- tháp gạch của Mỹ Sơn
Bi ký xưa nhẵt ở thánh địa Mỹ Sơn do đức vua Bhadravarm an tạo dựng (vua Phạm Hổ Đạt trong sừ liệu Việt Nam hay Fan H u-ta trong sử liệu Trung H o a1) vào những năm 380-413 Công nguyên (Đào D uy Anh 1957: 128) Bi ký ghi nhận rằng vị vua này cho xây dựng m ột ngôi đền để thờ thẩn Bhadresvara và xác nhận m ột vùng đất được tuyển chọn để xây dựng thánh địa hoàng gia
Bi ký này cũng nêu bật các tín ngưỡng Chăm -pa cổ, đặc biệt các hòn núi là nơi ngự trị của thẫn linh Điểu này được thể hiện qua việc th án h hóa ngọn núi thiêng nằm ở phía nam thung lũng Mỹ Sơn bằng danh xưng M ahapar- vata (Đại Sơn Thẩn) (Golzio 2004: 2-4; Bia C.72) Ngày nay, dân địa phương
1 Thảo luận về mối liên hệ giữa danh hiệu của đức vua Bhadravarman được đế cập lẩn đẩu trong vàn bia Mỹ Sơn C.72 và danh hiệu Fan Hu-da hoặc Phạm Hồ Đ ạt trong sử sách Trung Hoa và Việt Nam, chúng ta có thể dựa vào trích dẫn sau đây của Charles Higham:
“Christie đỡ cân nhổc việc trích dân danh hiệu này (Bhơdrovơrman), ông ghi chú rồng theo
sử liệu Trung Hoơ vào thế kỷ VI, đó là sách Thủy Kinh Chú, ở cửa đông của kinh đô Làm Ấp dỗn vào một con đường thoáng mở bên cạnh đó có đặt một tấm bi ký mong tên Hu Da [Hổ Đợt] ồng đỏ giả định đây là Trung Hoa hóa tiếng Chàm hudơh, nghĩa là rực rỡ Phục nguyên tiếng Phọn là Bhodrơ" (Higham 1989: 300) Tấm bi ký theo khảo tả của Thủy Kinh Chú
có khả năng là bia Hòn Cục/Hòn Cụp (Gozio 2004: 5; Bia C.147); Parm entier 1918: 387; Zolese 2009:197-98) Hiện nay, vào mùa khô khoảng tháng 7-8, ta vẫn có th ể nhìn thấy tấm bia này có hai giòng chữ lớn được khắc trên một kè đá sát bờ sông Thu Bổn, ở phía nam chân cẩu đường sắt Chiêm Sơn, cáchTrà Kiệu 4,5 km về phía tâỵ-bắc và cách Mỹ Sơn
11 km vé phía đỏng-bắc, nay thuộc làng Chiêm Sơn Tây, xã Duy Trinh, huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam, ở tọa độ N15°49.900 và E108°11.800.
Trang 25218 I Bảo tốn và quản lý di tích Chãm -pa ở miền Trung.
gọi nó là núi Răng Mèo hay Hòn Quắp Ngọn núi thiêng này được xem là
m ột dấu m ốc để định vị tiểu quốc Amaravati của vương quốc C hảm -pa tọa lạc trên con đường hải thương nối liển hai miển Nam Á và Đông Á; nó được chiêm ngưỡng từ xa dọc theo duyên hải cùa vùng Đà Nẵng và Q uảng
N am ngày nay nơi từng có hai cửa biển quan trọng là Cửa Hàn và Cửa Đại.Ngôi đển đầu tiên của vua Chăm-pa Bhadravarman được dựng bằng gổ, thờ
linga hoàng gia của thần Bhadresvara - đấng bảo hộ vương quốc Chăm-pa
Tín ngưỡng thần Bhadresvara - đấng biểu hiện quyển năng nhất của thẩn Siva,
đã được thờ phượng tại những ngôi đền dựng ven biển ở miền Đông Ấn Độ
từ những thế kỷ đầu Công nguyên; và được phổ biến đến vùng Đông N am Á đương thời (Sahai 2009: 81-2).1
Ngôi đền của vua Bhadravarman dựng tại Mỹ Sơn được xem là m ột trong những ngôi đển thờ Bharesvara sớm nhất ở Đông Nam Á, có niên đại cuối thế
kỷ IV hoặc đẩu thế kỷ V Công nguyên
Mỹ Sơn là m ột thung lũng hẹp, biệt lập, thấm nghiêm, đường kính khoảng hai ki-lô-m ét, bao quanh bời các dãy núi cao Một con suối khởi nguồn từ ngọn núi thiêng M ahaparvata chảy vể hướng bắc ngang qua thánh địa và kết thúc ở giòng sông thiêng M ahanadi hay sông Thu Bổn (Golzio 2004: 4-5; Bia C.147)
1 Tác giả đã có dịp đi khảo sát cùng với GS Sachchidanand Sahai đến một ngôi đền nhỏ thờ thẩn Bhadresvara tên là Sri Vira Bhadresvara tại Holi Gate, Mathura, Ấn Độ, vào ngày 27/4/2014 Ngôi đển này thờ linga và những hình tượng thuộc đạo íiv a ite như nữ thẩn Parvati, Ganeốa, V.V.; nó được dựng cách nay khoảng 400 nảm, hiện được quản lý và điéu hành bởi gia đình ông Ramakant Ngoài ra, GS Sahai cũng cho biết rằng tín ngưỡng Bhadresvara rất phổ biến ở Campuchia vào thời Tiền-Angkor và Angkor, đặc biệt, tại đển Preah Vihear dựng trên núi Dangrek vào thế kỷ 11 (xem thêm , Sahai 2009: 62-3) ông cũng lưu ý rằng, thoạt kỳ thùy, tín ngưỡng Bharesvara đã thực hành nghi lễ hiến sinh nhân m ạng, điểu này được nếu lên trong một minh văn Chăm-pa tìm thấy tại Chợ Dinh, thành phổ Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên, vào thế kỷ 4 (trao đói cá nhân với GS Sahai tại Hội nghị quốc tế "The Cham Art Heritage of Vietnam: Ecological, Cultural and Art Historical Tradi- tions", tổ chức tại Indira Gandhỉ National Center for the Arts, New Delhi, 25-26/4/2014; tham khảo, Majumdar 1985: III, 3-4).
Trang 26Bảo tổn và quản lý di tích Chăm -pa ở miến Trung I 219
Ành 1: Cảnh quan của núi thiêng Mahaparvata/Mỹ Sơn và sông thiêng M ahanadi/Thu Bổn
(Ành:Trán Kỳ Phương)
Đền-tháp của Mỹ Sơn được xây dựng liên tục từ cuối thế kỷ IV hoặc đẩu thế
kỷ V cho đến cuối thế kỷ XIII, Quan niệm kiến trúc của Mỹ Sơn chịu ảnh hưởng sâu đậm nghệ thuật Ấn Độ giáo ờ vùng Nam Á Quẩn thể đển-tháp
bao gổm một ngôi đển chính (kalan trong tiếng Chăm) chung quanh có các
ngôi đền nhỏ, các công trình phụ và một bức tường thấp bao bọc Do chịu
ảnh hưởng từ các kiến trúc đển-tháp theo kiểu thức sikhara của Ấn giáo (đền thờ hình chóp núi) ở lục địa Ấn Độ, nên hầu hết kaỉan Chàm là những ngôi đển thờ ngẫu tượng yoni-linga trong chánh điện thâm nghiêm được tạo nên
bởi m ột nội thất nhỏ hình vuông có mái hình chóp (Acharya 1996: 258-259)
Kalan là tiểu vũ trụ linh thiêng, tượng trưng cho các lý tưỏng siêu linh trong
Ấn giáo của người Chàm Ngôi tháp biểu thị cho m ột đài thờ, và mái tháp
tượng trưng cho ngọn núi thiêng Meru, nơi chư thẩn ngự trị Kalan thường
hướng vể phía đông nơi khởi đẩu vận hành thời gian của vũ trụ Ở Mỹ Sơn,
các kalan lại hướng về phía đông lẫn phía tây, hình thành một loại đền thờ
đặc biệt, mà ngôi đền Mỹ Sơn AI là một tiêu biểu duy nhất với hai cửa chính trổ về hai hướng đông và tây Ngẫu tượng thờ trong chánh điện được đặt trên một cái bệ vuông, đẩu của bệ là một cái máng có rãnh dài gọi là
snana-droni, phục vụ nghi thức tắm tượng để hứng nước thánh tưới lên linga
với đẩu máng chỉ về hướng bắc Đôi khi cũng có bệ chứa nước thánh hình
vuông bên dưới đài thờ, hay là một somasutra (máng xối) mà qua đó nước
thiêng chảy ra từ đài thờ trong chánh điện của ngôi đển qua các bức tường, rồi được tín đổ thu thập sử dụng Quanh đài thờ là m ột hành lang hẹp, hay
Trang 27220 I Bảo tốn và quản lý di tích Chãm-pa ở miến Trung
p r a d a k s h in a - p a th a, dành cho tín đổ đi vòng quanh khi hành ỉễ (Trần Kỳ
Phương 2009: 157-170)
Kết nối với chánh điện, thông qua một khung cửa, là m ột tiền sảnh hẹp, m ột bên thờ tượng bò thần Nandin để ban phước cho nơi thờ tự Ở lối vào tiên sảnh là hai trụ đá khắc chạm tinh xảo ch ú n g có thể là hình tròn, hình bát giác hay tứ giác tùy theo thời kỳ xây dựng: cột hình tròn thuộc về giai đoạn sớm nhất; rổi đến cột hình bát giác; và m uộn hơn là cột hình tứ giác Người Chàm thường khắc các m inh văn trên những trụ cửa này qua từng thế kỷ
Các kalan đểu có m ột phong cách kiến trúc cơ bản: thân tháp có hình vuông,
trong khi mái tháp hình chóp có ba tầng với một chóp mái bằng sa thạch, ở
trung tâm phức hợp đển-tháp là một kalan Đối diện với kalan là một tháp- cổng, h ay gopurciy với hai cửa trồ vê' hai hướng đông- tây Phía trước tháp-cổng
là tiên đình hay mandapa, một kiến trúc hình chữ nhật có mái ngói nối dài với nhiểu cửa sổ và hai cửa chính ở hai đầu đông-tây; mandapa dùng để biểu
diễn vũ nhạc thiêng hoặc sừa soạn lễ vật dâng cúng chư thẩn (Acharya 1996: 117; 332)
Bên phải kaỉan luôn có m ột nhà kho chứa phẩm vật hiến tặng, hay kosagrha,
mà người Chăm hiện đại gọi là ‘tháp lửa’ Kiến trúc này được xây dựng bằng
gạch, mái cong hình thuyền và có một hoặc hai phòng Kosagrha luôn hướng
vể phía bắc, nơi thẩn Kuvera, vị thẩn thịnh vượng và may mắn ngự trị Quanh
kalan và các công trình phụ là một tường gạch thấp hình vuông kết nối với
tháp-cổng Bên ngoài vòng tường thường có một số tháp-bia và đền phụ Trong nhóm tháp A, các tháp nhỏ từ A2 đến A7, cùng với hai cửa chính trồ
vể hai hướng đông và tây của đền A l, thể hiện một hệ thống đển thờ phụ của
các vị thẩn phương vị hay hộ thế bát thiên vương (astadikpalakas) gổm tám vị
thẩn trẩn giữ tám hướng, như: (1) hướng đông - thẩn Indra hay thẩn Sấm Sét, cưỡi con voi Aivarata; (2) hướng đông nam - thẩn Agni hay thẩn Lửa, cưỡi con
tê ngưu; (3) hướng nam - thẩn Yama hay thẩn Chết, cưỡi con trâu; (4) hướng tây - thẩn Varuna hay thẩn Nước, cưỡi con ngổng; (5) hướng tây nam - thẩn Nairrta, thẩn Hủy Diệt, cưỡi một vị Á thẩn; (6) hướng tây bắc - thẩn Vayu hay thẩn Gió, cưỡi con ngựa; (7) hướng bắc - thẩn Kuvera hay thẩn Tài Lộc, cưỡi tòa lâu đài; (8) hướng đông bắc - thẩn Isana hay đấng Toàn Năng, cưỡi con
bò (Boisselier 1963: 155-59) Ngoài ra, tại nhóm B cũng có một hệ thống tháp
nhỏ từ B7 đến B13 thờ các vị thẩn tinh tú hay thất tú/cừu tú (saptagrahas/
navagrahas) bao gổm: (1) Nhật thần Surya, cưỡi con ngựa; (2) Nguyệt
Trang 28-Bảo tồn và quản lý di tích Chăm -pa ở miền Trung I 221
thẩn Chandra, cười một tòa sen; (3) Hòa tinh - thần Mangala/Agni, cưỡi con
tê ngưu; (4) Thủy tinh - thẩn Varuna, cưỡi con ngỗng; (5) Mộc tinh - thẩn Brhaspati/Indra, cưỡi con voi; (6) Kim tinh - thần Sukra/Isana, cưỡi con bò; (7) Thổ tinh - thần Sahni/Yama, cưỡi con trâu (Trần Kỳ Phương 2008: 42-44)
Mỹ Sơn B, c, D Group
Ầnh 2: Bình đồ của nhóm đén-tháp Mỹ Sơn B-C-D (Nhã ý của Shige-eda Yutaka)
Năm 1985, trong quá trình trùng tu các nhóm tháp B-C-D, các nhà khảo cổ học đã tìm thấy m ột cái quách đá hình vuông được làm từ các phiến sa thạch, trong quách có chứa các mảnh gốm vỡ và tro than do cải táng hoặc hỏa thiêu Cái quách này được đặt bên trong một bức tường thấp nằm giữa hai ngôi tháp B6 và C3 Các nhà nghiên cứu suy luận rằng đây có thể là ngôi mộ được cải
Trang 29222 I Bảo tồn và quản lý di tích Chăm-pa ở miển Trung
táng của một vị vua Chăm-pa vào khoảng thế kỷ X hay XI, nó m inh chứng cho việc Mỹ Sơn vừa là m ột thánh địa thờ thẩn Bhadresvara - đấng hộ trì cho các triều vua; là nơi thờ tự tổ tiên của hoàng tộc; vừa là đất thiêng nơi hòa táng/an táng và tưởng niệm các vua Chăm-pa (Trán Kỳ Phương 2008: 35-6) Vì vậy, đển-tháp ở Mỹ Sơn cũng có thể được xem là lăng mộ cùa các vua Chăm-pa trong nhiều thế kỳ.1 Cái quách độc đáo này hiện được trưng bày trong tháp
gia của Mỹ Sơn B l2 và tượng thần Siva đứng của Mỹ Sơn C1 cũng như của các
tồ hợp Mỹ Sơn A’l với A’4 và E l3 với E4; đây là những nhóm tháp quan trọng
1 Chúng ta có thể so sánh tín ngưỡng này của Mỹ Sơn với tín ngưỡng của các ngôi đền Angkor tại Cam puchia như George Coedès đã thảo luận rằng: "Ngôi đền quốc gia củng
là ngôi đền cá nhân của nhà vua, nó được dựng bởi nhà vua trong lúc sinh thời Sơu khi nhà vua bâng hà, tro cốt hoặc di hài bất tử của nhà vua được an táng ờ đó để trao sinh khí cho ngẫu tượng và tợo nên tín ngưỡng của một hình tượng sổng, ngôi đền trở thành làng tẩm của nhà vua thật rơ, những vi vua vĩ đại của Angkor đà xây dựng những tượng đài để lưu giữ hình tượng của họ và vĩnh cửu hóa các tín ngưỡng cá nhân của họ Angkor Vat là chốn
cư ngụ cuối cùng cùa một sinh thề, người đá hưởng thụ một đặc ân thần thánh nào đó trong lúc sinh thời, và khi chết được chuyển hóa vào một vị thần " (Coedès 1969:31, 34,38).
2 Bộ yoni-lỉnga của đền Mỹ Sơn B I được phát hiện năm 1985 trong khi trùng tu nhóm B, nó
bị sụp đổ xuống cái hẩm vuông ngay giữa lòng tháp; vì vậy, trong các bản vẽ của Henri Parm entier trước kia đã không thể hiện bộyoni-linga cùa ngôi đén BI (tư liệu điền dã của tác giả 1985 tại Mỹ Sơn; Parmentier 1909: 364-365).
3 Gần đây, vào tháng 11 năm 2012, Ban Quản lý di tích Mỹ Sơn đã phát hiện được một
mukholingơ bằng sa thạch (lingơ có chạm mặt thần Siva ở phần hình tròn trên cùng hay
là rudrabhàga), cao 126cm; ở góc tường ngoài đông-bắc cùa ngôi đền Mỹ Sơn E1 Đây
là mukhơlinga duy nhất phát hiện tại Mỹ Sơn; m ặc dầu lingơ hơi bị m òn nhưng vẫn còn
th ấy rỏ những chi tiết th ể hiện như khuôn m ặt dịu d àn g , đôi m ẳt m ở lớn, bộ râu m ép
rậm, đôi môi hơi dày, mái tóc búi cao theo kiểu jơta-mukutơ, hai tai to, và cổ có ba ngấn;
so sánh những đặc điểm tạo hình này với các tác phẩm trong cùng m ột giai đoạn tạc tượng, chẳng hạn pho tượng Siva đứng của đền Mỹ Sơn C1, và đặc biệt, với những kosơ-
Sỉva bằng kim loại đặc thù của nền điêu khắc Chàm , chúng tôi suy luận rằng mukhơlinga
này có niên đại vào khoảng thế kỷ VIII; như vậy, có nhiều khả năng mukhalingơ này chính
là linga thờ trong đền Mỹ Sơn E1 mà trước đây Parm entier đã phục dựng lại bằng bản
Trang 30phản ánh tín ngưỡng hoàng gia của các vương triều Chảm-pa cồ Tín ngưỡng đặc trưng đối với thẩn Bhadresvara/Siva của Mỹ Sơn, kết hợp với tín ngưỡng thờ nữ thẩn Bhagavati, hay hiện thể siêu việt của Siva, trong hình dạng nữ thẩn
Pô Yang Inư Nagar của thánh địa Pô Nagar Nha Trang đã phản ánh tín ngưỡng
vũ trụ lưỡng nghi (lường hợp - lưỡng phân) của các vương triều Chăm-pa, đó lả: đực - cái/cha - m ẹ/núi - biển/tộc cau - tộc dừa, v.v Tín ngưỡng này đã được thực hiện tại hai thánh địa hoàng gia qua suốt các thời kỳ lịch sử từ thế kỷ VIII đến thế kỷ XII/XIII (Trẩn Kỳ Phương và cộng sự 2012: 267-280)
Phãn lớn các đển-tháp hiện tổn tại ờ Mỹ Sơn đều được xây dựng trong những
thế kỷ 10, 11, 12 và 13 Các nhà nghiên cứu lịch sử nghệ thuật đánh giá các ngôi đền Al> B3, B5, C1 và D l, v.v là những tuyệt tác của kiến trúc Chàm (Claeys 1934: 45-49; Stern 1942: 86-89; Parmentier 1948: 58-75) Đặc trưng nghệ thuật của các đển-tháp này được thể hiện qua những trụ trang trí hoa lá (laô-típ trang trí hoa lá hay cây cỏ), được khắc họa bằng những vị thẩn nhân bio quanh bởi các ngọn lửa thiêng cách điệu, đứng dưới các mái vòm và các điờ ng gờ viển hoa sen cách điệu trên mái tháp
Tiểu quốc Amaravati hùng mạnh và thịnh vượng (từ thế kỳ VII đến thế kỷ XIII) được phản ánh qua các công trình kiến trúc và điêu khắc phong phú
ờ Mỹ Sơn và các di tích khác trong vùng Quảng Nam như Trà Kiệu, Đổng Dương, Khương Mỹ, Chiên Đàn, Bằng An, v.v (Trẩn Kỳ Phương và cộng
SỊ 1997: 70-112; Trần Kỳ Phương 2008: 33-68) Vua Harivarman, trị vì vào nằững năm 1074-1081 Công nguyên, đã hồi sinh đất nước sau nhiều năm cliến tranh liên miên với vương quốc Đại Việt ở phía Bắc Ồng cho trùng tu các đển-tháp ở Mỹ Sơn và xây dựng lại nhiều làng mạc, thị tứ ở khắp nơi dưới quyển cai trị của mình N hững thành quả của ông được ngưỡng mộ cao và gli khắc trong các bi kỷ như văn bia Mỹ Sơn số XXIV và XXV (Golzio 2004: 1:8-43; Bia C.90) Những ngôi đền quan trọng như BI và E4 đểu được phục hoi hay tạo dựng trong thời trị vì đức vua này Vị vua kế thừa sau đó, Jaya Hirivarman I, là người đã gặt hái một số chiến thắng trước quân Cambodia và Yivana (Đại Việt) được ghi chép trong một minh văn có niên đại 1157/1158
Bảo tân và quản lý di tích Chăm -pa ở miền Trung I 223
vẽ Mukholingo có chạm một mặt Sỉva được gọi là ekhamukhơlinga, đã xuất hiện vào thế
kỷ II trong nghệ thuật Ấn Độ; và, John Guy lưu ý rằng nghi thức hành lễ lingo (lingơ-pùjà)
lộ thiên được chạm trên Đài thờ Mỹ Sơn E1 cùng với hình tượng ekhomukholingo đã
cho thấy những ảnh hưởng trực tiểp từ nghệ thuật Ấn, thời kỳ Mathura, đến nghệ thuật Champa vào những thế kỷ đẩu Công nguyên (Guỵ 2009:130-131).
Trang 31Công nguyên (Golzio 2004: 153-161; Bia C.100) Ông đã cho xây dựng một quấn thể kiến trúc quan trọng để cúng dường thẩn Harimesvara và cha mẹ ông trên m ột ngọn đổi nhỏ gọi là núi Vugvan (Vũ trụ), nơi giờ đây là các đền- tháp thuộc nhóm tháp G Một bi ký khác của vua Parameávaravarman II dựng vào năm 1234/1235 Công nguyên (Golzio 2004: 178-179; Bia C.86) được phát
hiện gần kalan B1 cho biết ông là một trong những vị vua Chảm-pa cuối cùng
đã phục hổi và cúng hiến lớn lao cho ngôi đển chính này
Vào cuối thế kỷ XIII hoặc đẩu thế kỷ XIV, Mỹ Sơn có thể đã bị phế bỏ do sự suy yếu của tiểu quốc Amaravati Ở thời điểm này, tiểu quốc Vijaya (trong tỉnh Bình Định ngày nay) trở thành trung tâm kinh tế - chính trị trọng yếu cùa vương quốc Chăm-pa nơi nhiểu tồ hợp đền-tháp to lớn được xây dựng liên tục từ thế kỷ XI-XIV như Bánh Ít/Tháp Bạc, Hưng Thạnh/Tháp Đôi, Dương Long, Cánh Tiên (Trẩn Kỳ Phương 2008: 68-91); trong đó, phải kể đến ngồi tháp giữa của nhóm ba tháp Dương Long, cao 42 mét,1 dựng vào cuối thế kỷXII hoặc đẩu thế kỷ XIII, là m ột trong những ngôi đền H indu bằng gạch cao nhất ở Đông Nam Á đương thời Năm 1471, vua Lê Thánh Tông của Đại Việt tấn công kinh đô Chà Bàn của tiểu quốc Vijaya, biến cố này đã đánh dấu khởi đẩu cho sự suy tàn nhanh chóng của vương quốc Chăm-pa trong các thế kỷ kế tiếp (Maspero 1988: 235-41; Pô Dharma 1997: 45-47)
Tổng thể đển-tháp Mỹ Sơn thể hiện quá trình phát triển của các phong cách chủ yếu trong nghệ thuật Chăm-pa Giá trị nghệ thuật của thánh địa Mỹ Sơn được thể hiện qua các phong cách kiến trúc đa dạng, phong phú, các kiểu thức hoa văn độc đáo cùng với sự hoàn hảo trong kỹ thuật xây dựng, phản ánh được nhiều thế kỷ phát triển của kiến trúc đền-tháp Chăm-pa Khi so sánh đền-tháp của Mỹ Sơn với những di tích kiến trúc Ấn giáo cổ đại khác trên vùng Đông Nam Á, điểu lưu ý là quần thể Mỹ Sơn nồi bật lên như một di tích có quá trình phát triển liên tục và lâu dài nhất, trong vòng chín thế ký Nhiểu vết tích của các cấu trúc đền thờ bằng gạch và đá của thuở ban đẩu, xây dựng vào các thế
kỷ VII/VIII, được phát hiện bên cạnh những đền thờ xây dựng vào cuối thế kỷXIII chứng minh cho sự phát triển kỹ thuật xây dựng đền-tháp qua nhiều thế kỷ; chúng cung cấp những chứng cứ thuyết phục cho sự diễn giải quá trình tiến triển của các đến-tháp được kiến tạo tại thánh địa này (Stern 1942: 81-89)
224 I Bảo tốn và quản ỉý di tích Chăm-pa ở miền Trung
1 Số đo thu thập bởi tác giả năm 1995, chưa công bố, trong dự án 'Nghiên cứu văn minh Champa'tài trợ bởi Quỹ Toyota Foundation.
Trang 32Bảo tồn và quản lý di tích C hãm -pa ở miển Trung I 225
Những vấn đề bảo ỉồn di tích Chăm-pa
Vào đầu th ế kỷ XX, Trường Viễn Đông bác cổ Pháp (EFEO) tại Hà Nội đã
hỏ trợ cho việc nghiên cứu và bảo tổn di tích Chăm-pa Vào năm 1930, EFEO
thành lập m ột cở sở mới gọi là Bảo tồn di tích lịch sử An Nam - Chăm-pa (La
conservation des monuments historiques de VAnnam-Champà) dưới sự điểu
hành của Jean-Yves Claeys, văn phòng đặt tại Huế Trong những nám giữa
1931 và 1942, Mỹ Sơn và Pô Nagar N ha Trang, hai khu di tích lớn nhất của
đển-tháp Chăm-pa được đưa vào tu bổ Vào năm 1931, Claeys bắt đẩu gia cố
và trùng tu khu đển-tháp Pô Nagar Nha Trang, ngoại trừ ngôi đền phía nam
đã được Parmentier trùng tu vào năm 1902 và 1907 Claeys cũng đã trùng tu tiền sảnh (vestibule) của tháp Bằng An tại tỉnh Quảng Nam vào năm 1933 với
sự cộng tác của một kỹ sư thủy lợi người Pháp.
Công việc trùng tu tại Mỹ Sơn bắt đẩu vào tháng 7/1937 dưới sự điểu hành của
Louis Bezacier và Nguyễn Xuân Đồng; trong thời gian này những đển-tháp của nhóm B và D đã được gia cố Trong những năm tiếp theo, ngôi đền A l, một kiệt tác của kiến trúc Chàm và sáu ngôi đển nhỏ bao quanh, A2-A7, đã được trùng tu; và những công trình khác cũng được gia cố ở phẩn nền móng tháp Công cuộc trùng tu của Mỹ Sơn trong giai đoạn này được đánh dấu bằng
lễ khánh thành ‘Công viên Khảo cổ học Mỹ Sơn> (‘Parc Archeologique de My Son’) bởi Admiral Decoux, toàn quyển Đông Dương, vào tháng Tám 1942 (BEFEO 1930: 659-662; BEFEO 1939: 415; Nguyễn Xuân Đổng 1978-1980:
trao đổi cá nhân tại Đà Nẵng; Southworth 2001: 55-60)
Những năm từ 1954-64 là thời bình yên cùa Mỹ Sơn Tuy nhiên, từ 1965 trờ đi,
chiến tranh bắt đẩu lan tràn khắp vùng quê Mỹ Sơn đã ưở thành căn cứ địa của
quân cách mạng Trong những năm 1966-1968, Mỹ Sơn nằm dưới quyển kiểm
soát của Mặt trận Giải phóng Miền Nam; và di tích này bị đặt trong vùng oanh kích tự do của chính quyển Sài Gòn Giao tranh đã diễn ra ác liệt tại đây Hàng ngàn trái min đã được cài đặt khắp các ngọn đồi và trên sườn núi; đặt biệt tại sườn
núi phía bắc nơi có con đường mòn dẫn về làng Mỹ Sơn; và rốc-két bắn bừa bãi
vào di tích từ các đồn lính đóng ưong vùng lân cận Nhưng thiệt hại nặng nề nhất
đã xảy ra cho Mỹ Sơn là khi máy bay B52 đánh bom khu di tích này vào tháng Tám 1969 Ngày nay, nhiều hố bom lớn vẫn còn nhìn thấy tại các nhóm tháp B, E
và F Hai ngôi đền lớn là Mỹ Sơn AI và E4 bị đánh sập hoàn toàn Mất mát lớn lao nhất là sự hủy diệt đối với ngôi đển A l, một kiệt tác của kiến trúc Chăm-pa và của
cả vùng Đông Nam Á cao 28m, vừa bị đánh bom vừa bi nhá hủvbằngbôc phá
Trang 33226 I Hảo tồn và quản lý di tích Chàm-pa 0 miền Tru nạ.
Ngay sau khi Mỹ Sơn bị đánh bom, Nguyên Xuân Đổng (1910 1986), cựu
q uản th ủ (curator) C ổ V iệ n C h à m (B ả o tà n g Đ iê u khắc C h ă m - Đ à N ẵ n g ngày
nay) từ 1938-1970, đã lập tức báo tin xấu này đến Phillipe Stern (1895-1979), nhà lịch sử nghệ thuật Đông Nam Á lỗi lạc người Pháp đương thời là tổng quản thủ Bảo tàng Guimet tại Paris (Nguyễn Xuân Đổng 1978: trao đổi cá nhân tại Đà Nẳng) Stern đã bày tỏ mổi quan ngại của ông về tình trạng của
Mỹ Sơn trong thư để ngày 8/12/1969 gởi đến Nhà Trắng (Hoa Kỳ): “Ngài Tổng
thống kính mến, là cựu tồng quản thủ của Bảo tàng Quốc gia Pháp, đặc trách
về nghệ thuật Đông Nam Á (Bảo tàng Guimet), bao gồm nghệ thuật Việt N am , tôi muốn nêu lẽn cùng Ngài về tình trạng báo động của những di tích lịch sử [của Châm-pa] như một phẩn của lịch sử thế giới ” (Ịarrige 2005: xxii) Ngay
sau đó, vào tháng giêng năm l970, Tổng thống Nixon đã gừi thông điệp chính
thức đến Tổng tư lệnh quân đội Mỹ tại Miền Nam như sau: “Nhà Trắng mong
rằng ở m ột mức độ có thể được, các biện pháp phải được cân nhắc để đảm bảo thiệt hại cho các di tích này không bị gây ra bởi các hoạt độnạ quân sự” (Heffley
1972: 13)
Khởi từ 1978, Mỹ Sơn được khai quang và tháo gỡ mìn, công việc gian nan này
đã khiến sáu người chết và mười m ột người khác bị thương Bấy giờ, chúng tỏi đã chứng kiến di tích với đẩy những hố bom, những quả bom chưa nổ và mảnh bom vung vãi khắp nơi; nhiểu tường tháp bị phá hủy bởi rốc-kết và đạn pháo; nhiều bi ký và tượng thờ bị bắn vỡ Toàn bộ đển-tháp nằm trong đống gạch vụn, phủ kín cò hoang; Mỹ Sơn đã hoàn toàn bị biến dạng với đẩy thương tích (Trần Kỳ Phương 1988: 8; 55)
Ảnh 3:Thánh địa
Mỹ Sơn bị tàn phá trong thời chiên, hố bom phía tây tháp B; hiện trạng năm
1978 (Ảnh: Trần Kỳ Phương)
Trang 34ttiiiì tốĩt \'() lịuảĩỉ lỷ tii tich Chăìii Ịhi 0 miến D imọ Ị 227
V«H 1980» m ộ t n h ỏ m c h u y ê n £»ia Ba Ị,an h ợ p tác V()'i ( 'ục Bảo tồn , Bộ Van hóa 'ỉhô:ìg tin Y iệl N a m tiến hành k h ả o sát hiện trạng các di đ ích C h à m tại m iễ n
T rirìg 'riếu ban Bảo tổn di tích C h ả n ì-p a đ ư ợ c thành lập và d iếu h ành bởi cổ kieV: trúc sư K a /im ie rz K w iatk ow sk i ( 1 9 4 4 - 9 7 ) , th u ộ c X ư ở n g Bảo tốn tài sản văn ló a c ủ a Ba Lan (PKX) C h ín h p h ủ Việt N a m đã đài th ọ toàn b ộ kinh phí
c h o : ỏ n g c u ộ c trù n g tu các di tích C h à m tro n g n h ữ n g n ă m 1980 ( H o à n g Đ ạ o
Kính 2009: 26-32)
Ảnh 4: Công cuộc trùng tu tại Mỹ Sơn
hành bởi PKZ (Ảnh: Trán Ky Phương)
Từ P 8 1-1985, các nhóm tháp B, c và D dược chụp ảnh đạc họa (photogram- metiy) để đưa vào gia cố, phục hôi hoặc trùng tu Giữa 1986 và 1990, những ngôi tháp thuộc nhóm A được gia cổ Hàng ngàn mét khối gạch vỡ dược di dờti, lọn dẹp và sắp xếp lại Hai tạp chí tường trình về công cuộc trùng tu này
đư ợc xuất bản bởi PKZ (Kwiatkowski 1985; 1990) Trong phương pháp trùng
tu t ạ Mỹ Sơn, các chuyên gia Ba Lan đã sử dụng lại gạch xua rơi ra từ các tháp
và ding xi-măng để gắn kết chúng lại khi muốn phục hổi các tường tháp đổ,
họ s i dụng phương pháp gia có và tái định vị (anastylosis), phục hổi những phiẩi đã mất dựa trên chứng cứ khảo cổ học và chỉ trùng tu một phán của từng
di t í a để bảo tổn nguyên trạng (authenticitv) của các di tích Dự án cuối cùng
Trang 35của PKZ tại Mỹ Sơn là chuyển hai tháp D I và D2 thành hai nhà trùng bày các tác phẩm điêu khắc thu thập được tại di tích, vào 1994.
228 I Bảo tồn và quản lý di tích Châm -pa ở miền Trung
Ảnh 5: Linga Hoàng gia
Bhadresvara được thờ trong ngôi đền B I, thế kỷ XI-XII; được phát hiện vào nảm 1985 trong khi ngôi đền được trùng tu bởi PKZ (Ảnh: Trần Kỳ Phương)
Từ 2000 đến 2006, được tài trợ bởi Quỹ World Monument Fund, các nhà khảo
cổ Việt Nam và nước ngoài đã tiến hành một số cuộc khai quật khảo cổ học tại
Mỹ Sơn, trong đó có cuộc khai quật ở dòng suối cạn chảy giữa nhóm A và D
để trục lên nhiểu khổi đá lớn từ một kiễn trúc cổ mà không được biết rỗ chúng thuộc vể ngôi đền nào xưa kia Cũng trong thời gian này, một nhóm chuyên gia Ý
từ Quỹ Lerici Foundation thuộc Đại học Milan do Patrizia Zolese dẫn đẩu cũng tiến hành khai quật và trùng tu ở nhóm G từ 1997 đến 2007 Dự án này đã lập bản đổ ‘Hệ thống Thông tin Địa lý/Geographic Iníòrmation System (GIS)’ cho toàn khu di tích Mỹ Sơn, đổng thời tiến hành các khảo sát khảo cồ học ở nhóm
G Toàn bộ nhóm tháp G đã được trùng tu và khôi phục cấn thận theo những phương pháp hiện đại trên nguyên tắc bảo tổn nguyên trạng của từng ngôi tháp Trong quá trình khai quật khảo cồ học phục vụ trùng tu tại nhóm tháp G, nhiéu tác phẩm điêu khắc có giá trị đã được phát hiện, đóng góp thêm những nhận thức mới vể kiến trúc tại Mỹ Sơn Kết quả của công cuộc trùng tu do đoàn Ý đảm
2009 (Zolese 2005: 169-173; 2009: 197-237; Hardy và cộng sự 2009)
Trang 36Vào 2003, các nhà khảo cổ học thuộc Viện Khảo cố học Việt Nam ở Hà Nội tiên hành bóc dờ và sắp xếp lại một đống gạch vỡ phủ ngập ngôi đến F1 để khơi lộ phẩn chân tháp của nó với nhiều chi tiết trang trí có giá trị nghệ thuật
đế tim hiểu vê giai đoạn kiến trúc sớm của thánh địa này trong thế kỷ VIII (tư liệu điển dã của tác giả 2003 tại Mỹ Sơn)
Tuy nhiên tại Mỹ Sơn vẫn còn nhiều tháp trong tình trạng hết sức tồi tệ Đặc biệt các tháp A10, A12, A13 và các nhóm tháp E, H và K rất cần đến công tác bảo tốn kh ẩn cấp
Giữa những năm 1980 và 1990, PKZ cũng írùng tu những kiến trúc Chăm-pa khác như Chiên Đàn (tỉnh Quảng Nam), Pô Kloong Garai (tỉnh Ninh Thuận), Hưng Thạnh/Tháp Đôi và Dương Long (tỉnh Bình Định) (Kwiatkowski 1985; 1990) Trong số các dự án này, việc trùng tu nhóm Pô Kloong Garai được các chuyên gia đánh giá là thành công nhất do nguvên mẫu của ngôi đén hấu như được bảo tổn nguyên vẹn Trong quá trình trùng tu ở Chiên Đàn vào 1989
và Dương Long vào 1985, m ột số tác phẩm điêu khắc đáng chú ý được phát hiện, chúng là những mảng phù điêu trang trí chân tháp, gổm các hoạt cảnh
và động vật, của ngôi tháp giữa của nhóm Chiên Đàn (hiện trưng bày tại Nhà trung bày Chiên Đàn); và, m ột số tym-pan (trán cửa) đặc sắc thể hiện các nam thẩn và nữ thần Ấn giáo được phát hiện tại Dương Long (hiện trưng bày tại Bảo tàng tỉnh Bình Định ờ Quy Nhơn) Những phát hiện này là những đóng góp quan trọng trong việc tìm hiểu mối quan hệ giữa kiến trúc và điêu khắc của nền nghệ thuật Chăm-pa
Bảo tốn và quản lý di tích Chãm -pa ỏ miền Trung I 229
Ảnh 6: Nhóm tháp Dương Long, thế kỷ XII- XIII, được trùng
tu vào năm
2008 (Ảnh: Trần
Kỳ Phương)
Trang 37230 I Bảo tồn và quản lý di tích C hăm -pa ở miền Trung
Tuy nhiên trong thời gian qua, nhiều chính quyền địa phương đã cho trùng
tu m ột cách bừa bãi hẩu hết các di tích Chàm ở một só tỉnh miền Trung, kết quả là họ đã làm biến dạng những đển-tháp này Ví dụ, trong chính điện của
m ột ngôi đền Ấn giáo, các bức tường thường được đục khoét để trở thành thô nhám, lỗ chỗ tương tự m ột hang động là nơi cư ngụ của chư thấn (Trần Kỳ Phương 2009: 159); thế nhưng vào những năm từ 1998 đến 2001, giới thẩm quyển địa phương tỉnh Bình Đ ịnh đã dùng xi-măng để trám phẳng những bức tường trong của chánh điện của ngôi đền vì họ lầm tưởng rằng chúng đã bị tàn
phá bởi thời gian, V.V.; những điển hình của các hành động trên có thể nhận
thấy ở các tháp Bình Lâm, Thủ Thiện và Thốc Lốc tại tỉnh Bình Định M ột ví
dụ khác là ở nhóm tháp Pô Nagar N ha Trang nơi ngôi đền cổ nhất, ngọn tháp tây-bắc (xây dựng vào thế kỷ X, có đặc trưng mái tháp hình thuyền) đã bị biến dạng hoàn toàn trong quá trìn h trùng tu giữa các năm 1998 và 2000 Từ 2001 đến 2002, chính quyển địa phương ở nhóm Pô Dam (tỉnh Bình Thuận) đã dùng gạch mới để xây lại m ột cách tùy tiện những bức tường mới phủ đè lên những bức tường cổ của các ngôi đền được xây dựng vào thế kỷ VIII Nghiêm trọng hơn là, nét đẹp tuyệt hảo của nhóm Hòa Lai ở tỉnh N inh Thuận, được xây dựng vào cuối thế kỷ VIII hoặc đầu thế kỷ IX (dựa theo m ột bi ký phát hiện tại chỗ có ghi niên đại 778 và 8391), là m ột trong những nhóm tháp có niên đại sớm nhất của kiến trúc C hăm -pa hiện tồn, đã bị hủy hoại nghiêm trọng trong quá trình trùng tu tiến hành từ 2005 đến 2007, khi các bức chạm khắc hình chim thẩn Garuda bằng gạch đẹp nổi tiếng của m ái tháp Bắc đã bị biến dạng do việc mô phỏng các hình dạng tương tự bằng đất nung để phục hổi phẩn mái tháp; các hình voi sinh động trang trí ở chân tháp cũng bị sao chép m ột cách vụng về, thô thiển N hững hình tượng mô phỏng này đã khiến nhóm tháp Hòa Lai trở thành xấu xí, phản cảm; và, tai hại hơn là trong tương lai không xa khi những phẩn tháp bị trùng tu đã rêu hóa thì khó mà phân biệt đâu là phẩn nguyên gốc và đâu là phẩn phục chế, đây là việc làm tối kỵ trong phương pháp trùng tu cơ bản
1 Http://isaw.nyu.edu/publications/inscriptions/cam pa/ỉnscriptions/C0216.html (truy cập ngày 2/5/2014).
Trang 38Hão l ó ĩ í vù ( Ị I U Ì I Ì /v di ỉícli ( ' Ì ỉ i i ỉ i ì [ U i 0 ỉ ì ỉ i ẽ n Trung I 23 I
Ánh 7: Phán thượng táng kiến trúc của ngôi tháp Bắc nhóm Hóa Lai, đáu thế ký IX, đẳ được trung tu, vào những năm 2005 2007; những hình chìm thán Garuda mỏ phòng bản gốc băng đất nung ờ góc bên phải tháp đã làm biến dạng, và gây mất
mỹ cảm chơ ngôi đến Trong tương lai sẽ rất khó phân biẻt được đáu là phán trùng tu; đâu !à phấn nguỵén bản (Ảnh: Trấn Kỳ Phương, 2.011)
Tuy vậy, cũng có một sổ khai quật khảo cổ học được tiên hành chu đáo hơn, kết hợp với việc trùng tu và bảo tổn tại nhóm tháp Khương Mỹ (tỉnh Quảng Nam) vào 2007, tháp Bình Lảm vào 2008 và nhóm tháp Dương Long (tỉnh Bình Định) vào 2007, 2008; những cuộc khai quật này đả phát lộ một sổ lớn công trình điêu khắc bằng sa thạch, hình thành cốt lỏi cho việc nghiên cứu kỹ thuật xây dựng nguyên thủy của kiến trúc tôn giáo Chàm và cung cấp những hiểu biết nghiệp vụ thực tiễn cho công việc trùng tu di tích Chàm trong tương lai (tư liệu điển dã của tác giả 2001-2011 tại miên Trung Việt Nam)
Hiện tại, các nhà bảo tổn Việt Nam đang phục dựng các đển tháp Chăm- pa dựa trên sự suy tường hơn là dựa trên các dữ liệu và luận cứ lịch sử kiến trúc Việc nghiên cứu các công trình kiến trúc cồ phần lớn không hoàn chỉnh trước khi công việc trùng tu được tiến hành một phần do yêu cẩu công việc trùng tu phải được hoàn tất nhanh chóng bởi kinh phí hạn hẹp
Trong những năm gán đây, hẩu hết đền-tháp Chăm-pa tiêu biểu đều được trùng tu dựa trên chỉ đạo và Ưu tiên cùa các giới có thẩm quyền hơn là dựa trẻn các suy xét mang tính học thuật của các nhà khoa học Do đó, phương pháp trùng tu đã được áp đụng vẫn còn là m ột vấn để đáng tranh cãi
Dựa trên kinh nghiệm trùng tu tại Mỹ Sơn, các chuyên gia Ý đã công bố những khuyến cáo sau trong việc trùng tu và bảo tổn các công trình xây dựng bằng gạch cùa Chăm-pa:
(1) Gạch phải được nung ở nhiệt độ khoảng 850°C;
(2) Không dùng vôi để làm vữa;
Trang 39(3) Lớp vữa kết nối giữa các viên gạch phải rất mỏng để độ ẩm không thâm nhập;
(4) Liên kết giữa các viên gạch có thể được tốt h ơ n với sự có mặt của một chất kết dính tự nhiên hay nhựa thông;
(5) Lớp kết nối cũng có thể giúp gia tăng độ kiên cố của công trình dù gạch
có m ềm hơn;
(6) Q uá trình phát triển sinh học gây m ục nát bề mặt tường gạch sẽ giảm thiểu nhiếu hơn ở lớp kết nối m ỏng nguyên thủy so với việc dùng vữa xi măng hiện nay (Ballino và cộng sự 2001: 209-210)
Loại nhựa kết dính được dùng để gắn kết gạch Chàm có thể là dẩu rái, một
chất nhựa lấy từ cây Dipterocarpus alatus Roxb.1 Trước đây, cư dân Chàm
(urang Campà) dùng nó để gia cố các công trìn h bằng gạch Dầu rái có đặc tính bám dính, không thấm nước và có th ể sản xuất với số lượng lớn Một khi được trộn với đất sét khô hay bột gạch, nó dễ dàng khô ngay dưới ánh
m ặt trời Sau khi các cấu trúc đển-tháp hoàn tất, người Chàm phủ lên các bức tường gạch m ột lớp dẩu rái để ngăn chặn sự thẩm thấu của độ ẩm (Binda và cộng sự 2009: 283-311) Cư dân miến T rung Việt Nam hiện vẫn dùng loại dẩu rái này trộn với bột vỏ sò để phết lên vỏ thuyền để chống thấm nước Loại vữa làm từ dầu rái trộn với bột vỏ sò cũng đã được xác định ở tháp Pô Rame, xây dựng vào thế kỷ XVII/XVIII (Institute for Building Science and Technology 2004: 78-85)
Qua nhiểu năm khảo sát trên thực địa, chúng tôi nhận thấy rằng, ngoại trừ các di tích bị tàn phá nặng nề trong hai cuộc kháng chiến, như Mỹ Sơn, Đổng
Dương, thì, việc trùng tu các p h ế tích Chàm không phải là m ột vấn để khẩn
thiết; vi, hẩu hết các đền-tháp hiện tổn hoặc vẫn còn đứng vững hoặc chỉ bị
làm hư hại thêm đôi chút bởi thời gian, kể từ cuối thế kỷ x ix /đ ẩ u thế kỷ XX cho đến ngày nay, khi so sánh hiện trạng của chúng với các bức ảnh chụp của Trường Viễn Đông Bác Cổ thực hiện vào đẩu th ế kỷ trước hoặc đối chiếu với những khảo tả của Parmentier (1909; 1918) M ột số chuyên gia làm công tác bảo tồn di tích đề nghị chỉ nên trùng tu m ột nửa các công trình và để số còn lại cho các thế hệ sau nghiên cứu tìm những giải pháp hiệu quả hơn để bảo tổn
232 I Bảo tồn và quản lý di tích Chăm -pa ở miên Trung
1 Để tham khảo thêm những ý kiến gẩn đây bàn về chất kết dính của gạch xây tháp Chàm, xem : Hardỵ 2009: 3-6.
Trang 40vè đẹp độc đáo cùa các phế tích Giải pháp này có thể cho phép các giới thẩm quyền tập trung vào việc giải cứu các công trình đang trong tình trạng có nguy
cơ hủy hoại cao bằng vào những biện pháp bảo tồn khẩn cấp Việc trùng tu các công trình Chăm-pa sẽ là cơ hội lý tưởng để tập huấn cho công tác trùng
tu tháp gạch; và cũng là dịp may hiếm có cho những nhà nghiên cứu muốn tìm hiểu kỹ thuật xây dựng của người Chàm xưa cũng như quy trình xây dựng đền-tháp Chăm-pa đã được phát triển qua nhiều thế kỷ
Một số vấn đề quản lý di tích tại Mỹ Sơn hiện nay
Vào những năm đẩu thập kỷ 2000, ‘Dự án cải thiện khu vực phụ cận Mỹ Sơn’ đưa đến việc xây dựng Bảo tàng Mỹ Sơn, sử dụng nguồn quỹ từ m ột dự án
hỗ trợ của Nhật Bân (JICA), như m ột:“biểu tượng của tình hữu nghị và hợp
tác N hật-V iệtV Bảo tàng Mỹ Sơn, một kiến trúc mang vẻ đẹp hiện đại, khánh
thành ngày 24/3/2005 sau chín tháng xây dựng Bảo tàng này cung cấp những giới thiệu hữu ích về di tích với 24 pa-nô cung cấp thông tin cẩn thiết, các ảnh chụp, bản vẽ và bản đổ giới thiệu cho du khách vể chín thế kỷ lịch sử nghệ thuật của Mỹ Sơn M ột số mô hình chú giải lịch sử các cuộc khai quật khảo cổ học từ thời k ỳ của Trường Viễn Đông bác cổ cho đến nay; xác định các loại hình khác nhau của các công trình ở Mỷ Sơn; và đối chiếu chúng với những công trình tương ứng trong vùng Đông Nam Á như Prambanan, Borobudur, Pagan, Angkor, và Vat Phu M ột ngôi đền bằng gổ dựa theo nguyên m ẫu các kiến trúc thế kỷ VIII được tái tạo bởi các nghệ nhân dân tộc Chăm ở tỉnh Ninh Thuận; bên cạnh đó, nhiều tác phẩm điêu khắc nguyên gốc như trụ cửa và bi
ký bằng sa thạch cũng được trưng bày Mục tiêu của bảo tàng là cung cấp kiến thức cơ bản vể nển văn m inh và kiến trúc Chăm-pa cho du khách, nhằm nâng cao nhận thức và hiểu biết của họ vể di tích này (Trẩn Kỳ Phương và cộng sự 2005a; 2005b)
Con số du khách thăm viếng các công trình kiến trúc Chăm -pa ngày m ột gia tăng Những năm gẩn đây, di tích Mỹ Sơn đã đón tiếp khoảng 150.000 du khách hàng năm, hơn m ột nửa là khách nước ngoài Cho nên, việc bảo tổn các
di tích Chăm-pa m ột cách thích đáng phải là mối quan tâm chính của các giới thẩm quyển ở Việt Nam; đổng thời, chúng ta cẩn học hỏi thêm từ các chuyên gia quốc tế, đặc biệt là các chuyên gia đến từ khối ASEAN, là những người có
Bảo tồn và quản lý di tích Chãm-pa ở miền Trung I 233
1 Trích bảng lưu niệm tại Bảo tàng Mỹ Sơn.