Mục đích nghiên cứu Đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình sử dụng vốn ngân sách nhà nước trên địa bàn huyện Mê Linh - thành phố Hà Nội3
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
-
NGÔ QUANG MINH
QUẢN LÝ DỰ ÁN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CÔNG TRÌNH
SỬ DỤNG VỐN NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN MÊ LINH, HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ KINH TẾ
CHƯƠNG TRÌNH ĐỊNH HƯỚNG THỰC HÀNH
Hà Nội – 2015
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
-
NGÔ QUANG MINH
QUẢN LÝ DỰ ÁN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CÔNG TRÌNH
SỬ DỤNG VỐN NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN MÊ LINH, HÀ NỘI
Chuyên ngành: Quản lý kinh tế
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, và có kế thừa các công trình nghiên cứu trước đó có liên quan đến đề tài
Các số liệu, kết quả nghiên cứu trong luận án là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Hà Nội, ngày tháng năm 2015
Tác giả luận văn
Ngô Quang Minh
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Tác giả xin trân trọng gửi lời cảm ơn tới các thầy, cô giáo khoa Kinh tế Chính trị và các cán bộ Phòng đào tạo Trường Đại học Kinh tế - Đại học Quốc gia Hà Nội đã hết lòng chỉ bảo, giảng dạy trong suốt quá trình tác giả học tập và nghiên cứu tại trường
Tác giả cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành tới TS Trần Đức Hiệp Thầy đã tận tình hướng dẫn trong suốt thời gian tác giả thực hiện luận văn tốt nghiệp này
Cuối cùng, tác giả xin cảm ơn gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã tạo điều kiện, đóng góp ý kiến để tác giả có thể hoàn thành tốt luận văn
Xin trân trọng cảm ơn!
Hà Nội, ngày tháng năm 2015
Tác giả luận văn
Ngô Quang Minh
Trang 5MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT i
DANH MỤC CÁC BẢNG ii
DANH MỤC SƠ ĐỒ, HÌNH VẼ iii
PHẦN MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ CÁC DỰ ÁN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG SỬ DỤNG NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC 4
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu về quản lý dự án 4
1.2 Lý luận chung về quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình 7
1.2.1 Các khái niệm chính: 7
1.2.2 Nội dung quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình sử dụng vốn ngân sách nhà nước: 15
1.2.3 Các nhân tố tác động đến hoạt động quản lý các dự án đầu tư XDCT sử dụng vốn NSNN 25
1.2.4 Các tiêu chí đánh giá chất lượng quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình sử dụng vốn NSNN 28
CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 31
2.1 Hướng tiếp cận trong nghiên cứu 31
2.2 Một số phương pháp nghiên cứu cụ thể 31
2.2.1 Các phương pháp thu thập thông tin 31
2.2.2 Các phương pháp xử lý thông tin 32
CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ CÁC DỰ ÁN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CÔNG TRÌNH SỬ DỤNG VỐN NHÀ NƯỚC TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN MÊ LINH 34 3.1 Một số nhân tố tự nhiên, kinh tế xã hội ảnh hưởng đến hoạt động quản lý các dự án ĐTXD công trình sử dụng vốn NSNN trên địa bàn huyện Mê Linh 34
Trang 63.1.1 Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên 34 3.1.2 Cơ sở hạ tầng: 35 3.1.3 Tình hình phát triển kinh tế - xã hội trong thời gian qua 36
3.2 Thực trạng công tác quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình từ NSNN giai đoạn 2008 - 2015 37
3.2.1 Tình hình ĐTXD công trình từ nguồn vốn NSNN ở huyện Mê Linh trong giai đoạn 2008 - 2015 37 3.2.2 Thực trạng công tác quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình từ NSNN giai đoạn 2008 - 2015 43
3.3 Đánh giá chung về công tác QLDA đầu tư xây dựng công trình sử dụng vốn NSNN trên địa bàn huyện Mê Linh giai đoạn 2008-2015 57
3.3.1 Những kết quả đạt được 57 3.3.2 Những hạn chế và nguyên nhân 60
CHƯƠNG 4: MỘT SỐ ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUẢN LÝ DỰ ÁN ĐẦU TƯ CÁC CÔNG TRÌNH XÂY DỰNG SỬ DỤNG VỐN NGÂN SÁCH TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN MÊ LINH 64 4.1 Định hướng quản lý các dự án đầu tư xây dựng sử dụng vốn ngân sách nhà nước trên địa bàn huyện Mê Linh 64
4.1.1 Đặt vấn đề định hướng phát triển: 64 4.1.2 Các dự án đầu tư xây dựng công trình trong thời gian tới của huyện Mê Linh thành phố Hà Nội 66
4.2 Một số giải pháp hoàn thiện công tác quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình sử dụng vốn ngân sách nhà nước trên địa bàn huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội 67
4.2.1 Hoàn thiện và nâng cao năng lực quản lý của Chủ đầu tư và Ban quản lý dự án 67
Trang 74.2.2 Đổi mới và hoàn thiện cơ chế phân cấp, quản lý trong công tác đầu
tư XDCB 69 4.2.3 Hoàn thiện công tác quản lý dự án trong giai đoạn chuẩn bị đầu tư 72 4.2.4 Hoàn thiện công tác quản lý dự án đầu tư trong giai đoạn thực hiện đầu tư 78 4.2.5 Hoàn thiện công tác quản lý dự án trong giai đoạn kết thúc đầu tư 82
KẾT LUẬN 90 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 91
Trang 89 GTVT Giao thông vận tải
10 HĐND Hội đồng nhân dân
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG
1 Bảng 3.1 Các chỉ tiêu kinh tế xã hội trên địa bàn huyện Mê Linh 37
4 Bảng 3.4 Tổng hợp dự án hoàn thành đã phê duyệt quyết toán
Trang 10DANH MỤC SƠ ĐỒ, HÌNH VẼ
Trang 11PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Để phát triển kinh tế xã hội, hàng năm ngân sách Nhà nước bỏ ra một lượng vốn đáng kể cho các dự án xây dựng các công trình hạ tầng kỹ thuật từ Trung ương đến địa phương, trong đó có huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội
Thực hiện Nghị quyết 15/2008/NQ-QH12 của Quốc Hội, từ ngày 01 tháng 8 năm 2008 huyện Mê Linh đã sáp nhập vào thành phố Hà Nội Là huyện nghèo, với diện tính địa giới hành chính lớn, nhu cầu đầu tư phát triển
hệ thống hạ tầng kỹ thuật hoàn chỉnh nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế
- xã hội, góp phần hoàn thành các mục tiêu phát triển kinh tế xã hội của Hà Nội và của cả nước Phấn đấu để kinh tế phát triển nhanh và bền vũng, đời sống nhân dân được từng bước được cải thiện Để đạt được các mục tiêu đó, trong giai đoại 2008 - 2015 UBND huyện Mê Linh đã đầu tư 1443 tỷ đồng cho việc xây dựng các công trình hạ tầng kỹ thuật trên địa bàn huyện
Với nhiệm vụ nặng nề như trên, việc quản lý vốn ĐTXD cũng như phát triển các dự án có sử dụng vốn đầu tư từ NSNN của UBND huyện Mê Linh càng đặt ra nhiều vấn đề bức thiết Làm thế nào để quản lý dự án vốn NSNN cho đầu tư xây dựng một cách hiệu quả, tránh thất thoát, lãng phí, phát huy hiệu quả đầu tư Đó là một câu hỏi khó không riêng với huyện Mê Linh mà
nó là một vấn đề chung của các dự án đầu tư sử dụng vốn ngân sách trên cả nước
Xuất phát từ nhận thức nêu trên, những hạn chế bất cập trong quá trình thực hiện, cần phải ngăn chặn UBND huyện Mê Linh cần phải quản lý vốn đầu tư xây dựng sử dụng vốn ngân sách nhà nước nhằm nâng cao hiệu quả đầu tư, chống thất thoát, lãng phí, dàn trải, nợ tồn đọng vốn đầu tư xây dựng
Trang 12cơ bản từ ngân sách Đây thực sự là một vấn đề rất quan trọng cần được nghiên cứu làm rõ cả về lý luận và thực tiễn
Vì vậy, vấn đề: “Quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình sử dụng vốn
ngân sách nhà nước trên địa bàn huyện Mê Linh, Hà Nội” đã được lựa chọn
làm đề tài luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Quản lý kinh tế
2 Câu hỏi nghiên cứu
Cần làm gì để hoàn thiện công tác QLDA đầu tư xây dựng công trình sử
dụng vốn ngân sách Nhà nước trên địa bàn huyện Mê Linh - thành phố Hà Nội?
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình sử dụng vốn ngân sách nhà nước trên địa bàn huyện Mê Linh - thành phố Hà Nội
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Làm rõ những vấn đề về cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn của công tác QLDA đầu tư xây dựng sử dụng vốn ngân sách Nhà nước trên địa bàn huyện
Mê Linh - thành phố Hà Nội
- Đánh giá thực trạng công tác quản lý dự án đầu tư xây dựng sử dụng vốn ngân sách nhà nước trên địa bàn huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội trong thời gian gần đây
- Đề xuất và kiến nghị giải pháp hoàn thiện công tác QLDA đầu tư xây dựng công trình sử dụng vốn ngân sách Nhà nước trên địa bàn huyện Mê Linh
- thành phố Hà Nội
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là quy trình quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình sử dụng vốn NSNN ở cấp huyện do UBND huyện Mê Linh
Trang 13làm chủ đầu tư, gồm các khâu: Chuẩn bị đầu tư, thực hiện đầu tư, kết thúc đầu
tư
4.2 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi không gian: Địa bàn huyện Mê Linh - thành phố Hà Nội
- Phạm vi thời gian: Luận văn tập trung nghiên cứu vào tình hình công tác QLDA đầu tư xây dựng bằng vốn ngân sách Nhà nước trên địa bàn huyện Mê Linh trong thời gian qua (2008-2015)
5 Những đóng góp mới của đề tài:
Trên cơ sở phân tích, đánh giá thực trạng công tác quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình, luận văn chỉ ra được những điểm mạnh, điểm tồn tại hạn chế trong công tác quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình sử dụng vốn ngân sách nhà nước trên địa bàn huyện Mê Linh, Hà Nội
Từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý dự
án đầu tư xây dựng công trình sử dụng vốn ngân sách nhà nước trên địa bàn huyện Mê Linh, Hà Nội trong các giai đoạn tiếp theo
6 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, luận văn bao gồm 04 chương:
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận về quản lý
các dự án đầu tư xây dựng sử dụng ngân sách nhà nước
Chương 2: Phương pháp nghiên cứu
Chương 3: Thực trạng công tác quản lý các dự án đầu tư xây dựng công trình sử dụng vốn ngân sách nhà nước trên địa bàn huyện Mê Linh - thành phố Hà Nội
Chương 4: Một số định hướng và giải pháp hoàn thiện công tác quản lý dự
án đầu tư các công trình xây dựng sử dụng vốn ngân sách trên địa bàn huyện
Mê Linh
Trang 14CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN
VỀ QUẢN LÝ CÁC DỰ ÁN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG SỬ DỤNG
NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu về quản lý dự án
Quản lý dự án từ khi ra đời đến nay đã trải qua một thời kỳ dài phát triển
và đã đạt được những thành công đáng kể, được sử dụng rộng rãi trong các lĩnh vực quản lý như hiện nay Ở các nước tiên tiến đều có các tổ chức chuyên nghiên cứu về quản lý dự án Có nhiều tài liệu nghiên cứu về quản lý dự án ở nhiều khía cạnh khác nhau, song chủ yếu tập trung vào: Phân tích hiệu quả kinh tế, tài chính dự án; các kỹ thuật và công cụ quản lý dự án; và các công cụ lập kế hoạch, tổ chức, kiểm tra dự án; các quy trình quản lý dự án; quản lý rủi
ro của các dự án
Tác giả Đinh Khánh Công (2008) trong Luận văn thạc sĩ “ Nghiên cứu các
giải pháp để nâng cao chất lượng thực hiện trình tự, thủ tục hoàn thành một dự
án đầu tư xây dựng công trình sử dụng vốn ngân sách nhà nước” tập trung
nghiên cứu trình tự, thủ tục hoàn thành của một dự án đầu tư xây dựng nhưng chưa nghiên cứu đến hiệu quả kinh tế, tài chính và tổ chức thực hiện dự án
Tác giả Tạ Văn Khoái (2009) trong Luận án tiến sĩ “ Quản lý nhà nước
đối với dự án đầu tư xây dựng vốn ngân sách nhà nước ở Việt Nam” tập trung
nghiên cứu về công tác quản lý nhà nước đối với các dự án trong ngành giao thông vận tải Luận án nghiên đi sâu vào nghiên cứu các vấn đề về quản lý quy hoạch và thi công xây dựng, chưa đề cập đến quy trình thực hiện dự án, công tác quản lý chất lượng, chi phí dự án
Tác giả Trương Thị Thu Thanh (2005) trong Luận văn thạc sĩ “ Một số
giải pháp nâng cao hiệu quả của các dự án đầu tư xây dựng công trình dân
Trang 15dụng và công nghiệp thuộc nguồn vốn nhà nước” đã phân tích hiệu quả của
các dự án sử dụng vốn ngân sách nhà nước Đối tượng mà tác giả tập trung nghiên cứu là các dự án đầu tư xây dựng công trình dân dụng và công nghiệp Tác giả nghiên cứu hiệu quả các dự án, chưa nghiên cứu về công tác quản lý
dự án đầu tư xây dựng công trình
Tác giả Phan Tất Thứ (2005) trong Luận án tiến sĩ “hoàn thiện phương
pháp đánh giá hiệu quả các dự án đầu tư công cộng ở Việt Nam” đã đưa ra
được các giải pháp để hoàn thiện các phương pháp đánh giá hiệu quả của các
dự án đầu tư Khi triển khai thực hiện các dự án đầu tư có thể áp dụng để đánh giá hiệu quả của từng dự án, qua đó đảm bảo được hiệu quả, chất lượng của
dự án đầu tư
Tác giả Nguyễn Văn Dung (2010) trong “Quản trị dự án hiện đại” đã đề
cập thiết lập các mục tiêu và giới hạn của dự án, các phương pháp để kiểm soát và duy trì dự án theo quỹ đã cam kết Tác giả chỉ dừng lại ở nghiên cứu chi phí thực hiện dự án, chưa nghiên cứu các nội dung khác của quản lý dự
án Có thể áp dụng vào luận văn phương pháp nghiên cứu để kiểm soát dự án theo chi phí, tổng mức đầu tư của dự án
Tác giả Nguyễn Mạnh Hà, 2012 Hoàn thiện hệ thống quản lý các dự án
đầu tư xây dựng trong Bộ Tổng tham mưu - Bộ Quốc phòng Hà Nội
Đề tài đề cập đến việc hoàn thiện công tác QLDA đầu tư của Bộ Tổng tham mưu, đã đưa ra các cơ sở lý luận, thực trạng và giải pháp hoàn thiện về công tác QLDA tại Bộ Tổng tham mưu Phạm vi và đối tượng nghiên cứu của
đề tài là về công tác QLDA đầu tư tại một đơn vị sử dụng vốn NSNN trong quốc phòng
Hoàng Thị Ngọc Diệp, 2013 Nghiên cứu giải pháp nâng cao hiệu quả
quản lý đầu tư xây dựng cơ bản bằng nguồn vốn ngân sách trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh Luận văn thạc sĩ kinh tế: Đại học Kinh tế Mỏ - Địa chất
Trang 16Nội dung đề tài tập trung thống kê, mô tả quá trình tổ chức ĐTXD của tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2006 đến 2010 Đề tài làm rõ một số vấn đề về quản lý ĐTXDCB của tỉnh Quảng Ninh; Qua đó, tác giả đề xuất một số giải pháp hoàn thiện công tác QLDA đầu tư xây dựng tỉnh Quảng Ninh
Tác giả Nguyễn Văn Chọn (1988) trong sách “Phương pháp lập dự án
đầu tư trong ngành xây dựng” đã nghiên cứu phương pháp lập dự án để dự án
xây dựng công trình đạt hiệu quả cao nhất về thiết kế, kỹ thuật và kinh tế Một dự án đạt hiệu quả, đạt được mục đích đầu tư phải có phương pháp lập
dự án đúng, tính toán các chỉ tiêu kinh tế - kỹ thuật phù hợp với mục đích, yêu cầu của dự án Tác giả chưa nghiên cứu về cách thức tổ chức quản lý và điều hành dự án đảm bảo tiến độ, chất lượng và chi phí
Tác giả Nguyễn Xuân Hải (2002) trong sách “ Quản lý dự án nhìn từ
góc độ Nhà nước, nhà đầu tư, nhà tư vấn, nhà thầu” đã nghiên cứu cụ thể
quản lý dự án từ mọi góc nhìn của các bên có quyền lợi, nghĩa vụ và trách nhiệm có liên quan trực tiếp Từ nghiên cứu của tác giả, có thể áp dụng đưa ra các kiến nghị, đề xuất phù hợp nhất, đảm bảo quyền và lợi ích cho các bên trực tiếp liên quan đến dự án đầu tư xây dựng công trình, đảm bảo hiệu quả
dự án đầu tư, nâng cao chất lượng quản lý dự án đầu tư
Viện nghiên cứu và đào tạo về quản lý (2006) trong sách “ Tổ chức và điều
hành dự án” nghiên cứu khá kỹ về quy trình, cách thức tổ chức, điều hành dự án
để đạt được mục tiêu đầu tư dự án đảm bảo tiến độ, chất lượng, chi phí hợp lý
Các công trình nghiên cứu trên, mỗi tác giả nghiên cứu về một vấn đề liên quan đến công tác quản lý dự án đầu tư nói chung, quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình nói riêng ở một khía cạnh cụ thể Ngoài ra, còn có một số bài báo, công trình nghiên cứu, luận án, luận văn khác, với các cách tiếp cận khác nhau trong lĩnh vực quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình cũng đã đề cập đến những vấn đề có liên quan đến nội dung nghiên cứu của đề tài
Trang 17Tuy nhiên, chưa có nghiên cứu chuyên biệt quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình sử dụng vốn ngân sách nhà nước trên địa bàn huyện Mê Linh Do
vậy, đề tài: “Quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình sử dụng vốn ngân
sách nhà nước trên địa bàn huyện Mê Linh, Hà Nội” là một đề tài mới, chưa
được nghiên cứu một cách cụ thể và có hệ thống Trong quá trình thực hiện đề tài, bên cạnh việc kế thừa, chọn lọc những thành tựu nghiên cứu đã có, tác giả cũng tham khảo, kết hợp khảo sát những vấn đề mới nảy sinh, nhất là những vấn
đề lý luận và thực tiễn về quản lý dự án, từ đó đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình sử dụng vốn ngân sách nhà nước trên địa bàn huyện Mê Linh trong thời gian tới
1.2 Lý luận chung về quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình
1.2.1 Các khái niệm chính:
1.2.1.1 Dự án đầu tư xây dựng công trình:
a Khái niệm dự án đầu tư xây dựng công trình:
Theo giải thích của Luật Xây dựng Việt Nam hiện hành: “Dự án đầu tư xây dựng công trình là tập hợp các đề xuất có liên quan đến việc bỏ vốn để xây dựng mới, mở rộng hoặc cải tạo những công trình xây dựng nhằm mục đích phát triển, duy tri, nâng cao chất lượng công trình hoặc sản phẩm, dịch
vụ trong một thời hạn nhất định
Dự án đầu tư xây dựng công trình bao gồm phần thuyết minh và phần thiết kế cơ sở” Về phương diện lý luận, DAĐT xây dựng công trình (XDCT) được hiểu là các DAĐT mà đối tượng đầu tư là công trình xây dựng, nghĩa là dự án có liên quan đến hoạt động xây dựng cơ bản (XDCB) như xây dựng nhà cửa, đường xá, cầu cống… Không phải tất cả các DAĐT đều có liên quan tới hoạt động XDCB Vì thế, đối với những DAĐT không liên quan tới hoạt động XDCB không gọi là DAĐT xây dựng
DAĐT XDCT (Báo cáo nghiên cứu khả thi), xét về mặt hình thức là
Trang 18một tập hợp các hồ sơ, tài liệu thuyết minh chi tiết kế hoạch khả thi XDCT
và các tài liệu liên quan khác xác định chất lượng công trình cần đạt được, tổng mức đầu tư của dự án và thời gian thực hiện dự án, hiệu quả kinh tế tài chính, hiệu quả kinh tế xã hội và đánh giá tác động môi trường của dự án DAĐT XDCT, xét theo quan điểm hệ thống, có thể hiểu là một hệ thống, gồm nhiều phân hệ/ phần tử (hoạt động/ công việc) có mối liên hệ chặt chẽ về thời gian và không gian, vận hành trong những điều kiện ràng buộc/ giới hạn
về nguồn lực và thời gian, chịu sự tác động của các yếu tố môi trường bên ngoài (môi trường kinh tế, xã hội, luật pháp, công nghệ, tự nhiên) và môi trường bên trong (sự tác động qua lại của các phần tử trong hệ thống - các lực lượng tham gia dự án: Chủ đầu tư, nhà thầu tư vấn, nhà thầu cung cấp, nhà thầu xây lắp, nhà tài trợ tài chính,…)
DAĐT XDCT, xét theo quan điểm động, có thể hiểu là một quá trình biến ý tưởng đầu tư XDCT thành hiện thực trong sự ràng buộc về kết quả (chất lượng), tiến độ (thời gian) và nguồn lực (chi phí) đã xác định trong hồ
sơ dự án và được thực hiện trong những điều kiện không chắc chắn (rủi ro) DAĐT XDCT xét theo quan điểm động được mô tả ở Hình 1.1
Ý tưởng đầu tư xây dựng đầu tư xây dựng (rủi Quá trình thực hiện
Trang 19Hình 1.1: Dự án đầu tư xây dựng công trình theo quan điểm động
b Phân loại dự án đầu tư:
Nghị định số 12/2009/NĐ-CP ngày 10 tháng 02 năm 2009 của Chính phủ quy định các dự án đầu tư xây dựng công trình (sau đây gọi chung là dự án) được phân loại như sau:
Theo quy mô và tính chất: Dự án quan trọng quốc gia do Quốc hội thông
qua chủ trương và cho phép đầu tư; các dự án còn lại được phân thành 3 nhóm, Nhóm A, Nhóm B, Nhóm C
Theo nguồn vốn đầu tư:
- Dự án sử dụng vốn ngân sách Nhà nước
- Dự án sử dụng vốn tín dụng do Nhà nước bảo lãnh, vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước
- Dự án sử dụng vốn đầu tư phát triển của doanh nghiệp Nhà nước
- Dự án sử dụng vốn khác bao gồm cả vốn tư nhân hoặc sử dụng hỗn hợp nhiều nguồn vốn
Các dự án sử dụng vốn ngân sách Nhà nước do cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền quyết định theo phân cấp, phù hợp với quy định của pháp luật về ngân sách Nhà nước
c Vòng đời của dự án đầu tư:
Mỗi dự án đầu tư xây dựng đều có thời điểm bắt đầu và thời điểm kết thúc rõ ràng nên dự án có một vòng đời Vòng đời của dự án (Project lifi cycle) bao gồm nhiều giai đoạn phát triển từ ý tưởng đến việc triển khai nhằm đạt được kết quả và đến khi kết thúc dự án Thông thường, các dự án đều có vòng đời bốn giai đoạn, bao gồm: Giai đoạn hình thành dự án (Chủ trương lập
dự án); giai đoạn nghiên cứu phát triển (lập dự án); giai đoạn thực hiện và quản lý; giai đoạn kết thúc
Tiến trình công việc chính: Xây dựng ý tưởng ban đầu, xác định quy mô
Trang 20và mục tiêu, đánh giá các khả năng, tính khả thi của dự án, xác định các nhân
Sơ đồ 1.1 Sơ đồ vòng đời của dự án đầu tƣ
Nguồn: Tài liệu quản lý dự án đầu tư, NXB Thống kê, Hà Nội
1.2.1.2 Quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình:
Trang 21hoạt động của quản lý vào suốt vòng đời của dự án, là việc huy động các nguồn lực và tổ chức các công nghệ để thực hiện được mục tiêu đề ra
Quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình là quá trình lập kế hoạch, điều phối thời gian, nguồn lực và giám sát quá trình phát triển của dự án đầu tư xây dựng công trình nhằm đảm bảo cho dự án hoàn thành đúng thời hạn, trong phạm vi ngân sách được duyệt và đạt được các yêu cầu đã định về kỹ thuật và chất lượng sản phẩm dịch vụ, bằng những phương pháp và điều kiện tốt nhất cho phép
b Quá trình quản lý dự án:
Công tác QLDA có một quá trình bao gồm nhiều công việc Chủ đầu tư hoặc Ban quản lý dự án, Nhà nước trực tiếp hoặc gián tiếp giao vốn để thực hiện Dự án từ khâu chuẩn bị đầu tư đến khâu kết thúc xây dựng đưa vào khai thác sử dụng với mục đích cuối cùng là tạo ra những sản phẩm đáp ứng yêu cầu đề ra, sử dụng có hiệu quả Để làm được điều này cơ quan được giao nhiệm vụ QLDA phải làm tốt các công việc sau: Lập và xin phê duyệt quy hoạch; lập báo cáo đầu tư (dự án nhóm quan trọng Quốc gia), lập dự án đầu tư; các bước thiết kế; đấu thầu; chỉ định thầu; các thủ tục cần thiết để đủ điều kiện khởi công được công trình; quản lý chất lượng công trình; thanh toán vốn đầu tư; đưa Dự án vào khai thác sử dụng Đối với mỗi Dự án có quy mô, tính chất khác nhau nên công tác QLDA cũng khác nhau, có sự phối hợp với các cơ quan ban ngành khác nhau
Quá trình QLDA đầu tư gồm các giai đoạn: Chủ trương, ý tưởng đầu tư, Chuẩn bị đầu tư; kết thúc đầu tư; kết thúc xây dựng đưa công trình vào quản
lý khai thác sử dụng
Trang 22Sơ đồ 1.2: Quá trình quản lý dự án
Nguồn: Tài liệu quản lý dự án đầu tư, NXB Thống kê, Hà Nội
c Các hình thức tổ chức quản lý dự án đầu tư XDCT:
* Chủ đầu tư trực tiếp quản lý thực hiện dự án
Việc thu được sản phẩm tốt, chất lượng cao đảm bảo kỹ mỹ thuật, phát huy hiệu quả giá cả hợp lý chính là bài toán đối với các Chủ đầu tư Để làm được điều này thì không thể phủ nhận được vai trò công tác quản lý dự án, do đó Chủ đầu tư cần cân nhắc việc lựa chọn hình thức quản lý dự án cho phù hợp
Chủ đầu tư trực tiếp QLDA là hình thức Chủ đầu tư sử dụng bộ máy cơ quan, đơn vị của mình để trực tiếp tổ chức quản lý thực hiện dự án đầu tư với
2 mô hình sau:
- Mô hình 1: Chủ đầu tư không thành lập Ban quản lý dự án mà sử dụng bộ máy hiện có của mình để trực tiếp tổ chức quản lý thực hiện dự án, mô hình này được áp dụng với dự án quy mô nhỏ có tổng mức đầu tư dưới 7 tỷ đồng, khi bộ máy của Chủ đầu tư kiêm nhiệm được việc quản lý thực hiện dự án
Dự án được phê duyệt
Dự án được nghiệm thu
Trang 23- Mô hình 2: Chủ đầu tư thành lập Ban QLDA để giúp mình trực tiếp tổ chức quản lý thực hiện dự án Với hình thức này thì phải đảm bảo nguyên tắc: + Ban QLDA do Chủ đầu tư thành lập, là đơn vị trực thuộc Chủ đầu tư Quyền hạn, nhiệm vụ của Ban QLDA do Chủ đầu tư giao
+ Ban QLDA có tư cách pháp nhân hoặc sử dụng pháp nhân của Chủ đầu tư để tổ chức quản lý thực hiện dự án
* Chủ đầu tư thuê tư vấn quản lý thực hiện dự án
QLDA là hình thức Chủ đầu tư ký hợp đồng thuê một pháp nhân khác làm tư vấn QLDA Trong trường hợp này Chủ đầu tư phải cử cán bộ phụ trách đồng thời phân giao nhiệm vụ cho các đơn vị thuộc bộ máy của mình thực hiện hợp đồng của Tư vấn quản lý dự án
+ Chủ đầu tư thuê Tư vấn: Trường hợp chủ đầu tư thuê tổ chức tư vấn quản lý điều hành dự án thì tổ chức Tư vấn đó phải thành lập một tổ chức bộ máy có đủ điều kiện năng lực tổ chức quản lý phù hợp với quy mô, tính chất của dự án Trách nhiệm, quyền hạn của tư vấn quản lý dự án được thực hiện theo hợp đồng thỏa thuận giữa hai bên Tư vấn quản lý dự án được thuê ở tổ chức, cá nhân tham gia quản lý nhưng phải được chủ đầu tư chấp thuận và phù hợp với hợp đồng đã ký của chủ đầu tư
1.2.1.3 Quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình sử dụng vốn ngân sách nhà nước
Đặc điểm của dự án đầu tư xây dựng công trình sử dụng vốn ngân sách nhà nước:
Ngân sách nhà nước là một phạm trù kinh tế, lịch sử gắn liền với sự hình thành và phát triển của Nhà nước và của hàng hóa, tiền tệ Nhà nước với tư cách là cơ quan quyền lực thực hiện duy trì và phát triển xã hội thường quy định các khoản thu mang tính bắt buộc các đối tượng trong xã hội phải đóng góp để đảm bảo chi tiêu cho bộ máy nhà nước, quân đội, cảnh sát, giáo dục và chi phát triển kinh tế Ở Việt Nam, NSNN được qui định trong Luật NSNN
Trang 24như sau: "NSNN là toàn bộ các khoản thu chi của Nhà nước đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định và được thực hiện trong một năm để đảm bảo thực hiện các chức năng nhiệm vụ của Nhà nước"
Dự án đầu tư sử dụng NSNN có có đặc điểm sau:
Một là, quy mô vốn đầu tư lớn và chiếm tỷ trọng cao trong tổng chi
NSNN Ví dụ, ở nước ta trong những năm qua, chi NSNN cho đầu tư không ngừng tăng lên cả tuyệt đối và tương đối Tỷ trọng vốn đầu tư trong tổng chi ngân sách thường chiếm trên 40% trong khi số vốn đầu tư từ NSNN và không ngừng tăng lên Vốn đầu tư XDCB từ NSNN thường xuyên chiếm tỷ trọng chủ yếu ( khoảng 92 - 95%) trong tổng chi đầu tư của NSNN ở nước ta
Hai là, có sự tách rời quyền sở hữu và quyền sử dụng vốn đầu tư xây
dựng Nguồn vốn thuộc sở hữu Nhà nước, nhưng khi thực hiện đầu tư thì Nhà nước lại uỷ thác việc quản lý sử dụng cho các chủ đầu tư để triển khai kế hoạch của Nhà nước, tạo ra sự tách rời giữa quyền sở hữu và sử dụng vốn Với đặc điểm này, nếu cơ chế quản lý của Nhà nước không hoàn thiện thì có thể dẫn đến tình trạng các chủ đầu tư quản lý sử dụng vốn tìm cách chiếm đoạt vốn của Nhà nước khi có cơ hội
Ba là, chi ngân sách cho đầu tư XDCB được thực hiện qua nhiều cấp
ngân sách Theo cơ chế quản lý vốn đầu tư ở nước ta hiện nay, việc chi đầu tư XDCB được thực hiện qua nhiều cấp ngân sách như: chi từ nguồn ngân sách trung ương cho hoạt động đầu tư của các bộ, ngành, chi bổ sung có mục tiêu
từ ngân sách trung ương cho địa phương; chi từ ngân sách địa phương cho các
dự án thuộc địa phương quản lý
Thực tế nêu trên dễ dẫn đến tình trạng xin - cho, kéo theo đó là việc phát sinh các tiêu cực, lãng phí do đầu tư không đúng nội dung hoặc đầu tư dàn trải
Bốn là, nguồn vốn đầu tư mà các chủ đầu tư sử dụng phải được tạm ứng,
nghiệm thu và thanh toán theo qui định của Nhà nước Nếu các thủ tục còn rất
Trang 25rườm rà, phức tạp và nhiều kẽ hở, thì không chỉ có thể gây khó khăn trong việc thực hiện cho cả chủ đầu tư và các nhà thầu mà còn tạo nhiều điều kiện cho việc bị lợi dụng để chiếm đoạt, biến thủ, tham ô vốn đầu tư của nhà nước
1.2.2 Nội dung quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình sử dụng vốn ngân sách nhà nước:
1.2.2.1 Quản lý vĩ mô đối với dự án đầu tư xây dựng công trình
Quản lý vĩ mô hay QLNN đối với dự án bao gồm tổng thể các biện pháp vĩ mô tác động đến các yếu tố của quá trình hình thành, thực hiện và kết thúc dự án
Trong quá trình triển khai dự án, Nhà nước mà đại diện là các cơ quan quản lý nhà nước về kinh tế luôn theo dõi chặt chẽ, định hướng và chi phối hoạt động của dự án nhằm đảm bảo cho dự án đóng góp tích cực vào việc phát triển kinh tế xã hội Những công cụ quản lý vĩ mô chính của Nhà nước
để quản lý dự án bao gồm các chính sách, kế hoạch, quy hoạch như chính sách về tài chính, tiền tệ, tỷ giá, lãi suất, chính, sách đầu tư, chính sách thuế,
hệ thống luật pháp, những quy định về chế độ kế toán, bảo hiểm, tiền lương
Nội dung quản lý nhà nước về xây dựng:
- Xây dựng và chỉ đạo thực hiện chiến lược, kế hoạch phát triển và các hoạt động xây dựng
- Ban hành và tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về xây dựng cơ bản
- Ban hành quy chuẩn, tiêu chuẩn xây dựng
- Quản lý chất lượng, lưu trữ hồ sơ công trình xây dựng
- Cấp, thu hồi các loại giấy phép trong hoạt động xây dựng
- Hướng dẫn, kiểm tra, thanh tra, giải quyết khiếu nại tố cáo và xử lý vi phạm trong hoạt động xây dựng
- Tổ chức nghiên cứu khoa học và công nghệ trong hoạt động xây dựng
Trang 26- Đào tạo nguồn lực cho hoạt động xây dựng
- Hợp tác Quốc tế trong lĩnh vực hoạt động xây dựng
1.2.2.2 Quản lý vi mô đối với dự án đầu tư xây dựng công trình
QLDA ở tầm vi mô là quản lý các hoạt động cụ thể của dự án Nó bao gồm nhiểu khâu công việc như lập kế hoạch, điều phối, kiểm soát các hoạt động của dự án QLDA bao gồm hàng loạt vấn đề như quản lý thời gian, chi phí, nguồn vốn đầu tư, rủi ro, quản lý hoạt động mua bán Quá trình quản lý được thực hiện trong suốt các giai đoạn từ chuẩn bị đầu tư đến giai đoạn vận hành các kết quả của dự án Trong từng giai đoạn, tuy đối tượng quản lý cụ thể có khác nhau nhưng đều phải gắn với ba mục tiêu cơ bản của hoạt động QLDA là: thời gian, chi phí và kết quả hoàn thành Có nhiều cách tiếp cận quản lý dự án, song trong luận văn này, QLDA được nghiên cứu tiếp cận theo quy trình quản lý
*Quản lý công tác chuẩn bị đầu tư:
Đây là giai đoạn xây dựng mục tiêu, xác định công việc, dự tính nguồn lực cần thiết để thực hiện dự án ĐTXDCB và là quá trình phát triển một kế hoạch thực hiện dự án thống nhất, theo trình tự logic, có thể biểu diễn dưới dạng các sơ đồ hệ thống hoặc theo các phương pháp lập kế hoạch truyền thống Giai đoạn chuẩn bị đầu tư bao gồm những bước chính sau:
- Nghiên cứu về sự cần thiết phải đầu tư
- Nghiên cứu thị trường để xác định nhu cầu tiêu thụ, khả năng cạnh tranh của sản phẩm, tìm nguồn cung cấp thiết bị, vật tư cho sản xuất; xem xét khả năng về nguồn vốn đầu tư và lựa chọn hình thức đầu tư
- Tiến hành điều tra, khảo sát và chọn địa điểm xây dựng:
+ Tờ trình phê duyệt đề cương - dự toán chi phí khảo sát lập báo cáo nghiên cứu khả thi
+ Thông báo cho lập báo cáo nghiên cứu khả thi
Trang 27+ Quyết định chỉ định đơn vị tư vấn lập báo cáo nghiên cứu khả thi
- Lập dự án đầu tư
- Thẩm định dự án đầu tư
- Phê duyệt dự án đầu tư
Trình tự, thủ tục thẩm định, phê duyệt dự án như sau:
- Chủ đầu tư có trách nhiệm tổ chức thẩm định trước khi trình người có thẩm quyền quyết định dự án bao gồm:
+ Tờ trình thẩm định dự án;
+ Dự án đầu tư xây dựng công trình gồm phần thuyết minh và thiết kế cơ sở; + Văn bản cho phép đầu tư đối với dự án quan trọng quốc gia; văn bản chấp thuận về quy hoạch ngành đối dự án nhóm A không có trong quy hoạch ngành; văn bản chấp thuận về quy hoạch xây dựng đối với dự án không có trong quy hoạch xây dựng công trình;
+ Các văn bản pháp lý có liên quan
- Đơn vị đầu mối thẩm định dự án có trách nhiệm tiếp nhận hồ sơ dự án của chủ đầu tư và gửi tới các cơ quan để lấy ý kiến, đồng thời gửi hồ sơ để lấy
ý kiến thẩm định thiết kế cơ sở của cơ quan có thẩm quyền
Cơ quan thẩm định thiết kế cơ sở có trách nhiệm tổ chức thẩm định và gửi kết quả thẩm định tới đơn vị đầu mối thẩm định dự án
Để đảm bảo thuận tiện, đơn vị đầu mối thẩm định dự án có thể ủy quyền cho chủ đầu tư trực tiếp gửi hồ sơ dự án và giải trình với cơ quan có thẩm quyền quyết định thiết kế cơ sở
Giai đoạn này có ý nghĩa rất quan trọng, nó vạch ra phương hướng đầu
tư đúng đắn, hợp lý của dự án Thành bại của một dự án, dự án có phát huy tác dụng tối đa khi đưa vào khai thác sử dụng hay không chính là nhờ vào việc xác định mục tiêu đầu tư đúng đắn Do đó công việc đầu tư bao gồm: Nghiên cứu về sự cần thiết phải đầu tư và quy mô đầu tư Xem xét khả năng
Trang 28về nguồn vốn đầu tư và lựa chọn hình thức đầu tư, tiến hành điều tra, khảo sát
và lựa chọn địa điểm xây dựng Lập và trình duyệt quy hoạch, báo cáo đầu tư,dự án đầu tư
* Quản lý tổ chức thực hiện dự án đầu tư
Giai đoạn thực hiện là giai đoạn QLDA bao gồm các công việc cần thực hiện như việc xây dựng công trình, lựa chọn công cụ, mua sắm thiết bị và lắp đặt Đây là giai đoạn chiếm nhiều thời gian và quyết định thành công của dự án
Trên cơ sở dự án đầu tư được duyệt Chủ đầu tư tiến hành các công việc tiếp theo để triển khai xây dựng công trình, sớm đưa vào khai thác sử dụng, phục vụ mục tiêu đầu tư đã đề ra
Giai đoạn thực hiện đầu tư, gồm các công việc sau:
- Thiết kế kỹ thuật thi công, dự toán và tổng dự toán xây dựng công trình;
- Thẩm định, phê duyệt thiết kế, dự toán, tổng dự toán xây dựng công trình;
- Lựa chọn Nhà thầu theo luật đấu thầu;
- Đền bù thực hiện GPMB;
- Quản lý thi công xây dựng công trình;
- Quản lý chi phí dự án đầu tư xây dựng công trình
* Thiết kế kỹ thuật thi công, dự toán và tổng dự toán xây dựng công trình:
Các bước thiết kế xây dựng công trình: Dự án đầu tư xây dựng công trình có thể gồm một hoặc nhiều loại công trình xây dựng, việc thiết kế xây dựng công
trình có thể được thực hiện theo một bước, hai bước, ba bước như sau:
- Thiết kế một bước là thiết kế bản vẽ thi công áp dụng đối với công trình chỉ lập Báo cáo kinh tế kỹ thuật xây dựng công trình với dự án có TMĐT < 15 tỷ đồng
- Thiết kế hai bước gồm bước thiết kế cơ sở và thiết kế bản vẽ thi công
áp dụng đối với công trình quy định phải lập dự án các dự án có TMĐT > 15
tỷ đồng
Trang 29- Thiết kế ba bước bao gồm thiết kế cơ sở, thiết kế kỹ thuật và thiết kế bản
vẽ thi công áp dụng đối với công trình phải lập dự án và có quy mô cấp đặc biệt, cấp I và cấp II có kỹ thuật phức tạp do người quyết định đầu tư quyết định
Thiết kế xây dựng phải tuân thủ các quy chuẩn, tiêu chuẩn xây dựng do
cơ quan Nhà nước có thẩm quyền ban hành và phải được thể hiện trên các bản
vẽ theo quy định Thiết kế phải thể hiện được các khối lượng công tác xây dựng chủ yếu làm cơ sở xác định chi phí xây dựng công trình Các bước thiết
kế tiếp theo phải phù hợp với các bước thiết kế trước đã được duyệt
* Thẩm định, phê duyệt thiết kế, dự toán, tổng dự toán xây dựng công trình:
Thẩm định, phê duyệt: Chủ đầu tư tự tổ chức thẩm định, phê duyệt thiết
kế kỹ thuật, thiết kế bản vẽ thi công, dự toán, tổng dự toán của hạng mục, công trình trước khi đưa ra thi công phải được cấp có thẩm quyền thẩm định, phê duyệt
- Nội dung thẩm định thiết kế: Sự phù hợp với các bước thiết kế trước được phê duyệt; sự tuân thủ các tiêu chuẩn xây dựng được áp dụng; đánh giá mức độ an toàn của công trình; sự hợp lý việc lựa chọn dây chuyền và thiết bị công nghệ; bảo vệ môi trường; phòng chống cháy, nổ
- Nội dung thẩm định dự toán, tổng dự toán xây dựng công trình: Sự phù hợp giữa khối lượng thiết kế và khối lượng dự toán Tính đúng đắn của việc
áp dụng các định mức kinh tế - kỹ thuật, định mức chi phí, đơn giá của địa phương; việc vận dụng định mức, đơn giá, các chế độ, chính sách có liên quan
và các khoản mục chi phí trong dự toán theo quy định Xác định giá dự toán, tổng dự toán XDCT
- Trường hợp Chủ đầu tư không đủ năng lực thẩm định thì được phép thuê các tổ chức, cá nhân tư vấn có đủ năng lực để thẩm tra thiết kế, dự toán công trình là cơ sở cho việc phê duyệt
Trang 30* Lựa chọn Nhà thầu:
- Mục đích lựa chọn: Nhằm chọn được các Nhà thầu có đủ điều kiện năng lực để cung cấp sản phẩm, dịch vụ xây dựng phù hợp, có giá dự thầu hợp lý, đáp ứng được nhu cầu của Chủ đầu tư và các mục tiêu của dự án Tuỳ theo quy mô, tính chất của dự án, nguồn vốn đầu tư, những điều kiện khách quan mang lại mà Chủ đầu tư cần có hình thức chọn Nhà thầu cho phù hợp nhưng phải tuân thủ quy chế đấu thầu
- Đấu thầu rộng rãi: Là hình thức đầu thầu không hạn chế số lượng Nhà thầu tham gia Bên mời thầu phải thông báo công khai về các điều kiện, thời gian dự thầu trên các phương tiện thông tin đại chúng tối thiểu 10 ngày trước khi phát hành hồ sơ mời thầu Đấu thầu rộng rãi là hình thức chủ yếu được áp dụng trong đấu thầu
- Đầu thầu hạn chế: Là hình thức mà bên mời thầu mời một số Nhà thầu (tối thiểu là 3 - 5) có đủ năng lực tham dự Danh sách Nhà thầu tham dự phải được người có thẩm quyền hoặc cấp có thẩm quyền chấp nhận Hình thức này chỉ được xem xét áp dụng khi dự án có một trong các điều kiện sau:
+ Chỉ có một số Nhà thẩu có khả năng đáp ứng được yêu cầu của gói thầu; + Theo yêu cầu của nhà Tài trợ nước ngoài đối với nguồn vốn sử dụng cho gói thầu;
+ Gói thầu có yêu cầu cao về kỹ thuật hoặc kỹ thuật có tính đặc thù
- Chỉ định thầu: Là hình thức chọn trực tiếp Nhà thầu đáp ứng yêu cầu của gói thầu để thương thảo hợp đồng
Chủ đầu tư xác định hình thức chọn Nhà thầu phù hợp với dự án của mình sẽ tìm được Nhà thầu đáp ứng được yêu cầu của mình với chi phí hợp lý nhất Nhờ đó sản phẩm Nhà thầu được lựa chọn tạo ra có chất lượng đảm bảo với chi phí thấp nhất, phát huy được hiệu quả khi sử dụng
Trang 31* Đền bù thực hiện GPMB:
Hiện nay việc thực hiện đền bù GPMB là bài toán nan giải với các Chủ đầu
tư, nó ảnh hưởng trực tiếp đến tổng mức đầu tư, tiến độ xây dựng Nhiều công trình tiền đền bù giải toả chiếm tỷ trọng tới 3/4 tổng mức đầu tư Có công trình
do chậm ở khâu GPMB nên không thể khởi công được khiến thời gian đưa vào
sử dụng chậm do với dự kiến một vài năm Những yếu tố mấu chốt chính là việc đảm bảo công khai minh bạch trong đền bù GPMB Chính phủ có Nghị định hướng dẫn, các địa phương có ban hành bản giá đất, giá công trình, giá cây trồng vật nuôi Trình tự công tác này được thực hiện theo như sau:
- Có đủ văn bản pháp lý liên quan: Quyết định phê duyệt dự án đầu tư, quyết định thu hồi đất, giao đất, các văn bản khác
- Lập và phê duyệt phương án đền bù trên cơ sở các Nghị định, thông tư, văn bản hướng dẫn cộng với việc đo đạc khảo sát khối lượng phải đền bù
- Công bố phương án đền bù; thực hiện đền bù; giải quyết những khiếu nại thắc mắc Đối với các trường hợp chống đối, không thực hiện phải tổ chức cưỡng chế khi được cấp thẩm quyền phê duyệt phương án tổ chức cưỡng chế
* Quản lý thi công xây dựng công trình:
Hoạt động xây dựng là loại hoạt động đặc thù Sản phẩm của hoạt động này phần lớn là những sản phẩm đơn chiếc và không bao giờ cho phép có chế phẩm Vì vậy chất lượng, giá thành và thời gian xây dựng luôn là mục tiêu cho ngành xây dựng Để đảm bảo chất lượng công trình theo đúng tiến độ đề
ra thì giữ vai trò chủ đạo chính là công tác quản lý thi công công trình
Quản lý thi công xây dựng công trình bao gồm quản lý chất lượng xây dựng, quản lý tiến độ xây dựng, quản lý khối lượng thi công xây dựng công trình, quản lý an toàn lao động trên công trường xây dựng, quản lý môi trường xây dựng Riêng quản lý chất lượng xây dựng được thực hiện theo các quy định của Nghị định số 209/2004/NĐ-CP về quản lý chất lượng công trình xây dựng
Trang 32Công trình xây dựng trước khi triển khai phải được lập tiến độ thi công xây dựng Tiến độ thi công xây dựng công trình phải phù hợp với tổng tiến độ của dự án đã được phê duyệt Chủ đầu tư có trách nhiệm theo dõi, giám sát tiến độ thi công xây dựng công trình và điều chỉnh tiến độ nhưng không được làm ảnh hướng đến tổng tiến độ của dự án
* Quản lý chi phí dự án đầu tư xây dựng công trình:
- Quản lý chi phí đầu tư xây dựng công trình phải đảm bảo đầy đủ mục tiêu, hiệu quả dự án đầu tư xây dựng công trình và các yêu cầu khách quan của kinh tế thị trường
- Quản lý chi phí đầu tư xây dựng công trình theo từng công trình phù hợp với các giai đoạn đầu tư xây dựng công trình, các bước thiết kế, các loại nguồn vốn và các quy định của Nhà nước
- Tổng mức đầu tư, dự toán xây dựng công trình phải được tính đúng, tính đủ và phù hợp độ dài thời gian xây dựng công trình Tổng mức đầu tư là chi phí tối đa mà Chủ đầu tư được phép sử dụng để đầu tư XDCT
- Chủ đầu tư XDCT chịu trách nhiệm toàn diện về việc quản lý chi phí đầu tư XDCT từ giai đoạn chuẩn bị đầu tư đến khi kết thúc xây dựng đưa công trình vào khai thác, sử dụng
* Quản lý kết thúc đầu tư
Giai đoạn kết thúc xây dựng, đưa dự án vào khai khác sử dụng, gồm những việc như sau:
- Nghiệm thu, bàn giao công trình
- Thực hiện việc kết thúc hoạt động xây dựng công trình
- Hướng dẫn sử dụng công trình và vận hành công trình
- Tạm ứng, thanh quyết toán vốn đầu tư
- Bảo hành công trình
- Bảo trì công trình
Trang 33Nghiệm thu, bàn giao công trình
Công tác nghiệm thu cần phải được tiến hành một cách hết sức kỹ lưỡng Thực chất nghiệm thu là nhằm so sánh những cái đã thực hiện thực tế so với
hồ sơ thiết kế công trình đã được phê duyệt So sánh những vật tư thiết bị đưa vào đáp ứng được yêu cầu kỹ thuật, chất lượng so với thiết kế hay không Việc nghiệm thu, bàn giao chỉ ra được những mặt còn chưa hợp lý, chưa đúng yêu cầu để có biện pháp khắc phục
Công trình xây dựng chỉ được bàn giao toàn bộ cho chủ đầu tư khi đó xây lắp hoàn chỉnh theo thiết kế được duyệt, vận hành đúng yêu kỹ thuật và nghiệm thu đạt yêu cầu chất lượng (kể cả việc hoàn thiện nội, ngoại thất công trình và thu dọn vệ sinh mặt bằng)
Thực hiện việc kết thúc hoạt động xây dựng công trình
Hoạt động xây dựng được kết thúc khi công trình đó được bàn giao toàn
bộ cho chủ đầu tư
Sau khi bàn giao công trình, Nhà thầu xây dựng phải thanh lý hoặc chuyển hết tài sản của mình ra khỏi khu vực công trình và trả lại đất mượn hoặc thuê tạm để phục vụ thi công theo quy định của hợp đồng, chịu trách nhiệm theo dõi, sửa chữa các hư hỏng của công trình cho đến khi hết thời hạn bảo hành công trình
Hướng dẫn sử dụng công trình và vận hành công trình
Sau khi nhận bàn giao công trình, chủ đầu tư có trách nhiệm khai thác,
sử dụng năng lực công trình, đồng bộ hóa tổ chức sản xuất, kinh doanh dịch
vụ, hoàn thiện tổ chức và phương pháp quản lý nhằm phát huy đầy đủ các chỉ tiêu kinh tế - kỹ thuật đã được đề ra trong dự án
Chủ đầu tư hoặc tổ chức được giao quản lý sử dụng công trình có trách nhiệm thực hiện bảo trì công trình
Thanh toán vốn đầu tư
Việc thanh toán vốn đầu tư cho các công việc, nhóm công việc hoặc toàn
Trang 34bộ công việc lập dự án, khảo sát, thiết kế, thi công xây dựng, giám sát và các hoạt động xây dựng khác phải căn cứ theo giá trị khối lượng thực tế hoàn thành và nội dung phương thức thanh toán trong hợp đồng đã ký
Đối với các dự án sử dụng vốn ngân sách Nhà nước, trong năm kết thúc xây dựng hoặc năm đưa công trình vào sử dụng thì chủ đầu tư phải thanh toán toàn bộ cho Nhà thầu giá trị công việc hoàn thành trừ khoản tiền giữ lại theo quy chế để bảo hành công trình
Quyết toán dự án hoàn thành
Chủ đầu tư có trách nhiệm thực hiện quyết toán vốn đầu tư xây dựng công trình ngay sau khi công trình đã hoàn thành đưa vào khai thác sử dụng theo yêu cầu của người quyết định đầu tư
Chủ đầu tư chịu trách nhiệm lập hồ sơ quyết toán vốn đầu tư dự án hoàn thành để trình người có thẩm quyền phê duyệt chậm nhất là 12 tháng đối với
dự án quan trọng quốc gia, dự án nhóm A và 9 tháng đối với các nhóm dự án nhóm B và 6 tháng đối với các dự án nhóm C kể từ khi công trình hoàn thành, đưa vào khai thác sử dụng
Bảo hành công trình
Thời gian bảo hành công trình tính từ ngày chủ đầu tư ký biên bản nghiệm thu hạng mục công trình xây dựng, công trình xây dựng đã hoàn thành để đưa vào sử dụng và được quy định như sau:
+ Không ít hơn 24 tháng đối với mọi loại công trình cấp đặc biệt, cấp 1; + Không ít hơn 12 tháng đối với các công trình còn lại
Mức tiền bảo hành công trình xây dựng:
+ Nhà thầu thi công xây dựng công trình và Nhà thầu cung ứng thiết bị công trình có trách nhiệm nộp tiền bảo hành vào tài khoản của Chủ đầu tư theo mức 5% giá trị hợp đồng đối với công trình xây dựng hoặc hạng mục công trình xây dựng
Trang 35Bảo trì công trình
Công trình sau khi được nghiệm thu đưa vào sử dụng phải được bảo trì
để vận hành, khai thác sử dụng lâu dài Công việc bảo trì công trình xây dựng được thực hiện theo các cấp: Cấp duy tu bảo dưỡng; cấp sửa chữa nhỏ; cấp sửa chữa vừa; cấp sửa chữa lớn Nội dung, phương pháp bảo trì công trình xây dựng của các cấp bảo trì thực hiện theo quy định bảo trì
1.2.3 Các nhân tố tác động đến hoạt động quản lý các dự án đầu tư XDCT
sử dụng vốn NSNN
1.2.3.1 Các nhân tố khách quan
Chính sách quản lý đối với ĐTXDCB: Chính phủ và các cơ quan quản lý thông qua những sự thay đổi về cơ chế chính sách tác động đến công tác QLDA
Do các dự án ĐTXDCB thường kéo dài, nên hệ thống các chính sách pháp luật
có ảnh hưởng sâu rộng và trực tiếp đến hoạt động ĐTXDCB và do vậy có ảnh hưởng to lớn đến hiệu quả của hoạt động ĐTXDCB Hệ thống chính sách pháp luật vừa thiếu vừa yếu sẽ dẫn đến tình trạng có nhiều kẽ hở tạo điều kiện cho tiêu cực, tham nhũng thất thoát, lãng phí trong ĐTXDCB Hệ thống chính pháp pháp luật đầy đủ nhưng không sát thực, chồng chéo, nhiều thủ tục phiền hà cũng làm nản lòng các nhà đầu tư và do vậy gián tiếp ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động ĐTXDCB Tuy xu thế có thể điều chỉnh, bổ sung theo hướng cải cách, giảm thiểu thủ tục hành chính thì mỗi sự thay đổi của cơ chế chính sách đều ảnh hưởng đến dự án như điều chỉnh giá hợp đồng, điều kiện thi công hay thay đổi các điều kiện khác từ các cấp chính quyền địa phương Đi cùng với sự thay đổi ở quy mô vĩ mô, ở cấp địa phương cũng có những vận dụng khác nhau nên việc thực hiện các dự án có quy mô tương tự nhau nhưng ở các địa phương khác nhau
sẽ gặp những khó khăn khác nhau
Năng lực các nhà thầu tư vấn, thi công, lắp đặt:
- Đóng vai trò quan trọng đối với việc dự án có được thực hiện đúng tiến độ hay không
Trang 36- Quá trình thực hiện ĐTXDCB thiếu tính chất ổn định, luôn bị biến động như chịu tác động của yếu tố tự nhiên, sự thay đổi thiết kế của chủ đầu
tư, hay do địa điểm xây dựng các công trình luôn luôn thay đổi đối với các nhà thầu thi công xây lắp,… nên phương pháp tổ chức sản xuất và biện pháp
kỹ thuật, công nghệ cũng thay đổi cho phù hợp với mỗi nơi Trong XDCB, sản phẩm luôn đứng im gắn liền với đất còn con người, máy móc luôn di chuyển làm cho máy móc bị hao mòn, nhanh hỏng, sản xuất dễ bị gián đoạn, làm tăng chi phí do phải xây dựng nhiều công trình tạm Vật liệu xây dựng số lượng nhiều, trọng lượng lớn, nhất là phần thô nên nhu cầu vận chuyển lớn, chi phí vận chuyển cao không trực tiếp tạo thêm giá trị cho sản phẩm Những đặc điểm như vậy đòi hỏi đơn vị thi công phải có kế hoạch cung ứng vật tư, thiết bị hợp lý đảm bảo tiến độ thi công Khi thi công không thể dự trữ vật liệu và bán thành phẩm có khối lượng lớn để đảm bảo sản xuất như các ngành công nghiệp khác Nếu nhà thầu không tập trung được các nguồn lực thì sẽ xảy ra tình trạng thiếu vật tư, máy móc thậm chí không đủ nhân lực phục vụ thi công dẫn đến tình trạng dự án bị đình trệ
- Trình độ kỹ thuật công nghệ, trình độ tay nghề của đội ngũ kỹ sư, công nhân cũng tác động không nhỏ đến tiến độ thực hiện dự án Nếu kỹ sư
có trình độ, công nhân được đào tạo có tay nghề tốt thì năng suất lao động cao, thời gian để hoàn thành công việc ngắn, khi đó dự án có khả năng hoàn thành đúng hạn Ngược lại nếu trình độ tay nghề của đội ngũ kỹ sư, công nhân không đáp ứng được yêu cầu của công việc, năng suất lao động thấp thì hợp đồng không thể kết thúc đúng hạn
- Nguồn vốn của nhà thầu huy động riêng cho dự án cũng có ảnh hưởng lớn tới dự án Tuy nhà thầu được thanh toán, tạm ứng vốn của dự án nhưng phần vốn này là chưa đủ, chưa đáp ứng được nhu cầu về mặt tài chính cho từng giai đoạn thi công của dự án, nhất là khi tiến độ giải ngân thanh toán
Trang 37không theo kịp với tiến độ thi công Vì vậy, nhà thầu phải huy động được một lượng vốn lưu động đáng kể dành riêng cho dự án
- Do vậy nếu nhà thầu có năng lực kém, phân bổ các nguồn lực thiếu hợp lý có thể dẫn đến tình trạng ngừng việc, chờ đợi, năng suất lao động thấp, tâm lý tạm bợ, tùy tiện trong làm việc và sinh hoạt của cán bộ công nhân ở công trường, gây ảnh hưởng đến hiệu quả của cả dự án,
kế hoạch, tránh thất thoát lãng phí
Năng lực bộ máy và công tác quản lý hành chính nhà nước:
- Năng lực tổ chức bộ máy có ảnh hưởng quan trọng, quyết định đến hiệu quả hoạt động ĐTXDCB Năng lực tổ chức bộ máy ở đây bao gồm năng lực con người và năng lực của tổ chức tham gia vào lĩnh vực ĐTXDCB Nếu năng lực con người và tổ chức bộ máy yếu thì không thể có hiệu quả cao
trong ĐTXDCB Năng lực con người là nhân tố tác động gián tiếp và trực tiếp
đến công tác xây dựng cơ bản Hoạt động đầu tư rất phức tạp và đa dạng, liên quan đến nhiều ngành, nhiều cấp, nhiều lĩnh vực, vì vậy cán bộ quản lý dự án ĐTXDCB cần phải được trang bị đầy đủ kiến thức, kỹ năng, trình độ chuyên môn nghiệp vụ, trang thiết bị phục vụ công việc và có phẩm chất đạo đức tốt
để hoàn thành những nhiệm vụ được giao
- Ngoài ra công tác quản lý hành chính nhà nước trong ĐTXDCB cũng có ảnh hưởng lớn đến hoạt động đầu tư Thực tế cho thấy nếu QLNN
Trang 38yếu kém, hành chính quan liêu, thủ tục hành chính rườm rà sẽ ảnh hưởng đến chi phí đầu tư và hậu quả là hiệu quả hoạt động đầu tư thấp
1.2.4 Các tiêu chí đánh giá chất lượng quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình sử dụng vốn NSNN
1.2.4.1 Các tiêu chí đánh giá hiệu quả quản lý dự án tầm vĩ mô
Đối với cấp quản lý vĩ mô của Nhà nước, khi xem xét hiệu quả QLDA
ta xem xét đến mọi khía cạnh trực tiếp và gián tiếp thu được do dự án đem lại Đánh giá hiệu quả quản lý dự án ĐTXDCB ở tầm vĩ mô nên xem xét tới các chỉ tiêu sau:
- Chỉ tiêu hiệu quả KT-XH của dự án: Dự án có đáp ứng việc thực hiện các mục tiêu trong chiến lược phát triển KT-XH của đất nước trong từng thời kỳ
- Chỉ tiêu về tính định hướng: Dự án có thống nhất với định hướng của Nhà nước trong phạm vi quốc gia, trong phạm vi ngành và địa phương
- Chỉ tiêu về môi trường: Dự án có điều kiện thuận lợi về kinh tế, chính trị, xã hội để được hình thành, thực hiện và phát huy hiệu quả Muốn thu hút các dự án đầu tư nước ngoài không thể thiếu vai trò của nhà nước trong việc tạo môi trường cả kinh tế, chính trị và xã hội
- Chỉ tiêu về tính pháp lý của dự án: Các chủ dự án có thực hiện đúng quy định, quy trình về đầu tư và quản lý dự án hay không? Công tác thanh tra, kiểm tra của nhà nước có vai trò đặc biệt để thực hiện mục tiêu này
1.2.4.2 Các tiêu chí đánh giá hiệu quả quản lý dự án tầm vi mô
Thành công (hiệu quả) của công tác QLDA được đo lường qua các chỉ tiêu:
- Chỉ tiêu thời gian và tiến độ thực hiện dự án:
Trong chu trình dự án có ba giai đoạn: Giai đoạn lập kế hoạch, chuẩn bị
dự án; giai đoạn thực hiện dự án và giai đoạn kết thúc dự án
Yếu tố thời gian trong giai đoạn thứ nhất và thứ hai có ý nghĩa cực kỳ quan trọng Làm thế nào để có được dự án tốt, đáp ứng tốt mọi yêu cầu của dự
Trang 39án, để ra được một quyết định đầu tư với thời hạn ngắn nhất có thể, làm thế nào để triển khai và thực hiện dự án nhanh nhất sau khi dự án đã được quyết định đầu tư, phụ thuộc vào chủ thể QLDA thực hiện vai trò của mình như thế nào, thông qua việc thực hiện các chức năng của QLDA
Quản lý thời gian và tiến độ là nhân tố cơ bản đảm bảo cho dự án được thực hiện đúng tiến độ và thời gian quy định cho từng công việc và toàn bộ các công việc của dự án, đưa dự án vào khai thác sử dụng đúng kế hoạch đảm bảo hiệu quả KT-XH của dự án Một dự án nếu thực hiện được theo đúng kế hoạch thì mọi tính toán về cơ hội, môi trường, chi phí sẽ theo đúng kế hoạch Ngược lại nếu thực hiện chậm chễ thì môi trường sẽ thay đổi, các chi phí sẽ tăng lên, dự án chậm phát huy hiệu quả Ngược lại, dự án kéo dài thời hạn thêm một năm, những chi phí phát sinh bao gồm: Chi phí lãi vay cho khoản tiền vay về vốn đầu tư, chi phí cơ hội về thu hồi hoàn vốn trong một năm, chi phí do giá cả tăng cao,… Ngoài ra còn có thể ảnh hưởng tiêu cực đến dự án
do môi trường đầu tư thay đổi, do tiến bộ của khoa học công nghệ thay đổi,
do mất thời cơ để phát triển, ảnh hưởng đến uy tín, …
- Chỉ tiêu về chi phí thực hiện dự án:
Tiết kiệm chi phí, tăng khả năng doanh lợi không thể thiếu được vai trò của quản lý dự án Lãng phí, thất thoát chi phí, không đảm bảo đúng tiến độ chủ yếu thuộc trách nhiệm của chủ thể QLDA Điều đó diễn ra do chủ thể quản lý dự án không thực hiện tốt các chức năng QLDA của mình, chẳng hạn, lập kế hoạch không tốt, kiểm tra không chu đáo, lựa chọn nhà thầu không chuẩn, thiếu sự phối hợp các khâu công việc, sự phân bổ nguồn lực không hợp lý,…
Trang 40nhưng nếu giai đoạn khai thác cơ quan QLDA không thực hiện tốt ở khâu bảo hành, khó có thể đảm bảo cho công trình luôn ở trạng thái tốt trong thời hạn khai thác Đảm bảo chất lượng sản phẩm dự án không chỉ là yêu cầu mà còn
là mục tiêu của QLDA Mọi chức năng của QLDA đều hướng tới mục tiêu và đáp ứng yêu cầu này
- Chỉ tiêu về đảm bảo sự hài lòng của các bên:
Mục đích chính của QLDA là bảo đảm dự án thỏa mãn mọi yêu cầu đã đặt ra (thỏa mãn nhu cầu của người sử dụng, thỏa mãn nhu cầu của nhà tổ chức) Nhiều dự án thất bại do chỉ chú tâm đến kỹ thuật, tài chính, tiến độ mà không quan tâm đến mong đợi của người sử dụng hoặc nhà tổ chức Do đó vấn đề đảm bảo sự hài lòng của các bên phải được xem ngang hàng với qui mô dự án, thời gian thực hiện và chi phí Nếu khách hàng không thỏa mãn thì dự án phải được chỉnh lại Kế hoạch tốt hay biểu hiện của giá cả có ý nghĩa rất nhỏ trong bộ mặt nghèo nàn của sản phẩm cuối cùng Đây là một trong những chỉ tiêu quan trọng nhất để đánh giá sự thành công hay thất bại của dự án