1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

khóa luận viêm tử cung heo

60 94 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Khóa Luận Viêm Tử Cung Heo
Tác giả Nguyễn Văn Đông
Người hướng dẫn PGS.TS Phạm Hồng Sơn
Trường học Đại Học Nông Lâm Huế
Chuyên ngành Chăn Nuôi-Thú Y
Thể loại khóa luận
Năm xuất bản 2017
Thành phố Huế
Định dạng
Số trang 60
Dung lượng 1,24 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Lời Cảm Ơn Để hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này, tôi đã nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình của các cơ quan, các cấp lãnh đạo và cá nhân Tôi xin bày tỏ sự cảm ơn chân thành và lòng kính trọng tới tất cả tập thể, cá nhân đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu Trước hết, tôi xin bày tỏ long biết ơn chân thành tới PGS TS Phạm Hồng Sơn, người thầy tâm huyết đã tận tình hướng dẫn, động viên khích lệ, giành nhiều thời gian, định hướng và chỉ bảo tôi trong quá trình nghiên c.

Trang 1

Lời Cảm Ơn !

Để hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này, tôi đã nhận được sự giúp đỡ nhiệttình của các cơ quan, các cấp lãnh đạo và cá nhân Tôi xin bày tỏ sự cảm ơn chânthành và lòng kính trọng tới tất cả tập thể, cá nhân đã tạo điều kiện giúp đỡ tôitrong quá trình học tập và nghiên cứu

Trước hết, tôi xin bày tỏ long biết ơn chân thành tới PGS.TS Phạm Hồng Sơn,người thầy tâm huyết đã tận tình hướng dẫn, động viên khích lệ, giành nhiều thời gian,định hướng và chỉ bảo tôi trong quá trình nghiên cứu để hoàn thành khóa luận này.Tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám Hiệu trường Đại Học Nông Lâm Huế,phòng Đào Tạo Đại Học, các thầy cô giáo trong khoa Chăn Nuôi-Thú Y đã giảngdạy và cung cấp cho tôi nhiều kiến thức thiết thực trên bước đường học tập vànghiên cứu

Tôi xin cảm ơn chân thành tới công ty Sunjin Vina, gia đình bác Nguyễn VănTâm cùng tất cả cả anh chị công nhân tại trại Bảo Lộc đã tạo điều kiện giúp đỡ chotôi trong quá trình thực tập

Tôi xin gởi tấm lòng ân tình tới những người thân, bạn bè đã thực sự là nguồnđộng viên lớn lao và là những người truyền nhiệt huyết để tôi hoàn thành khóa luậnnày

Tuy đã có nhiều cố gắng nhưng chắc chắn đề tài nghiên cứu còn có nhữngthiếu sót về nội dung, phương pháp và hình thức trình bày Rất mong nhận được ýkiến đống góp của các thầy cô giáo và các bạn

Huế, Tháng 3 Năm 2017

Sinh Viên Nguyễn Văn Đông

Trang 2

DANH MỤC BẢNG

MỤC LỤC 4

PHẦN 1 MỞ ĐẦU 5

PHẦN 2 7

TỔNG QUAN TÀI LIỆU 7

2.4.3.Số con đẻ ra/lứa 22

2.4.3.Số con đẻ ra/lứa 22

2.4.4.Số con sống đến 24 giờ/lứa 22

2.4.4.Số con sống đến 24 giờ/lứa 22

2.4.5.Số con cai sữa/ nái/ năm 22

2.4.5.Số con cai sữa/ nái/ năm 22

2.4.6.Yếu tố di truyền 22

2.4.6.Yếu tố di truyền 22

2.4.7.Yếu tố ngoại cảnh 23

2.4.7.Yếu tố ngoại cảnh 23

TÀI LIỆU THAM KHẢO 57

Trang 3

DANH MỤC SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ

MỤC LỤC 4

PHẦN 1 MỞ ĐẦU 5

PHẦN 2 7

TỔNG QUAN TÀI LIỆU 7

2.4.3.Số con đẻ ra/lứa 22

2.4.3.Số con đẻ ra/lứa 22

2.4.4.Số con sống đến 24 giờ/lứa 22

2.4.4.Số con sống đến 24 giờ/lứa 22

2.4.5.Số con cai sữa/ nái/ năm 22

2.4.5.Số con cai sữa/ nái/ năm 22

2.4.6.Yếu tố di truyền 22

2.4.6.Yếu tố di truyền 22

2.4.7.Yếu tố ngoại cảnh 23

2.4.7.Yếu tố ngoại cảnh 23

TÀI LIỆU THAM KHẢO 57

Trang 4

MỤC LỤC

MỤC LỤC 4

PHẦN 1 MỞ ĐẦU 5

PHẦN 2 7

TỔNG QUAN TÀI LIỆU 7

2.4.3.Số con đẻ ra/lứa 22

2.4.4.Số con sống đến 24 giờ/lứa 22

2.4.5.Số con cai sữa/ nái/ năm 22

2.4.6.Yếu tố di truyền 22

2.4.7.Yếu tố ngoại cảnh 23

TÀI LIỆU THAM KHẢO 57

Trang 5

PHẦN 1 MỞ ĐẦU1.1 Đặt vấn đề

Chăn nuôi là một trong những ngành chiếm vai trò rất quan trọng trong nôngnghiệp và nông thôn, sự tăng trưởng cao liên tục trong thời gian dài của ngành chănnuôi nói chung và chăn nuôi lợn nói riêng đã góp phần duy trì mức tăng trưởngchung của ngành nông nghiệp

Trước “cơn bão” hội nhập đang đến, chăn nuôi là một trong những ngành ViệtNam xác định là có sức cạnh tranh kém và dễ bị đánh bại ngay cả trên sân nhà Mặc

dù lĩnh vực chăn nuôi trong các năm gần đây đã có những bước chuyển dịch rõràng theo hướng tích cực, từ chăn nuôi nhỏ lẻ, phân tán sang chăn nuôi tập trungtheo mô hình trang trại, gia trại, ứng dụng công nghệ khoa học kỹ thuật, tuy nhiên,

để đảm bảo sức cạnh tranh của chăn nuôi Việt Nam, chúng ta cần làm tốt công tácchăm sóc và quản lí lợn Nguyên nhân là do chăn nuôi nước ta đang phụ thuộc quánhiều vào giống ngoại – giống có khả năng thích nghi thấp với điều kiện khí hậunhiệt đới gió mùa nóng ẩm của nước ta

Đối với lợn nái nhất là lợn nái được nuôi theo hướng công nghiệp thì cácbệnh về sinh sản xuất hiện khá nhiều do điều kiện vệ sinh chăn nuôi kém, quá trìnhchăm sóc và nuôi dưỡng chưa đảm bảo Mặt khác, theo Trần Thị Dân (2004) [3]

trong quá trình sinh đẻ lợn dễ bị mắc các loại vi khuẩn như Streptococcus,

Staphylococcus, E coli,…xâm nhiễm và gây một số bệnh nhiễm trùng sau đẻ như

viêm âm đạo, viêm âm môn, đặc biệt là bệnh viêm tử cung Bệnh viêm tử cung làbệnh không những làm ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng sinh sản của lợn mẹ mànếu không chữa trị kịp thời thì có thể dẫn đến làm giảm lứa đẻ trong năm hoặc mấtkhả năng sinh sản của lợn nái [5]

Đồng Nai được mệnh danh là “cái nôi” của nền chăn nuôi Việt Nam, theo sốliệu sơ bộ của tổng cục thống kê, năm 2015, toàn tỉnh Đồng Nai có 2578 trang trạichăn nuôi lợn với tổng đàn lên tới khoảng 15.389.000 con [23] Trong đó, huyệnThống Nhất chiếm gần 1/3 số trang trại chăn nuôi với 806 trang trại với tổng đànkhoảng 373.126 con [24] Hầu hết, các hộ chăn nuôi đều nuôi lợn nái sinh sản đểlấy lợn con nuôi thương phẩm Vì vậy nếu làm tốt công tác phòng và trị các bệnh

về sinh sản, đặc biệt là bênh viêm tử cung cho nái sinh sản sẽ góp phần đảm bảo sốlượng và sức khỏe cho đàn lợn con

Trang 6

Từ những vấn đề trên, được sự hướng dẫn của PGS.TS Phạm Hồng Sơn, tôi

tiến hành thực hiện đề tài: “Khảo sát bệnh viêm tử cung ở lợn nái sinh sản và hiệu quả điều trị của một số thuốc tại trại nái Bảo Lộc, xã Gia Tân 2, huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai.”

1.2 Mục tiêu đề tài

- Khảo sát tình hình mắc bệnh viêm tử cung ở đàn nái ngoại tại trại

- Khảo sát tỷ lệ mắc bệnh viêm tử cung theo lứa đẻ tại trạị

- Khảo sát tình hình mắc hội chứng tiêu chảy trên đàn lợn con sinh ra từ lợn

Trang 7

PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU2.1 Tình hình chăn nuôi lợn ở Việt Nam

2.1.1 Sơ lược tình hình chăn nuôi lợn

2.1.1.1 Tổng đàn và số đầu lợn nái

Việt Nam là một nước đi lên và phát triển từ nền nông nghiệp có truyềnthống lâu đời, trong đó ngành chăn nuôi lợn đã dần khẳng định chỗ đứng hàng đầutrong nền kinh tế quốc dân Theo số liệu của tổng cục thống kê trong giai đoạn2011-2015, chăn nuôi lợn từng bước phát triển ổn định, tăng cả về quy mô đầu con

và sản lượng thịt hơi xuất chuồng Năm 2011, tổng đàn lợn cả nước là 27,06 triệucon, ước tính năm 2014 giảm xuống còn 27 triệu con và năm 2015 là 27,2 triệucon; Tổng số lợn cả nước có đến tháng 6 năm 2016 đạt khoảng 28,3 triệu con[ 23 ].Phân bổ đàn lợn theo vùng như sau: Vùng Đồng bằng sông Hồng là 25,74%,vùng Trung du miền núi phía bắc là 24,1%, vùng Đông Nam Bộ là 10,51%, vùng

Tây Nguyên là 6,58% [23].

Theo Tổng cục thống kê, năm 2012 cả nước có 4,03 triệu con lợn nái, (chiếm15,2% tổng đàn), giảm 0,56% so với năm 2011 [23] Sự phân bố số lượng lợn nái ởcác vùng trong cả nước như sau: Vùng ĐBSH có 1,06 triệu con, chiếm 26,28%tổng đàn lợn nái trong cả nước; vùng Trung du và miền núi Bắc Bộ có 0,93 triệucon, chiếm 23,2% tổng đàn lợn nái trong cả nước; vùng Bắc Trung Bộ và duyên hảimiền Trung có 0,84 triệu con, chiếm 20,9% tổng đàn lợn nái trong cả nước; vùngTây Nguyên có 0,22 triệu con, chiếm 5,6% tổng đàn lợn nái trong cả nước; vùngĐNB có 0,41 triệu con, chiếm 10,1% tổng đàn lợn nái trong cả nước; vùng ĐBSCL có0,56 triệu con, chiếm 14% tổng đàn lợn nái trong cả nước [23]

Trang 8

Bảng 2.1 Số lượng đầu lợn (triệu con) từ năm 2008 – 2014 ở các vùng kinh tế

khác nhau của cả nước

Theo USDA, năm 2014 nhu cầu tiêu thụ thịt lợn của Việt Nam vào khoảng2,245 triệu tấn, tăng 1,8% so với năm 2013 Sản lượng thịt lợn của Việt Nam năm

2014 dự kiến ở mức 2,26 triệu USD, đảm bảo cho Việt Nam xuất khẩu khoảng 15nghìn tấn thịt lợn

Thịt lợn (dạng tươi, ướp lạnh, đông lạnh) vẫn là mặt hàng xuất khẩu chủ yếu:

5 tháng đầu năm 2014 đạt trị giá 14,46 triệu USD, giảm 17,2% so với cùng kỳ nămngoái và chiếm 69,1% tổng trị giá xuất khẩu thịt các loại [23]

2.1.2 Thách thức đối với ngành chăn nuôi

Đánh giá một cách tổng quan, hiện ngành chăn nuôi còn rất nhiều bất cập

- Đầu vào thức ăn phụ thuộc quá lớn vào nhập khẩu, dẫn tới chi phí sản xuấtcao Trong khi đó, đối với chăn nuôi thì giá thành thức ăn đã chiếm tới 65-70% chiphí So với các nước trong khu vực, giá thành thức ăn chăn nuôi ở Việt Nam luôncao hơn khoảng 10%

- Kiểm soát dịch bệnh chưa thực sự hiệu quả Mặc dù đa số các bệnh đều đãđược kiểm soát nhưng một số loại dịch bệnh như lở mồm long móng, cúm gia cầmvẫn hoành hành, gây nhiều thiệt hại cho người chăn nuôi

Trang 9

- Vấn đề về con giống cũng là một trong những điểm yếu cố hữu của ngànhchăn nuôi Việt Nam Sự phát triển nâng cao chất lượng con giống tại Việt Nam quáchậm so với thế giới Trong khi lợn giống tại các nước sinh sản đạt 25-26 con/lứathì Việt Nam vẫn dậm chân ở mức 17-20 con

- Về cách thức tổ chức ngành chăn nuôi: Quy mô còn thiếu tính chuyênnghiệp, thiếu tính liên kết giữa khâu sản xuất và thị trường tiêu thụ nên hiệu quảkinh tế không cao

Chăn nuôi gia súc, gia cầm chuyển dịch theo hướng tích cực, từ chăn nuôinhỏ lẻ, phân tán sang chăn nuôi tập trung theo mô hình trang trại, gia trại, ứng dụngcông nghệ khoa học kỹ thuật, tăng hiệu quả kinh tế

2.2 Sơ lược địa điểm nghiên cứu

2.2.1 Điều kiện tự nhiên

Vị trí địa lý - đất đai

Vị trí địa lý đóng vai trò hết sức quan trọng trong quá trình sản xuất kinhdoanh nông nghiệp Nó là yếu tố quyết định ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình sảnxuất, ảnh hưởng đến việc sử dụng đất đai, lao động và phong tục tập quán củangười nông dân

Trang trại Bảo Lộc thuộc xã Gia Tân 2, huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai

− Phía Bắc giáp huyện Định Quán

− Phía Tây giáp huyện Trảng Bom

− Phía Đông giáp thị xã Long Khánh

− Phía Nam giáp huyện Long Thành và Cẩm Mỹ

Địa hình

Xã Gia Tân 2 có địa hình vùng đồng bằng và bình nguyên với những núi sótrải rác, có xu hướng thấp dần theo hướng bắc nam, với địa hình tương đối bằngphẳng Địa hình có thể chia làm các dạng là địa hình đồng bằng, địa hình trũng trêntrầm tích đầm lầy biển, địa đồi lượn sóng, dạng địa hình núi thấp, đất phù sa, đấtgley và đất cát có địa hình bằng phẳng, nhiều nơi trũng ngập nước quanh năm.[25]

Khí hậu

Xã Gia Tân 2 có khí hậu nhiệt đới gió mùa, có hai mùa tương phản nhau

là mùa khô và mùa mưa

Trang 10

Mùa khô thường bắt đầu từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau, mùa mưa kéo dài

từ tháng 5 đến tháng 11 Khoảng kết thúc mùa mưa dao động từ đầu tháng

10 đến tháng 12

Nhiệt độ trung bình năm 25 – 27oC, nhiệt độ cao nhất khoảng 20,5 oC, số giờnắng trong năm 2.500 – 2.700 giờ, độ ẩm trung bình 80 – 82%.[25]

2.2.2 Sơ lược về trại nái Bảo Lộc

Giới thiệu về trại nái Bảo Lộc

Trang trại nái Bảo Lộc là trang trại thuộc quyền sở hữu tư nhân, được thànhlập năm 2010 do ông Nguyễn Văn Tâm xây dựng và phát triển cho đến nay

Quy mô trại nái Bảo Lộc

Trại nái Bảo Lộc nuôi 200 nái gồm: nái hậu bị, nái sinh sản, đực, lợn con

- Nái sinh sản hàng tháng trung bình 30 nái

- Đực thường xuyên trong trại 3 đực

- Nhập hậu bị trung bình tháng thì tùy vào heo nái loại thải trong trại

- Lợn con cai sữa hàng tháng trung bình 300 con

Trang trại chủ yếu nuôi lợn nái: L x Y, Y x L và lợn đực: Duroc, ngoài ra còn

có nuôi gà, nuôi vịt lấy trứng và nuôi cá rô phi

Cơ sở vật chất và trang thiết bị phục vụ cho việc sản xuất kinh doanh do ôngNguyễn Văn Tâm đầu tư lên đến 5 tỷ VN đồng

 Chuồng trại

Trang trại được chia thành 2 khu gồm khu chăn nuôi, khu nhà ở

Khu chăn nuôi gồm: 1 kho cám, 1 chuồng bầu, 1 nhà xuất heo loại, 1 nhànhập heo hậu bị, nhà xuất heo cai sữa, 2 chuồng cách ly (1, 2), 1 chuồng đẻ

Trang 11

Trang trại gồm có 4 công nhân vừa sản xuất, vừa bảo trì cho hệ thống trangtrại, ngoài ra còn có công nhân theo mùa vụ khi cần thiết.

Chuồng bầu 1 Làm vệ sinh, cho heo ăn, phối heo

Chuồng Heo Thịt 2 Cho ăn, dọn vệ sinh, tắm heo

Thu nhập trại nái Bảo Lộc

Mỗi tháng trại xuất trung bình khoảng 100 con lợn thịt, thu lợi nhuận khoảng

Trang 12

Chuồng trại được xây dựng theo hướng hiện đại đúng tiêu chuẩn kỹ thuật,đúng vị trí nên tương đối sạch sẽ và kiểm soát được vật chủ trung gian gây bệnh kýsinh trùng ngoài da, truyền bệnh như chuột, muỗi Kho chứa thức ăn khô thoáng

và cách xa bụi rậm nên hạn chế được ẩm mốc và chuột cắn phá thức ăn Thức ăn docông ty cung cấp, giá bán lợn thịt cao nên chăn nuôi có lãi tạo nguồn vốn để tiếptục đẩy mạnh phát triển về số lượng và chất lượng đàn lợn

Trại luôn được tiếp cận với khoa học kỹ thuật mới, áp dụng kỹ thuật tiên tiếnvào chăn nuôi, đưa một số con giống mới có năng suất phẩm chất tốt vào chăn nuôi

có hiệu quả cao Luôn chủ động tích cực trong công tác phòng ngừa dịch bệnh do

đó tình hình dịch bệnh đã được khống chế dịch bệnh không xảy ra

Khó khăn

Thiếu điện, thiếu nước đó là khó khăn lớn nhất của trại Tay nghề của côngnhân chưa cao, mới vào nghề, hầu hết đây là nguồn lao động phổ thông chưa cókiến thức cơ bản cũng như kỹ thuật chăn nuôi lợn, phải mất một thời gian họ mớithích nghi với công việc của mình

Dịch bệnh hàng năm gây tổn thất đến số lượng lợn giống nuôi thịt thươngphẩm, hiện tại trại có lợn nái đẻ từ lứa 2 – 5 chiếm trong tổng số nái đẻ rất ít mà màlợn trong giai đoạn này có khả năng sinh sản tốt, trong khi đó lợn nái từ lứa đẻ 5 trở

đi với số lượng nhiều, khả năng sinh sản giảm xuống, chất lượng sữa giảm làmgiảm khả năng đề kháng của lợn con, thêm vào đó lợn nái hậu bị, nái chửa lứa 1-2được tiêm chủng nhiều loại vacxin nên khả năng sinh sản chưa cao

2.3 Cấu tạo cơ quan sinh sản và một số đặc điểm sinh lý của lợn cái

2.3.1 Cấu tạo cơ quan sinh sản của lợn cái

Bộ phận sinh dục của lợn cái được chia thành bộ phận sinh dục bên trong(buồng trứng, ống dẫn trứng, tử cung, âm đạo) và bộ phận sinh dục bên ngoài (âmmôn, âm vật, tiền đình) [1]

2.3.1.1 Buồng trứng (Ovarium)

Buồng trứng của lợn gồm một đôi treo ở trước dây chằng rộng và nằm trongxoang chậu Hình dạng của buồng trứng rất đa dạng nhưng phần lớn có hình bầu,dẹt hoặc hình ovan dẹt, không có lõm rụng trứng [1]

Buồng trứng có 2 chức năng cơ bản là tạo giao tử cái và tiết ra các hormone:Oestrogen, Progesterone, Oxytoxin, Relaxin và Inhibin Các hormone này tham gia

Trang 13

vào điều khiển chu kỳ sinh sản của lợn cái Oestrogen cần thiết cho sự phát triểncủa tử cung và hệ thống ống dẫn của tuyến vú Progesterone do thể vàng tiết ra duytrì sự mang thai do nó kích thích sự phân tiết của tử cung để nuôi dưỡng thai, ứcchế sự co thắt của tử cung và phát triển nang sữa tuyến vú Oxytoxin được tiết chủyếu bởi phần sau của tuyến yên nhưng cũng được tiết bởi thể vàng đối với lợn gầnsinh nó làm co thắt tử cung khi lợn gần đẻ và làm co thắt cơ trơn tuyến vú để thảisữa Ở lợn, Relaxin do thể vàng tiết ra để gây giãn nở xương chậu, làm giãn nở vàmềm cổ tử cung do đó mở rộng cơ quan sinh dục khi gần sinh Inhibin có tác dụng

ức chế sự phân tiết kích tố noãn (FSH) của tuyến yên, do đó ức chế sự phát triểnnoãn nang theo chu kỳ [3]

Phía ngoài buồng trứng được bao bọc bởi một lớp màng liên kết sợi, chắc nhưmàng dịch hoàn Phía trong buồng trứng được chia làm hai miền là miền vỏ vàmiền tủy Miền tủy có nhiều mạch máu, tổ chức liên kết dày đặc đảm bảo nhiệm vụnuôi dưỡng và bảo vệ Miền vỏ đảm bảo quá trình phát triển của trứng đến khitrứng chín và rụng Miền vỏ bao gồm ba phần: nang trứng nguyên thủy, thể vàng và

tế bào hình hạt Nang trứng nguyên thủy hay còn gọi là noãn bao (primary follicle)nằm dưới lớp màng của buồng trứng Khi noãn bao chín các tế bào nang bao quanh

tế bào trứng và phân chia thành nhiều phần tế bào có hình hạt Noãn bao ngày càngphát triển thì các tế bào nang tiêu tan tạo ra xoang có chứa dịch Các tầng tế bàocòn lại phát triển lồi lên tạo thành một lớp màng bao bọc, ở ngoài có chỗ dầylên để trứng [5]

2.3.1.2 Ống dẫn trứng (Oviductus)

Ống dẫn trứng được treo bởi màng treo ống dẫn trứng, đó là một nếp gấpmàng bụng bắt nguồn từ lớp bên trong của dây chằng rộng Căn cứ vào chức năng

có thể chia ống dẫn trứng thành bốn đoạn:

Tua diềm: có hình giống như tua diềm

Phễu: có hình phễu, miệng phễu nằm gần buồng trứng

Phồng ống dẫn trứng: đoạn ống giãn rộng xa tâm

Eo: đoạn ống hẹp gần tâm, nối ống dẫn trứng với xoang tử cung

Ống dẫn trứng có một chức năng duy nhất là vận chuyển trứng và tinh trùngtheo hướng ngược chiều nhau Cấu tạo của ống dẫn trứng được thích ứng tốt vớichức năng phức tạp của nó Bộ phận giống như tua diềm vận chuyển trứng đã rụng

Trang 14

từ bề mặt buồng trứng đến phễu Trứng được chuyển qua những nếp nhầy đi đếnphồng ống dẫn trứng nơi xảy ra sự thụ tinh và được lưu lại trong ống dẫn trứngkhoảng ba ngày trước khi chúng được chuyển đến tử cung Ống dẫn trứng cung cấpđiều kiện ngoại cảnh thuận lợi nhất cho sự hợp nhất của các giao tử và cho sự pháttriển ban đầu của phôi.

2.3.1.3 Tử cung (Uterus)

Tử cung nằm trong xoang chậu, dưới trực tràng, trên bàng quang và niệu đạotrong xoang chậu Tử cung được giữ tại chỗ nhờ sự bám của âm đạo vào cổ tử cung

và được giữ bởi dây chằng

Tử cung lợn thuộc loại tử cung sừng kép, gồm hai sừng thông với một thân và cổ

tử cung Sừng tử cung dài như một đoạn ruột (50 – 100 cm) thông với ống dẫn trứng.Thân của tử cung rất ngắn (3 – 5 cm)

Cổ tử cung dài (10 – 18 cm) có thành dày, có những u thịt xen kẽ xếp lại vớinhau theo lối cài răng lược [1]

Vách tử cung gồm ba lớp từ ngoài vào trong: lớp tương mạc, lớp cơ trơn, lớpnội mạc

Lớp tương mạc là lớp màng sợi, dai chắc, phủ mặt ngoài tử cung và nối tiếpvào hệ thống các dây chằng

Lớp cơ trơn có chức phận chủ yếu trong việc đảm bảo sự phát triển và dinhdưỡng bào thai Đây là một lớp cơ trơn dày và rất khỏe trong cơ thể, có cấu tạophức tạp Bên trong là một khung liên kết với nhiều sợi đàn hồi có nhiều mạch máuđặc biệt là những nhánh tĩnh mạch lớn Ngoài ra là các bó sợi cơ trơn đan vào nhautheo mọi hướng làm thành một mạng vừa chắc vừa dày

Theo Trần Thị Dân (2004) [3], trương lực co càng cao (tử cung trở nên cứng)khi có nhiều Oestrogen trong máu và trương lực cơ càng giảm (tử cung trở nênmềm) khi có nhiều Progesterone trong máu Vai trò của cơ tử cung là góp phần vào

sự di chuyển của tinh trùng và chất nhầy trong tử cung, đồng thời đẩy thai ra ngoàikhi đẻ Khi mang thai, sự co thắt của cơ tử cung giảm đi dưới tác dụngProgesterone, nhờ vậy phôi thai có thể bám chắc vào tử cung

Lớp nội mạc là lớp niêm mạc màu hồng phủ lên trên bằng một tế bào biểu môhình trụ xen với những tuyến tiết chất nhầy tử cung Nhiều tế bào biểu mô kéo dàithành lông rung, khi lông rung động thì gạt những chất nhầy về phía tử cung Trênniêm mạc có các nếp gấp

Trang 15

Lớp nội mạc tử cung có nhiệm vụ tiết các chất vào lòng tử cung để giúp phôithai phát triển và duy trì sự sống của tinh trùng trong thời gian di chuyển đến ốngdẫn trứng Dưới ảnh hưởng của Oestrogen, các tuyến tử cung phát triển từ lớpmàng nhầy, xâm nhập vào lớp giữa màng nhầy và cuộn lại.

Tuy nhiên, các tuyến chỉ đạt được khả năng phân tiết tối đa khi có tác dụngcủa Progesterone Sự phân tiết của tử cung thay đổi tùy theo giai đoạn của chu kỳlên giống

2.3.1.4 Âm đạo (Vagina)

Âm đạo là ống đi từ cổ tử cung đến âm hộ, đầu trước âm đạo dính vào cổ tửcung, ống sau thông ra tiền đình, có màng trinh (Hymen) đậy lỗ âm đạo [1]

Âm đạo có cấu tạo như một ống cơ có thành dày, gồm ba lớp:

Màng trinh là một nếp gấp gồm hai lá niêm mạc Ở giữa có sợi đàn hồi, ởtrước nhìn vào âm đạo, ở sau liên quan với âm môn

- Lỗ niệu đạo: ở sau và ở giữa màng trinh

- Hành tiền đình (Bulbus vestibulum) là hai tạng cương ở hai bên lỗ niệu đạo,cấu tạo giống thể hổng ở bao dương vật của con đực Hai hành tiền đình này đượcnối thông với nhau ở phía trước lỗ niệu đạo bởi các tĩnh mạch Mỗi hành có một cơhành hang bọc quanh và cơ khít âm hộ ở phía trong Cơ khít được coi như một bó

cơ tròn quanh âm đạo

Ngoài ra tiền đình còn có một ít tuyến tiền đình ở phần bụng Tuyến này sắpthành hai hàng chéo hướng về âm vật

Trang 16

2.3.1.6 Âm vật (Clitoris)

Âm vật nằm ở góc dưới phía hai mép của âm môn Âm vật giống như dương vậtcon đực được thu nhỏ lại Về cấu tạo, âm vật cũng có các thể hồng như dương vật.Trên âm vật có nếp da tạo ra mũ âm vật, giữa âm vật bẻ gấp xuống dưới Trong thực tếsau khi dẫn tinh cho gia súc cái, các dẫn tinh viên thường xoa bóp nhẹ vào âm vật kíchthích con cái hưng phấn để tử cung trở lại co thắt và vận động bình thường [1]

2.3.1.7 Âm môn (Vulva)

Âm môn hay còn gọi là âm hộ nằm dưới hậu môn Phía ngoài âm môn có haimôi (labia pudendi) Hai môi được nối với nhau bằng hai mép

Trên hai môi của âm môn có sắc tố màu đen và có nhiều tuyến tiết (như tuyếntiết chất nhờn trắng và tuyến tiết mồ hôi) [5]

2.3.2 Sinh lý sinh sản lợn nái

Khi lợn đã thành thục về tính thì trong buồng trứng đã có những bao noãntương đối lớn, các kích thích bên ngoài như nhiệt độ, ánh sáng, thức ăn, mùi vị…,tác động lên vỏ não gây kích thích truyền đến tuyến yên làm cho tuyến yên tiết raFSH (Folliculo Stimulating Hormon) Hormon này tác động lên buồng trứng làmcho noãn bao phát triển và thành thục, tế bào hạt trong noãn bao tiết raOestrogen chứa đầy trong xoang bao noãn Oestrogen được hấp thụ vào máu tácđộng đến toàn bộ cơ thể đặc biệt hệ thần kinh trung ương làm thay đổi các hoạtđộng của gia súc cái Khiến cơ thể con cái xuất hiện các triệu chứng động dụcnhư thích gần con đực, kém ăn, ngơ ngá, kêu rống đôi khi nhảy lên lưng conkhác và có tư thế chịu đực [4]

Sau khi trứng rụng trong một thời gian, noãn bào sẽ sinh ra thể vàng Thểvàng (CLs) tiết ra Progesteron làm cho tử cung chuẩn bị đón hợp tử Nếu như trứngđược thụ tinh phát triển thành phôi và bào thai, thể vàng sẽ tồn tại và phát triểnthành nhau thai và lúc này Progesterone có tác động liên hệ ngược âm tính trở lạivới Hyphothalamus và ức chế sự phân tiết Gonado Stimulin của tuyến yên, ức chế

sự thành thục của noãn bao trong buồng trứng làm cho lợn nái không động dục trởlại Trong lúc này, tuyến yên tăng tiết Prolactin tác động lên tuyến vú kích thíchtăng trưởng, phát triển vào giai đoạn cuối để hình thành và sản xuất sữa Lúc gần

đẻ, dưới tác động của bào thai, tuyến yên tăng tiết Oxytoxin để thúc đẻ và tăngcường phân tiết sữa Thể vàng sẽ tồn tại trong suốt thời gian mang thai đến khi lợn

đẻ [4]

Trang 17

Trường hợp lợn không có chửa, tử cung sản sinh ra Hormon Protagladine làmtan rã thể vàng, gây ức chế làm cho Progesteron tiết ra nữa Tuyến yên lại được giảiphóng và lại sản sinh ra FSH, bắt đầu một chu kỳ mới.

2.3.2.1 Chu kỳ động dục

Sau khi thành thục về tính dục, gia súc bắt đầu có hoạt động sinh sản Dưới sựđiều hoà của hormone tuyến yên, nang trứng tăng trưởng, thành thục (chín) và rụngtrứng, kèm theo nó là sự biến đổi toàn thân và cơ quan sinh dục được biểu hiện racác triệu chứng đặc biệt gọi là triệu chứng động dục Quá trình này được lặp đi lặplại trong một khoảng thời gian nhất định được gọi là chu kỳ động dục [5]

Thời gian của một chu kỳ được tính từ lần rụng trứng trước đến lần rụngtrứng sau

 Các giai đoạn của chu kỳ động dục

Giai đoạn trước động dục (trước chịu đực): Ở giai đoạn này các noãn bao

phát triển thành thục và nổi rõ lên bề mặt buồng trứng Buồng trứng to hơn bìnhthường, các tế bào ống dẫn trứng tăng cường sinh trưởng; số lượng lông nhung tănglên, đường sinh dục tăng tiết dịch nhầy và xung huyết nhẹ Hệ thống tuyến ở cổ tửcung tiết dịch nhầy; các noãn bao chín và tế bào trứng tách ra ngoài, tử cung co bópmạnh, niêm dịch đường sinh dục chảy nhiều Con vật bắt đầu xuất hiện tính dụcthần kinh con vật bị kích thích, có biểu hiện băn khoăn, ngơ ngác, đi lại không yên,đái dắt, kêu (hoặc không kêu), thích nhảy lên con khác, không cho con khác nhảylên; bỏ ăn hoặc ăn ít, âm hộ sưng, sung huyết, mép âm hộ hé mở [5]

Giai đoạn động dục (chịu đực): lợn nái có xu hướng tìm đực hoặc gần các

con khác, cho con đực hoặc con khác nhảy lên, mê ì, ăn ít hoặc không ăn; âm hộbớt sưng, hơi thâm, se lại, có vết nhăn mờ, có thể dính cỏ rác Xuất hiện dấu hiệunhận biết đặc trưng của giai đoạn này: niêm dịch đặc và dính, có màu nửa trongnửa đục; có thể kéo dài được âm đạo bớt đỏ [4]

Giai đoạn sau động dục (sau chịu đực): Biểu hiện trạng thái thần kinh

nhanh chóng trở lại bình thường; con vật đã bắt đầu ăn, âm hộ hết sưng Buồngtrứng có trứng rụng; trương lực tử cung bớt căng, cổ tử cung hẹp dần; niêm dịchđặc, giảm độ keo dính, màu đục, bã đậu, dễ đứt; âm đạo nhanh chóng trở về trạngthái bình thường [4]

Giai đoạn cân bằng (yên tĩnh): Trạng thái thần kinh lợn nái trở về bình

thường Các phản xạ về hưng phấn về sinh dục dần mất hẳn; con vật chuyển sangthời kỳ yên tĩnh, con vật đã trở lại ăn uống bình thường Cơ quan sinh dục hết sung

Trang 18

huyết và trở về trạng thái bình thường như trước khi động dục Trong buồng trứngthể vàng bắt đầu teo đi, noãn bao bắt đầu phát dục nhưng chưa nổi rõ lên bề mặtcủa buồng trứng Toàn bộ cơ quan sinh dục dần dần xuất hiện những biến đổi chuẩn

bị cho chu kỳ tiếp theo [4]

Chu kỳ động dục ở lợn kéo dài 19-22 ngày, thời gian động dục từ 48-72 giờkhi có biểu hiện động dục và trứng rụng trong khoảng 35-45 giờ sau khi bắt đầuđộng dục [2], [4]

Đối với lợn lai Landrace yorkshire thời điểm phối giống thích hợp vào cuốingày thứ 3 đầu ngày thứ 4 tính từ lợn bắt đầu động dục Để phối giống mang lạihiệu quả cao nhất có 3 cách, tính từ khi nái đứng im chịu đực như sau:

- Sau 12 giờ và 36 giờ cứ mỗi lần phối 1 liều tinh

- Sau 12 giờ, 36 giờ sau đó phối bổ sung cứ 12 giờ cho phối 1 lần đến khi náikhông chịu thì thôi

- Đối với lợn nái hậu bị nên cho phối giống sớm hơn nái cai sữa từ 6 - 8 giờ Kết quả đem lại từ 3 cách phối trên đều như nhau

Sau khi phối giống 21 ngày không có hiện tượng tái động dục tức lợn đã cóchửa Dựa vào một số biểu hiện bên ngoài có thể xác định heo chửa hay không:Lợn có chửa biểu hiện mệt nhọc, ngủ nhiều ăn tốt, ngại vận động Lợn có chửa

nhưng cũng có thể xuất hiện hiện tượng “động dục giả” Biểu hiện như: âm hộ đỏ

nhưng không có nước nhờn, thời gian động dục ngắn, không có ham muốn với lợnđực, biểu hiện động dục không rõ ràng [4]

Có thể phân biệt động dục giả và động dục thật ở lợn: Lợn động dục giả vẫn

ăn uống bình thường, ăn xong vẫn nằm ngủ, khi thấy đực qua chuồng tai rủ xuống

và lảng tránh, không ham muốn lợn đực

Chẩn đoán phát hiện lợn nái có chửa mang ý nghĩa rất to lớn, chẩn đoán lợnnái có chửa chính xác giúp cho nhà chăn nuôi nâng cao được tỷ lệ sinh sản của lợnnái, định ra được các thời kỳ chửa của lợn nái, giảm thiểu tiêu tốn thức ăn từ đóđịnh ra được các chuẩn độ nuôi dưỡng chăm sóc phù hợp

2.3.2.2 Sinh lý quá trình mang thai

Sau thời gian lưu lại ở ống dẫn trứng khoảng 3 ngày để tự dưỡng, nhờ chấtdinh dưỡng của noãn hoàn và chất tiết của ống dẫn trứng, hợp tử bắt đầu di chuyểnxuống tử cung tìm vị trí thích hợp làm tổ, hình thành bào thai

Trang 19

- Thời gian mang thai của gia súc

Thời gian bắt đầu từ lúc con vật thụ thai cho đến khi đẻ Nhưng để xác địnhchính xác thời gian thụ thai là rất phức tạp và rất khó khăn do vậy người ta thốngnhất là ngày phối giống là ngày bắt đầu gia súc mang thai

Thời gian mang thai của lợn: từ 112 -116 ngày

Thời gian mang thai của gia súc phụ thuộc nhiều vào yếu tố: tuổi, giống, thờitiết, khí hậu, mùa vụ

Các yếu tố sau sẽ gây ảnh hưởng đến số thai:

+ Do tuổi tác khác nhau: những gia súc đa thai thì số lượng thai thường tăngdần theo lứa tuổi

+ Do điều kiện chăm sóc, nuôi dưỡng hoặc do mùa vụ, gia súc chăm sóc đúngquy trình nuôi dưỡng thì số lượng con đẻ ra trên một ổ nhiều hơn Do sức sản xuấtcủa từng giống thậm chí từng cá thể như lợn nội móng cái và lợn ngoại

+ Do kỹ thuật thụ tinh nhân tạo như xác định thời điểm dẫn tinh không chínhxác, do phẩm chất tinh dịch, do kỹ thuật dẫn tinh không không khoa học

2.3.2.3 Quá trình đẻ

Đẻ là một hiện tượng sinh lý bình thường có thời gian nhất định chứ khôngphải ngẫu nhiên ở tất cả các loài gia súc Do đó khi con vật đến thời kỳ sinh đẻ nó

có biến đổi về mặt sinh lý

Những biểu hiện của gia súc trước khi đẻ

Biểu hiện toàn thân.

Đối với lợn khoảng vài ngày trước khi đẻ, con vật thường tỏ ra khó chịu, ănuống thất thường Nhiệt độ, tuần hoàn, hô hấp của cơ thể hơi tăng một chút so vớilúc bình thường

Trang 20

Biểu hiện cục bộ đường sinh dục

Trước khi đẻ 2 ngày đến 1 tuần, nước niêm dịch cổ tử cung loãng ra và chảy

ra ngoài Khi sắp đẻ, cơ quan sinh dục có sự thay đổi, rõ nhất là âm môn, âm hộphù nề và mềm, bầu vú căng to, xệ xuống, tĩnh mạch vú nổi rõ, trước khi đẻ 2 ngàybóp vú thấy sữa xịt ra thành từng tia

Các giai đoạn của quá trình đẻ

 Giai đoạn trước khi đẻ

Giai đoạn này bắt đầu từ lúc tử cung co bóp đến lúc tử cung hoàn toàn mở,mỗi lần tử cung co bóp khoảng 1–2 giây và khoảng cách giữa mỗi lần co bóp là 20-

30 giây Thai và bọc thai đi dần vào cổ tử cung và khung xương chậu, kích thíchcho cổ tử cung và khung xoang chậu mở ra tạo điều kiện cho thai ra ngoài

Kết thúc giai đoạn này cổ tử cung và khung xương chậu đã mở hoàn toàn tạothành một đường trong suốt

Nước ối chảy ra từ bọc ối bị vỡ, thời gian mở cổ tử cung lợn 3–6 giờ Thờigian này con vật rất đau, kêu la vật vã

 Giai đoạn đẩy thai

Bắt đầu từ lúc cổ tử cung mở, khung xương chậu hoàn toàn mở rộng cho đếnlúc đẩy thai ra ngoài

Đối với giai đoạn đẩy thai bắt đầu bằng sự co bóp của bào thai ở gần cổ tửcung và tiếp đó là các bào thai được đẩy đến rất nhanh chóng và lần lượt đi qua cổ

tử cung và âm đạo ra ngoài Thời gian đẩy thai nhanh hay chậm tuỳ từng loại giasúc và vị trí, tư thế, chiều hướng của thai, khối lượng của thai cũng như đặc điểmsinh lý của cơ quan sinh dục mẹ, sức khoẻ của con mẹ Đối với lợn thời gian đẻ cóthể kéo dài 1–4 giờ, bình thường khoảng cách thời gian đẻ giữa 2 con là 5–10 phút.Nếu quá 4 giờ mà thai không ra hoặc ra thai không hết thì phải có biện pháp canthiệp ngay [5]

 Giai đoạn bong nhau

Giai đoạn này con vật trở nên yên tĩnh nhưng tử cung vẫn co bóp, những cơnrặn chấm dứt hoặc rặn yếu

Khi bong nhau, sự co bóp tử cung bắt đầu từ đầu mút của sừng tử cung, dovậy nhau ra thường lộn ngược Thời gian bong nhau ở các loài gia súc khác nhau.Lợn 10 – 60 phút sau khi đẻ Nếu nhau không ra hết bất kỳ nhiều hay ít đều gây

Trang 21

viêm tử cung Lơn nái dễ bị sốt cao sau khi đẻ, ăn kém hoặc bỏ ăn, một vài trườnghợp gây nên viêm vú, viêm tử cung, mất sữa gây ảnh hưởng đến quá trình nuôi con

và các chu kỳ sinh dục sau

 Giai đoạn hồi phục tử cung

Đối với lợn nái sản dịch ít hơn, lúc đầu hơi đỏ 2 – 3 ngày thì ngưng chảy.Thời gian để hồi phục tử cung sau khi đẻ phụ thuộc lớn vào giai đoạn bong nhaucủa quá trình đẻ [4]

Oxytocin kích thích hệ cơ trơn đầu vú co bóp đẩy sữa ra ngoài

Sự tiết sữa của lợn nái là không đồng đều:

- Lượng sữa được tiết ra trong một ngày đầu gọi là sữa đầu, sữa đầu có thànhphần khác với sữa thường Trong sữa đầu có 13.7% preabumin; 11.48% albumin;12.7% α-glubulin; 11.29% β-glubulin và 45,29% γ-glubulin Đây chính là các khángthể có chức năng miễn dịch cho lợn con nếu lợn con được bú ngay lượng sữa đầu

- Sự tiết sữa không đều theo lứa đẻ: sản lượng sữa tăng dần từ lứa 1 đến lứa 5sau đó giảm dần

Trong phương thức chăn nuôi cũng ảnh hưởng lớn đến tuổi động dục đầu củalợn Lợn cái hậu bị nếu nuôi nhốt sẽ có tuổi động dục lần đầu muộn hơn lợn nuôi chănthả Lợn chăn thả được tăng cường trao đổi chất, tổng hợp được chất sinh tố và có dịptiếp xúc với lợn đực nhờ được vận động nên sẽ có tuổi động dục sớm hơn

Sau khi lợn đã thành thục về giới tính và thể vóc phát triển tương đối hoànchỉnh thì có thể cho phối giống

Thành thục về sinh dục tức là lợn cái hậu bị phải có biểu hiện về động dục vàrụng trứng

Tuổi trưởng thành về sinh dục phụ thuộc vào đặc điểm của giống và điều kiệnnuôi dưỡng, chính sách quản lý của cơ sở chăn nuôi Trong chăn nuôi lợn ngoạithường phối giống từ 7 - 8 tháng tuổi

Trang 22

2.4.2 Tuổi đẻ lứa đầu.

Đây là tuổi mà lợn cái hậu bị đẻ lứa thứ nhất, chính là tuổi phối giống có kếtquả cộng với thời gian mang thai Tuổi đẻ lứa đầu của gia súc phụ thuộc vào nhiềuyếu tố như tuổi phối giống lần đầu, kết quả phối giống, thời gian mang thai và từnggiống lợn khác nhau Đối với lợn nái nội tuổi đẻ lứa đầu thường sớm hơn so với lợnnái ngoại do tuổi thành thục về tính dục ngắn hơn

2.4.3 Số con đẻ ra/lứa

Tính cả số con đẻ ra còn sống, số con chết và cả số thai chết được đẻ ra Chỉtiêu này đánh giá được tính sai con và khả năng nuôi thai, chất lượng sinh sản củalợn nái, đồng thời đánh giá được kỹ thuật nuôi dưỡng, chăm sóc lợn nái của nhàchăn nuôi

2.4.4 Số con sống đến 24 giờ/lứa

Đây là số con sinh sống tính đến 24 giờ kể từ khi đẻ xong con cuối cùng Nóilên khả năng đẻ ít con hay nhiều con, sống hay chết, đánh giá được chất lượng đàncon, khả năng nuôi thai của lợn nái, kỹ thuật thụ thai và khả năng chăm sóc nuôidưỡng của người chăn nuôi

2.4.5 Số con cai sữa/ nái/ năm

Chỉ tiêu này đánh giá tổng quát nhất đối với công nghiệp chăn nuôi sản xuấtlợn giống Nuôi lợn nái có thể thu lãi hay không là nhờ số lượng con cai sữa/ nái/năm Nếu tăng số lứa đẻ/ nái/ năm và tăng số lượng con cai sữa trong mỗi lứa thì sốlượng lợn cai sữa/ nái/ năm sẽ cao

2.4.6 Yếu tố di truyền

Yếu tố di truyền thể hiện qua khả năng sinh sản của giống, mà cụ thể là connái Nó đặc trưng cho giống và cũng mang tính cá thể

Yếu tố giống có ảnh hưởng rõ ràng tới năng suất sinh sản của nái, đặc biệt là

sự khác biệt giữa giống nội và giống ngoại Các chỉ tiêu năng suất sinh sản có sựkhác biệt rõ qua các giống là: Giống Móng Cái, Yorkshire và Landrace có tuổi đẻlần lượt là: 272,3 ngày; 418,5 ngày và 409,3 ngày; số con đẻ ra/ổ là 10,6; 9,8 và 9,9con và khối lượng sơ sinh trung bình/con là 0,58; 1,2 và 1,2 kg [21]

Trang 23

2.4.8 Thời điểm phối giống:

Phối giống quá sớm thì tinh trùng phải nằm lâu trong đường sinh dục cái,giảm sức sống, phối giống muộn thì trứng chờ lâu cũng giảm sức sống Trạng tháisức khoẻ và sự tương đồng đực cái khi gặp gỡ giao phối (bố mẹ khoẻ, con khoẻ)

2.5 Một số hiểu biết về quá trình viêm

2.5.1 Khái niệm

Hiện tượng sưng, nóng, đỏ, đau của viêm đã được đề cập tới trong y học cổ đại

và những khái niệm về viêm cũng được hình thành từ rất sớm song lại rất khác nhau.Viêm là một phản ứng bảo vệ cơ thể mà nền tảng của nó là phản ứng tế bào.Phản ứng này hình thành và phức tạo dần trong quá trình tiến hóa của sinh vật [10].Theo Cao Xuân Ngọc (1997) [11], viêm là một phản ứng phức tạp của toàn thânnhưng lại thể hiện tại cục bộ nhằm chống lại những yếu tố có hại đối với cơ thể

Xu hướng ngày nay thì cho viêm là một quá trình phức tạp, luôn luôn thayđổi, có nhiều tính chất bảo vệ, nhằm duy trì sự hằng định nội môi Phản ứng nàyhình thành trong quá trình tiến hóa của sinh giới và bao gồm ba hiện tượng đồngthời tồn tại và liên quan chặt chẽ nhau:

- Rối loạn tuần hoàn

- Rối loạn chuyển hóa – tổn thương mô bào

- Tế bào tăng sinh

Như vậy, viêm là một phản ứng phức tạp của toàn thân, nhưng lại thể hiện tạicục bộ nhằm chống lại những yếu tố có hại đối với cơ thể [22]

2.5.2 Hậu quả của phản ứng tuần hoàn và phản ứng tế bào trong viêm

Theo Phạm Quang Trung (2010) [22], Phản ứng viêm tuần hoàn và phản ứng

tế bào trong viêm đã gây nên các rối loạn chủ yếu như sau:

Trang 24

Rối loạn chuyển hóa

Tại ổ viêm quá trình oxy hóa tăng mạnh, nhu cầu oxy tăng nhưng vì rối loạntuần hoàn nên khả năng cung cấp oxy không đủ, gây rối loạn chuyển hóa gluxit,lipid và protit gây ra hiện tượng tăng độ axit, xeton, lipit, albumoza, polipeptit vàcác axit amin tại ổ viêm

Tổn thương mô bào

Tổn thương mô bào tại ổ viêm bao gồm: tổn thương nguyên phát do các yếu

tố gây viêm tác động và tổn thương thứ phát do các yếu tố mới sinh tại ổ viêm; thí

dụ các men phân hủy protide từ tế bào và vi khuẩn chết phóng thích ra dịch rỉ viêm

các chất có tính chất hủy hoại như necrosin.

Như vậy ngoài tính chất bảo vệ thì tổn thương còn tạo ra rất nhiều chất có hạitham gia vào thành phần của dịch rỉ viêm, chính các chất này đã góp phần hìnhthành và phát triển vòng xoắn bệnh lý trong viêm [22]

Dịch rỉ viêm

Dịch rỉ viêm là sản phẩm được tiết tại ổ viêm bao gồm nước, các thành phầnhữu hình và các thành phần hòa tan Trong đó đặc biệt lưu ý các chất có hoạt tínhsinh lý

Dịch rỉ viêm có tác dụng thích ứng phòng ngự, giúp cơ thể chống lại các yếu

tố gây viêm (nhờ bạch cầu, kháng thể và bổ thể, hàng rào phòng ngự cơ học…).Tuy nhiên nếu dịch rỉ viêm tích tụ quá nhiều gây bất lợi như chèn ép các tổ chứcxung quanh, kích thích đau, cản trở hoạt động chức năng của các cơ quan, các chấtmới sinh ra trong ổ viêm ngấm vào máu gây rối loạn chuyển hóa trong cơ thể, cóthể tạo ra vòng xoắn bệnh lý nguy hiểm

Tăng sinh mô bào

Trong quá trình viêm, giai đoạn đầu chủ yếu tăng sinh bạch cầu, nhất là bạchcầu đa nhân trung tính, giai đoạn sau tăng sinh toàn diện, sang giai đoạn phục hồichủ yếu tăng sinh tổ chức hạt giúp cho quá trình hình thành sẹo

Nguyên nhân tăng sinh tế bào là do hậu quả của phản ứng tuần hoàn và phảnứng tế bào, do các sản phẩm của rối loạn chuyển hóa, tổn thương mô bào, kể cảbạch cầu chết cũng tạo ra một số chất kích thích tăng sinh tế bào Sự tăng sinh bạchcầu đơn nhân, tổ chức bào và đại thực bào có tác dụng dọn dẹp, đào thải các sảnphẩm – làm sạch ổ viêm Mặt khác, cũng chính quá trình tăng sinh hình thànhhuyết quản non, tổ chức sợi để thay thế dần các mô bị hoại tử, tạo sẹo, làm liền vếtthương [22]

Trang 25

2.6 Bệnh viêm tử cung (Mestritis)

Theo Phan Vũ Hải (2013) [5], viêm tử cung là một quá trình bệnh lý thườngxảy ra ở gia súc cái sinh sản Bệnh thường xảy ra trong thời gian sau đẻ Đặc điểmcủa bệnh là quá trình viêm phá hủy các tế bào tổ chức của các lớp hay các tầng tửcung gây rối loạn sinh sản ở thể cái, làm ảnh hưởng lớn thậm chí làm mất khả năngsinh sản ở gia súc cái

2.6.1 Nguyên nhân của bệnh viêm tử cung

Do dinh dưỡng

Nguyễn Như Pho (1995) [14], cho rằng nếu thiếu vitamin A sẽ gây sừnghóa niêm mạc tử cung, đậu thai kém, thai chết, thai khô, sót nhau, làm giảm sức

đề kháng niêm mạc tử cung, gây viêm tử cung

Diệp Tố Khương (2002) [7], viêm tử cung trên lợn nái có thể phát sinh dothiếu Ca, P, Co trong khẩu phần

Nước uống có tầm quan trọng bậc nhất đối với nái trong giai đoạn mang thai vàgiai đoạn tiết sữa nuôi con Theo Trần Thị Dân (2002) [3], ít uống nước làm cho náiphải dự trữ nước của cơ thể bằng cách hấp thu nước từ dịch chất trong lòng ruột, do đólợn nái có thể bị bón là nguyên nhân gây bệnh viêm tử cung

Do vi sinh vật

Chưa tẩy uế đúng mức chuồng nái, phần lớn trên loại chuồng sàn, sau khichuyển nái đi, việc tẩy uế là phun thuốc sát trùng, còn trên loại chuồng nền thìxịt rửa bằng nước rồi quét vôi, cách làm này không diệt hết được các mầm bệnh

do không chùi rửa sạch các chất hữu cơ còn sót lại, gây giảm tính năng của thuốcsát trùng (Diệp Tố Khương, 2002) [7]

Theo Nguyễn Như Pho (2002) [15], các vi khuẩn trên nền chuồng thườngcùng nhóm với vi khuẩn gây viêm tử cung Kết quả được trình bày qua Bảng 2.2

Trang 26

Bảng 2.2 Vi sinh vật gây nhiễm trùng sau khi sinh

STT Vi sinh vật trên nền chuồng Vi sinh vật gây viêm tử cung

Nguồn: Nguyễn Như Pho (2002)

Theo Nguyễn Văn Thành (2002) [19], vi sinh vật trong dịch viêm tử cung

lợn chủ yếu là Streptococcus, E coli, Staphylococcus

Theo Lê Văn Nam và cs (1997) [9], Nguyên nhân gây bệnh viêm tử cung có thể

là biến chứng nhiễm trùng do vi khuẩn xâm nhập vào dạ con gây nên trong thời gianđộng dục (vì lúc đó tử cung mở) vi khuẩn xâm nhập vào tử cung theo đường máu.Tóm lại, dù xuất phát từ nguyên nhân nào, mọi trường hợp viêm nhiễmgây bệnh viêm tử cung đều là hậu quả của sự xâm nhập và phát triển của các loại

vi khuẩn cơ hội ở đường sinh dục, bầu vú trước và sau khi sinh Do đó, việctiến hành các biện pháp chăm sóc hợp lý trước và sau khi sinh sẽ hạn chế mật độ

vi khuẩn gây bệnh Việc tăng sức đề kháng cho lợn nái bằng cách bổ sung vitamim

A, E chất xơ cũng góp phần cho việc khống chế bệnh viêm tử cung nói riêng

Do quản lý vệ sinh chăm sóc

Theo Nguyễn Văn Thanh (2003) [16], cho rằng việc vệ sinh kém, quy trìnhchăm sóc nái sau khi sinh chưa hợp lý là nguyên nhân gây bệnh ở trại

Do cơ thể học

Theo Nguyễn Văn Thành (2002) [19], cơ thể học ở nái bất thường sẽ tạođiều kiện thuận lợi trong việc viêm nhiễm đường tiết niệu như ống dẫn tiểu trựctiếp vào âm đạo do thiếu cơ vòng hoàn chỉnh Nhiễm trùng bàng quang dẫn đếnlây lan các cơ quan khác Các thay đổi cơ thể vào cuối thời kỳ mang thai là thailớn có thể chèn ép làm giảm nhu động ruột gây ứ nước tiểu trong bàng quang, cổ

Trang 27

tử cung mở làm vi sinh vật xâm nhập gây viêm nhiễm

Do rối loạn sinh lý nội tiết

Theo Diệp Tố Khương (2002) [7], những heo nái mắc bệnh viêm tử cungthường có buồng trứng nhỏ, tuyến giáp teo lại, tuyến thượng thận lớn lên, các môtrong tuyến thượng thận và tuyến yên thoái hóa, do đó các tác giả đã kết luậnrằng: sự mất cân bằng về sản xuất kích thích tố có thể giữ vai trò quan trọngtrong việc tạo nên trạng thái bệnh viêm tử cung

Lợn nái đẻ không bình thường

Theo Lê Xuân Cương (1986) [2], lợn nái chậm sinh sản thường do nhiềunguyên nhân, trong đó tổn thương bệnh lý đường sinh dục chiếm tỷ lệ đáng kể Nguyễn Như Pho (1995) [14], cho rằng lợn nái đẻ khó cần áp dụng các thủthuật sản khoa nhưng sau đó thì có thể bị tổn thương gây viêm tử cung [19] Lợn nái đẻ khó do thai quá lớn, vị trí bào thai không bình thường, cấu tạoxương chậu hẹp, lợn nái mập mỡ, sẽ làm cho lợn rặn nhiều, tự gây tổn thươngtrên đường sinh dục Do sự phát triển kém của nái tơ (phối giống quá sớm) hoặc donái quá già sinh đẻ nhiều lứa, mang thai nhiều con, thai quá lớn, thai chết, thai khô,

vị trí và tư thế thai nằm chết bất thường… Do lợn nái biếng rặn hoặc rặn yếu nênthời gian đẻ kéo dài, trương lực cổ tử cung giảm, sự co thắt yếu đi làm ứ đọng nhiềudịch chất trong tử cung, những tổn thương trong bộ phận sinh dục do can thiệp bằngtay của người đỡ đẻ không đúng,… tạo điều kiện cho vi khuẩn phát triển Lợn náisau khi sinh bị sót nhau rất dễ đưa đến chứng mất sữa và nhiễm trùng tử cung Nhau

và thai bị sót sẽ bị thối rữa trong tử cung từ 24 – 48 giờ là môi trường tốt cho vi sinhvật phát triển và gây viêm tử cung [19]

Trang 28

2.6.2 Các thể viêm tử cung

Một gia súc cái được đánh giá là có khả năng sinh sản tốt trước hết phải kểđến sự nguyên vẹn và mọi hoạt động bình thường của cơ quan sinh dục SettergrenI., (1986) [35] Khi bất kỳ một bộ phận của cơ quan sinh dục bị bệnh sẽ ảnh hưởngtrực tiếp đến khả năng sinh sản của gia súc (Aberth Youssef, 1997) [28] Các tác giả

A Bane (1986) [26], Yao – Acetal (1989) [36] đều cho rằng: các quá trình bệnh xảy

ra ở cơ quan sinh dục là nguyên nhân chính dẫn đến hiện tượng rối loạn sinh sản vàgiảm năng suất của gia súc cái

Theo Đặng Đình Tín (1986) [20], bệnh viêm tử cung thường được chia làm 3thể: viêm nội mạc tử cung, viêm cơ tử cung, viêm tương mạc tử cung

2.6.2.1 Viêm nội mạc tử cung (Endomestritis)

Theo Black W G (1983) [30] và Debois C H W (1989) [31] viêm nội mạc tửcung là viêm lớp niêm mạc của tử cung, đây là một trong các nguyên nhân làmgiảm khả năng sinh sản của gia súc cái, nó cũng là thể bệnh phổ biến và chiếm tỷ lệcao trong các bệnh của viêm tử cung

Viêm nội mạc tử cung thường xảy ra sau khi gia súc sinh đẻ, nhất là trongtrường hợp đẻ khó phải can thiệp làm niêm mạc tử cung bị tổn thương, tiếp đó

các vi khuẩn Streptococcus, Staphylococcus, E coli, Samonella, Bruccella, roi trùng Trichomonas Foetus,… xâm nhập và tác động lên lớp niêm mạc gây viêm

[29]

Viêm nội mạc tử cung là viêm tầng trong cùng, lớp niêm mạc của tử cung.Đây là một trong những nguyên nhân chủ yếu làm suy giảm khả năng sinh sản củagia súc cái, các bệnh ở cơ quan sinh dục [5]

Theo Nguyễn Hữu Ninh, Bạch Đăng Phong (2000) [12], bệnh viêm nội mạc

tử cung có thể chia làm 2 loại:

Viêm nội mạc tử cung thể cata cấp tính

Ở thể viêm này thân nhiệt hơi cao, ăn kém, lượng sữa giảm

Con vật có trạng thái đau đớn nhẹ, có khi con vật cong lưng rặn, tỏ vẻ khôngyên tĩnh Từ âm hộ chảy ra hỗn dịch, niêm dịch với dịch rỉ viêm, mủ, lợn cợnnhững mảnh tổ chức chết Khi con vật nằm xuống dịch viêm thải ra ngày càngnhiều hơn

Trang 29

Viêm nội mạc tử cung thể màng giả

Ở thể viêm này, niêm mạc tử cung thường bị hoại tử, tổn thương lan sâuxuống dưới tầng cơ của tử cung và chuyển thành viêm hoại tử Con vật có triệuchứng toàn thân rõ: thân nhiệt tăng cao, lượng sữa giảm, có khi hoàn toàn mất sữa,

kể phát viêm vú, ăn uống giảm Con vật đau đớn, luôn rặn, lưng và đuôi cong Từ

cơ quan sinh dục luôn thải ra ngoài hỗn dịch: dịch viêm, máu mủ, lợn cợ nhữngmảnh tổ chức hoại tử, niêm dịch…

2.6.2.2 Viêm cơ tử cung (Myomestritis Puerperalis)

Theo Nguyễn Hữu Ninh, Bạch Đăng Phong (2000) [12], viêm cơ tử cungthường kế phát từ viêm nội mạc tử cung thể màng giả Niêm mạc tử cung bị thấmdịch thẩm xuất, vi khuẩn xâm nhập và phát triển sâu vào tổ chức làm niêm mạc bịphân giải, thối rữa gây tổn thương cho mạch quản và lâm ba quản, từ đó làm lớp cơ

và một ít lớp tương mạc tử cung bị hoại tử Nếu bệnh nặng can thiệp chậm có thểdẫn tới nhiễm trùng toàn thân, huyết nhiễm trùng hoặc huyết nhiễm mủ Có khi dolớp cơ và lớp tương mạc của tử cung bị phân mà tử cung bị thủng hoặc tử cung bịhoại tử từng đám to

Lợn nái bị bệnh này thường biểu hiện triệu chứng toàn thân rõ: thân nhiệttăng cao, mệt mỏi, ủ rũ, ăn uống giảm, lượng sữa giảm hoặc mất hẳn Mép âm đạotím thẫm, niêm mạc âm đạo khô nóng màu đỏ thẫm Gia súc biểu hiện trạng tháiđau đớn, rặn liên tục Từ cơ quan sinh dục luôn thải ra hỗn dịch màu đỏ nâu, lợncợn mủ và những mảnh tổ chức thối rữa nên có mùi tanh, thối Con vật thường kếphát viêm vú, có khi viêm phúc mạc

Thể viêm này ảnh hưởng đến quá trình thụ thai và sinh đẻ lần sau Có trườnghợp điều trị khỏi nhưng gia súc vô sinh [20]

2.6.2.3 Viêm tương mạc tử cung (Perimestritis Puerperalis)

Theo Đặng Đình Tín (1986) [20], viêm tương mạc tử cung là viêm tầng ngoàicùng của tử cung, thường kế phát từ viêm cơ tử cung

Thể viêm này thường tiến triển cấp tính với các triệu chứng cục bộ và toànthân điển hình Lúc đầu lớp tương mạc này có màu hồng rồi chuyển sang màu đỏsẫm, rồi trở nên sần sùi, mất tính trơn bóng Các tế bào hoại tử bong ra, dịch thẩmxuất tăng tiết

Trường hợp viêm nặng, lớp tương mạc dính với các tổ chức xung quanh dẫnđến viêm mô tử cung, viêm phúc mạc

Trang 30

Theo Đặng Đình Tín (1986) [20], lợn nái bị bệnh này có biểu hiện triệu chứngtoàn thân: nhiệt độ tăng cao, mạch nhanh, con vật ủ rũ, mệt mỏi, uể oải, đại tiện khókhăn, ăn uống kém hoặc bỏ ăn Lượng sữa rất ít hoặc mất hẳn, thường kế viêm vú.Con vật luôn biểu hiện trạng thái đau đớn, khó chịu, lưng và đuôi cong, rặn liên tục.

Từ âm hộ thải ra nhiều hỗn dịch lẫn mủ và tổ chức hoại tử, có màu nâu vàmùi thối khắm, khi kích thích vào thành bụng thấy con vật phản xạ đau rõ hơn.Trường hợp một số vùng của tương mạc đã dính với các bộ phận xung quanh thì cóthể phát hiện được trạng thái thay đổi về vị trí và hình dáng của tử cung, có khikhông tìm thấy một hoặc hai buồng trứng

Thể viêm này thường kế phát bệnh viêm phúc mạc, bại huyết, huyết nhiễm mủ

2.6.3 Một số yếu tố ảnh hưởng đến bệnh viêm tử cung ở lợn nái

2.6.3.1 Mùa vụ

Khí hậu Việt Nam bao gồm bốn mùa với các đặc tính thời tiết khác nhau:xuân, hạ, thu, đông Song thể hiện sự phân hóa rõ hơn là Xuân – hạ và thu – đông.Trong khi mùa xuân thời tiết mưa nhiều, nhiệt độ cao, độ ẩm trong khôngkhí cao là điều kiện thuận lợi để các vi sinh vật gây bệnh phát triển Nhiệt độ caolàm cho khả năng thu nhận thức ăn giảm, sức khỏe, sức đề kháng của con vậtgiảm nên tỷ lệ mắc bệnh của lợn nái rất cao, đặc biệt là bệnh ở đường sinh dục Ngược lại, thời tiết trong giai đoạn thu đông thì nhiệt độ mát mẻ làm sức đềkháng con vật được nâng cao Mặt khác có những thời điểm nhiệt độ hạ xuống rấtthấp gây sự bất lợi cho các vi khuẩn gây bệnh phát triển Vì thế mà các bệnh xảy ratrên đàn lợn nái cũng ít và hiếm có ở mức độ cao

Như vậy chúng ta cũng thấy được tỷ lệ bệnh viêm tử cung ở hai thời điểmkhác nhau có sự khác biệt rõ rệt

2.6.3.2 Vệ sinh thú y

Công tác vệ sinh thú y đối với lợn nái là một yếu tố ảnh hưởng rất lớn đếnbệnh viêm tử cung Vệ sinh thú y bao gồm vệ sinh môi trường và vệ sinh trong quátrình sinh đẻ [5]

Vệ sinh thú y tốt được đánh giá bởi các yếu tố:

- Vệ sinh môi trường bao gồm: rửa máng ăn hằng ngày, hốt phân liên tục, xịtrửa chuồng 2 lần/ ngày, phun sát trùng định kỳ 1 tuần 1 lần…

Ngày đăng: 21/06/2022, 07:58

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1]. Bộ Nông nghiệp – Vụ đào tạo, Giáo trình giải phẫu gia súc, NXB Nông nghiệp Hà Nội, 1982 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình giải phẫu gia súc
Tác giả: Bộ Nông nghiệp – Vụ đào tạo
Nhà XB: NXB Nông nghiệp Hà Nội
Năm: 1982
[2]. Lê Xuân Cương, Năng suất sinh sản của lợn nái, NXB Khoa học Kỹ Thuật, 1986 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Năng suất sinh sản của lợn nái
Nhà XB: NXB Khoa học KỹThuật
[3]. Trần Thị Dân, Sinh sản heo nái và sinh lý heo con , NXB Nông nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh, 2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sinh sản heo nái và sinh lý heo con
Tác giả: Trần Thị Dân
Nhà XB: NXB Nông nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 2004
[4]. Trần Tiến Dũng, Dương Đình Long, Nguyễn Văn Thanh, Giáo Trình sinh sản gia súc, NXB Nông nghiệp Hà Nội, 2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo Trìnhsinh sản gia súc
Nhà XB: NXB Nông nghiệp Hà Nội
[5]. Phan Vũ Hải, Giáo Trình sinh sản vật nuôi, NXB Đại học Huế, 2013 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo Trình sinh sản vật nuôi
Tác giả: Phan Vũ Hải
Nhà XB: NXB Đại học Huế
Năm: 2013
[6] Phan Vũ Hải, Quy Trình Chăn Nuôi Lợn Nái Ngoại, Viện Chăn nuôi, 2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy Trình Chăn Nuôi Lợn Nái Ngoại
Tác giả: Phan Vũ Hải
Nhà XB: Viện Chăn nuôi
Năm: 2008
[7]. Diệp Tố Khương, Khảo sát viêm tử cung nái sau sinh và chậm động dục sau khi cai sữa heo tại xí nghiệp chăn nuôi heo Đông Hiệp, Luận văn tốt nghiệp khoa Chăn nuôi thú y, Trường Đại học Nông Lâm Thành phố Hồ Chí Minh, 2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khảo sát viêm tử cung nái sau sinh và chậm động dục sau khi cai sữa heo tại xí nghiệp chăn nuôi heo Đông Hiệp
Tác giả: Diệp Tố Khương
Nhà XB: Trường Đại học Nông Lâm Thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 2000
[8]. Phùng Ứng Lân, Chứng tiêu chảy ở lợn con theo mẹ, Nhà Xuất Bản Hà Nội, 1985 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chứng tiêu chảy ở lợn con theo mẹ
Tác giả: Phùng Ứng Lân
Nhà XB: Nhà Xuất Bản Hà Nội
Năm: 1985
[9]. Lê Văn Nam, Kinh nghiệm phòng và trị bệnh lợn cao sản, NXB Nông nghiệp, 1997 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh nghiệm phòng và trị bệnh lợn cao sản
Tác giả: Lê Văn Nam
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 1997
[10]. Nguyễn Hữu Nam, Giáo trình sinh lý bệnh thú y, NXB Nông nghiệp, Hà Nội, 2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình sinh lý bệnh thú y
Tác giả: Nguyễn Hữu Nam
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 2004
[11]. Cao Xuân Ngọc, Giải Phẫu bệnh đại cương thú y, NXB Nông nghiệp, Hà Nội, 1997 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giải Phẫu bệnh đại cương thú y
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
[12]. Nguyễn Hữu Ninh, Bạch Đăng Phong, Bệnh sinh sản gia súc, NXB Nông nghiệp Hà Nội, 2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bệnh sinh sản gia súc
Tác giả: Nguyễn Hữu Ninh, Bạch Đăng Phong
Nhà XB: NXB Nông nghiệp Hà Nội
Năm: 2000
[13]. Võ Văn Ninh, Kỹ thuật chăn nuôi heo, NXB Trẻ, 2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỹ thuật chăn nuôi heo
Tác giả: Võ Văn Ninh
Nhà XB: NXB Trẻ
Năm: 2007
[14]. Nguyễn Như Pho, Hiệu quả của vitamin A đối với hội chứng viêm tử cung, viêm vú, kém sữa ở heo nái và sức sống lợn con, Luận án Tiến sĩ Khoa học Nông nghiệp Việt Nam, 1995 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiệu quả của vitamin A đối với hội chứng viêm tử cung, viêm vú, kém sữa ở heo nái và sức sống lợn con
Tác giả: Nguyễn Như Pho
Nhà XB: Luận án Tiến sĩ Khoa học Nông nghiệp Việt Nam
Năm: 1995
[15]. Nguyễn Như Pho, Ảnh hưởng của việc tăng cường điều kiện vệ sinh đến hội chứng M.M.A và năng suất của heo nái, Tạp chí Khoa học Kỹ Thuật, tập 9, số 1/ 2002, 2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ảnh hưởng của việc tăng cường điều kiện vệ sinh đến hội chứng M.M.A và năng suất của heo nái
Tác giả: Nguyễn Như Pho
Nhà XB: Tạp chí Khoa học Kỹ Thuật
Năm: 2002
[16]. Nguyễn Văn Thanh, Khảo sát tỷ lệ mắc viêm tử cung trên đàn lợn nái ngoại nuôi tại đồng bằng sông Hồng và thử nghiệm điều trị, Tạp chí Khoa học Kỹ Thuật, tập 10, 2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khảo sát tỷ lệ mắc viêm tử cung trên đàn lợn náingoại nuôi tại đồng bằng sông Hồng và thử nghiệm điều trị
[17]. Nguyễn Văn Thanh, Đặng Công Trung, Mối lien hệ giữa bệnh viêm tử cung của lợn nái ngoại và hội chứng tiêu chảy ở lợn con đang bú mẹ và thử nghiệm biện pháp phòng trị, Tạp chí Khoa học Kỹ Thuật Nông nghiệp, tập 5, 2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mối lien hệ giữa bệnh viêm tử cung của lợn nái ngoại và hội chứng tiêu chảy ở lợn con đang bú mẹ và thử nghiệm biện pháp phòng trị
Tác giả: Nguyễn Văn Thanh, Đặng Công Trung
Nhà XB: Tạp chí Khoa học Kỹ Thuật Nông nghiệp
Năm: 2007
[18]. Nguyễn Văn Thanh, Trịnh Đình Thâu, Tình hình bệnh viêm tử cung trên đàn lợn nái ngoại và các biện pháp phòng trị, Tạp chí Khoa học Kỹ Thuật thú y, tập 17, 2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tình hình bệnh viêm tử cung trênđàn lợn nái ngoại và các biện pháp phòng trị
[19]. Nguyễn Văn Thành, Một số biện pháp nâng cao khả năng sinh sản của nái sau khi sinh, Luận án Thạc sĩ Nông nghiệp Việt Nam, 2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số biện pháp nâng cao khả năng sinh sản củanái sau khi sinh
[20]. Đặng Đình Tín, Giáo trình sản khoa và bệnh sản khoa thú y, NXB Nông nghiệp Hà Nội, 1986 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình sản khoa và bệnh sản khoa thú y
Tác giả: Đặng Đình Tín
Nhà XB: NXB Nông nghiệp Hà Nội
Năm: 1986

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w