Áp dụng quy trình chăm sóc nuôi dưỡng và phòng, trị bệnh viêm tử cung cho đàn lợn nái nuôi tại trại lợn Thanh Xuân thuộc Công ty cổ phần sản xuất và DVTM Ngọc Linh Việt Nam, xã Nghĩa Trụ, huyện Văn Giang, tỉnh Hưng YênÁp dụng quy trình chăm sóc nuôi dưỡng và phòng, trị bệnh viêm tử cung cho đàn lợn nái nuôi tại trại lợn Thanh Xuân thuộc Công ty cổ phần sản xuất và DVTM Ngọc Linh Việt Nam, xã Nghĩa Trụ, huyện Văn Giang, tỉnh Hưng YênÁp dụng quy trình chăm sóc nuôi dưỡng và phòng, trị bệnh viêm tử cung cho đàn lợn nái nuôi tại trại lợn Thanh Xuân thuộc Công ty cổ phần sản xuất và DVTM Ngọc Linh Việt Nam, xã Nghĩa Trụ, huyện Văn Giang, tỉnh Hưng YênÁp dụng quy trình chăm sóc nuôi dưỡng và phòng, trị bệnh viêm tử cung cho đàn lợn nái nuôi tại trại lợn Thanh Xuân thuộc Công ty cổ phần sản xuất và DVTM Ngọc Linh Việt Nam, xã Nghĩa Trụ, huyện Văn Giang, tỉnh Hưng YênÁp dụng quy trình chăm sóc nuôi dưỡng và phòng, trị bệnh viêm tử cung cho đàn lợn nái nuôi tại trại lợn Thanh Xuân thuộc Công ty cổ phần sản xuất và DVTM Ngọc Linh Việt Nam, xã Nghĩa Trụ, huyện Văn Giang, tỉnh Hưng YênÁp dụng quy trình chăm sóc nuôi dưỡng và phòng, trị bệnh viêm tử cung cho đàn lợn nái nuôi tại trại lợn Thanh Xuân thuộc Công ty cổ phần sản xuất và DVTM Ngọc Linh Việt Nam, xã Nghĩa Trụ, huyện Văn Giang, tỉnh Hưng YênÁp dụng quy trình chăm sóc nuôi dưỡng và phòng, trị bệnh viêm tử cung cho đàn lợn nái nuôi tại trại lợn Thanh Xuân thuộc Công ty cổ phần sản xuất và DVTM Ngọc Linh Việt Nam, xã Nghĩa Trụ, huyện Văn Giang, tỉnh Hưng YênÁp dụng quy trình chăm sóc nuôi dưỡng và phòng, trị bệnh viêm tử cung cho đàn lợn nái nuôi tại trại lợn Thanh Xuân thuộc Công ty cổ phần sản xuất và DVTM Ngọc Linh Việt Nam, xã Nghĩa Trụ, huyện Văn Giang, tỉnh Hưng YênÁp dụng quy trình chăm sóc nuôi dưỡng và phòng, trị bệnh viêm tử cung cho đàn lợn nái nuôi tại trại lợn Thanh Xuân thuộc Công ty cổ phần sản xuất và DVTM Ngọc Linh Việt Nam, xã Nghĩa Trụ, huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên
Trang 1SẢN XUẤT VÀ DVTM NGỌC LINH VIỆT NAM, XÃ NGHĨA TRỤ, HUYỆN
VĂN GIANG, TỈNH HƯNG YÊN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo: Chính quy Chuyên ngành: Chăn nuôi Thú y
Khóa học: 2014 - 2018
Thái Nguyên, năm 2018
Trang 2SẢN XUẤT VÀ DVTM NGỌC LINH VIỆT NAM, XÃ NGHĨA TRỤ, HUYỆN
VĂN GIANG, TỈNH HƯNG YÊN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo: Chính quy Chuyên ngành: Chăn nuôi Thú y
Khóa học: 2014 - 2018 Giảng viên hướng dẫn: ThS Lê Minh Toàn
Thái Nguyên, năm 2018
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong suốt thời gian học tập và rèn luyện tại trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, được sự dạy bảo tận tình của các thầy cô giáo, em đã nắm được những kiến thức cơ bản ngành học của mình Qua 6 tháng thực tập tốt nghiệp tại trang trại sinh thái Thanh Xuân địa chỉ: huyện Văn Giang, Hưng Yên đã giúp em ngày càng hiểu rõ kiến thức chuyên môn, lĩnh hội thêm được nhiều kinh nghiệm quý báu, cũng như đức tính cần có của một người làm cán bộ khoa học kỹ thuật và đã hoàn thành tốt khóa luận tốt nghiệp Để có sự thành công này, em xin tỏ lòng biết ơn chân thành tới:
Ban giám hiệu trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, Ban chủ nhiệm khoa cùng toàn thể các thầy, cô giáo trong khoa Chăn nuôi Thú y Đặc biệt,
em xin chân thành cảm ơn sự quan tâm giúp đỡ của thầy giáo ThS LÊ MINH TOÀN người đã tận tình chỉ bảo, hướng dẫn em trong suốt thời gian thực tập, giúp em hoàn thành đề tài tốt nghiệp này
Cũng qua đây cho em gửi lời cảm ơn sâu sắc tới Ban giám đốc, toàn thể cán bộ và công nhân trong trại lợn Thanh Xuân xã Nghĩa Trụ,huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên, đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho em hoàn thành khóa luận tốt nghiệp và học hỏi nâng cao tay nghề
Xin cảm ơn gia đình, bạn bè đã luôn động viên giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi để em hoàn thành tốt quá trình thực tập tốt nghiệp
Cuối cùng em xin kính chúc quý thầy cô có thật nhiều sức khỏe, đạt được nhiều thành tích cao trong công tác giảng dạy và nghiên cứu khoa học
Em xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày 15 tháng 3 năm2018
Sinh viên
Vũ Dương Việt Toàn
Trang 4LỜI NÓI ĐẦU
Thực tập tốt nghiệp là giai đoạn cuối cùng của quá trình đào tạo tại trường Đây là giai đoạn sinh viên tiếp xúc với thực tiễn, củng cố lại những kiến thức đã học trên giảng đường Bên cạnh đó, giúp sinh viên vận dụng, học hỏi những kinh nghiệm trong sản xuất để nâng cao trình độ cũng như các phương pháp tổ chức và tiến hành nghiên cứu Tạo điều kiện cho bản thân có tác phong làm việc nghiêm túc, đúng đắn, có cơ hội vận dụng sáng tạo vào thực tế sản xuất, góp phần vào công cuộc đổi mới đất nước, làm cho đất nước ngày càng phát triển
Được sự nhất trí của Ban chủ nhiệm khoa Chăn nuôi Thú y, trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, sự đồng ý của thầy giáo hướng dẫn và tiếp nhận
của cơ sở, em tiến hành thực hiện chuyên đề: “Áp dụng quy trình chăm sóc nuôi dưỡng và phòng, trị bệnh viêm tử cung cho đàn lợn nái nuôi tại trại lợn Thanh Xuân thuộc Công ty cổ phần sản xuất và DVTM Ngọc Linh Việt Nam, xã Nghĩa Trụ, huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên”
Do bước đầu làm quen với công tác nghiên cứu khoa học, thời gian và năng lực bản thân còn hạn chế nên trong bản khóa luận này không tránh khỏi những sai sót Vì vậy, em mong nhận được ý kiến đóng góp của các thầy giáo,
cô giáo và các bạn bè đồng nghiệp để khóa luận được hoàn thiện hơn
Em xin chân thành cảm ơn!
Trang 5DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.1 Các chỉ tiêu chẩn đoán viêm tử cung 36
Bảng 4.1 Tình hình chăn nuôi lợn tại trang trại (từ năm 2015 – 2017) 38
Bảng 4.2 Số lợn nái và lợn con theo mẹ được trực tiếp tham gia chăm sóc, nuôi dưỡng qua 6 tháng thực tập 40
Bảng 4.3 Những biểu hiện khi lợn sắp đẻ 42
Bảng 4.4 Kết quả công tác chăm sóc nuôi dưỡng đàn lợn nái 53
Bảng 4.5 Tỷ lệ và cường độ nhiễm bệnh chung của đàn nái 54
Bảng 4.6 Cường độ nhiễm bệnh viêm tử cung so với tổng số nái nhiễm 55
Bảng 4.7 Hiệu lực điều trị bệnh viêm tử cung của phác đồ 56
Bảng 4.8 Ảnh hưởng của việc điều trị Viêm tử cung đến sinh lý sinh sản và tỷ lệ thụ thai của lợn nái 58
Trang 6DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Cs: Cộng sự DVTM: Dịch vụ và thương mại E.coli: Escherichia coli
ĐVT: Đơn vị tính LMLM: Lở mồm long móng MMA: Hội chứng viêm tử cung, viêm vú, mất sữa NaOH: Natri hidroxit
PGF2α: ProstaglandinF2anpha SX: Sản xuất
TT: Thể trọng
Trang 7MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN i
LỜI NÓI ĐẦU ii
DANH MỤC BẢNG iii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT iv
MỤC LỤC v
Phần 1 MỞ ĐẦU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục tiêu và yêu cầu 2
1.2.1 Mục tiêu 2
1.2.2 Yêu cầu 2
Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
2.1 Điều kiện cơ sở nơi thực tập 3
2.1.1 Vị trí địa lý 3
2.1.2 Điều kiện khí hậu 3
2.1.3 Cơ cấu tổ chức của trang trại 4
2.1.4 Quy mô, cơ sở vật chất của trang trại 5
2.1.5 Thuận lợi và khó khăn của trại 7
2.2 Tổng quan tài liệu 8
2.2.1 Cơ sở khoa học 8
2.2.2 Những hiểu biết về quy trình nuôi dưỡng và chăm sóc lợn nái đẻ và lợn nái nuôi con 17
2.2.3 Hiểu biết về bệnh viêm tử cung ở lợn nái sinh sản 20
2.2.4 Tình hình nghiên cứu trong nước và trên thế giới 32
Phần 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP TIẾN HÀNH 35
3.1 Đối tượng 35
Trang 83.2 Địa điểm và thời gian tiến hành 35
3.3 Nội dung thực hiện 35
3.4 Phương pháp nghiên cứu và các chỉ tiêu theo dõi 35
3.4.1 Phương pháp điều tra 35
3.4.2 Các chỉ tiêu và phương pháp đánh giá 35
3.5 Phương pháp xử lý số liệu 37
Phần 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 38
4.1 Tình hình chăn nuôi lợn tại trại chăn Công ty cổ phần SX và DVTM Ngọc Linh, xã Nghĩa Trụ, huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên qua 3 năm 38
4.2 Kết quả thực hiện Quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng đàn lợn nái tại trang trại 39
4.2.1 Kết quả về công tác chăn nuôi 39
4.2.2 Kết quả về công tác thú y 44
4.2.3 Kết quả thực hiện một số công việc khác trong thời gian thực tập 51
4.3 Kết quả theo dõi tình hình bệnh viêm tử cung ở lợn nái 54
4.3.1 Tình hình nhiễm bệnh viêm tử cung của đàn lợn nái 54
4.3.2 Hiệu lực điều trị bệnh viêm tử cung của phác đồ 56
4.3.3 Ảnh hưởng của phác đồ điều trị đến hoạt động sinh lý sinh dục và khả năng thụ thai 57
Phần 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 59
5.1 Kết luận 59
5.1.1 Về kết quả chăm sóc, nuôi dưỡng đàn lợn nái 59
5.1.2 Về kết quả theo dõi và điều trị bệnh viêm tử cung cho đàn nái 60
5.2 Đề nghị 60
TÀI LIỆU THAM KHẢO 62 PHỤ LỤC
Trang 9Phần 1
MỞ ĐẦU 1.1 Đặt vấn đề
Trong những năm gần đây, với mục đích hạ giá thành sản phẩm, tăng khả năng cạnh tranh trên thị trường nội địa, đông thời đáp ứng nhu cầu xuất khẩu thịt lợn, mô hình chăn nuôi lợn theo hướng tập trung quy mô trang trại đang được áp dụng trên cả nước Muốn đạt được hiệu quả cao thì chúng ta cần đẩy mạnh các biện pháp kỹ thuật như: giống, thức ăn, kỹ thuật chăm sóc nuôi dưỡng đặc biệt chú trọng đến công tác giống, giống tốt thì vật nuôi mới tăng trọng nhanh, tận dụng thức ăn tốt, thích nghi và chống chịu bệnh cao
Để cung cấp giống cho nhu cầu chăn nuôi của trang trại thì việc phát triểnđàn lợn nái sinh sản cần đặc biệt được quan tâm, tuy nhiên, một trong những nguyên nhân làm hạn chế đến khả năng sinh sản của lợn nái hiện nay đang nuôi ở các trang trại là bệnh còn xảy ra rất nhiều, do khả năng thích nghi của các giống lợn nái ngoại với điều kiện khí hậu, điều kiện chăn nuôi của nước ta còn kém, đặc biệt là các bệnh về sinh sản như: đẻ khó, viêm tử cung, viêm vú, sảy thai truyền nhiễm các bệnh này do nhiều yếu tố như điều kiện
vệ sinh chăn sóc nuôi dưỡng kém, thức ăn, nước uống không đảm bảo vệ sinh, do vi khuẩn, vi rút gây nên chính vì vậy mà việc nắm chắc được quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng và phòng trị bệnh cho lợn nái sinh sản là việc làm cần thiết để nâng cao được hiệu quả trong chăn nuôi lợn nái sinh sản
Trên cơ sở được trang bị các khối kiến thức về chuyên môn, để củng cố kiến thức, rèn luyện kỹ năng nghề giúp sinh viên tự tin và có khả năng làm việc ngay sau khi ra trường Xuất phát từ yêu cầu của thực tế sản xuất và nhu cầu của bản thân, được sự hướng dẫn của Th.S Lê Minh Toàn, cùng sự giúp
đỡ của trang trại em đã thực hiện chuyên đề: “Áp dụng quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng và phòng trị bệnh viêm tử cung ở lợn nái sinh sản nuôi tại
Trang 10trang trại Sinh Thái Thanh Xuân, thuộc công ty cổ phần sản xuất và DVTM Ngọc Linh Việt Nam, xã Nghĩa Trụ, huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên”.
1.2 Mục tiêu và yêu cầu
1.2.1 Mục tiêu
- Thực hiện được quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng và phòng trị bệnh cho đàn lợn nái tại cơ sở đạt hiệu quả cao
- Rèn luyện tay nghề nâng cao hiểu biết kinh nghiệm thực tế
- Góp phần giúp cơ sở nâng cao năng suất, chất lượng chăn nuôi
1.2.2 Yêu cầu
- Nắm vững quy trình phòng và trị bệnh trên đàn lợn nái
- Nắm vững quy trình nuôi dưỡng, chăm sóc lợn nái
- Thực hiện tốt các yêu cầu, quy định tại cơ sở
- Chăm chỉ, học hỏi để năng cao kỹ thuật, tay nghề của cá nhân
Trang 11Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Điều kiện cơ sở nơi thực tập
2.1.1 Vị trí địa lý
Trang trại sinh thái Thanh Xuân nằm trên địa phận thôn Đại Tài, xã Nghĩa Trụ, huyện Văn Giang, Hưng Yên Trang trại sinh thái Thanh Xuân được thành lập năm 2008, là trại lợn thuộc Công ty cổ phần sản xuất và dịch
vụ, thương mại Ngọc Linh Việt Nam Xã Nghĩa Trụ là một xã nằm trên địa bàn huyện Văn Giang, Hưng Yên,có tỉnh lộ 207B chạy qua
Xã có địa giới hành chính như sau: Phía bắc giáp các xã Tân Quang và Trưng Trắc, huyện Văn Lâm Phía đông giáp xã Trưng Trắc, huyện Văn Lâm
và xã Vĩnh Khúc, huyện Văn Giang Phía nam giáp các xã Vĩnh Khúc và Tân Tiến, huyện Văn Giang Phía tây giáp xã Long Hưng, huyện Văn Giang
Nghĩa Trụ có địa hình tương đối bằng phẳng Toàn xã có tổng diện tích đất tự nhiên là 8,14km2 Trong đó, đất nông nghiệp là 427,35 ha, chiếm 52,5%, đất phi nông nghiệp là 363,85 ha (chiếm 44,7%), đất chưa sử dụng là 22,79 ha, chiếm 2,8% Đất đai đa dạng, thích hợp với nhiều loại cây lương thực, thực phẩm và cây công nghiệp
2.1.2 Điều kiện khí hậu
Xã Nghĩa Trụ thuộc vùng nhiệt đới gió mùa, có mùa đông lạnh Nhiệt
độ trung bình hàng năm là 23,20C, nhiệt độ trung bình mùa hè 250C, mùa đông dưới 200C Lượng mưa trung bình dao động trong khoảng 1.500 - 1.600
mm, trong đó tập trung vào tháng 5 đến tháng 10 mưa (chiếm 80 - 85% lượng mưa cả năm)
Số giờ nắng trung bình hàng năm khoảng 1.400 giờ (116,7 giờ/tháng), trong đó từ tháng 5 đến tháng 10 trung bình 187 giờ nắng/tháng, từ tháng 11
Trang 12đến tháng 4 năm sau, trung bình 86 giờ nắng/tháng Khí hậu Hưng Yên có 2 mùa gió chính: gió mùa Đông Bắc (từ tháng 9 đến tháng 2 năm sau), gió mùa Đông Nam (tháng 3 đến tháng 5)
2.1.3 Cơ cấu tổ chức của trang trại
- Trại chăn nuôi được xây dựng từ năm 2008 trại đi vào sản xuất được
9 năm, song hàng năm sản xuất của trại đều gia tăng, đời sống của cán bộ công nhân viên được cải thiện, trại chăn nuôi có ban lãnh đạo là những người đam mê, giàu nghị lực và tâm huyết đối với nghề chăn nuôi Đặc biệt trại chăn nuôi đã tuyển dụng và đào tạo được một đội ngũ cán bộ kỹ thuật có chuyên môn, kinh nghiệm, thực tiễn và yêu nghề Trại có 43 cán bộ nhân viên trong đó:
Cơ cấu của trại được tổ chức như sau:
+ 25 công nhân và 6 sinh viên thực tập
Với đội ngũ công nhân trên, trại phân ra làm các tổ nhóm khác nhau ở các khu nái, khu hậu bị, khu cai sữa, khu thịt, khu bảo dưỡng và nhà bếp Mỗi một khâu trong quy trình chăn nuôi, đều được khoán đến từng công nhân, nhằm nâng cao trách nhiệm, thúc đẩy sự phát triển của trại
Trang 132.1.4 Quy mô, cơ sở vật chất của trang trại
Trại lợn Thanh Xuân nằm ở khu vực cánh đồng rộng lớn thuộc thôn Đại Tài, có địa hình tương đối bằng phẳng với diện tích là 4,5 ha Trong đó:
- Đất trồng cây ăn quả: 0,5 ha
- Đất xây dựng: 3 ha
- Ao, hồ chứa nước và nuôi cá: 1 ha
Trang trại đã dành khoảng 0,5 ha đất để xây dựng nhà điều hành, nhà ở cho công nhân, bếp ăn, các công trình phục vụ cho công nhân và các hoạt động khác của trại
Khu chăn nuôi được quy hoạch bố trí xây dựng hệ thống chuồng trại cho 1300 nái, bao gồm: 04 chuồng nái đẻ trong đó: (01 chuồng có 120 ô kích thước 2,4 m x 1,6 m/ô và 03 chuồng 66 ô kích thước 2,4 m x 1,6 m/ô), 02 chuồng nái chửa (mỗi chuồng có 560 ô kích thước 2,4m x 0,65 m/ô), 01 chuồng cai sữa với sức chứa khoảng hơn 850 lợn con cai sữa, 01 chuồng cách
ly (100 hậu bị/chuồng) và 06 chuồng nuôi lợn thịt (700 con/chuồng), một số công trình phụ phục vụ cho chăn nuôi khác như: kho thức ăn, kho thuốc, phòng sát trùng, phòng pha tinh, kho cơ khí
Hệ thống chuồng xây dựng khép kín hoàn toàn Phía đầu chuồng là hệ thống giàn mát, cuối chuồng có 4 quạt thông gió (2 to, 2 nhỏ) đối với mỗi dãy chuồng đẻ, 8 quạt thông gió (4 to, 4 nhỏ) đối với chuồng nái chửa, 4 quạt đối với chuồng cách ly Mỗi chuồng đều có 01 téc chứa nước ở đầu chuồng, hai bên tường có dãy cửa sổ lắp kính Mỗi cửa sổ có diện tích 1,5 m2, cách nền 1,2 m, mỗi cửa sổ cách nhau 40 cm Trên trần được lắp hệ thống chống nóng bằng tôn lạnh
Phòng pha tinh của trại được trang bị các dụng cụ hiện đại như: máy đếm mật độ tinh trùng, kính hiển vi, thiết bị cảm ứng nhiệt, các dụng cụ đóng liều tinh, nồi hấp cách thủy dụng cụ và một số thiết bị khác
Trang 14Trong khu chăn nuôi, đường đi lại giữa các ô chuồng, các khu khác đều được đổ bê tông và có các hố sát trùng
Hệ thống nước trong khu chăn nuôi đều là nước giếng khoan Nước uống cho lợn được cấp từ một bể lớn, xây dựng ở khu trung tâm rồi chia đến các téc nước đầu mỗi chuồng Nước tắm và nước xả gầm, phục vụ cho công tác khác, được bơm trực tiếp từ nguồn nước giếng khoan bằng các máy bơm ở đầu mỗi chuồng
Hệ thống điện: nguồn cấp điện có điện lưới và máy phát dự phòng Đối với chuồng đẻ, hệ thống điện được cung cấp đầy đủ đảm bảo độ sáng phục vụ cho công tác đỡ đẻ, chăm sóc nuôi dưỡng lợn mẹ và lợn con, mỗi chuồng đẻ được lắp đặt cố định 10 bóng thắp sáng so le nhau, cùng với hệ thống bóng sưởi cho mỗi ô chuồng có lợn con được sinh ra
Hệ thống sát trùng: nhà sát trùng cho người gồm 2 phòng: phòng sát trùng nam, phòng sát trùng nữ Mỗi phòng sát trùng được chia làm 3 khoang gồm 1 khoang thay đồ, 1 khoang sát trùng và 1 khoang tắm tráng với đầy đủ các trang thiết bị như: bình nóng lạnh, sen tắm, chậu rửa, gương soi, móc quần áo, khăn, xà bông, dầu gội Hệ thống sát trùng khu vực ngoài chuồng nuôi gồm: nhà sát trùng xe, hố sát trùng cổng chính và cổng phụ, hố vôi ở cửa
ra vào các chuồng, máy nén phun sát trùng di động trong và ngoài khu vực chuồng nuôi
Kho chứa thức ăn: trần đóng kín, có sàn cách mặt đất 30 cm để chứa thức ăn trong chăn nuôi
Hệ thống xử lý môi trường: chất thải từ các chuồng được tập trung về một bể lớn nơi có đặt máy ép phân, phân sau khi ép được cho vào các bao, còn phần chất lỏng thì được sử lý bằng hệ thống BIOGAS và hệ thống lắng cặn, ao bèo trước khi thải ra môi trường Có điểm tiêu chất thải, có giàn khử mùi phía sau quạt hút gió, có hố hủy lợn xa khu vực chăn nuôi
Trang 15Các công trình phụ trợ khác: khu sinh hoạt tách biệt với khu chăn nuôi gồm phòng hành chính, phòng kỹ sư, nhà ở công nhân, nhà bếp, nhà tắm, nhà
vệ sinh Cổng trại, tường rào đảm bảo an ninh Có nhà kho phục vụ chăn nuôi như nhà để vôi bột, bể tôi vôi nước, có các khu xịt đồ và các bể ngâm đan lớn Một số dụng cụ và trang thiết bị khác: tủ lạnh bảo quản vắc xin, tủ thuốc để bảo quản và dự trữ thuốc cho trại, xe chở cám từ nhà kho xuống chuồng, máy nén khí phun sát trùng di động khu vực ngoài chuồng nuôi
2.1.5 Thuận lợi và khó khăn của trại
- Thuận lợi
+ Trại được xây dựng ở một vị trí bằng phẳng nằm giữa cánh đồng cách biệt với khu dân cư, hạn chế được ảnh hưởng đến người dân xung quanh Giao thông rất thuận tiện
+ Đội ngũ quản lý, cán bộ kỹ thuật, công nhân của trại có năng lực, năng động và có trách nhiệm trong công việc
+ Trại được xây dựng theo quy mô công nghiệp, trang thiết bị hiện đại,
do vậy rất phù hợp với hướng chăn nuôi công nghiệp hiện nay
+ Trại được thành lập đã lâu do vậy nắm chắc được các quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng, phòng và trị bệnh
+ Do trang trại thành lập đã lâu nên một số trang thiết bị, vật tư xuống
cấp gây ảnh hưởng đến năng suất lao động và chất lượng chăn nuôi
Trang 162.2 Tổng quan tài liệu
2.2.1 Cơ sở khoa học
2.2.1.1 Cơ quan sinh dục của lợn nái
- Cơ quan sinh dục của lợn nái được chia thành 2 bộ phận gồm: bộ phận sinh dục bên trong và bộ phận sinh dục bên ngoài
+ Bộ phận sinh dục bên trong gồm: buồng trứng, ống dẫn trứng, tử cung, âm đạo
+ Bộ phận sinh dục bên ngoài gồm: âm môn, âm vật, tiền đình
- Bộ phận sinh dục bên trong
* Buồng trứng (ovarian)
Buồng trứng lợn nằm trong xoang bụng, phát triển thành một cặp, thực hiện cả hai chức năng: ngoại tiết (bài noãn) và nội tiết (sản sinh ra hormone sinh dục cái) Buồng trứng được hình thành trong giai đoạn phôi thai
Cấu tạo: phía ngoài buồng trứng được bao bọc bởi lớp màng liên kết sợi, chắc như màng dịch hoàn Phía trong buồng trứng được chia làm hai miền là miền vỏ và miền tủy Miền tủy có nhiều mạch máu, tổ chức liên kết dày đặc đảm bảo nhiệm vụ nuôi dưỡng và bảo vệ Miền vỏ đảm bảo quá trình phát triển của trứng đến khi trứng chín và rụng Miền vỏ gồm ba thành phần:
Tế bào trứng nguyên thủy, thể vàng và tế bào hình hạt Tế bào trứng nguyên thủy hay còn gọi là trứng non (Fulliculo oophoriprimari) nằm dưới lớp màng của buồng trứng Khi noãn bao chín các tế bào nang bao quanh tế bào trứng
và phân chia thành nhiều tầng tế bào có hình hạt (Stratum glanulosum) Noãn bao ngày càng phát triển thì các tế bào bao nang tiêu tan tạo thành một lớp màng bao bọc, ở ngoài có chỗ dày lên để chứa trứng (ovum)
* Ống dẫn trứng (vòi Fallop)
Ống dẫn trứng được treo bởi màng treo ống dẫn trứng, đó là một nếp gấp màng bụng bắt nguồn từ lớp bên của dây chằng rộng Căn cứ vào chức năng có thể chia ống dẫn trứng thành bốn đoạn:
Trang 17- Tua diềm: có hình giống như tua diềm
- Phễu: có hình phễu, miệng phễu nằm gần buồng trứng
- Phồng ống dẫn trứng: đoạn ống giãn rộng xa tâm
- Eo: đoạn ống hẹp gần tâm, nối ống dẫn trứng với xoang tử cung Ống dẫn trứng có một chức năng duy nhất là vận chuyển trứng và tinh trùng theo hướng ngược chiều nhau, hầu hết là đồng thời
* Tử cung (Uterus)
Ở lợn, tử cung thuộc loại hình sừng kép, các sừng gấp nếp hoặc quấn lại, thân tử cung ngắn Độ dài này thích hợp cho việc mang nhiều thai Cả hai mặt của tử cung được đính vào khung chậu và thành bụng bằng dây chằng rộng
- Tử cung nằm trong xoang chậu, dưới trực tràng, trên bàng quang và niệu đạo trong xoang chậu Tử cung lợn thuộc loại tử cung sừng kép, gồm 2 sừng thông với một thân và cổ tử cung Sừng tử cung dài 40-65cm Thân tử cung dài 5cm Cổ tử cung dài 10cm có thành dày, hình trụ, có các cột thịt xếp theo chiều dài răng lược thông với âm đạo
Chức năng của tử cung: Tử cung có nhiều chức năng Nội mạc tử cung
và các dịch tử cung giữ vai trò chủ chốt trong quá trình sinh sản Gồm:
- Chuyển vận tinh trùng
- Làm tổ, chửa và đẻ
* Âm đạo (Vagina)
Âm đạo nối sau tử cung, trước âm hộ, đầu trước giáp cổ tử cung, đầu sau thông ra tiền đình, giữa âm đạo và tiền đình có nếp gấp niêm mạc gọi là màng trinh
Âm đạo là một ống tròn chứa cơ quan sinh dục đực khi giao phối, đồng thời là bộ phận cho thai đi ra ngoài trong quá trình sinh đẻ và là ống thải các chất dịch từ tử cung
Âm đạo có cấu tạo gồm 3 lớp:
Trang 18Âm môn hay còn gọi là âm hộ (vulvae) nằm dưới hậu môn Phía ngoài
âm môn có hai môi (labia pudendi) Hai môi được nối với nhau bằng hai mép (rima vulvae)
Trên hai môi của âm môn có sắc tố màu đen và có nhiều tuyến tiết (như tuyến tiết chất nhờn trắng và tuyến tiết mồ hôi)
* Âm vật (clitoris)
Âm vật nằm ở góc phía dưới hai mép của âm môn Âm vật giống như dương vật con đực được thu nhỏ lại Về cấu tạo, âm vật cũng có các thể hổng như cấu tạo dương vật của con đực Trên âm vật có nếp da tạo ra mũ âm vật, giữa âm vật bẻ gấp xuống dưới
* Tiền đình (Vestibulum vaginae sinusinogenitalis)
Là giới hạn giữa âm đạo và âm hộ Tiền đình bao gồm:
Màng trinh: là một nếp gấp gồm 2 lá, phía trước thông với âm đạo, phía sau thông với âm hộ Màng trinh gồm các sợi cơ đàn hồi ở giữa và do 2 lá niêm mạc gấp lại thành một nếp
Lỗ niệu đạo ở sau và dưới màng trinh
Hành tiền đình là 2 tạng cương ở 2 bên lỗ niệu đạo Cấu tạo giống thể hổng ở bao dương vật của con đực
Tiền đình có một số tuyến, các tuyến này xếp theo hàng chéo, hướng quay về âm vật
Trang 192.2.1.2 Sự thành thục về tính và thể vóc
*Sự thành thục về tính dục
Tuổi thành thục về tính là tuổi mà con vật bắt đầu có phản xạ về tính dục và có khả năng sinh sản khi gia súc đã thành thục về tính, bộ máy sinh dục đã phát triển hoàn thiện, con vật bắt đầu suất hiện các phản xạ về sinh dục Con cái có hiện tượng động dục, con đực có phản xạ giao phối
Theo Xuxoep A.A và cs, (1985) [13], sự thành thục về tính được đánh dấu khi con vật bắt đầu có phản xạ sinh dục và có khả năng sinh sản Lúc này tất cả các bộ phận sinh dục như: buồng trứng, tử cung, âm đạo đã phát triển hoàn thiện và có thể bắt đầu bước vào hoạt động sinh sản Đồng thời với sự phát triển hoàn thiện bên trong thì ở bên ngoài các bộ phận sinh dục phụ cũng xuất hiện và gia súc có phản xạ về tính hay xuất hiện hiện tượng động dục
Sự thành thục về tính của con vật phụ thuộc vào nhiều yếu tố: giống, chế độ chăm sóc, nuôi dưỡng, khí hậu, chuồng trại
Giống: các giống lợn khác nhau thì tuổi thành thục về tính cũng khác nhau Những giống có thể vóc nhỏ thường thành thục về tính sớm hơn những giống có thể vóc lớn
Theo Phạm Hữu Doanh, (1985) [3], cho rằng, các giống lợn nội có độ tuổi thành thục về tính 4 - 5 tháng tuổi (121 - 158 ngày tuổi) Trong khi đó tuổi động dục ở lợn ngoại là 6 - 8 tháng tuổi, ở lợn lai F1 (nội × ngoại) thường động dục lần đầu ở 6 tháng tuổi
Điều kiện nuôi dưỡng quản lý
Dinh dưỡng có ảnh hưởng rất lớn đến tuổi thành thục về tính của lợn nái Cùng một giống nhưng nếu được nuôi dưỡng, chăm sóc, quản lý tốt, gia súc phát triển tốt thì sẽ thành thục về tính sớm hơn và ngược lại
Chế độ dinh dưỡng ảnh hưởng rất lớn đến tuổi thành thục về tính của lợn cái Thường những lợn được chăm sóc nuôi dưỡng tốt thì tuổi thì tuổi
Trang 20thành thục về tính sớm hơn những lợn được nuôi trong điều kiện dinh dưỡng kém, lợn nái nuôi trong điều kiện dinh dưỡng tốt sẽ thành thục ở độ tuổi trung bình 188,5 ngày (6 tháng tuổi) với khối lượng cơ thể là 80kg và nếu hạn chế thức ăn thì sự thành thục về tính sẽ xuất hiện lúc 234,8 ngày (trên 7 tháng tuổi) và khối lượng cơ thể là 48,4kg Dinh dưỡng thiếu là chậm sự thành thục
về tính là do sự tác động xấu lên tuyến yên và sự tiết kích tố hướng dục, nếu thừa năng lượng cũng ảnh không tốt đến sự thành thục là do tích trữ mỡ xung quanh buồng trứng và cơ quan sinh dục làm giảm chức năng bình thường của chúng, mặt khác do béo quá ảnh hưởng tới hocmon Oestrogen và Progesterone trong máu làm cho hàm lượng của hocmon không đạt mức cần thiết để thúc đẩy sự thành thục
Điều kiện ngoại cảnh:
Mùa vụ và thời kì chiếu sáng: vụ và thời kỳ chiếu sáng là yếu tố ảnh hưởng rõ rệt tới tuổi động dục Mùa hè lợn nái hậu bị thành thục chậm hơn so với mùa thu - đông, điều đó có thể do ảnh hưởng của nhiệt độ trong chuồng nuôi gắn liền với múc tăng trọng thấp trong các tháng nóng băc Những con được chăn thả tự do thì xuất hiện thành thục sớm hơn những con nuôi nhốt trong chuồng 14 ngày (mùa xuân) và 17 ngày (mùa thu) Mùa đông thời gian chiếu sáng trong ngày thấp hơn các mùa khác trong năm, bóng tối là chậm tuổi thành thục về tính so với những biến động ánh sáng tự nhiên hoặc ánh sáng nhân tạo 12h mỗi ngày
Khí hậu và nhiệt độ cũng ảnh hưởng tới tuổi thành thục về tính của gia súc Những giống lợn nuôi ở vùng có khí hậu nhiệt đới nóng ẩm thường thành thục về tính sớm hơn những giống lợn nuôi ở vùng có khí hậu ôn đới và hàn đới
Sự kích thích của con đực cũng ảnh hưởng tới sự thành thục của lợn cái hậu bị Nếu ta để một con đực đã thành thục về tính gần ô chuồng của những con cái hậu bị thì sẽ thúc đẩy nhanh sự thành thục về tính của chúng Nếu cho
Trang 21lợn cái hậu bị tiếp xúc với đực 2 lần/ ngày, với thời gian 15-20 phút thì 83% lợn cái (ngoài 90kg) động dục lúc 165 ngày tuổi
Tuổi thành thục về tính của gia súc:
Tuổi thành thục về tính thường sớm hơn tuổi thành thục về thể vóc, nghĩa là sau khi con vật đã thành thục về tính thì vẫn tiếp tục sinh trưởng lớn lên Đây là đặc điểm cần chú ý trong chăn nuôi Theo Phạm Hữu Doanh và
cs, (1985) [3], cho rằng không nên cho phối giống ở lần động dục đầu tiên vì
ở thời kì này lợn chưa phát triển đầy đủ, chưa tích tụ được chất dinh dưỡng nuôi thai, trứng chưa chín một cách hoàn chỉnh Để đạt được hiệu quả sinh sản tốt và duy trì con cái lâu bền cần bỏ qua 1-2 chu kỳ động dục lần đầu rồi mới cho phối giống
2.2.1.3 Chu kỳ động dục
Từ khi thành thục về tính những biểu hiện tính dục của lợn được diễn
ra liên tục và có tính chu kỳ, nó chấm dứt hoàn toàn khi cơ thể con vật hết khả
Trang 22năng sinh sản (buồng trứng hết tế bào trứng) Một chu kỳ động dục của lợn dao động khoảng 18-22 ngày, trung bình là 21 ngày Lợn nái sau cai sữa 4-6 ngày sẽ động dục trở lại
Giai đoạn trước động dục: kéo dài 1-2 ngày Đây là giai đoạn đầu tiên của chu kỳ động dục Ở giai đoạn này các noãn bao phát triển mạnh, các noãn bao chín, tế bào tách trứng khỏi noãn bao Tử cung co bóp mạnh, cổ tử cung chạy ra, con vật giảm ăn, hay kêu rống, hay nhảy lên lưng con khác nhưng không cho con khác nhảy lên lưng của mình Thần kinh con vật bị kích thích, con vật có biểu hiện băn khoăn, ngơ ngác, đi lại không yên, đái dắt, kêu la (hoặc không kêu)
Buồng trứng có nang trứng phát triển, màng nhầy tử cung dày lên, tụ huyết, cổ tử cung hé mở, đỏ hồng, bóng ướt, niêm dịch nhiều, lỏng và trong suốt, dễ đứt, khó kéo dài, âm đạo đỏ hồng, ướt bóng
Giai đoạn động dục: Kéo dài từ ngày thứ 2 hoặc thứ 3 tiếp theo của giai đoạn trước Giai đoạn này dài hay ngắn tùy theo giống Lợn ngoại và lợn lai, thường kéo dài 4-5 ngày Ở giai đoạn này con vật biểu hiện hưng phấn cao
độ, phá chuồng, giảm ăn uống, kêu rống, thích nhảy lên lưng con khác và để con khác nhảy lên lưng của mình, thích gần đực, lúc gần đực luôn ở tư thế sẵn sàng chịu đực, đuôi cong lên và lệch sang một bên, hai chân sau dạng ra và hơi khụy xuống sẵn sàng chịu đực, âm hộ giảm độ sưng, hơi thâm, se lại có vết nhăn mờ, nước nhờn chảy ra, dính đục, âm đạo bớt đỏ
Giai đoạn sau động dục
Giai đoạn này kéo dài khoảng hai ngày, toàn bộ cơ thể nói chung và cơ quan sinh dục nói riêng dần trở lại trạng thái sinh lý bình thường Trên buồng trứng, thể hồng chuyển thành thể vàng, đường kính lên tới 7 - 8 mm và bắt đầu tiết progesterone Progesterone tác động lên vùng dưới đồi theo cơ chế điều hoà ngược làm giảm tiết oestrogen, từ đó làm giảm tính hưng phấn thần
Trang 23kinh, con vật dần chuyển sang trạng thái yên tĩnh, chịu ăn uống hơn, niêm mạc toàn bộ đường sinh dục tăng sinh, các tuyến ở cơ quan sinh dục ngừng tiết dịch, cơ tử cung đóng lại
Giai đoạn yên tĩnh: thường bắt đầu từ ngày sau khi rụng trứng và không được thụ tinh đến khi thể vàng tiêu biến Giai đoạn này kéo dài từ 10-12 ngày, cổ
tử cung đóng chặt lại, không có niêm dịch, lợn nái trở lại trạng thái bình thường
* Thời điểm phối giống thích hợp:
Thời gian tinh trùng lợn đực giống sống trong tử cung lợn nái khoảng
45 - 48 giờ, trong khi thời gian trứng của lợn nái tồn tại và thụ thai có hiệu quả là rất ngắn, cho nên phải tiến hành phối giống đúng lúc Thời điểm phối giống thích hợp nhất là vào giữa giai đoạn chịu đực
Đối với lợn nái ngoại, lợn lai, thời điểm phối giống tốt nhất là sau khi
có hiện tượng chịu đực 6 - 8 giờ, hoặc cho phối vào cuối ngày thứ 3 và sang ngày thứ 4 kể từ lúc bắt đầu động dục
Đối với lợn nái nội thời điểm phối giống sớm hơn lợn nái ngoại và lai 1 ngày, tức là vào cuối ngày thứ 2 và sáng ngày thứ 3 vì thời gian động dục ngắn hơn
Khi thực hiện thụ tinh nhân tạo, thấy lợn nái chịu đực buổi sớm thì cho phối vào buổi chiều, nếu có triệu chứng chịu đực buổi chiều thì sáng hôm sau cho phối, thường phối 2 lần (phối lặp) ở giai đoạn chịu đực “chặn đầu khoá đuôi” của thời kỳ rụng trứng
* Quá trình mang thai và đẻ:
Theo Nguyễn Xuân Tịnh và cs, (1996) [11], cho biết, thụ thai là sự kết hợp giữa tinh trùng và trứng tạo thành hợp tử, hay nói cụ thể hơn là quá trình đồng hóa giữa tinh trùng và trứng Đó là kết quả của sự tái tổ hợp các gen từ 2 nguồn gen khác nhau Thời gian mang thai của lợn trung bình 114 ngày Khi
Trang 24mang thai thể vàng tồn tại và tiết ra kích tố progesterone ức chế sự phát triển của bao noãn Do đó, con vật chửa sẽ không động dục và không thải trứng Thời gian chửa của lợn cái được chia ra làm hai thời kỳ:
+ Chửa kỳ 1: là thời gian lợn chửa 84 ngày đầu tiên
+ Chửa kỳ 2: là thời gian lợn chửa từ ngày chửa thứ 85 đến khi đẻ
Theo Trương Lăng, (2003) [5], trong thời kỳ lợn chửa có thể xuất hiện hai tai biến:
+ Toàn bộ các thai chết gây sảy thai
+ Một phần thai chết, các thai khác tiếp tục phát triển xen kẽ không bị đẩy ra ngoài
- Giai đoạn tiết sữa và nuôi con
Khả năng tiết sữa của lợn mẹ phụ thuộc vào mức độ dinh dưỡng, thức
ăn, giống lợn, số lượng lợn con Lượng sữa tiết ra nhiều nhất vào tuần thứ 2-3 Sự tiết sữa của lợn nái là một quá trình phản xạ do những kích thích của bầu vú gây ra, phản xạ tiết sữa của lợn nái tương đối ngắn và chuyển dần từ trước ra sau Thần kinh giữ vai trò chủ đạo trong quá trình tiết sữa Khi lợn con thúc vú, những kích thích này chuyển lên vỏ não, từ vỏ não lại truyền xuống vùng hypothalamus từ đó các luồng xung động tác động vào tuyến yên, tuyến yên tiết ra kích tố oxytocin
Sau đẻ để lợn con có đủ kháng thể trong ngày đầu sau khi sinh vì trong sữa đầu của lợn mẹ có chứa globulin giúp cho cơ thể lợn con có sức đề kháng
Quá trình sinh trưởng của lợn con từ khi mới đẻ đến khi cai sữa gặp phải thời kỳ khủng hoảng lúc sau 3 tuần tuổi Khối lượng hầu như tăng theo tuần tuổi, nhưng tỷ lệ tăng có sự biến đổi khá rõ rệt Vào 4 tuần tuổi tăng khối lượng giảm xuống vì giai đoạn đó nhu cầu dinh dưỡng của lợn con tăng nhưng do lượng sữa mẹ giảm cả về số lượng và chất lượng Vì vậy, muốn đảm bảo cho lợn sinh trưởng tốt cần bổ sung thức ăn sớm
Trang 252.2.2 Những hiểu biết về quy trình nuôi dưỡng và chăm sóc lợn nái đẻ và lợn nái nuôi con
2.2.2.1 Quy trình nuôi dưỡng và chăm sóc lợn nái đẻ
Mục đích chăn nuôi lợn nái đẻ nhằm đảm bảo cho lượn đẻ an toàn, lợn con có tỷ lệ sống cao, lợn mẹ có sức khỏe tốt, đủ khả năng tiết sữa và nuôi con Chính quá trình chăm sóc, nuôi dưỡng có vai trò rất quan trọng và trực tiếp ảnh hưởng đến sức khỏe lợn mẹ và lợn con
- Quy trình nuôi dưỡng
Theo Trần Văn Phùng và cs, (2004) [2], thức ăn dùng cho lợn nái đẻ phải là những thức ăn có giá trị dinh dưỡng cao, dễ tiêu hóa Không cho lợn nái ăn nhưng thức ăn có hệ số choán cao gây chèn ép thai gây ra đẻ non, đẻ khó, hoặc ép thai gây chết ngạt Một tuần trước khi đẻ phải căn cứ vào tình trạng sức khỏe cụ thể của lợn nái để có kế hoạch giảm dần lượng thức ăn Đối với những lợn nái có sức khỏe tốt thì một tuần trước khi đẻ giảm 1/3 lượng thức ăn, trước đẻ 2-3 ngày giảm 1/2 lượng thức ăn Đối với lợn nái yếu thì không giảm lượng thức ăn mà giảm dung tích thức ăn bằng cách cho ăn những thức ăn dễ tiêu hóa Những ngày lợn đẻ phải căn cứ vào thể trạng của lợn nái, sự phát dục của bầu vú mà quyết định chế độ dinh dưỡng cho hợp lý Ngày lợn cắn ổ đẻ, cho ăn ít thức ăn tinh (0,5kg) hoặc không cho ăn thức ăn tinh mà cho uống nước tự do Ngày lợn nái đẻ có thể không cho ăn mà chỉ cho uống nước ấm có pha muối hoặc ăn cháo loãng sau khi lợn nái đẻ 2-3 ngày không cho lợn nái ăn nhiều một cách đột ngột mà tăng từ từ đến ngày thứ 4-5 thì cho ăn đủ tiêu chuẩn Thức ăn cần chế biến tốt, dung tích nhỏ, có mùi vị thơm ngon khích thích tính thèm ăn cho lợn nái
- Quy trình chăm sóc
Việc chăm sóc lợn nái mẹ có vai trò quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất và sức khỏe của cả lợn mẹ và lợn con Theo Trần Văn Phùng và
Trang 26cs, (2004) [2], cần phải theo dõi thường xuyên sức khỏe của lợn mẹ, quan sát bầu vú và thân nhiệt của lợn mẹ liên tục trong 3 ngày đâu sau khi đẻ để phát hiện các trường hợp bất thường để có biện pháp sử lý kịp thời Trước khi lợn đẻ 10-15 ngày cần chuẩn bị đầy đủ chuồng đẻ, tẩy rửa vệ sinh toàn bộ ô chuồng, nền chuồng, sàn chuồng dành cho lợn con và lợn mẹ Yêu cầu chuồng phải khô ráo, ấm áp, sạch sẽ, có đủ ánh sáng sau khi vệ sinh tiêu độc nên để trống chuồng 3-5 ngày trước khi lợn nái vào đẻ Trước khi đẻ một tuần, cần vệ sinh lợn nái sạch sẽ, lợn nái được tắm sạch đất hoặc phân bám trên người, dùng khăn thấm nước xà phòng lau sạch bầu vú và âm hộ Làm như vậy tránh được nguy cơ lợn con mới sinh bị nhiễm khuẩn do tiếp xúc trực tiếp với lợn mẹ có vi khuẩn gây bệnh Sau khi vệ sinh sạch sẽ cho lợn nái, ta chuyển lợn mẹ từ chuồng bầu sang chuồng đẻ để lợn mẹ quen dần với chuồng mới
Trong quá trình chăm sóc lợn nái đẻ, công việc cần thiết và rất quan trọng đó là chuẩn bị ô úm cho lợn con Trần Văn Phùng và cs, (2004) [2], ô úm rất quan trọng đối với lợn con, nó có tác dụng phòng ngừa lợn mẹ đè chết lợn con, đặc biệt những ngày đầu mới sinh lợn con còn yếu ớt, mà lợn mẹ mới đẻ xong sức khỏe chưa hồi phục Ô úm tạo điều kiện để khống chế nhiệt độ thích hợp cho lợn con, đặc biệt là lợn con đẻ vào những tháng mùa đông Ngoài ra, ô
úm còn tạo điều kiện thuận lợi cho việc tập ăn sớm cho lợn con (để máng ăn vào ô úm cho lợn con vào lúc 7-10 ngày tuổi) mà không bị lợn mẹ húc đẩy và
ăn thức ăn của lợn con Vào ngày đẻ dự kiến của lợn nái cần chuẩn bị xong ô
úm cho lợn con Kích thước ô úm: 1,2m x1,5m Ô úm được cọ rửa sạch và phun sát trùng và để trông từ 3-5 ngày trước khi đón lợn con sơ sinh
2.2.2.2 Quy trình nuôi dưỡng chăm sóc lợn nái nuôi con
- Quy trình nuôi dưỡng
Theo Trần Văn Phùng và cs, (2004) [2], thức ăn cho lợn nái nuôi con phải là những thức ăn có ảnh hưởng tốt đến sản lượng và chất lượng sữa Đó
Trang 27là các loại thức ăn xanh non như các loại rau xanh, các loại củ quả như bí đỏ,
cà rốt, đu đủ thức ăn tinh tốt như gạo tấm, cám gạo, bột mỳ, các loại thức ăn
bổ sung đạm động, thực vật, các loại khoáng, vitamin không cho lợn nái nuôi con ăn các thức ăn thối mốc, biến chất, hư hỏng Thức ăn hỗn hợp cho lợn cái nuôi con dùng trong chăn nuôi công nghiệp phải đảm bảo đủ protein, năng lượng và các thành phần vitamin, khoáng đúng tiêu chuẩn quy định như năng lượng trao đổi 3100 kcal, protein 15%, Ca từ 0,9 - 1,0%, phospho 0,7% Lượng thức ăn cho lợn nái nuôi con cũng đóng vai trò quan trọng và ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng sinh trưởng và điều tiết sữa của lợn mẹ, chính vì vậy ta cần phải có một khẩu phần ăn hợp lý và đầy đủ dinh dưỡng cho lợn mẹ Theo Trần Văn Phùng và cs, (2004) [2], trong quá trình nuôi con lợn nái được cho ăn như sau:
- Đối với nái ngoại:
+ Ngày cắn ổ đẻ cho ăn ít thức ăn hỗn hợp hoàn chỉnh (0,5kg) hoặc không cho ăn và cho uống nước tự do
+ Sau ngày đẻ thứ 1, 2 và 3 cho ăn thức ăn hỗn hợp hoàn chỉnh với lượng thức ăn 1-2-3 kg tương ứng
+ Ngày nuôi thứ 4 đến ngày thứ 7: cho ăn 4 kg thức ăn hỗn hợp hoàn chỉnh/ nái/ ngày
+ Từ ngày thứ 8 đến cai sữa ta cho ăn theo công thức: Lượng thức ăn/nái/ngày = 2kg + (số con x 0,35kg/con)
+ Số bữa ăn trên ngày: 2 (sáng, chiều)
+ Nếu lợn mẹ gầy thì cho ăn thêm 0,5 kg, nái béo thì giảm 0,5kg thức
Trang 28+ Ngày cai sữa, cho lợn mẹ nhịn ăn, hạn chế uống nước
- Quy trình chăm sóc
Theo Trần Văn Phùng và cs, (2004) [2], vận động tắm nắng là điều kiện tốt giúp cho lợn nái nhanh phục hồi sức khỏe và nâng cao sản lượng sữa của lợn mẹ Do vậy sau khi lợn đẻ từ 3-7 ngày, trong điều kiện chăn nuôi có sân vận động, nếu thời tiết tốt thì có thể cho lợn nái vận động, thời gian đầu là 30 phút/ngày, sau tăng dần số giờ vận động lên Trong điều kiện chăn nuôi công nghiệp,hầu hết lợn nái đều được nhốt trong các cũi đẻ, không được vận động,
vì vậy cần chú ý đến thành phần dinh dưỡng của thức ăn, đặc biệt là khoáng và vitamin Ngoài ra yêu cầu đối với chuồng trại của lợn nái nuôi con là phải đảm bảo luôn khô ráo, không ẩm ướt, vì vậy phải vệ sinh thường xuyên hàng ngày, đặc biệt là máng ăn của lợn mẹ và lợn con Theo Trần Văn Phùng và cs, (2004) [2], chuồng nái nuôi con phải có ô úm lợn và ngăn tập ăn sớm cho lợn con Nhiệt độ chuồng nuôi thích hợp là 18- 200C, độ ẩm là 70-75%
2.2.3 Hiểu biết về bệnh viêm tử cung ở lợn nái sinh sản
* Bệnh viêm tử cung
Theo Trần Tiến Dũng và cs, (2002) [4], viêm tử cung là một quá trình bệnh lý thường xảy ra ở gia súc cái sinh sản sau đẻ Quá trình viêm phá huỷ các tế bào tố chức của các lớp hay các tầng tử cung gây rối loạn sinh sản ở gia súc cái làm ảnh hưởng lớn, thậm chí làm mất khả năng sinh sản ở gia súc cái Bệnh viêm tử cung xảy ra trên các giống lợn nội, ngoại khác nhau Lợn nái đẻ ít, lứa nhiều lứa hay đang nuôi con đều có thể mắc bệnh phụ thuộc và yếu tố vệ sinh, chăm sóc, nuôi dưỡng, trường hợp khi gia súc đẻ khó phải can thiệp bằng tay hoặc dụng cụ, niêm mạc tử cung bị xây xát hoặc tổn thương, vi khuẩn xâm nhập và phát triển gây viêm Mặt khác, một số bệnh truyền nhiễm như: sảy thai truyền nhiễm, phó thương hàn, bệnh lao
Trang 29*Nguyên nhân gây bệnh:
Bệnh thường xảy ra vào thời gian 1-10 ngày sau khi đẻ
Theo Lê Văn Năm, (1999) [7], cho rằng có rất nhiều nguyên nhân từ ngoại cảnh gây bệnh như: do thức ăn nghèo dinh dưỡng, do can thiệp đỡ đẻ bằng dụng cụ hay thuốc sản khoa sai kỹ thuật dẫn đến Muxin của chất nhày
có trong cơ quan sinh dục bị phá hủy hoặc kết tủa, kết hợp với việc chăm sóc nuôi dưỡng không hợp lý và thiếu vận động đã là chậm quá trình thu teo sinh
lý của dạ con (trong điều kiện cai sữa bình thường dạ con trở về khối lượng kích thước ban đầu khoảng 3 tuần sau đẻ) Đây là điều kiện tốt để vi khuẩn xâm nhập vào tử cung gây bệnh Biến chứng nhiễm trùng do vi khuẩn xâm nhập vào dạ con gây nên trong thời gian động đực (vì lúc đó tử cung mở) và
do thụ tinh nhân tạo sai kỹ thuật
+ Bệnh còn sảy ra đo sự bất hợp lý về dinh dưỡng và quản lý: Khẩu phần thiếu hay thừa protein, trong thời kỳ mang thai có ảnh hưởng đến viêm
tử cung Lợn nái sử dụng quá nhiều tinh bột gây đẻ khó, viêm tử cung do xây xát Thiếu khoáng chất, vitamin cung có thể ảnh hưởng đến viêm tử cung
Theo tác giả Nguyễn Xuân Bình, (2005) [1], Phạm Sỹ Lăng và cs, (2006) [6], bệnh viêm tử cung của lợn nái do các nguyên nhân sau:
+ Công tác phối giống không đúng kỹ thuật, nhất là phối giống bằng phương pháp nhân tạo, dụng cụ dẫn tinh không được vô trùng khi phối giống + Lợn nái phối giống trục tiếp, lợn đực mắc bệnh viêm bao dương vật hoặc mang vi khuẩn từ những con lợn nái khác đã bị viêm tử cung, viêm âm đạo truyền sang cho con khỏe
+ Lợn nái đẻ khó phải can thiệp bằng thủ thuật gây tổn thương niêm mạc tử cung, vi khuẩn gây nhiễm trùng, viêm tử cung kế phát
+ Lợn nái sau đẻ bị sát nhau không xử lý triệt để cũng dẫn đến viêm tử cung
Trang 30+ Do kế phát từ một số bệnh truền nhiễm như: sảy thai truền nhiễm, phó thương hàn, bệnh lao gây viêm
+ Do vệ sinh chuồng đẻ, vệ sinh lợn nái trước và sau đẻ không sạch sẽ, trong thời gian đẻ cổ tử cung mở vi sinh vật có điều kiện xâm nhập vào gây viêm Ngoài các nguyên nhân kể trên viêm tử cung còn có thể là biến chứng nhiễm trùng do vi khuẩn xâm nhập vào dạ con gây nên trong thời gian động dục (vì lúc đó cổ tử cung mở), vi khuẩn xâm nhập vào tử cung theo đường máu và viêm tử cung là một trong những triệu chứng lâm sàng chung Theo Madec.F, (1995) [14], bệnh viêm tử cung và các bệnh ở đường tiết niệu
có mối quan hệ với nhau, vi khuẩn trong nước tiểu cũng phát triển trong âm đạo và việc gây nhiễm ngược lên tử cung là rất dễ xảy ra
Theo Đoàn Thị Kim Dung và cs, (2002) [15], cho biết nguyên nhân gây
viêm tử cung là do vi khuẩn tụ cầu vàng (Staphylococus aureus), liên cầu dung huyết (streptococus hemolitica) và các loại Proteus vulgais, Klebriella, E.coli
Nhiễm khuẩn tử cung qua đường máu là do vi khuẩn sinh trưởng ở một
cơ quan nào đó có kèm theo bại huyết, do vậy có trường hợp lợn hậu bị chưa phối nhưng đã bị viêm tử cung
*Triệu chứng:
Theo Nguyễn Văn Thanh, (2007) [9], khi lợn nái bị viêm tử cung, các chỉ tiêu lâm sàng như: thân nhiệt, tần số hô hấp đều tăng Lợn bị sốt theo quy luật: Sáng sốt nhẹ 39 - 39,50C, chiều 40 - 410C Con vật kém ăn, sản lượng sữa giảm, có khi con vật cong lưng rặn như rặn đái Từ cơ quan sinh dục chảy ra niêm dịch lẫn nhiều lợn cợn, mùi hôi tanh, có màu trắng đục, hồng hay nâu đỏ Khi nằm lượng niêm dịch chảy ra nhiều hơn, trong trường hợp thai chết lưu âm đạo sưng tấy, đỏ, có chứa dịch tiết màu vàng sẫm, nâu và có mùi hôi thối Xung quanh âm hộ và mép đuôi dính bết niêm dịch, có khi niêm dịch khô đóng thành vẩy trắng, lợn nái mệt mỏi đi lại khó khăn
Trang 31* Các thể của viêm tử cung
+ Thể nhẹ gọi là viêm tử cung nhờn: Thân nhiệt bình thường, có khi hơi cao 39 - 39,50C Lợn kém ăn, có dịch tiết ra từ âm hộ 12 - 72 giờ sau đẻ, dịch lỏng có màu trắng đục hoặc xanh dạng sợi mùi hôi tanh Thể viêm này ít ảnh hưởng đến sản lượng sữa của lợn mẹ
+ Thể vừa thuộc dạng viêm tử cung mủ: Thân nhiệt cao 39,5- 400C Lợn ăn ít hoặc bỏ ăn, hay nằm lỳ Khi nằm có dịch từ âm hộ chảy ra màu vàng xen lẫn mủ trắng đục, hơi sệt, mùi tanh thối
Khi soi đường sinh dục, vùng âm đạo có dính váng mủ, niêm mạc có vùng nhạt đỏ không đều, niêm dịch chảy từ cổ tử cung ra có mùi thối
+ Thể nặng thuộc dạng viêm tử cung mủ: Thân nhiệt tăng cao
39,5-400C Lợn ủ rũ, hay nằm, bỏ ăn Dịch tiết từ âm hộ ra dạng mủ xanh vàng sệt,
có khi lẫn máu, mùi tanh thối
Niêm mạc âm đạo nhợt nhạt, nhiều mủ đặc dính lại, cổ tử cung hơi mở,
có mủ trắng đục chảy ra, mùi thối khắm Trạng thái này xuất hiện chậm 7-8 ngày sau khi lợn đẻ Bệnh làm ảnh hưởng đến sản lượng sữa
Theo Trần Tiến Dũng và cs, (2002) [4], Trần Thị Dần, (2004) [16], khi lợn nái bị viêm tử cung sẽ dẫn đến một số hậu quả chính sau:
Trang 32+ Khi lợn bị viêm tử cung dễ dẫn đến sảy thai
Lớp cơ trơn ở thành tử cung có đặc tính co thắt Khi mang thai, sự co thắt của cơ tử cung giảm đi dưới tác dụng của Progesterone, nhờ vậy thai có thể bám chặt vào tử cung
Khi tử cung bị viêm cấp tính do nhiễm trùng, tế bào lớp nôi mạc tử cung tiết nhiều Prostaglandin F2α(PGF2α), PGF2α gây phân hủy thể vàng ở buồng trứng bằng cách bám vào tế bào của thể vàng để làm chết tế bào và gây
co mạch hoặc thoái hóa các mao quản ở thể vàng nên giảm lưu lượng máu đi đến thể vàng Thể vàng bị phá hủy, không tiết Progesterone nữa, do đó hàm lượng Progesterone trong máu sẽ giảm làm tính trương lực co của cơ tử cung tăng nên gia súc cái có chửa dễ bị sảy thai
+ Lợn mẹ bị viêm tử cung bào thai cũng phát triển kém hoặc thai chết lưu Lớp nội mạc của tử cung có nhiệm vụ tiết các chất vào lòng tử cung để giúp phôi thai phát triển khi lớp nội mạc bị viêm cấp tính, lượng Progesterone giảm nên khả năng tăng sinh và tiết dịch của niêm mạc tử cung giảm, do đó bào thai nhận được ít thậm chí không nhận được dinh dưỡng từ
mẹ nên phát triển kém hoặc chết lưu
+ Sau khi sinh con lượng sữa giảm hoặc mất hẳn sữa nên lợn con trong giai đoạn theo mẹ thường bị tiêu chảy
Khi lợn nái bị nhiễm trùng tử cung, trong đường sinh dục thường có
mặt của vi khuẩn E.coli, vi khuẩn này tiết ra nội độc tố làm ức chế sự phân
tiết kích thích tố tạo sữa prolactin từ tuyến yên, do đó lợn nái ít hoặc mất hẳn sữa Lượng sữa giảm, thành phần sữa cũng thay đổi nên lợn con thường dễ bị tiêu chảy, cọi cọc
+ Lợn nái bị viêm tử cung mãn tính sẽ không có khả năng động dục trở lại Nếu tử cung bị viêm mãn tính thì sự phân tiết PGF2α giảm, do đó thể vàng vẫn tồn tại, vẫn tiếp tục tiếp Progesterone Progesterone ức chế thùy trước tuyến
Trang 33yên tiết ra LH, do đó ức chế sự phát triển của noãn bao trong buồng trứng, nên lợn nái không thể động dục trở lại được và không thải trứng được
+ Tỷ lệ phối giống không đạt tăng lên ở đàn lợn nái viêm tử cung sau khi sinh đẻ Hiện tượng viêm tử cung âm ỉ kéo dài từ lứa đẻ trước đến lứa đẻ sau là nguyên làm giảm độ mắn đẻ Mặt khác, viêm tử cung là một trong các nguyên nhân dẫn đến hội chứng MMA, từ đó làm cho tỷ lệ lợn con nuôi sống thấp Đặc biệt, nếu viêm tử cung kèm theo viêm bàng quang thì còn ảnh hưởng tới hoạt động của buồng trứng
Quá trình viêm xảy ra trong giai đoạn có chửa là do biến đổi bệnh lý trong cấu trúc của niêm mạc (teo niêm mạc, sẹo trên niêm mạc, thoái hóa niêm mạc…) dẫn đến phá vỡ hàng rào bảo vệ giữa bào thai và dạ con nên qua các chỗ tổn thương vi khuẩn cũng như các độc tố do chúng tiết ra làm cho bào thai phát triển không bình thường
* Phòng bệnh
Khâu phòng bệnh phải được đặt lên hàng đầu, nếu phòng bệnh tốt thì
có thể hạn chế hoặc ngăn chặn được dịch bệnh sảy ra Các biện pháp phòng bệnh tổng hợp được đưa lên hàng đầu, xoay quanh các yếu tố môi trường, mầm bệnh, vật chủ Do vậy, việc phòng bệnh cũng như trị bệnh phải kết hợp nhiều biện pháp khác nhau
Phòng bệnh bằng vệ sinh và chăm sóc nuôi dưỡng tốt:
Theo Trần Thị Dần, (2004) [16], bệnh xuất hiện trong một đàn lợn thường do nguyên nhân phức tạp, có thể là bệnh truyền nhiễm hoặc không truyền nhiễm hoặc có sự kết hợp của cả hai Có rất nhiều biện pháp đã được đưa ra áp dụng nhằm kiểm soát các khả năng xảy ra bệnh tật trên đàn lợn Phần lớn các biện pháp này đều nhằm làm giảm khả năng lan truyền các tác nhân gây bệnh và nâng cao sức đề kháng của đàn lợn
Trang 34Theo Trần Văn Phùng và cs, (2004) [2], từ 3-5 ngày trước khi dự kiến
đẻ, ô chuồng lợn nái đã được cọ rửa sạch, phun khử trùng bằng hóa chất như Crezin 5% hoặc bằng hóa chất khác nhằm tiêu độc khử trùng chuồng lợn nái trước khi đẻ
- Vệ sinh chuồng trại và thiết bị chăn nuôi
Chuồng trại phải đảm bảo phù hợp với từng đối tượng vật nuôi, thoáng mát mùa hè, ấm áp về mùa đông, đảm bảo cách ly với môi trường xung quanh tẩy uế chuồng trại sau mỗi lứa nuôi bằng phương pháp: rửa sạch để khô ráo sau đó khử trùng chuồng trại bằng các thuốc sát trùng và để trống chuồng ít nhất 15 ngày với vật nuôi thương phẩm , 30 ngày với vật nuôi sinh sản Với những chồng nuôi lưu cữu hoặc chuồng nuôi có vật nuôi bị truyền nhiễm, cần phải vệ sinh tổng thể và triệt để: sau khi đưa hết vật nuôi ra khỏi chuồng, xử
lý của hướng dẫn thú y, cần phun sát trùng kỹ (pha dung dịch sát trùng theo hướng dẫn khi chống dịch) toàn bộ chuồng nuôi từ mái, các dụng cụ chăn nuôi và môi trường xung quanh, để khô và dọn, rửa các chất thải rắn trong chuồng nuôi cần được thu gon để đốt hoặc ủ sinh học; chất thải lỏng cần được
xử lí trước khi ra môi trường Cần phun sát trùng 1-2 lần/tuần trong thời gian trống chuồng ít nhất trong 30 ngày Các thiết bị, dụng cụ chăn nuôi cần được rửa sạch, phơi khô, sát trùng và đưa vào kho bảo quản Vệ sinh và phun sát trùng xung quanh chuồng nuôi
Phòng bệnh bằng vaccine:
Phòng bệnh bằng vaccine là biện pháp phòng bệnh chủ động và hiệu quả nhất
Theo Nguyễn Xuân Bình, (2005) [1], vaccine là một chế phẩm sinh học
mà trong đó chứa chính mầm bệnh cần phòng chống một bệnh truyền nhiễm nào đó (bệnh này có thể là vị khuẩn, virus, độc tố hay vật liệu di truyền như ARN, ADN ) đã được làm giảm độc lực hay vô độc bằng các tác nhân vật
Trang 35lý, hóa học, sinh học hay phương pháp sinh học phân tử (vaccine thế hệ mới – vaccine công nghệ gen) Lúc đó chúng không còn khả năng gây bệnh cho đối tượng sử dụng, nhưng khi đưa vào cơ thể động vật nó sẽ gây ra đáp ứng miễn dịch làm cho động vật có miễn dịch chống lại sự xâm nhiễm gây bệnh của mầm bệnh tương ứng
Khi đưa vaccine vào cơ thể vật nuôi, vật nuôi chưa có kháng thể ngay
mà phải sau 7-21 ngày (tùy theo từng loại vaccine) mới có miễn dịch
* Điều trị bệnh
Theo Nguyễn Xuân Bình, (2005) [1], nguyên tắc điều trị bệnh là:
+ Toàn diện: phải phối hợp nhiều biện pháp như hộ lý, dinh dưỡng, dùng thuốc điều trị
+ Điều trị sớm trên cơ sở chẩn đoán đúng bệnh để dễ lành bệnh và hạn chế lây lan
+ Diệt căn bệnh chủ yếu là chữa triệu chứng
+ Tiêu diệt mầm bệnh phải đi đôi với tăng cường sức đề kháng của cơ thể, làm cho cơ thể tự nó chống lại mầm bệnh thì mới chóng khỏi, ít bị tái phát và biến chứng, miễn dịch mới lâu bền
+ Phải có quan điểm khi chữa bệnh, chỉ nên chữa những gia súc có thể chữa lành mà không giảm sức sản suất và sản phẩm Nếu quá trình chữa bệnh kéo dài tốn kém vượt quá giá trị gia súc thì không nên chữa
+ Những bệnh rất nguy hiểm cho người mà không có thuốc chữa thì không nên chữa
Theo Nguyễn Xuân Bình, (2005) [1], các biện pháp chữa bệnh truyền nhiễm là:
+ Hộ lý: cho gia súc ốm nghỉ ngơi, nhốt riêng ở chuồng có điều kiện vệ sinh tốt (thoáng mát, sạch sẽ, yên tĩnh) Theo dõi thân nhiệt, nhịp tim, hô hấp,
Trang 36phân, nước tiểu Phát hiện những biến chuyển của bệnh để kịp thời đối phó Cho gia súc ăn uống những thức ăn tốt phù hợp với tính chất của bệnh
+ Dùng kháng huyết thanh: chủ yếu là dùng chữa bệnh đặc hiệu vì vậy thường được dùng trong ổ dịch, chữa cho gia súc đã mắc bệnh Chữa bằng kháng huyết thanh là đưa vào cơ thể những kháng thể chuẩn bị sẵn, có tác dụng trung hòa mầm bệnh hoặc độc tố của chúng (huyết thanh kháng độc tố)
+ Dùng hóa dược: phần lớn hóa dược được dùng để chữa triệu chứng, một số hóa dược được dùng để chữa nguyên nhân vì có tác dụng đặc hiệu đến mầm bệnh Dùng hóa dược chữa bệnh thì phải tác động mạnh và sớm, vì vi khuẩn có thể thích ứng với liều lượng nhỏ Chúng biến đổi rất nhanh để chống lại thuốc và tính chất quen thuộc được truyền lại cho thế hệ sau Khi cần có thể dùng kết hợp nhiều loại hóa dược để tăng hiệu quả điều trị, vì nếu một loại thuốc chưa có tác dụng đến mầm bệnh thì sẽ có loại thuốc khác có tác dụng tốt hơn
+ Dùng kháng sinh: kháng sinh là những loại thuốc đặc hiệu có tác dụng ngăn cản sự sinh sản của vi khuẩn Tuy nhiên dùng kháng sinh có thể gây tiêu biến do thuốc có tính độc, do phản ứng di ứng, do một lúc tiêu diệt nhiều vi khuẩn làm giải phóng một lượng lớn độc tố, làm giảm phản ứng miễn dịch của cơ thể Việc dùng kháng sinh bừa bãi còn gây hiện tượng kháng thuốc, gây khó khăn rất lớn cho điều trị vật bệnh, và phát tán nguồn gen kháng thuốc nguồn nguy hiểm phát tán dịch bệnh khó kiểm soát Vì vậy, khi thuốc cần theo những nguyên tắc sau đây:
- Phải chuẩn đoán đúng bệnh đúng thuốc, sai thuốc sẽ chữa không khỏi bệnh mà là cho việc chuẩn đoán bệnh về sau gặp khó khăn
- Chọn loại kháng kháng sinh có tác dụng tốt nhất đối với mầm bệnh đã xác định Dùng liều cao ngay từ đầu, những lần sau có thể giảm liều lượng
Trang 37- Phải phối hợp nhiều loại kháng sinh để giảm liều lượng và độc tính của từng loại, tăng tác dụng điều trị và hạn chế hiện tượng vi khuẩn kháng thuốc
- Phải tăng cường sức đề kháng của cơ thể gia súc như nuôi dưỡng tốt,
bổ sung thêm vitamin, truyền nước sinh lý cho gia súc
*.Phương pháp phòng và trị bệnh viêm tử cung
Phòng bệnh:
Quy trình phòng bệnh viêm tử cung
Bước 1: Phối giống
Đảm bảo phối giống đúng kỹ thuật, vô trùng que phối, vệ sinh phần mông và bộ phận sinh dục sạch sẽ, tránh làm xây xát niêm mạc tử cung, nhiễm trùng đường sinh dục gây viêm Không sử dụng lợn đực bị bệnh ở đường sinh dục để thụ tinh trực tiếp hoặc khai thác tinh nhân tạo
Phòng các bệnh truyền nhiễm cho lợn nái thông qua công tác tiêm phòng vaccine theo định kỳ và thực hiện tốt công tác vệ sinh thú y
Bước 2:
Bổ sung đầy đủ dinh dưỡng trong khẩu phần ăn cho nái mang thai Chăm sóc, nuôi dưỡng thai, điều chỉnh khẩu phần ăn đối với lợn quá béo hoặc quá gầy Tránh để lợn đẻ có thể trạng quá béo hoặc quá gầy Có thể phòng bệnh viêm tử cung cho đàn lợn nái bằng quy trình phòng bệnh tổng hợp có bổ sung chế phẩm Biomin - pHD vào thức ăn
Bước 3: Vệ sinh
- Chuồng đẻ phải được vệ sinh sạch sẽ mới chuyển lợn lên
- Trước khi chuyển lợn ở chuồng bầu lên phải được vệ sinh sạch sẽ, nhất là bộ phận sinh dục
- Lợn có dấu hiệu sắp đẻ cần vệ sinh phần mông và âm hộ sạch, lau bầu
vú và sàn bằng nước sát trùng
Trang 38- Khi lợn đẻ có máu, dịch ối chảy ra nhiều cần dùng rẻ khô sạch lau nhanh chóng
- Trong khi lợn đẻ không được dùng tay móc con mà để chúng đẻ tự nhiên, trừ trường hợp đẻ khó
- Khi lợn đẻ xong phải thu gom nhau thai, đồng thời vệ sinh thường xuyên phần mông, âm hộ, bầu vú, sàn chuồng
Bước 4: Dùng thuốc
- Khi lợn đẻ được 4-6 con, tiêm một mũi Oxytocine liều 2ml/con
- Sau khi đẻ xong tiêm 1 mũi Amoxycillin LA với liều 1ml/10kg TT Bước 5: Thụt rửa
Sau khi đẻ 24h thụt vào tử cung 1000ml dung dịch boric acid 1/1000 ngày 1 lần, 3 -5ngày liền
Điều trị:
Bệnh do vi khuẩn gây ra nên cần phải xác định được vai trò của vi khuẩn gây bệnh, sự mẫn cảm của chúng với kháng sinh và hóa dược trong điều trị nhằm tiêu diệt kịp thời và triệt để vi khuẩn gây bệnh, tránh sự lây lan của chúng
Việc điều trị bệnh cần đạt được hai mục đích: Phục hồi nguyên vẹn niêm mạc tử cung và phục hồi chức năng co bóp của tử cung
Tử cung có liên quan mật thiết với các cơ quan khác, trong đó có hệ thần kinh - thể dịch Bởi vậy, điều trị bệnh viêm tử cung bao gồm điều trị cục
bộ và điều trị toàn thân Lê Văn Năm, (1999) [7]
+ Điều trị cục bộ: Bơm rửa tử cung hàng ngày 1-2 lần, thụt rửa tử cung bằng dung dịch dung dịch boric acid 1/1000, nếu sau 5 ngày không khỏi thì thụt rửa bằng bột Amoxicilin 1/40
Trang 39+ Điều trị toàn thân: Có thể dùng một số loại kháng sinh tổng hợp như: ampisep, genorfcoli, gentamycin, lincomycin, hanoxylin 10%, ampicillin… kết hợp với thuốc trợ lực: vitamin C, B-complex
Tiêm Analgin (giảm sốt 2-3 ống/ngày)
Tiêm kháng sinh:
- Cách 1: Tiêm Tetramycine, tiêm bắp liều 10-15 mg/kg, tiêm liên tục
từ 3-4 ngày, kết hợp Septotryl tiêm bắp hay tiêm tĩnh mạch 1ml/10-15 kgTT/ngày liên tục từ 3-4 ngày
- Cách 2: Dùng Tylan + Polysul tiêm bắp hay tiêm tĩnh mạch 10kgTT liên tục 3-4 ngày
1ml/5-Tiêm thuốc giảm viêm: Dectancyl, Hydrocortizone,…Nếu tiêm Hydrocortizone thì tiêm bắp 1 ml/kgTT / ngày liên tục trong 3 ngày
Tiêm thuốc trợ sức: Vitamin C; B1; B12
Tiêm thuốc tạo sữa: Thyroxineo ngày 1-2 ống liên tục trong 2-3 ngày, chỉ dùng khi nhiệt độ cơ thể hạ xuống bình thường
Theo Phạm Sỹ Lăng và cs, (2006) [6], tiêm Oxytetracylin 30mg/ kgTT dùng liên tục trong 3-4 ngày: tiêm Penicillin 50.000 UI/kgTT
Đồng thời thụt rửa âm đạo tử cung bằng Rivanol 5%, tiêm thuốc trợ sức, trợ lực (vitamin B1; vitamin C; C= Cyein)
Giới thiệu về các thuốc kháng sinh dùng trong phác đồ điều trị
Hiện nay, trên thị trường có rất nhiều loại kháng sinh có hiệu quả điều trị cao như: Vetrimoxin LA, Pendistrep, Streptomycine, Peniciline, Genta - Tylosin, Bio - D.O.G…
Tại trại sử dụng Vetrimoxin LA
- Thành phần:
+ Amoxicillin (dưới dạng muối Trihydrate) 15g
+ Tá dược vừa đủ 100ml