Áp dụng quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng và phòng trị bệnh viêm tử cung tại trại lợn Bình Minh, Phù Lưu Tế Mỹ Đức Hà Nội.Áp dụng quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng và phòng trị bệnh viêm tử cung tại trại lợn Bình Minh, Phù Lưu Tế Mỹ Đức Hà Nội.Áp dụng quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng và phòng trị bệnh viêm tử cung tại trại lợn Bình Minh, Phù Lưu Tế Mỹ Đức Hà Nội.Áp dụng quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng và phòng trị bệnh viêm tử cung tại trại lợn Bình Minh, Phù Lưu Tế Mỹ Đức Hà Nội.Áp dụng quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng và phòng trị bệnh viêm tử cung tại trại lợn Bình Minh, Phù Lưu Tế Mỹ Đức Hà Nội.Áp dụng quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng và phòng trị bệnh viêm tử cung tại trại lợn Bình Minh, Phù Lưu Tế Mỹ Đức Hà Nội.Áp dụng quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng và phòng trị bệnh viêm tử cung tại trại lợn Bình Minh, Phù Lưu Tế Mỹ Đức Hà Nội.Áp dụng quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng và phòng trị bệnh viêm tử cung tại trại lợn Bình Minh, Phù Lưu Tế Mỹ Đức Hà Nội.
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM -o0o -
NGUYỄN TUẤN ANH
Tên chuyên đề:
ÁP DỤNG QUY TRÌNH CHĂM SÓC, NUÔI DƯỠNG VÀ PHÒNG TRỊ BỆNH VIÊM TỬ CUNG CHO ĐÀN LỢN NÁI TẠI TRẠI
BÌNH MINH, PHÙ LƯU TẾ - MỸ ĐỨC - HÀ NỘI
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo: Chính quy Chuyên ngành: Thú y Khoa: Chăn nuôi Thú y Khóa học: 2013 - 2017
Thái Nguyên, năm 2017
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM -o0o -
NGUYỄN TUẤN ANH
Tên chuyên đề:
ÁP DỤNG QUY TRÌNH CHĂM SÓC, NUÔI DƯỠNG VÀ PHÒNG TRỊ BỆNH VIÊM TỬ CUNG CHO ĐÀN LỢN NÁI TẠI TRẠI
BÌNH MINH, PHÙ LƯU TẾ - MỸ ĐỨC - HÀ NỘI
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo: Chính quy Chuyên ngành: Thú y Lớp: K45 - TY - N03 Khoa: Chăn nuôi Thú y Khóa học: 2013 - 2017
Giảng viên hướng dẫn: TS Nguyễn Văn Quang
Thái Nguyên, năm 2017
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này, trước hết em xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong Khoa Chăn nuôi Thú y đã tạo điều kiện giúp đỡ
em trong suốt thời gian thực hiện đề tài Đặc biệt, em xin chân thành cảm ơn
cô giáo TS Nguyễn Văn Quang đã tận tình hướng dẫn cho em hoàn thành Khóa luận tốt nghiệp
Em xin chân thành cảm ơn cán bộ, công nhân tại trại lợn nái Nguyễn
Sỹ Bình Phù Lưu Tế - Mỹ Đức - Hà Nội đã tạo điều kiện cho em trong quá trình thực hiện đề tài
Em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến gia đình, người thân, bạn bè đã luôn ủng hộ, động viên, giúp đỡ em trong suốt thời gian học tập và thực hiện đề tài
Em xin kính chúc các thầy cô giáo luôn mạnh khỏe, hạnh phúc, thành đạt trong công tác giảng dạy và thành công trong công tác nghiên cứu khoa học
Em xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày tháng năm 20
Sinh viên
Nguyễn Tuấn Anh
Trang 4DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 2.1 Lượng thức ăn cho lợn nái ngoại mang thai (kg thức ăn tinh/nái/ngày) 13
Bảng 2.2 Một số tiêu chí phân biệt các thể viêm tử cung 22
Bảng 3.1 Lịch làm việc trong tuần 32
Bảng 3.2 Lịch sát trùng trại lợn nái 34
Bảng 3.3 Công tác phòng bệnh bằng vắc xin cho đàn lợn tại trại lợn Bình Minh - Phù Lưu Tế - Mỹ Đức - Hà Nội 37
Bảng 3.4 Công tác phòng bệnh bằng thuốc cho đàn lợn tại trại lợn Bình Minh, Phù Lưu Tế - Mỹ Đức – Hà Nội 38
Bảng 4.1 Tình hình chăn nuôi của trại năm 2015 và năm 2017 42
Bảng 4.2 Kết quả thực hiện quy trình nuôi dưỡng, chăm sóc đàn lợn 43
Bảng 4.3 Kêt quả thực hiện vệ sinh, sát trùng tại trại 44
Bảng 4.4 Kết quả phòng bệnh cho đàn lợn nái tại trại bằng vắc xin 45
Bảng 4.5 Kết quả chẩn đoán bệnh viêm tử cung qua các tháng theo dõi 46
Bảng 4.6 Kết quả điều trị bệnh viêm tử cung theo hai phác đồ điều trị 47
Bảng 4.7 Kết quả phục vụ công tác sản xuất khác 48
Trang 5: Kilogam : gam : Mililit : Nhà xuất bản STT : Số thứ tự PED : Porcine Epidemic Diarrhoea-
tiêu chảy cấp trên heo
TT : Thể trọng VAC : Vườn - Ao - Chuồng
Trang 6MỤC LỤC
Trang
LỜI CẢM ƠN i
DANH MỤC CÁC BẢNG ii
DANH MỤC CÁC TỪ, CỤM TỪ VIẾT TẮT iii
MỤC LỤC iv
Phần 1 MỞ ĐẦU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục đích và yêu cầu của đề tài 2
1.2.1 Mục đích 2
1.2.2.Yêu cầu 2
Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
2.1 Điều kiện cơ sở thực tập 3
2.1.1 Vị trí địa lý 3
2.1.2 Đặc điểm khí hậu 3
2.1.3 Cơ cấu tổ chức của trại 4
2.1.4 Thuận lợi và khó khăn của trại 5
2.2 Cơ sở tài liệu liên quan đến chuyên đề 5
2.2.1 Đặc điểm sinh lý, sinh dục của lợn nái 5
2.2.2 Những hiểu biết về chăm sóc, nuôi dưỡng lợi nái giai đoạn mang thai 9
2.2.3 Những hiểu biết về công tác phòng và trị bệnh cho lợn nái giai đoạn mang thai 15
2.3 Tổng quan các nghiên cứu trong và ngoài nước 27
2.3.1 Tổng quan các nghiên cứu trong nước 27
2.3.2 Tổng quan các nghiên cứu ngoài nước 29
Trang 7Phần 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 31
3.1 Đối tượng nghiên cứu 31
3.2 Địa điểm và thời gian tiến hành 31
3.3 Nội dung thực hiện 31
3.4 Các chỉ tiêu theo dõi và phương pháp thực hiện 31
3.4.1 Các chỉ tiêu theo dõi 31
3.4.2 Phương pháp thực hiện 31
3.4.3 Quy trình xuất bán lợn 41
Phần 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 42
4.1 Kết quả đánh giá tình hình chăn nuôi tại trại 42
4.2 Kết quả thực hiện quy trình nuôi dưỡng và chăm sóc đàn lợn 42
4.3 Kết quả thực hiện quy trình phòng bệnh tại trại 44
4.3.1 Kết quả phòng bệnh bằng phương pháp vệ sinh, sát trùng tại trại 44 4.3.2 Kết quả phòng bệnh cho đàn lợn nái tại trại bằng vắc xin 45
4.4 Kết quả chẩn đoán và điều trị bệnh viêm tử cung cho đàn lợn nái nuôi tại trại Bình Minh, Phù Lưu Tế – Mỹ Đức – Hà Nội 46
4.4.1 Kết quả chẩn đoán bệnh bệnh viêm tử cung tại trại 46
4.4.2 Kết quả điều trị bệnh viêm tử cung tại trại 47
4.5 Kết quả phục vụ công tác sản xuất khác 48
Phần 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 50
5.1 Kết luận 50
5.2 Đề nghị 52
TÀI LIỆU THAM KHẢO
MỘT SỐ HÌNH ẢNH TRONG QUÁ TRÌNH THỰC TẬP
Trang 8dễ bị các loại vi khuẩn xâm nhập như Streptococcus, Staphylococcus,
E.coli… gây nên một số bệnh sinh sản làm giảm khả năng sinh sản của lợn,
ảnh hưởng tới việc tăng số lượng lợn, gây thiệt hại kinh tế lớn Vì vậy, các bệnh sinh sản ở lợn nái ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng đàn lợn giống nói riêng, đồng thời ảnh hưởng đến năng suất, chất lượng và hiệu quả của toàn ngành chăn nuôi lợn nói chung
Để góp phần giảm thiểu thiệt hại về kinh tế và góp phần vào việc chăm sóc, nuôi dưỡng, phòng, trị bệnh cho lợn nái tốt hơn, chúng tôi tiến hành thực
hiện đề tài : “ Áp dụng quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng và phòng trị
bệnh viêm tử cung tại trại lợn Bình Minh, Phù Lưu Tế - Mỹ Đức - Hà Nội ”
Trang 91.2 Mục đích và yêu cầu của đề tài
1.2.1 Mục đích
- Nắm được tình hình chăn nuôi tại trại lợn Bình Minh, xã Phù Lưu Tế, huyện Mỹ Đức, tp Hà Nội
- Nắm được quy trình chăm sóc lợn nái sinh sản
- Nắm được các loại thức ăn dành cho lợn nái mang thai, khẩu phần ăn
và cách cho lợn nái ăn qua từng giai đoạn mang thai
- Nắm được các bệnh hay xảy ra đối với đàn lợn nái và phương pháp phòng trị bệnh hiệu quả nhất
1.2.2.Yêu cầu
- Đánh giá tình hình chăn nuôi tại trại lợn Bình Minh, xã Phù Lưu Tế, huyện Mỹ Đức, tp Hà Nội
- Áp dụng quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng cho đàn lợn nái nuôi tại trại
- Xác định tình hình nhiễm bệnh trên đàn lợn nái và áp dụng quy trình chăm sóc phòng trị bệnh
Trang 10Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Điều kiện cơ sở thực tập
2.1.1 Vị trí địa lý
Trại lợn Bình Minh được xây dựng năm 2008, là trại gia công của Công
ty cổ phần CP Việt Nam với quy mô 1200 nái bố mẹ Trại được xây dựng tại
xã Phù Lưu Tế, huyện Mỹ Đức, Hà Nội trên một cánh đồng rộng lớn có địa hình tương đối bằng phẳng với diện tích là 10,2 ha
Xã Phù Lưu Tế nằm ở phía Đông Bắc huyện Mỹ Đức - Hà Nội, cách thị trấn Vân Đình 12 km về phía Nam Có địa giới như sau: phía Đông giáp với
xã Phù Xá, phía Tây giáp với xã Xuy Xá, phía Nam giáp với thị trấn Đại Nghĩa, phía Bắc giáp với xã Hòa Xá của huyên Ứng Hòa
Xã Phù Lưu Tế có địa hình tương đối bằng phẳng với tổng diện tích 6,71km2 Đất đai ở đây chủ yếu sử dụng cho sản xuất nông nghiệp với 318,366ha (chiếm 47,45%), đất phi nông nghiệp là 333,82 ha (chiếm 49,75%), đất chưa sử dụng là 18,81 ha (chiếm 2,8%) Mặt khác, cơ cấu đất đa dạng nên rất thuận lợi cho việc phát triển nhiều loại hình kinh tế khác nhau Giao thông ở đây khá phát triển, thuận tiện cho việc đi lại của người dân địa phương, giúp thúc đẩy mạnh quá trình giao lưu buôn bán giữa người dân ở đây với bên ngoài
2.1.2 Đặc điểm khí hậu
Xã Phù Lưu Tế, huyên Mỹ Đức, Hà Nội nằm trong khu vực Bắc bộ, nên
có khí hậu mang tính chất chung của khí hậu miền Bắc Việt Nam đó là khí
hậu nhiệt đới gió mùa:
Trang 11- Nhiệt độ trung bình trong năm là 21oC - 23oC, mùa nóng tập trung vào tháng 6 đến tháng 8 Do ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc và gió mùa Đông Nam nên có sự chênh lệch về nhiệt độ trung bình giữ các mùa
- Độ ẩm: xã Phù Lưu Tế là xã nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa, lạnh
về mùa đông, nóng ẩm về mùa Hè Độ ẩm không khí trung bình hàng năm là 82%, độ ẩm cao nhất là 88%, thấp nhất là 67%
- Lượng mưa hàng năm cao nhất là 2.157 mm, thấp nhất là 1.060 mm, trung bình là 1.567 mm, mưa tập trung chủ yếu từ tháng 6 đến tháng 9 trong năm
- Về chế độ gió: gió mùa Đông Nam thổi từ tháng 3 đến tháng 10, gió mùa Đông Bắc thổi từ tháng 11 đến tháng 2 năm sau
Nguồn: trạm khí tượng thủy văn huyện Mỹ Đức năm 2016
2.1.3 Cơ cấu tổ chức của trại
Cơ cấu của trại được tổ chức như sau:
Trang 122.1.4 Thuận lợi và khó khăn của trại
- Trang thiết bị, vật tư, hệ thống chuồng trại đã cũ, có phần bị hư hỏng
- Số lượng lợn nhiều, lượng nước thải lớn, việc đầu tư cho công tác xử lý chất thải của trại còn nhiều khó khăn
- Giá cả thịt trong ngành chăn nuôi nói chung và chăn nuôi lợn nói riêng trong thời gian vừa qua có những biến động lớn, gây ảnh hưởng tới đầu ra của thịt lợn, làm cho nghành chăn nuôi lợn gặp khó khăn
2.2 Cơ sở tài liệu liên quan đến chuyên đề
2.2.1 Đặc điểm sinh lý, sinh dục của lợn nái
2.2.1.1 Sự thành thục về tính và thể vóc
Sự thành thục về tính:
Tuổi thành thục về tính là tuổi mà con vật bắt đầu có phản xạ tính dục và
có khả năng sinh sản Khi gia súc đã thành thục về tính, bộ máy sinh dục đã
Trang 13phát triển hoàn thiện, con vật bắt đầu xuất hiện các phản xạ về sinh dục Con cái có hiện tượng động dục, con đực có phản xạ giao phối
Sự thành thục về tính của lợn sớm hay muộn phụ thuộc vào: giống, chế
độ chăm sóc, nuôi dưỡng, khí hậu, chuồng trại
- Giống: các giống khác nhau thì thành thục về tính cũng khác nhau: những giống thuần hóa sớm hơn thì tính thành thục sớm hơn những giống thuần hóa muộn, những giống có tầm vóc nhỏ thường thành thục sớm hơn những giống có tầm vóc lớn
Theo Hughes và Jemmes (1996) [20] thì có đến 83% lợn nái hậu bị có khối lượng cơ thể trên 90 kg động dục lúc 165 ngày tuổi nếu được tiếp xúc với đực giống 2 lần/ngày, 20 - 25 phút/lần
- Chế độ dinh dưỡng: Theo John Nichl (1992) [9], chỉ rõ Chế độ dinh dưỡng ảnh hưởng rất lớn đến tuổi thành thục về tính của lợn cái Thường những lợn được chăm sóc và nuôi dưỡng tốt thì tuổi thành thục về tính sớm hơn những lợn được nuôi trong điều kiện dinh dưỡng kém, lợn nái được nuôi trong điều kiện dinh dưỡng tốt sẽ thành thục ở độ tuổi trung bình 188,5 ngày (6 tháng tuổi) với khối lượng cơ thể là 80 kg và nếu hạn chế thức ăn thì sự thành thục về tính sẽ xuất hiện lúc 234,8 ngày (trên 7 tháng tuổi) và khối lượng cơ thể là 48,4 kg Dinh dưỡng thiếu làm chậm sự thành thục về tính là
do sự tác động xấu lên tuyến yên và sự tiết kích tố hướng dục, nếu thừa dinh dưỡng cũng ảnh hưởng không tốt tới sự thành thục là do sự tích luỹ mỡ xung quanh buồng trứng và cơ quan sinh dục làm giảm chức năng bình thường của chúng, mặt khác do béo quá ảnh hưởng tới các hormon oestrogen và progesterone trong máu làm cho hàm lượng của trong trong cơ thể không đạt mức cần thiết để thúc đẩy sự thành thục
- Mùa vụ và thời kỳ chiếu sáng: Theo Dwane và cs, 1992 [14] mùa vụ và thời kỳ chiếu sáng là yếu tố ảnh hưởng rõ rệt tới tuổi động dục Mùa hè lợn
Trang 14nái hậu bị thành thục chậm hơn so với mùa thu - đông, điều đó có thể do ảnh hưởng của nhiệt độ trong chuồng nuôi gắn liền với mức tăng trọng thấp trong các tháng nóng bức Những con được chăn thả tự do thì xuất hiện thành thục sớm hơn những con nuôi nhốt trong chuồng 14 ngày (mùa xuân) và 17 ngày (mùa thu) Mùa đông, thời gian chiếu sáng trong ngày thấp hơn so với các mùa khác trong năm, bóng tối còn làm chậm tuổi thành thục về tính so với những biến động ánh sáng tự nhiên hoặc ánh sáng nhân tạo 12 giờ mỗi ngày
- Tuổi thành thục về tính của gia súc:
Tuổi thành thục về tính thường sớm hơn tuổi thành thục về thể vóc, nghĩa là sau khi con vật đã thành thục về tính thì vẫn tiếp tục sinh trưởng lớn lên Đây là đặc điểm cần chú ý trong chăn nuôi Theo Phạm Hữu Doanh và Lưu Kỷ, 2003 [6] cho rằng: Không nên cho phối giống ở lần động dục đầu tiên vì ở thời kỳ này cơ thể lợn chưa phát triển đầy đủ, chưa tích tụ được chất dinh dưỡng nuôi thai, trứng chưa chín một cách hoàn chỉnh Để đạt được hiệu quả sinh sản tốt và duy trì con cái lâu bền cần bỏ qua 1 - 2 chu kỳ động dục lần đầu rồi mới cho phối giống
Sự thành thục về thể vóc:
Theo Nguyễn Đức Hùng và cs, 2003 [8] tuổi thành thục về thể vóc là tuổi có sự phát triển về ngoại hình và thể chất đạt mức độ hoàn chỉnh, tầm vóc
ổn định Tuổi thành thục về thể vóc thường chậm hơn so với tuổi thành thục
về tính Thành thục về tính được đánh dấu bằng hiện tượng động dục lần đầu tiên Lúc này sự sinh trưởng và phát dục của cơ thể vẫn còn tiếp tục, trong giai đoạn lợn thành thục về tính mà ta cho giao phối ngay sẽ không tốt, vì lợn
mẹ có thể thụ thai nhưng cơ thể mẹ chưa đảm bảo cho bào thai phát triển tốt, nên chất lượng đời con kém, đồng thời cơ quan sinh dục, đặc biệt là xương chậu vẫn còn hẹp dễ gây hiện tượng khó đẻ Điều này ảnh hưởng đến năng suất sinh sản của lợn nái sau này Do đó không nên cho phối giống quá sớm
Trang 15Đối với lợn cái nội khi được 7 - 8 tháng tuổi khối lượng đạt 40 - 50 kg nên cho phối, đối với lợn ngoại khi được 8 - 9 tháng tuổi, khối lượng đạt 100 - 110kg mới nên cho phối
2.2.1.2 Chu kỳ động dục
Chu kỳ động dục là một quá trình sinh lý phức tạp sau khi toàn bộ cơ thể
đã phát triển hoàn hảo, cơ quan sinh dục không có bào thai và không có hiện tượng bệnh lý thì bên trong buồng trứng có quá trình phát triển của noãn bao, noãn bao thành thục, trứng chín và thải trứng Song song với quá trình thải trứng thì toàn bộ cơ thể nói chung đặc biệt là cơ quan sinh dục có hàng loạt các biến đổi về hình thái cấu tạo và chức năng sinh lý Tất cả các biến đổi đó được lặp đi, lặp lại có tính chất chu kỳ nên gọi là chu kỳ tính
Theo Nguyễn Thiện và Nguyễn Tấn Anh,1993[16], chu kỳ tính của lợn nái thường diễn ra trong phạm vi 19 - 21 ngày Thời gian động dục thường kéo dài khoảng 3 - 4 ngày (lợn nội) hoặc 4 - 5 ngày (lợn lai, lợn ngoại), và được chia làm ba giai đoạn: giai đoạn trước khi chịu đực (bắt đầu), giai đoạn chịu đực (phối giống), giai đoạn sau chịu đực (kết thúc)
- Giai đoạn trước khi chịu đực: lợn nái kêu rít, âm hộ xung huyết, chưa cho phối và lợn chưa chịu đực Thời gian rụng trứng khi có hiện tượng trên đối với lợn ngoại và lợn nái lai là 35 - 40h, với lợn nội là 25 - 30h
- Giai đoạn chịu đực: lợn kém ăn, mê ì, lợn đứng yên khi ấn tay lên lưng gần mông, âm hộ giảm độ sưng, nước nhờn chảy ra, dính, đục, đứng yên khi
có đực đến gần và cho đực nhảy Giai đoạn này kéo dài 2 ngày, nếu được phối giống lợn sẽ thụ thai, lợn nội có thời gian ngắn hơn 28-30h
- Giai đoạn sau chịu đực: lợn trở lại bình thường, âm hộ giảm độ nở, đuôi cụp và không chịu đực
Trang 16Thời điểm phối giống thích hợp
Theo Nguyễn Thiện và cs, 1993[16] trứng rụng tồn tại trong tử cung 3h và tinh trùng sống trong âm đạo lợn cái 30 - 48h Thời điểm phối giống thích hợp nhất đối với lợn nái ngoại và lợn nái lai cho phối vào chiều ngày thứ 3 và sáng ngày thứ 4, tính từ lúc bắt đầu động dục Đối với lợn nái nội hơn một ngày vào cuối ngày thứ 2 và sáng ngày thứ 3 do thời gian động dục ở lợn nái nội ngắn hơn Thời điểm phối giống có ảnh hưởng đến tỷ lệ đậu thai
2-và sai con Phối sớm hoặc phối chậm đều đạt kết quả kém nên cho nhảy kép hoặc thụ tinh nhân tạo kép vào thời điểm tối ưu
2.2.2 Những hiểu biết về chăm sóc, nuôi dưỡng lợi nái giai đoạn mang thai
2.2.2.1 Những hiểu biết về chăm sóc và quản lý lợn nái giai đoạn mang thai
Vấn đề quan trọng nhất trong công tác chăm sóc , quản lý lợn nái giai đoạn mang thai đó là: phòng ngừa sảy thai, nghĩa là cần phải làm tốt công tác bảo vệ thai, làm cho thai sinh trưởng và phát dục bình thường, tránh các tác động cơ giới gây đẻ non hoặc sảy thai, nhất là trong giai đoạn mang thai ở kỳ thứ II
Những nguyên nhân gây sảy thai có thể là: nền chuồng hoặc sân chơi không bằng phẳng, mấp mô, làm cho lợn bị trượt ngã, cửa ra vào quá nhỏ làm cho lợn chen lấn xô nhau, do đánh đuổi lợn quá gấp, do tắm nước quá lạnh hoặc quá đột ngột,
Vận động
Trong điều kiện chăn nuôi có bãi chăn thả thì đối với lợn nái mang thai
kỳ I chú ý cho lợn nái vận động, nhất là đối với những lợn nái quá béo Thực
tế đac chứng minh rằng, ở một cơ sử chăn nuôi khó khăn về mặt tài chính, tiêu chuẩn và khẩu phần ăn cho lợn còn thấp, nhưng nếu chú ý chăn thả nhiều, được vận động hợp lý, kết hợp với một số thức ăn mà lợn tự tìm kiếm được sẽ làm cho lợn mẹ khỏe mạnh, thai sinh trưởng và phát triển tốt, lợn con có sức sống cao
Trang 17Thời gian vận động hợp lý là 1 - 2 lần/ngày với 60 - 90 phút/lần Lợn nái mang thai ở kỳ II thì hạn chế vận động, trước khi đẻ 1 tuần chỉ cho lợn đi lại trong sân
Chú ý: Khi thời tiết xấu và những nơi có địa hình không bằng phẳng, nhiều rãnh không cho lợn vận động Trước khi vận động nên cho lợn uống nước đầy đủ để tránh lợn không uống nước bẩn ở nơi vận động đó
Tắm chải
Tắm trải cho lợn mang thai là rất cần thiết, có tác dụng làm sạch da, thong lỗ chân lông để tăng cường trao đổi chất, tuần hoàn, gây cảm giác dễ chịu, lợn cảm thấy thoải mái kích thích tăng tính thèm ăn, phòng chống bệnh
ký sinh trùng ngoài da Ngoài ra còn tạo điều kiện gần gũi giữa người và lợn nái để thuận tiện cho việc nuôi dưỡng và chăm sóc lợn nái khi đẻ Việc tắm cho lợn nái giai đoạn mang thai cần được tiến hành hằng ngày, đặc biệt trong mùa hè nóng bức, ngoài các tác dụng kể trên còn có tác dụng chống nóng cho lợn nái
Chuồng trại
Chuồng trại phải đảm bảo đúng quy định cho lợn nái mang thai, theo từng thời kỳ Mật độ nhốt: mang thai kỳ I mỗi ô từ 3 - 5 con, mang thai kỳ II mỗi ô nhốt 1 con Trong chăn nuôi công nghiệp ở giai đoạn mang thai kỳ II có thể nhốt mỗi con một ô Trước khi đẻ 1 tuần chuyển lợi nái mang thai lên chuồng đẻ
Yêu cầu chuồng trại phải đảm bảo vệ sinh thú y, khô ráo thoáng mát về mùa hè và ấm áp về mùa đông
Cần tạo không khí yên tĩnh, thoải mái cho lợn nái nghỉ ngơi dưỡng thai Không gây tiếng ồn xáo trộn không cần thiết có ảnh hưởng đến lợn
Mỗi nái mang thai có một thẻ theo dõi về tình hình mang thai như: ngày phối, ngày đẻ dự kiến, lứa đẻ, những biến cố xảy ra trong quá trình mang thai, nguy cơ sảy thai, tỷ lệ chết thai, để có biện pháp xử lý đề phòng
Trang 18 Công tác thú y đối với lợn nái mang thai
Từ 3 - 5 ngày trước ngày đẻ dự kiến, ô chuồng lợn nái cần được cọ rửa sạch, phun sát trùng bằng thuốc sát trùng Crezin 5% hoặc bằng loại thuốc sát trùng khác nhằm tiêu độc khử trùng chuồng lợn nái trước khi đẻ
Trước đẻ 10 ngày cần tẩy nội ngoại ký sinh trùng bằng cách trộn vào thức ăn hoặc tiêm Có thể sử dụng IVOMEXC liều 1ml cho 33 kgTT tiêm dưới da hoặc COFAVIT 500, liều 4 ml/nái tiêm bắp
Hằng ngày quan sát phát hiện những biểu hiện không bình thường của lợn, kiểm tra sức khỏe, đo thân nhiệt xem lợn có sốt nóng không
Công tác tiêm phòng:
- Tiêm phòng định kỳ các loại vắc xin như: Dịch tả, Tụ - Dấu, Lepto 2 lần/nái/năm Chú ý không tiêm phòng cho lợn nái những loại vắc xin trên khi lợn nái mang thai ở giai đoạn từ sau khi phối đến 60 ngày sau phối trừ trường
hợp có dịch bệnh xảy ra
- Quy trình tắm ghẻ: thường xuyên phát hiện ghẻ để điều trị kịp thời Ngoài ra trước ngày đẻ dự kiến 14 ngày cần phải được tắm ghẻ và sau đó 1 tuần tắm lại lần 2 Đây là điều kiện bắt buộc để đề phòng lợn mẹ bị ghẻ lây
sang lợn con ngay từ khi sơ sinh
- Cần tiêm vắc xin E coli cho lợn nái mang thai vào lúc 6 tuần và 2 tuần
trước đẻ, liều lượng 2 ml/con tiêm bắp
2.2.2.2 Những hiểu biết về chăm sóc lợn nái giai đoạn mang thai
Cần cung cấp đủ dinh dưỡng cho lợn mái mang thai để đáp ứng nhu cầu cho sự phát triển bào thai, nhu cầu duy trì cho bản thân con mẹ và tích lũy một phần cho sự tiết sữa nuôi con sau này Riêng đối với nái tơ còn cần thêm dinh dưỡng để cho bản thân tiếp tục lớn lên
Giai đoạn chửa kỳ I, II dùng khẩu phần có tỷ lệ protein là 13 - 14%, năng lượng trao đổi không dưới 2900 Kcal/kg thức ăn hỗn hợp Nhưng ở giai đoạn
Trang 19II mức ăn cần tăng từ 15 - 20% so với giai đoạn mang thai kỳ I, bào thai chưa phát triển mạnh vì vậy nhu cầu dinh dưỡng cho lợn nái giai đoạn này là để duy trì cơ thể, một phần rất nhỏ để nuôi thai Giai đoạn chửa kỳ II, tốc độ phát triển của bào thai rất nhanh, vì vậy cần cung cấp chất dinh dưỡng cho bào thai
ở cuối kỳ này để lợn con sinh ra đạt khối lượng sơ sinh theo yêu cầu của từng giống Đối với lợn Landrace có khối lượng sơ sinh khoảng 1,4 kg/con, lợn Yorkshire có khối lượng sơ sinh khoảng 1,3 kg/con, lợn Móng Cái khoảng 0,5
- 0,7 kg/con
Khi xác định lượng thức ăn cho lợn nái mang thai trong một ngày cần chú ý các yếu tố sau: Giống và khối lượng cơ thể lợn nái, giai đoạn mang thai, thể trạng nái, tình trạng sức khỏe của lợn nái, nhiệt độ môi trường và chất lượng thức ăn Ví dụ: lợn nái mang thai kỳ II cho ăn nhiều hơn nái mang thai
kỳ I, nái mang thai gầy cho ăn nhiều hơn so với nái bình thường, vào mùa đông khi nhiệt độ dưới 150
C thì cho lợn ăn nhiều hơn 0,3 - 0,5 kg thức ăn so với nhiệt độ chuồng là 25 - 300C để tăng khả năng chống rét cho lợn
Đối với lợn nái mang thai lần đầu, có thể cho ăn tăng từ 10 - 15% vì ngoài dinh dưỡng nuôi thai cần đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng cho phát triển cơ thể con nái
Đối với lợn nái sau khi tách con, cần tăng thức ăn để tăng số trứng rụng
sẽ làm tăng số con đẻ ra trên lứa Thời gian cho ăn tăng phụ thuộc vào tuổi cai sữa cho lợn con, nếu cai sữa từ 21 - 28 ngày cho ăn tăng từ 8 - 10 ngày, nếu cai sữa lúc 35 ngày thì cho ăn tăng khoảng 3 - 7 ngày Lượng thức ăn cho ăn còn phụ thuộc vào thể trạng con mẹ, nếu thể trạng gầy cho ăn nhiều hơn, nếu béo cho ăn như lợn có thể trạng bình thường
Đối với lợn nái nội có khối lượng khoảng 65 - 80 kg/con, trong một ngày nái mang thai kỳ I cho ăn 1,1 - 1,2 kg/con thức ăn tinh và 1 - 2 kg/con thức ăn
Trang 20xanh Giai đoạn chửa kỳ II cho ăn tăng thêm khoảng 20 - 25% so với lợn nái chửa kỳ I, mức cho ăn từ 1,4 - 1,5 kg thức ăn tinh
Lợn nái đang mang thai cần hạn chế thức ăn nhiều tinh bột cho ăn thêm rau xanh Lợn ăn rau xanh ngoài việc bổ sung thêm vitamin còn có tác dụng
độ choán để lợn không có cảm giác đói Trong trường hợp không có điều kiện cho ăn rau xanh thì cần bổ sung đầy đủ các nguyên tố khoáng và vitamin để tăng quá trình chuyển hóa thức ăn chống táo bón Trước khi đẻ 1 tuần cần giảm thức ăn đạm để phòng tránh bệnh sưng vú do căng sữa sau đẻ
Số bữa cho ăn trong ngày: Cho ăn ngày 2 bữa sáng – chiều, cho ăn thức
ăn tinh trước rau xanh cho ăn sau Cần cung cấp đủ nước uống sạch cho lợn nái đang mang thai
Bảng 2.1 Lƣợng thức ăn cho lợn nái ngoại mang thai
Từ phối giống đến 21 ngày tuổi 2,5 2,0 1,5 + rau xanh
Từ 22 - 84 ngày sau phối 2,5 2,0 1,5 + rau xanh
Từ 111 - 112 ngày sau phối 2,0 2,0 2,0
Nguồn thức ăn cho lợn nái mang thai: Nếu là chăn nuôi công nghiệp chúng ta sử dụng thức ăn tinh hỗn hợp và bổ sung thêm rau xanh càng tốt, một ngày từ 3 - 4 kg rau xanh/nái mang thai kỳ I và từ 2 - 3 kg/nái mang thai
Trang 21kỳ II Đối với lợn nái nuôi theo phương thức nhỏ, tận dụng các loại thức ăn có sẵn như: cám gạo, ngô, bột sắn, đậu tương hoặc phối trộn với các loại thức ăn đậm đặc theo tỷ lệ thích hợp
Thức ăn của lợn nái mang thai yêu cầu phối trộn nhiều loại thức ăn, mùi
vị thơm ngon, không bị mốc hỏng, thức ăn có phẩm chất tốt
Gần đến thời gian đẻ cần giảm lượng thức ăn nhưng vẫn đảm bảo nhu cầu dinh dưỡng bằng cách cho ăn những loại thức ăn có giá trị dinh dưỡng cao
Không cho lợn nái ăn các loại thức ăn có độc, thức ăn bị ôi thiu, mốc, các loại chất kích thích dễ gây sảy thai như lá thầu dầu, khô dầu bông, hoặc bổng bã rượu Không nên sử dụng thức ăn nhiều khô dầu cho lợn nái mang thai, sẽ làm cho cơ bắp và mỡ lợn con biến tính, lợn con đẻ ra yếu, tỷ lệ nuôi sống thấp
Không cho lợn nái mang thai ăn quá nhiều thức ăn vào 35 ngày đầu sau phối giống có chửa
Ảnh hưởng của chế độ ăn không đúng đối với lợn nái
Cho lợn nái ăn quá nhiều
Về mặt kinh tế: Lãng phí thức ăn, giảm lợi nhuận chăn nuôi
Về mặt kỹ thuật: Lợn nái sẽ béo lên, tỷ lệ chết phôi cao đặc biệt giai đoạn 35 ngày sau phối giống Chân lợn mẹ yếu, dễ đè chết con trong giai đoạn nuôi con Tiết sữa kém vì tuyến mỡ chèn ép tuyến sữa Lợn nái béo thường đẻ khó, đẻ kéo dài
Cho ăn thiếu so với nhu cầu
Lợn nái mang thai sẽ gầy dẫn đến thể chất kém, giảm sức đề kháng với bệnh tật
Không đủ dinh dưỡng dự trữ cho kỳ tiết sữa dẫn đến năng suất sữa thấp, lợn con còi cọc, tỷ lệ nuôi sống thấp
Trang 22Thời gian động dục trở lại sau khi tách con kéo dài làm giảm số lứa trên năm và tăng thêm chi phí về thức ăn Tỷ lệ hao mòn lợn mẹ cao dẫn đến giảm thời gian khái thác do sớm bị loại thải
2.2.3 Những hiểu biết về công tác phòng và trị bệnh cho lợn nái giai đoạn mang thai
2.2.1.1 Phòng bệnh
Như ta đã biết „„Phòng b ệnh hơn chữa b ệnh‟‟‚ nên khâu phòng b ệnh được đặt lên hàng đầu, nếu phòng bệnh tốt thì có thể h ạn chế hoặc ngăn chặn được bệnh xảy ra Các biện pháp phòng bệnh tổng hợp được đưa lên hàng đầu, xoay quanh các yếu tố môi trường , mầm b ệnh, vật chủ Do vây ̣ vi ệc phòng bệnh cũng như trị bệnh phải kết hợp nhiều biện pháp khác nhau
- Phòng bệnh bằng vệ sinh và chăm sóc nuôi dưỡng tốt:
Theo Nguyễn Ngọc Phụng (2005) [17] bệnh xuất hiện trong một đàn lợn thường do nguyên nhân phức tạp, có thể là bệnh truyền nhiễm, hoặc không truyền nhiễm hoặc có sự kết hợp cả hai Có rất nhiều biện pháp đã được đưa
ra áp dụng nhằm kiểm soát các khả năng xảy ra bệnh tật trên đàn lợn Phần lớn các biện pháp này đều nhằm làm giảm khả năng lan truyền các tác nhân gây bệnh và nâng cao sức đề kháng của đàn lợn
Theo Lê Văn Tạo và cs (1993) [13], vi khuẩn E coli gây bệnh ở lợn là vi
khuẩn tồn t ại trong môi trường đường tiêu hoá của v ật chủ Khi môi trường quá ô nhi ễm do vê ̣sinh chuồng tr ại kém , nước uống thức ăn bi ̣nhi ễm vi khuẩn, điều kiện ngoại cảnh thay đổi, lợn giảm sức đề kháng dễ bi ̣cảm nhi ễm
trong phòng bệnh Trong chăn nuôi việc đảm bảo đúng quy trình kỹ thu ật là điều rất cần thiết , chăm sóc nuôi dưỡng tốt sẽ t ạo ra những gia súc khoẻ mạnh, có khả năng chống đỡ bệnh tật tốt và ngược lại Ô chuồng lợn nái phải được vê ̣sinh tiêu đ ộc trước khi vào đẻ Nhiệt độ ̣trong chuồng phải đảm bảo
Trang 2327 - 300C đối với lợn sơ sinh và 28 - 300
C với lợn cai sữa Chuồng phải luôn khô ráo, không thấm ướt Việc giữ gìn chuồng trại sạch sẽ kín, ấm áp vào mùa đông và đầu xuân Nên dùng các thiết bị sưởi điện hoặc đèn hồng ngoại trong những ngày thời tiết lạnh ẩm để đề phòng bệnh lợn con phân trắng mang laị hiêu ̣ quả cao trong chăn nuôi
Theo Trần Văn Phùng và cs ( 2004) [18], từ 3 – 5 ngày trước dự kiến đẻ,
ô chuồng lợn nái đã được cọ rửa sạch, phun khử trùng bằng hóa chất như Crezin 5% hoặc bằng loại hóa chất khác nhằm tiêu độc khử trùng chuồng lợn nái trước khi đẻ
- Vệ sinh chuồng trại và thiết bị chăn nuôi
Chuồng trại phải đảm bảo phù hợp với từng đối tượng vật nuôi, thoáng mát mùa hè, ấm áp mùa đông, đảm bảo cách ly với môi trường xung quanh Tẩy uế chuồng trại sau mỗi lứa nuôi bằng phương pháp: Rửa sạch, để khô sau
đó phun sát trùng bằng các loại thuốc sát trùng và trống chuồng ít nhất 15 ngày với vật nuôi thương phẩm, 30 ngày đối với vật nuôi sinh sản Với những chuồng nuôi lưu cữu hoặc chuồng nuôi có vật nuôi bị bệnh truyền nhiễm, cần
phải vệ sinh tổng thể và triệt để: Sau khi đưa hết vật nuôi ra khỏi chuồng, xử
lý theo hướng dẫn của thú y, cần phun sát trùng kỹ (pha dung dịch sát trùng
và phun theo hướng dẫn khi chống dịch) toàn bộ chuồng nuôi từ mái, các dụng cụ và môi trường xung quanh, để khô và dọn, rửa Các chất thải rắn trong chăn nuôi cần thu gom để đốt hoặc ủ sinh học; chất thải lỏng, nước rửa chuồng cần thu gom để xử lý, không thải trực tiếp ra môi trường Cần phun sát trùng 1 - 2 lần/tuần trong suốt thời gian trống chuồng, ít nhất trong 30 ngày Các thiết bị, dụng cụ chăn nuôi cần rửa sạch, phơi khô, sát trùng và đưa vào kho bảo quản Vệ sinh và phun sát trùng xung quanh chuồng nuôi
- Phòng bệnh bằng vắc xin:
Phòng bệnh bằng vắc xin là biện pháp phòng bệnh chủ động có hiệu quả nhất
Trang 24Theo Nguyễn Bá Hiên và Huỳnh Thị Mỹ Lệ 2012[7], vắc xin là một chế phẩm sinh học mà trong đó chứa chính mầm bệnh cần phòng cho một bệnh truyền nhiễm nào đó ( mầm bệnh này có thể là vi khuẩn, virus, độc tố hay vật liệu di truyền như ARN, AND… ) đã được làm giảm độc lực hay vô độc bằng các tác nhân vật lý, hóa học, sinh học hay phương pháp sinh học phân tử (vắc xin thế hệ mới – vắc xin công nghệ gen) Lúc đó chúng không còn khả năng gây bệnh cho đối tượng sử dụng, nhưng khi đưa vào cơ thể động vật nó sẽ gây
ra đáp ứng miễn dịch làm cho động vật có miễm dịch chống lại sự xâm nhiễm gây bệnh của mầm bệnh tương ướng
Khi đưa vắc xin vào cơ thể vật nuôi, chưa có kháng thể chống bệnh ngay
mà phải sau 7 - 21 ngày (tuỳ theo từng loại vắc xin) mới có miễn dịch
+ Diệt căn bệnh là chủ yếu kết hợp chữa triệu chứng
+ Tiêu diệt mầm bệnh phải đi đôi với tăng cường sức đề kháng của cơ thể, làm cho cơ thể tự nó chống lại mầm bệnh thì bệnh mới chóng khỏi, ít bị tái phát và biến chứng, miễn dịch mới lâu bền
+ Phải có quan điểm khi chữa bệnh, chỉ nên chữa những gia súc có thể chữa lành mà không giảm sức kéo và sản phẩm Nếu chữa kéo dài, tốn kém vượt quá giá trị gia súc thì không nên chữa
+ Những bệnh rất nguy hiểm cho người mà không có thuốc chữa thì không nên chữa
Trang 25Theo Nguyễn Bá Hiên và Huỳnh Thị Mỹ Lệ 2012 [7], các biện pháp chữa bệnh truyền nhiễm là :
+ Hộ lý: Cho gia súc ốm nghỉ ngơi, nhốt riêng ở chuồng có điều kiện vệ sinh tốt (thoáng mát, sạch sẽ, yên tĩnh) Theo dõi thân nhiệt, nhịp tim, hô hấp, phân, nước tiểu Phát hiện sớm những biến chuyển của bệnh để kịp thời đối phó Cho gia súc ăn uống thức ăn tốt và thích hợp với tính chất của bệnh + Dùng kháng huyết thanh: chủ yếu dùng chữa bệnh đặc hiệu vì vậy thường được dùng trong ổ dịch, chữa cho gia súc đã mắc bệnh Chữa bệnh bằng kháng huyết thanh là đưa vào cơ thể những kháng thể chuẩn bị sẵn, có tác dụng trung hòa mầm bệnh hoặc độc tố của chúng (huyết thanh kháng độc tố)
+ Dùng hóa dược: Phần lớn hóa dược được dùng để chữa triệu chứng, một số hóa dược dùng chữa nguyên nhân vì có tác dụng đặc hiệu đến mầm bệnh Dùng hóa dược chữa bệnh phải tác động mạnh và sớm, vì nhiều loài vi khuẩn có thể thích ứng với liều lượng nhỏ Chúng có thể chống lại thuốc và tính chất quen thuộc được truyền cho những thế hệ sau Khi cần, có thể phối hợp nhiều loại hóa dược để tăng hiệu quả điều trị, vì nếu một loại thuốc chưa
có tác dụng đến mầm bệnh thì có loại thuốc khác tác dụng tốt hơn
+ Dùng kháng sinh: Kháng sinh là những thuốc đặc hiệu có tác dụng ngăn cản sự sinh sản của vi khuẩn hoặc tiêu diệt vi khuẩn Tuy nhiên sử dụng kháng sinh có thể gây nhiều tai biến do thuốc có tính độc, do phản ứng dị ứng,
do một lúc tiêu diệt nhiều vi khuẩn làm giải phóng một lượng lớn độc tố, làm giảm phản ứng miễn dịch của cơ thể Việc dùng kháng sinh bừa bãi còn gây nên hiện tượng kháng thuốc, làm giảm thấp tác dụng chữa bệnh của kháng sinh Vì vậy, khi dung thuốc cần theo những nguyên tắc sau đây:
- Phải chẩn đoán đúng bệnh để dung đúng thuốc, dùng sai thuốc sẽ chữa không khỏi bệnh mà làm cho việc chẩn đoán bệnh về sau gặp khó khăn
Trang 26- Chọn loại kháng sinh có tác dụng tốt nhất đối với mầm bệnh đã xác định Dùng liều cao ngay từ đầu, những lần sau có thể giảm liều lượng
- Không nên vội vàng thay đổi kháng sinh mà phải chờ một thời gian để phát huy tác dụng của kháng sinh
- Phải dùng phối hợp nhiều loại kháng sinh để làm giảm liều lượng và độc tính của từng loại, làm diện tích tác động đến vi khuẩn rộng hơn, tăng tác dụng điều trị và hạn chế hiện tượng vi khuẩn kháng thuốc
- Phải tăng cường sức đề kháng của cơ thể gia súc như nuôi dưỡng tốt, dùng thêm vitamin, truyền nước sinh lý…
2.2.3.1 Bệnh viêm tử cung
Theo Trần Tiến Dũng và cs (2002) [5] viêm tử cung là một quá trình bệnh lý thường sảy ra ở gia súc cái sinh sản sau đẻ Quá trình viêm phá hủy các tế bào tổ chức của các lớp hay tầng tử cung gây rối loạn sinh sản ở gia súc cái làm ảnh hưởng lớn, thậm chí làm mất khả năng sinh sản ở gia súc cái
* Nguyên nhân
Theo Nguyễn Xuân Bình (2000) [3] bệnh viêm tử cung xảy ra ở những thời gian khác nhau nhưng bệnh xảy ra nhiều nhất vào thời gian sau khi đẻ
1 - 10 ngày
Theo Đoàn Thị Kim Dung và Lê Thị Tài (2002) [4], nguyên nhân gây ra
bệnh viêm tử cung chủ yếu do vi khuẩn tụ cầu vàng (Staphylococcus aureus), liên cầu dung huyết (Streptococcus hemolitica) và các loại Proteus vulgais,
Klebriella, dung huyết E coli, còn có thể do trùng doi (Trecbomonas fortus)
và do nấm Candida albicans
Mặt khác, khi gia súc đẻ, nhất là trường hợp đẻ khó phải can thiệp, niêm mạc tử cung bị xây sát và tạo các ổ viêm, mặt khác các bệnh truyền nhiễm như sảy thai truyền nhiễm, phó thương hàn, lao… thường gây viêm tử cung,
âm đạo
Trang 27 Đặc điểm bệnh viêm tử cung
Là quá trình bệnh lý xảy ra ở gia súc cái sinh sản sau đẻ, quá trình viêm phá hủy các tế bào tổ chức của các lớp hay các tầng của thành tử cung gây rối loạn sinh sản từ đó gây ảnh hưởng tới khả năng sinh sản, thậm chí làm cho gia súc cái mất khả năng sinh sản
Nguyên nhân bệnh viêm tử cung
Do tử cung bị tổn thương, sót nhau sau đẻ Bệnh phát triển do nuôi dưỡng không đủ chất Do đưa vào đường sinh dục những chất kích thích đẻ, chúng phá hủy hoặc làm kết tủa chất nhầy ở bộ máy sinh dục lợn
Bệnh viêm tử cung ở lợn nái thường do các nguyên nhân sau:
Công tác phối giống không đúng kỹ thuật, nhất là phối giống bằng phương pháp thụ tinh nhân tạo làm xây sát niêm mạc tử cung; dụng cuk dẫn tinh không được vô trùng khi phối giống đưa vi khuẩn từ ngoài vào tử cung lợn nái gây viêm
Khi phối giông trực tiếp lợn đực bị mắc bệnh viêm bao dương vật hoặc mang vi khuẩn từ những lợn nái khác bị viêm tử cung, viêm âm đạo truyền qua cho lợn khỏe
Lợn nái đẻ khó phải can thiệp bằng thủ thuật gây tổn thương niêm mạc
tử cung, theo đó vi khuẩn xâm nhập gây viêm tử cung kế phát
Lợn nái sau khi đẻ bị sót nhau xử lý không triệt để dễ dẫn tới viêm tử cung
Do kế phát từ một số bệnh truyền nhiễm như: sảy thai truyền nhiễm, phó thương hàn, lao,
Do vệ sinh chuồng đẻ, vệ sinh bộ phận sinh dục của lợn nái trước và sau
đẻ không sạch; trong thời gian lợn đẻ cổ tử cung mở, tạo điều kiện cho vi sinh vật xâm nhập gây viêm
Do nấm xâm nhập
Trang 28Ngoài các nguyên nhân trên bệnh viêm tử cung còn có thể là biến chứng nhiễm trùng do vi khuẩn xâm nhập vào tử cung trong thời gian động dục (do lúc đó cổ tử cung mở)
Bệnh viêm tử cung và các bệnh ở đường tiết niệu có mối quan hệ với nhau, vi khuẩn trong nước tiểu cũng phát triển trong âm đạo và việc gây nhiễm ngược lên tử cung là rất dễ xảy ra
Triệu chứng bệnh viêm tử cung
Theo Nguyễn Văn Thanh (2010) [15], khi lợn nái bị viêm tử cung, các chỉ tiêu lâm sàng như: thân nhiệt, tần số hấp đều tăng Lợn bị sốt theo quy luật: sáng sốt nhẹ 39 - 39,5oC, chiều 40 - 41oC Con vật ăn khém, sản lượng sữa giảm, có khi con vật cong lưng rặn như rặn đái Từ cơ quan sinh dục chảy
ra niêm dịch nhiều lợn cợn, mùi hôi tanh, có màu trắng đục, hồng hay nâu đỏ Khi nằm lượng niêm dịch chảy ra nhều hơn Trong trường hợp thai chết lưu
âm đạo sưng tấy, đỏ, có chứa dịch tiết màu vàng sẫm, nâu có mùi hôi thối Xung quanh âm hộ và mép đuôi có dính bết niêm dịch, có khi niêm dịch khô đóng thành vẩy trắng, lợn nái mệt mỏi đi lại khó khăn
ít ảnh hưởng tới sản lượng sữa của lợn mẹ
- Thể vừa (++) thuộc dạng viêm tử cung mủ: thân nhiệt cao 39,5 - 40oC Lợn ăn ít hoặc bỏ ăn, hay nằm lì Khi nằm có dịch từ âm hộ chảy ra màu vàng xanh có lẫn mủ trắng đục, hơi sệt, mùi tanh thối Khi soi đường sinh dục, vùng âm đạo có dính mủ, niêm mạc có vùng nhạt đỏ không đều, niêm dịch chảy từ cổ tử cung ra có mùi thối
Trang 29- Thể nặng (+++) thuộc dạng viêm tử cung mủ: thân nhệt tăng cao 39,5 -
40oC Lợn ủ rũ, hay nằm, bỏ ăn Dịch tiết từ âm hộ ra dạng mủ vàng sệt, có khi lẫm máu, mùi tanh thối Niêm mạc âm đạo nhợt nhạt, nhiều mủ đặc, cổ tử cung hơi mở, có mủ trắng đục chảy ra, mùi thối khắm Trạng thái này xuất
hiện tận 7 – 8 ngày sau khi lợn đẻ Bệnh làm ảnh hưởng tới sản lượng sữa
Bảng 2.2 Một số tiêu chí phân biệt các thể viêm tử cung
Thể viêm
Chỉ tiêu
phân biệt
Thể nhẹ (+)
Thể vừa (++)
Thể nặng (+++)
Dịch viêm Màu
Trắng đục hoặc xanh
Vàng xanh, trắng đục
Vàng sệt, có khi lẫn máu Mùi Hôi tanh Tanh thối Thối khắm
Phản ứng đau Đau nhẹ Đau rõ hơn Đau có phản
ứng
Biểu hiện Lợn kém ăn
Lợn ăn ít hoặc bỏ ăn, hay nằm ì
Lợn ủ rũ, hay nằm, bỏ ăn hoàn toàn
Hậu quả bệnh viêm tử cung
Theo Madec.F (1995) [12], hiện tượng viêm tử cung âm ỉ kéo dài từ lứa
đẻ trước tới lần động dục kết tiếp theo có thể giải thích cho nguyên nhân làm giảm độ mắn đẻ, từ đó làm giảm năng xuất sinh sản
Theo Trần Tiến Dũng và cs (2002) [5] khi lợn nái bị viêm tử cung sẽ dẫn tới một số hậu quả sau:
- Sảy thai: lớp cơ trơn thành tử cung có đặc tính co thắt Khi gia súc cái
mang thai, sự co thắt của cơ tử cung giảm dưới tác dụn của Progesterone, nhờ
Trang 30vậy mà phôi thai mới bám chặt vào thành tử cung Khi tử cung bị viêm cấp
tính do nhiễm trùng, tế bào nội mạc tử cung tiết nhiều Prostaglandin F2a
(PGF2a) gây phân hủy thể vàng ở buồng trứng bằng cách bám vào tế bào của thể vàng nên giảm lưu lượng máu đến thể vàng Thể vàng bị phá hủy dẫn đến
giảm tiết Progesterone vào máu, hàm lượng Progesterone trong máu giảm,
làm tăng trương lực cơ tử cung do đó gia súc chửa rất dễ sảy thai
- Bào thai kém phát triển hoặc thai chết lưu: lớp nội mạc tử cung có nhiệm vụ tiết các chất vào lòng tử cung để nuôi dưỡng phôi thai Khi lớp nôi
mạc bị viêm, lượng Progesterone giảm nên khả năng tăng sinh và tiết dịch
của niêm mạc tử cung giảm, do đó bào thai nhận được ít, thậm chí không nhận được dinh dưỡng từ mẹ nên phát triển kém hoặc chết lưu
- Giảm sức đề kháng và khả năng sinh trưởng của lợn con theo mẹ: khi lợn nái bị nhiễm trùng tử cung, trong đường sinh dục thường có mặt của vi
khuẩn E.coli, vi khuẩn này tiết ra độc tố làm ức chế sự phân tiết của kích tố tạo sữa Prolactin từ tuyến yên, do đó lợn nái ít sữa hoặc mất hẳn sữa
Lượng sữa giảm, thành phần sữa cũng thay đổi nên lợn con thường bị tiêu chảy, còi cọc
- Ảnh hưởng tới khả năng động dục trở lại: nếu tử cung bị viêm mạn tính thì sự phân tiết PGF2a giảm, do thể vàng vẫn tồn tại; thể vàng vẫn tiếp tục tiết
Progesterone Progesterone gây ức chế thùy trước tuyến yên tiết FSH, do đó
ức chế sự phát triển của noãn bao trong buồng trứng, nên lợn nái không thể động dục trở lại và không thể rụng trứng
Biểu hiện rõ nhất trên lâm sàng mà người chăn nuôi và bác sỹ thú y nhận thấy ở lợn bị viêm tử cung đó là: chảy mủ ở âm hộ, sốt, bỏ ăn Mặt khác các quá trình bệnh lý xảy ra luc đẻ ảnh hưởng rất lớn tới năng xuất sinh sản của lợn nái sau này Tỷ lệ phối giống không đạt tăng lên ở đàn lợn nái viêm tử cung Hiện tượng viêm tử cung âm ỉ kéo dài từ lứa đẻ trước tới lứa đẻ sau là
Trang 31nguyên nhân làm giảm độ mắn đẻ Ngoài ra viêm tử cung là một trong những nguyên nhân dẫn đến hội chứng MMA, từ đó làm cho tỷ lệ lợn con cai sữa thấp Đặc biệt nếu viêm tử cung kèm theo viêm bàng quang thì con ảnh hưởng tới hoạt đọng của buồng trứng
Chẩn đoán bệnh viêm tử cung
Xuất phát từ quan điểm lâm sàng thì bệnh viêm tử cung thường biểu hiện vào lúc đẻ và thời kỳ tiền động dục, vì đây là thời gian cổ tử cung mở nên dịch viêm có thể chảy ra ngoài Lượng dịch viêm không ổn định, có thể từ vài mililít (ml) đến vài trăm mililít Tính chất của dịch viêm cũng khác nhau, từ dạng dung dịch màu trắng loãng cho tới màu xám hoặc vàng đặc như kem, có thể màu máu cá Người ta thấy rằng thời kỳ sau đẻ hay xuất hiện viêm tử cung cấp tính, còn thời kỳ viêm tử cung mạn tính thường gặp trong thời kỳ cho sữa MadecF (1995) [12]
Để chẩn đoán, người ta dựa vào những triệu chứng điển hình cục bộ ở cơ quan sinh dục và triệu trứng toàn thân như dịch viêm và thân nhiệt
Thân nhiệt là một chỉ số hằng định ở động vật bậc cao, thân nhiệt bình thường của lợn là 38 - 38,5o
C; khi viêm thân nhiệt có thể tăng từ 1,5 - 2oC Dịch viêm là sản phẩm được tiết ra ở ổ viêm, bao gồm nước, thành phần hữu hình và cá chất hòa tan
Mỗi thể viêm khác nhau biểu hiện triệu chứng khác nhau và có mức độ ảnh hưởng khác nhau tới khả năng sinh sản của lợn nái Để hạn chế tối thiểu
do viêm tử cung gây ra cần phải chẩn đoán chính xác mỗi thể viêm từ đó đưa
ra các phác đồ điều trị tối ưu, thời gian điều trị ngắn nhất, chi phí điều trị thấp nhất, nhằm đạt được hiệu quả cao nhất
Điều trị bệnh viêm tử cung
Có nhiều phương pháp để điều trị bệnh viêm tử cung Theo Phạm Sỹ Lăng và cs (2002) [10], cho biết hiệu quả điều trị bệnh viêm tử cung bằng phác đồ như sao:
Trang 32- Thụt rửa tử cung bằng các dung dịch thuốc sát trùng như: Biocid – 30 (1%), Lugol (5%), Han – ioddine (5%)
- Tiêm một trong các loại kháng sinh sau: Gentamycine, Oxytetracyclin, Penicillin,
- Tiêm Oxytocin để đẩy các niêm dịch và dịch viêm ra ngoài
- Dùng thuốc trợ sức, trợ lực như: ADE Bcomplex, Canxi – B12,
Tử cung có liên quan mật thiết với các cơ quan khác, trong đó có hệ thần kinh – thể dịch Bởi vậy, điều trị bệnh viêm tử cung bao gồm điều trị cục bộ
và điều trị toàn thân
- Điều trị cục bộ: Thụt rửa tử cung bằng các dung dịch muối 0,9%, KMnO4 0,01% hoặc Rivanol 0,1%; sau đó thụt bằng một trong các loại kháng sin sau: Penicillin, Streptomycin, Tetramyci,
- Điều trị toàn thân: Có thể dùng một trong các loại kháng sinh tổng hợp như sau: Ampisep, Aenorfcoli, Gentamycin, Ampicillin, kết hợp với thuốc trợ lực như: Vitamin C, B.comlex
Tác giả Đoàn Thị Kim Dung và Lê Thị Tài (2002) [4], đã dùng một số bài thuốc nam trong việc điều trị viêm tử cung cho kết quả tốt
Các nguyên liệu trên cho vào đun sôi trong vòng 30 phút, chắt lấy nước
để nguội rồi dùng nước đó thụt rửa tử cung, âm đạo ngày 1 lần, rửa liên tục 7
- 10 ngày
Bài 2:
Nếu tử cung, âm đạo bị viêm nặng, có mùi hôi thối, dịch viêm nhiều có thể dùng 50 g tỏi ta bóc vỏ, rủa sạch, giã nhuyễn cho vào 500 ml nước đun sôi