1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Áp dụng quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng và phòng trị bệnh viêm tử cung của lợn nái sinh sản nuôi tại trại Nguyễn Xuân Dũng, huyện Ba Vì Hà Nội (Khóa luận tốt nghiệp)

72 176 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 72
Dung lượng 1,14 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Áp dụng quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng và phòng trị bệnh viêm tử cung của lợn nái sinh sản nuôi tại trại Nguyễn Xuân Dũng, huyện Ba Vì Hà Nội.Áp dụng quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng và phòng trị bệnh viêm tử cung của lợn nái sinh sản nuôi tại trại Nguyễn Xuân Dũng, huyện Ba Vì Hà Nội.Áp dụng quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng và phòng trị bệnh viêm tử cung của lợn nái sinh sản nuôi tại trại Nguyễn Xuân Dũng, huyện Ba Vì Hà Nội.Áp dụng quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng và phòng trị bệnh viêm tử cung của lợn nái sinh sản nuôi tại trại Nguyễn Xuân Dũng, huyện Ba Vì Hà Nội.Áp dụng quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng và phòng trị bệnh viêm tử cung của lợn nái sinh sản nuôi tại trại Nguyễn Xuân Dũng, huyện Ba Vì Hà Nội.Áp dụng quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng và phòng trị bệnh viêm tử cung của lợn nái sinh sản nuôi tại trại Nguyễn Xuân Dũng, huyện Ba Vì Hà Nội.Áp dụng quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng và phòng trị bệnh viêm tử cung của lợn nái sinh sản nuôi tại trại Nguyễn Xuân Dũng, huyện Ba Vì Hà Nội.

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo: Chính quy Chuyên ngành: Thú y Khoa: Chăn nuôi Thú y Khoá học: 2013 - 2017

Thái Nguyên, năm 2017

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo: Chính quy Chuyên ngành: Thú y Lớp : K45 - TY - N03

Khoá học: 2013 - 2017 Giảng viên hướng dẫn: TS Nguyễn Thị Ngân

Thái Nguyên, năm 2017

Trang 3

Để hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này, trước hết em xin gửi lời cảm ơn tới toàn thể thầy cô giáo Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên đã truyền đạt cho em những kiến thức quý báu và bổ ích trong suốt những năm học vừa qua

Em xin dành lời cảm ơn sâu sắc tới cô giáo TS.Nguyễn Thị Ngân đã

tận tình giúp đỡ và hướng dẫn em trong suốt quá trình thực tập để hoàn thành khóa luận tốt nghiệp

Em xin chân thành cảm ơn các thầy giáo, cô giáo trong khoa Chăn nuôi Thú y đã giúp đỡ em hoàn thành báo cáo thực tập tốt nghiệp

Em xin cảm ơn chú chủ trại Nguyễn Xuân Dũng cùng toàn thể anh em

kỹ thuật, công nhân trong trại đã tạo điều kiện giúp đỡ và tận tình chỉ bảo em trong suốt quá trình thực tập tại trại

Em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến toàn thể gia đình, bạn bè đã giúp

đỡ và động viên em trong thời gian thực tập tốt nghiệp này

Trong thời gian thực tập vừa qua vì bản thân chưa có nhiều kinh nghiệm thực tế, chỉ dựa vào kiến thức đã học cùng với thời gian hạn hẹp nên báo cáo không tránh khỏi nhiều sai sót Em kính mong nhận được ý kiến nhận xét của thầy cô để giúp em hoàn thiện được kiến thức và có nhiều kinh nghiệm bổ ích cho công việc sau này

Em xin chân thành cảm ơn!

Thái Nguyên, tháng năm 2017

Sinh viên

TRIỆU THỊ ĐỊNH

Trang 4

Bảng 2.1 Cơ cấu tổng đàn lợn của trại trong 3 năm (2015 - 2017) 6

Bảng 2.2 Các chỉ tiêu chẩn đoán viêm tử cung 24

Bảng 4.1 Lịch vệ sinh phòng bệnh của trại lợn nái 43

Bảng 4.2 Lịch tiêm phòng vắc xin cho đàn lợn nái 44

Bảng 4.3 Tỷ lệ viêm tử cung của đàn lợn nái trong 3 năm (2015 - 2017) 48

Bảng 4.4 Tỷ lệ nhiễm bệnh viêm tử cung theo lứa đẻ 49

Bảng 4.5 Tỷ lệ mắc bệnh viêm tử cung ở đàn lợn nái theo các tháng 50

Bảng 4.6 Tỷ lệ nhiễm bệnh viêm tử cung theo giống lợn 52

Bảng 4.7 Tỷ lệ phối đạt của lợn bị viêm tử cung sau điều trị 52

Bảng 4.8 Kết quả điều trị bệnh viêm tử cung và khả năng sinh sản của lợn nái sau khi khỏi bệnh 54

Trang 6

LỜI CẢM ƠN i

DANH MỤC CÁC BẢNG ii

DANH MỤC CÁC TỪ VÀ CỤM TỪ VIẾT TẮT iii

MỤC LỤC iv

Phần 1 MỞ ĐẦU 1

1.1 Đặt vấn đề 1

1.2 Mục đích và yêu cầu của chuyên đề 2

1.2.1 Mục đích 2

1.2.2 Yêu cầu 2

Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3

2.1 Điều kiện cơ sở nơi thực tập 3

2.1.1 Điều kiện tự nhiên, cơ sở vật chất nơi thực tập 3

2.1.2 Đối tượng và các kết quả sản xuất của cở sở 5

2.2 Cơ sở khoa học 6

2.2.1 Đặc điểm sinh trưởng và phát triển của lợn nái 6

2.2.2 Đặc điểm sinh lý, sinh dục của lợn nái 10

2.2.3 Một số nguyên nhân gây bệnh 18

2.2.4 Các thể viêm tử cung 20

2.2.5 Đường xâm nhập 22

2.2.6 Chẩn đoán 23

2.2.7 Hậu quả 26

2.2.8 Biện pháp phòng và điều trị 27

2.3 Tổng quan các nghiên cứu trong và ngoài nước 31

2.3.1 Tình hình nghiên cứu trong nước 31

2.3.2 Tình hình nghiên cứu ngoài nước 34

Phần 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP TIẾN HÀNH 36

3.1 Đối tượng và phạm vi tiến hành 36

Trang 7

3.3 Nội dung tiến hành và các chỉ tiêu theo dõi 36

3.3.1 Nội dung thực tập 36

3.3.2 Nội dung tiến hành 36

3.3.3 Các chỉ tiêu theo dõi 36

3.4 Phương pháp tiến hành 37

3.4.1 Phương pháp theo dõi (hoặc thu thập thông tin) 37

3.4.2 Phương pháp điều trị 37

3.4.3 Phương pháp xử lý số liệu, tính toán các chỉ tiêu 38

Phần 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 39

4.1 Kết quả tham gia phục vụ sản xuất 39

4.1.1 Công tác chăn nuôi 39

4.1.2 Công tác thú y 42

4.1.3 Các hoạt động khác tại cơ sở 47

4.2 Kết quả thực hiê ̣n chuyên đề 48

4.2.1 Tỷ lệ mắc bệnh viêm tử cung của đàn lợn nái qua 3 năm (2015 - 2017) 48

4.2.2 Tỷ lệ nhiễm bệnh viêm tử cung theo lứa đẻ 49

4.2.3 Tỷ lệ lợn nái mắc bệnh viêm tử cung theo tháng 50

4.2.4 Tỷ lệ mắc bệnh viêm tử cung theo giống, dòng 51

4.2.5 Một số chỉ tiêu sinh sản của lợn nái sau điều trị 52

4.2.6 Hiệu lực của 2 phác đồ điều trị viêm tử cung của đàn lợn nái 53

Phần 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 55

5.1 Kết luận 55

5.1 Kết luận 56

TÀI LIỆU THAM KHẢO 57 MỘT SỐ HÌNH ẢNH CỦA ĐỀ TÀI

Trang 8

Phần 1

MỞ ĐẦU 1.1 Đặt vấn đề

Chăn nuôi lợn có vị trí quan trọng hàng đầu trong ngành chăn nuôi nước

ta Trong ngành chăn nuôi, chăn nuôi lợn cung cấp lượng sản phẩm về thịt là lớn nhất Chăn nuôi lợn ngày càng phát triển đã mang lại lợi ích về kinh tế cho người chăn nuôi, tuy nhiên chăn nuôi lợn gặp không ít khó khăn về dịch bệnh gây ảnh hưởng rất nhiều đến sự phát triển đặc biệt là các bệnh về sinh sản ở lợn nái do khả năng thích nghi của đàn lợn nái ngoại với điều kiện khí hậu nước ta còn kém Mặt khác, trong quá trình sinh đẻ, lợn nái dễ bị

các loại vi khuẩn như Streptococcus, Staphylococcus, E.coli xâm nhập và

gây một số bệnh nhiễm trùng sau đẻ như viêm âm đạo, viêm âm môn, đặc biệt hay gặp là bệnh viêm tử cung, bệnh ảnh hưởng trực tiếp tới khả năng sinh sản của lợn mẹ

Bệnh viêm tử cung ở lợn nái gây tổn thương đường sinh dục sau khi sinh, ảnh hưởng rất lớn đến khả năng sinh sản, làm mất sữa, lợn con còi cọc chậm phát triển, suy dinh dưỡng Lợn nái chậm động dục trở lại, không thụ thai, có thể dẫn đến vô sinh, mất khả năng sinh sản ở lợn nái chủ yếu là lợn nái ngoại

Xã hội ngày càng phát triển, nhu cầu của con người ngày càng tăng cao nhất là sản phẩm của ngành chăn nuôi không chỉ về số lượng mà còn cả về chất lượng của sản phẩm phải đảm bảo về giá trị dinh dưỡng, quan trọng là phải an toàn đến sức khỏe cho người sử dụng Để đáp ứng nhu cầu đó người chăn nuôi cần có đầy đủ về yếu tố giống, thức ăn, chế độ chăm sóc nuôi dưỡng, bên cạnh đó cần chú ý hơn về công tác quản lý thú y để hạn chế bệnh tật, nhằm nâng cao chất lượng chăn nuôi

Trang 9

Trong chăn nuôi lợn thì chăn nuôi lợn nái sinh sản giữ vai trò quan trọng trong sự phát triển về số lượng cũng như chất lượng của đàn lợn Tuy nhiên, đàn lợn nái thường hay mắc một số bệnh gây biến chứng trước và sau khi đẻ như: sót nhau, viêm vú, viêm tử cung, mất sữa sau khi đẻ là bệnh hay gặp ở lợn nái làm giảm khả năng sinh sản gây thiệt hại rất lớn đến kinh tế của ngành chăn nuôi lợn hiện nay

Nhằm để hạn chế rủi ro thiệt hại về kinh tế do bệnh viêm tử cung gây ra trên đàn lợn nái sinh sản nuôi tại trại Nguyễn Xuân Dũng, huyện Ba Vì, thành

phố Hà Nội chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Áp dụng quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng và phòng trị bệnh viêm tử cung của lợn nái sinh sản nuôi tại trại Nguyễn Xuân Dũng, huyện Ba Vì - Hà Nội”

1.2 Mục đích và yêu cầu của chuyên đề

1.2.1 Mục đích

- Đánh giá tình hình chăn nuôi tại trại Nguyễn Xuân Dũng, Ba Vì, Hà Nội

- Áp dụng biện pháp chăm sóc, nuôi dưỡng cho lợn nái sinh sản tại trại

- Xác định tình hình mắc, cách phòng trị bệnh viêm tử cung trên đàn lợn nái của trại

1.2.2 Yêu cầu

- Đánh giá được tình hình chăn nuôi tại trại Nguyễn Xuân Dũng, Ba Vì,

Hà Nội

- Áp dụng biện pháp chăm sóc, nuôi dưỡng cho lợn nái sinh sản tại trại

- Xác định tình hình mắc, cách phòng trị bệnh viêm tử cung trên đàn lợn nái của trại

Trang 10

Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1 Điều kiện cơ sở nơi thực tập

2.1.1 Điều kiện tự nhiên, cơ sở vật chất nơi thực tập

2.1.1.1 Quá trình thành lập

Trại lợn Nguyễn Xuân Dũng nằm trên địa phận huyện Ba Vì - Hà Nội

Là trại lợn gia công của Công ty Chăn nuôi CP Việt Nam, hoạt động theo phương thức: chủ trại xây dựng cơ sở vật chất, thuê công nhân, công ty cung cấp giống lợn, thức ăn, thuốc thú y, cán bộ kỹ thuật Hiện nay, trang trại do ông Nguyễn Xuân Dũng làm chủ, cán bộ kỹ thuật của Công ty Chăn nuôi CP Việt Nam chịu trách nhiệm giám sát mọi hoạt động của trại

2.1.1.2 Cơ sở vật chất của trang trại

Địa hình trại Nguyễn Xuân Dũng chủ yếu là núi đá vôi nhưng đường giao thông đã được nâng cấp, thuận tiện cho việc đi lại, vận chuyển

Để đảm bảo công tác chăn nuôi và sinh hoạt của công nhân trại được trang bị đầy đủ cơ sở vật chất kỹ thuật gồm:

- Khu nhà điều hành, khu nhà ở cho công nhân, bếp ăn, các công trình phục vụ cho công nhân và các hoạt động khác của trại

- Khu chăn nuôi xung quanh có hàng rào bao bọc và có cổng vào riêng Chuồng trại được quy hoạch bố trí xây dựng phù hợp với hướng chăn nuôi

công nghiệp, hệ thống chuồng nuôi lồng, nền sàn bê tông cho lợn nái, lợn

đực, sàn nhựa cho lợn con cùng với hệ thống vòi nước tự động và máng ăn

Chuồng nuôi được xây dựng đảm bảo đủ cho 1200 nái cơ bản gồm:

+ Ba chuồng nái đẻ: mỗi chuồng chia làm 2 khu A và khu B, mỗi khu có

2 dãy, mỗi dãy có 29 ô chuồng được thiết kế sàn nhựa cho lợn con và sàn bê tông cho lợn mẹ

Trang 11

+ Hai chuồng nái chửa: chuồng 1 và chuồng 2, mỗi chuồng gồm 6 dãy mỗi dãy có 88 ô để nuôi và chăm sóc lợn nái trong thời gian mang thai được sắp xếp theo các kỳ mang thai khác nhau Riêng chuồng 1: dãy 1 được thiết

kế để cho lợn nái chờ phối, có khu thử lợn, ép lợn và dãy 2 có khu để làm nơi thụ tinh nhân tạo cho lợn nái

+ Một chuồng đực giống: gồm 24 ô để nuôi lợn đực và 1 ô để khai thác tinh + Bốn chuồng cách ly: dùng để nuôi lợn hậu bị được nhập từ các trại gia công lợn hậu bị của Công ty cổ phần chăn nuôi CP Việt Nam, trong thời gian

3 tháng sau khi đã phòng các loại vắc xin đầy đủ và trước khi được đưa lên

giống mỗi chuồng có thể nuôi được từ 30 - 40 lợn hậu bị

Hệ thống chuồng xây dựng khép kín hoàn toàn Phía đầu chuồng là hệ

thống giàn mát, cuối chuồng được thiết kế quạt hút gió, có hệ thống điện

chiếu sáng và bóng đèn hồng ngoại để sưởi ấm, úm lợn con, đảm bảo thoáng mát về mùa hè ấm áp về mùa đông bằng cách điều chỉnh quạt, giàn mát và bóng đèn sưởi ấm trong chuồng Mỗi chuồng được lắp đặt máy bơm nước để tắm cho lợn và vệ sinh chuồng trại hằng ngày, cuối chuồng mỗi ô đều có hệ thống thoát phân và nước thải

Bên cạnh chuồng đực có xây dựng phòng làm tinh lợn, với đầy đủ các dụng cụ như: kính hiển vi, nhiệt kế, đèn cồn, máy ép ống tinh, tủ lạnh bảo quản tinh, nồi hấp, panh, kéo…

Trong khu chăn nuôi, đường đi lại giữa các ô chuồng, các khu khác đều được đổ bê tông và có các chậu nước sát trùng Nhìn chung khu vực chuồng nuôi được xây dựng khá hợp lý, thuận lợi cho việc chăm sóc, đi lại, đuổi lợn cho các dãy chuồng

Ngay tại cổng vào khu chăn nuôi trại có xây dựng 5 phòng tắm sát trùng cho công nhân trước khi ra, vào chuồng chăm sóc lợn, 1 kho thuốc, 1 kho cám, 1 phòng ăn và 1 phòng nghỉ trưa cho công nhân

Trang 12

Một số thiết bị khác cũng được trang bị đầy đủ: tủ lạnh bảo quản vắc xin, tủ

thuốc để bảo quản và dự trữ thuốc cho trại, xe chở cám từ nhà kho xuống chuồng,

máy nén khí phun sát trùng di động khu vực trong và ngoài chuồng nuôi

2.1.1.3 Cơ cấu tổ chức của trang trại

Cơ cấu tổ chức: gồm 3 nhóm

+ Nhóm quản lý: 1 chủ trại, 1 quản lý giám sát mọi hoạt động của trại

1 bảo vệ chịu trách nhiệm bảo vệ tài sản chung

+ Nhóm kỹ thuật: 2 kỹ sư, 1 kỹ thuật điện

+ Nhóm công nhân: 17 công nhân, 8 sinh viên thực tập

Với đội ngũ công nhân trên, trại phân ra làm các tổ khác nhau như tổ chuồng đẻ, tổ chuồng bầu Có bảng chấm công riêng cho từng công nhân trong tổ, ngoài ra các tổ trưởng có nhiệm vụ đôn đốc quản lý chung các thành viên trong tổ nhằm nâng cao tinh thần trách nhiệm, thúc đẩy sự phát triển của trang trại

2.1.2 Đối tượng và các kết quả sản xuất của cở sở

2.1.2.1 Đối tượng nuôi của trại

Trại lợn của ông Nguyễn Xuân Dũng nuôi các giống lợn khác nhau như: Yorkshire, Landrace, Duroc

2.1.2.2 Kết quả sản xuất của trại

Nhiệm vụ chính của trại là sản xuất con giống và chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ thuật Hiện nay, trung bình lợn nái của trại sản xuất được 2,45 - 2,47 lứa/năm Số con sơ sinh là 11,23 con/đàn; số con cai sữa là 10 con/đàn; lợn con theo mẹ được nuôi đến 21 ngày tuổi, chậm nhất là 26 ngày thì tiến hành cai sữa và chuyển sang các trại chăn nuôi lợn giống của Công ty Theo đánh giá của Công ty Chăn nuôi CP Việt Nam thì trại hoạt động vào mức khá Trong trại có 22 con lợn đực giống Các lợn đực giống này được nuôi nhằm mục đích kích thích động dục cho lợn nái và khai thác tinh để thụ tinh

Trang 13

nhân tạo Tinh lợn được khai thác từ 2 giống lợn Yorkshire và Duroc Lợn nái được phối 3 lần và được luân chuyển giống cũng như con đực

Thức ăn cho lợn nái là thức ăn hỗn hợp hoàn chỉnh có chất lượng cao, được Công ty Chăn nuôi CP Việt Nam cấp cho từng đối tượng lợn của trại

Cơ cấu đàn lợn của trại trong 3 năm gần đây

Qua điều tra từ số liệu sổ sách theo dõi của trại thì cơ cấu đàn lợn của trại 3 năm gần đây tính đến tháng 5 năm 2017 được thể hiện ở bảng 2.1

Bảng 2.1 Cơ cấu tổng đàn lợn của trại trong 3 năm (2015 - 2017)

2.2.1 Đặc điểm sinh trưởng và phát triển của lợn nái

Bộ phận sinh dục của lợn nái bộ phận sinh dục bên trong (buồng trứng, ống dẫn trứng, tử cung, âm đạo) và bộ phận sinh dục bên ngoài gồm (âm môn, âm vật, tiền đình)

2.2.1.1.Bộ phận sinh dục bên trong

Âm đạo nối sau tử cung, trước âm hộ, đầu trước giáp cổ tử cung, đầu sau thông ra tiền đình, giữa âm đạo và tiền đình có nếp gấp niêm mạc gọi là màng trinh

Âm đạo là một ống tròn chứa cơ quan sinh dục đực khi giao phối, đồng thời là bộ phận cho thai đi ra ngoài trong quá trình sinh đẻ và là ống thải các chất dịch từ tử cung

Trang 14

Âm đạo có cấu tạo gồm 3 lớp:

Tử cung lợn thuộc loại tử cung hai sừng, gồm 2 sừng thông với một thân

Cổ tử cung lợn dài 10 – 18 cm, có thành dày, hình trụ, có các cột thịt xếp theo kiểu cài răng lược, thông với âm đạo

Vách tử cung gồm 3 lớp từ ngoài vào trong: lớp tương mạc, lớp cơ trơn, lớp nội mạc

- Lớp tương mạc: là lớp màng sợi, dai, chắc phủ mặt ngoài tử cung và

nối tiếp vào hệ thống các dây chằng

- Lớp cơ trơn: gồm cơ vòng rất dày ở trong, cơ dọc mỏng hơn ở ngoài

Giữa 2 tầng cơ chứa tổ ch ức liên kết sợi đàn hồi và mạch quản, đặc biệt là nhiều tĩnh mạch lớn Ngoài ra, các bó sợi cơ trơn đan vào nhau theo mọi hướng làm thành mạng lưới vừa dày vừa chắc Cơ trơn là lớp cơ dày và khoẻ

nhất trong cơ thể Do vậy, nó có đặc tính co thắt

Trang 15

- Lớp nội mạc tử cung: là lớp niêm mạc màu hồng được phủ bởi một lớp

tế bào biểu mô hình trụ, xen kẽ có các ống đổ của các tuyến nhày tử cung Nhiều tế bào biểu mô kéo dài thành lông rung, khi lông rung động thì gạt những chất nhày tiết ra về phía cổ tử cung Trên niêm mạc có các nếp gấp Lớp nội mạc tử cung có nhiệm vụ tiết các chất vào lòng tử cung để giúp phôi thai phát triển và duy trì sự sống của tinh trùng trong thời gian di chuyển đến ống dẫn trứng Dưới ảnh hưởng của Estrogen, các tuyến tử cung phát triển từ lớp màng nhày, xâm nhập vào lớp dưới màng nhày và cuộn lại Tuy nhiên, các tuyến chỉ đạt được khả năng phân tiết tối đa khi có tác dụng của Progesterone Sự phân tiết của tuyến tử cung thay đổi tuỳ theo giai đoạn của chu kỳ lên giống

Buồng trứng của lợn gồm một đôi tre ở cạnh trước dây chằng rộng, nằm trong xoang chậu Hình dáng của buồng trứng rất đa dạng nhưng phần lớn có hình bầu dục hoặc hình ovan dẹt, không có lõm rụng trứng Buồng trứng của lợn dài 1,5 – 2,5 cm, khối lượng khoảng 3 – 5 g Buồng trứng có hai chức năng cơ bản là tạo giao tử cái và tiết các hormone: Estrogen, Progesterone, Oxytocine…

Cấu tạo: phía ngoài là một lớp liên kết sợi được bao bọc bởi lớp biểu mô hình lập phương Bên dưới là lớp vỏ chứa các noãn nang, thể vàng, thể trắng Phần tủy của buồng trứng nằm ở giữa, gồm có mạch máu, dây thần kinh, mạch bạch huyết và mô liên kết Miền vỏ có tác dụng về sinh dục vì ở đó xảy

ra quá trình trứng chín và rụng trứng

Có 4 loại noãn nang trong buồng trứng: noãn nang nguyên thủy nhỏ nhất

và được bao bọc bởi lớp tế bào vảy Noãn nang bậc một có thể bị thoái hóa hoặc phát triển thành noãn nang bậc hai Noãn nang bậc hai có hai hoặc nhiều lớp tế bào nang nhưng không có xoang nang Noãn nang có xoang được xem

Trang 16

như noãn nang bậc ba, chứa dịch nang và có thể trở nên trội hẳn để chuẩn bị xuất noãn

Theo Trần Thị Dân (2004) [5], khi nang noãn xuất noãn, những mạch máu nhỏ bị vỡ và gây xuất huyết tại chỗ Sau khi xuất noãn, phần còn lại của nang noãn cùng với vết xuất huyết được gọi là thể xuất huyết với kích thước nhỏ hơn nang noãn nhiều lần Sau đó tế bào bao trong và tế bào hạt biệt hóa thành tế bào thể vàng để tạo nên thể vàng

Ống dẫn trứng (vòi Fallop) gồm có phễu, phần rộng và phần eo Phễu

mở ra để tiếp nhận noãn và có những sợi lông nhung để gia tăng diện tích tiếp xúc với buồng trứng khi xuất noãn Phễu tiếp nối với phần rộng Phần rộng chiếm khoảng 1/2 chiều dài của ống dẫn trứng, đường kính tương đối lớn và mặt trong có nhiều nếp gấp với tế bào biểu mô có lông nhỏ Phần eo nối tiếp sừng tử cung, nó có thành dày hơn phần rộng và ít nếp gấp hơn

Vai trò cơ bản của ống dẫn trứng là vận chuyển noãn và tinh trùng đến nơi thụ tinh trong ống dẫn trứng (1/3 phía trên ống dẫn trứng), tiết các chất để nuôi dưỡng noãn, duy trì sự sống và gia tăng khả năng thụ tinh của tinh trùng, tiết các chất nuôi dưỡng phôi trong vài ngày trước khi phôi đi vào tử cung

2.2.1.2.Cơ quan sinh dục bên ngoài

Âm hộ hay còn gọi là âm môn, nằm dưới hậu môn và ngăn cách với

nó bởi vùng hồi âm Bên ngoài có 2 môi đính với nhau ở mép trên và mép dưới Môi âm hộ có sắc tố đen, tuyến mồ hôi, tuyến bã tiết ra chất nhờn trong

và hơi dính

Là giới hạn giữa âm đạo và âm hộ Phía trước màng trinh là âm đạo, phía sau là âm môn, sau màng trinh có lỗ niệu đạo,tiền đình có một số tuyến hướng

về âm môn

Trang 17

- Màng trinh: là một nếp gấp gồm 2 lá, phía trước thông với âm đạo,

phía sau thông với âm hộ Màng trinh gồm các sợi cơ đàn hồi ở giữa và do 2

lá niêm mạc gấp lại thành một nếp

hổng ở bao dương vật của con đực

Tiền đình có một số tuyến, các tuyến này xếp theo hàng chéo, hướng quay về âm vật

Âm vật nằm ở phía dưới hai mép của âm môn, giống như cấu tạo như

dương vật nhưng thu nhỏ lại và là tạng cương của đường sinh dục cái, cũng

có cấu tạo ở thể hổng như con đực được dính vào phần trên khớp bán động

ngồi, bị bao xung quanh bởi cơ ngồi hổng

Âm vật được phủ bởi lớp niêm mạc có chứa các đầu mút thần kinh cảm giác, lớp thể hổng và tổ chức liên kết bao bọc gọi là niêm mạc âm vật

2.2.2 Đặc điểm sinh lý, sinh dục của lợn nái

Đặc điểm sinh lý sinh dục của gia súc nói chung và loài lợn nói riêng đặc trưng cho loài, có tính ổn đ ịnh với từng giống vật nuôi Nó được duy trì qua các thế hệ và luôn củng cố, hoàn thiện qua quá trình chọn lọc Ngoài ra còn chịu ảnh hưởng của một số yếu tố như: ngoại cảnh, điều kiện nuôi dưỡng chăm sóc, sử dụng Để đánh giá đặc điểm sinh lý sinh dục của lợn nái người

ta thường tập trung nghiên cứu, theo dõi các chỉ tiêu sau đây:

2.2.2.1 Sự thành thục về tính

Sự thành thục về tính được đánh dấu khi con vật bắt đầu có phản xạ sinh dục và có khả năng sinh sản Sự thành thục về tính được nhận biết bằng sự biến đổi bộ phận ngoài của cơ quan sinh dục và sự biến đổi của thần kinh Đầu tiên hai mép âm môn sưng đỏ và có dịch chảy ra, sau chuyển sang đỏ

Trang 18

thẫm và keo dính Thần kinh có sự biến đổi từ hưng phấn chuyển sang giai đoạn mê ì Cùng với sự biểu hiện sinh dục bên ngoài, ở bên trong buồng trứng cũng có sự biến đổi, các noãn bào nổi lên trên bề mặt trứng và chín, niêm mạc

tử cung tăng sinh, cổ tử cung mở dần kèm theo tiết dịch

Ở lợn tuổi thành thục về tính là 6- 8 tháng

Lúc này tất cả các bộ phận sinh dục như: buồng trứng, tử cung, âm đạo,

đã phát triển hoàn thiện và có thể bắt đầu bước vào hoạt động sinh sản

+ Giống

Theo Phạm Hữu Doanh (1995) [6], tuổi thành thục về tính của lợn cái ngoại và lợn cái lai muộn hơn lợn cái nội thuần chủng (Ỉ, Móng Cái, Mường Khương, ) Các giống lợn nội này thường có tuổi thành thục vào 4 - 5 tháng tuổi (121-158 ngày tuổi) Lợn ngoại là 6 - 8 tháng tuổi, lợn lai F1 (ngoại X nội) thường động dục lần đầu ở 6 tháng tuổi

Dinh dưỡng có ảnh hưởng rất lớn đến tuổi thành thục về tính của lợn nái Cùng một giống nhưng nếu được nuôi dưỡng, chăm sóc, quản lý tốt, gia súc phát triển tốt thì sẽ thành thục về tính sớm hơn và ngược lại

+ Mùa vụ

Thành thục về tính phụ thuộc vào mùa vụ Lợn cái hậu bị được sinh vào mùa Thu sẽ động dục sớm hơn so với sinh vào mùa Xuân (Nguyễn Tuấn Anh

và cs, 1998) [1]

+ Điều kiện ngoại cảnh

Khí hậu và nhiệt độ cũng ảnh hưởng tới tuổi thành thục về tính của gia súc Những giống lợn nuôi ở vùng có khí hậu nhiệt đới nóng ẩm thường thành thục về tính sớm hơn những giống lợn nuôi ở vùng có khí hậu ôn đới và hàn đới

Sự kích thích của con đực cũng ảnh hưởng tới sự thành thục của lợn cái hậu bị Nếu ta để một con đực đã thành thục về tính gần ô chuồng của những

Trang 19

con cái hậu bị thì sẽ thúc đẩy nhanh sự thành thục về tính của chúng Theo Paul Hughes và cs (1996) [22], nếu cho lợn cái hậu bị tiếp xúc với đực 2 lần/ ngày, với thời gian 15-20 phút thì 83% lợn cái (ngoài 90 kg) động dục lúc 165 ngày tuổi

So với thành thục thể vóc, sự hình thành về tính ở gia súc nói chung và lợn nói riêng thường sớm hơn, nên người ta thường bỏ qua chu kỳ động dục đầu tiên, mà phối cho lợn ở chu kỳ sau, khi đó lợn đã phát triển toàn diện về thể vóc, bộ phận sinh dục và có thể bước vào hoạt động sinh sản

2.2.2.2 Chu kỳ tính, tuổi phối giống đầu tiên và thời điểm phối giống thích hợp

Nguyễn Thị Thúy Mỵ và Trần Thanh Vân (2014) [15] cho biết: lợn nái sau khi thành thục về tính thì bắt đầu có biểu hiện động dục, lần thứ nhất thường biểu hiện không rõ ràng, cách sau đó 15- 16 ngày lại động dục, lần này biểu hiện rõ ràng hơn và sau đó đi vào quy luật mang tính chu kỳ

Các noãn bào trên buồng trứng phát triển, lớn dần, chín và nổi c ộm trên

bề mặt buồng trứng Khi noãn bào vỡ, trứng rụng gọi là sự rụng trứng Mỗi lần trứng rụng con cái có những biểu hiện ra bên ngoài gọi là động dục Do trứng rụng có tính chu kỳ nên động dục cũng theo chu kỳ

Chu kỳ tính ở những loài khác nhau là khác nhau và ở giai đoạn đầu mới thành thục về tính thì chu kỳ chưa ổn định mà phải 2 - 3 chu kỳ tiếp theo mới

ổn định Một chu kỳ tính của lợn cái dao động trong khoảng từ 18 - 22 ngày, trung bình là 21 ngày và được chia thành 4 giai đoạn: giai đoạn trước động dục, giai đoạn động dục, giai đoạn sau động dục, giai đoạn nghỉ ngơi

Tuổi phối giống đầu tiên

Tuổi phối giống đầu tiên là một vấn đề quan trọng, phối giống cho lợn cái đúng thời điểm lợn thành thục về tính, có tầm vóc, sức khỏe đạt yêu cầu sẽ nâng cao khả năng sinh sản của lợn cái và phẩm chất lợn con Nếu phối giống

Trang 20

quá sớm, sẽ ảnh hưởng tới tầm vóc và sức khỏe của lợn mẹ Nhưng nếu phối giống quá muộn sẽ ảnh hưởng tới sự phát dục của lợn và ngững hoạt động về tính của nó ( Trần Thị Mỹ Dung, 2010) [8]

Đây là giai đoạn đầu tiên của chu kỳ tính, kéo dài 1 - 2 ngày, là thời gian chuẩn bị đầy đủ cho đường sinh dục của lợn cái đón nhận tinh trùng, cũng như đảm bảo các điều kiện cho trứng và tinh trùng gặp nhau để thụ thai

Trong giai đoạn này có sự thay đổi cả về trạng thái cơ thể cũng như trạng thái thần kinh Ở giai đoạn này các noãn bao phát triển mạnh, thành thục và nổi rõ trên bề mặt buồng trứng, kích thước noãn bao thay đổi rất nhanh, đầu giai đoạn này noãn bao có đường kính là 4mm, cuối giai đoạn noãn bao có đường kính 10 – 12 mm Các tế bào vách ống dẫn trứng tăng cường sinh trưởng, số lượng lông nhung tăng, đường sinh dục bắt đầu sung huyết nhanh,

hệ thống tuyến, âm đạo tăng tiết dịch nhày, niêm dịch ở cổ tử cung tiết ra làm cổ tử cung hé mở Các noãn bao chín, tế bào trứng tách khỏi noãn bao Tử cung co bóp mạnh, cổ tử cung mở ra, niêm dịch chảy nhiều Con vật bắt đầu xuất hiện tính dục, âm hộ sưng lên, hơi mở và có màu hồng tươi, cuối giai đoạn có dịch nhờn chảy ra Do hàm lượng Progesteron giảm xuống đột ngột nên con vật giảm ăn, hay kêu rống, thích nhảy lên lưng con khác nhưng không cho con khác nhảy lên lưng mình

* Giai đoạn động dục

Đây là giai đoạn tiếp theo và thường kéo dài từ 2 - 3 ngày, tính từ khi tế bào trứng tách khỏi noãn bao Giai đoạn này các biến đối của cơ quan sinh dục rõ nét nhất, niêm mạc âm hộ sung huyết, phù thũng rõ rệt và chuyển sang màu mận chín, niêm dịch từ âm đạo chảy ra nhiều, keo đặc hơn, nhiệt độ âm đạo tăng từ 0,3 - 0,70

C, pH hạ hơn trước Con vật biểu hiện tính hưng phấn cao độ, đứng ngồi không yên, phá chuồng, ăn uống giảm, hoặc bỏ ăn, kêu

Trang 21

rống trong trạng thái ngẩn ngơ, thích nhảy lên lưng con khác hoặc để con khác nhảy lên lưng mình Ở giai đoạn này, lợn thích gần đực, khi gần đực thì luôn đứng ở tư thế sẵn sàng chịu đực, đuôi cong lên và lệch sang một bên, hai chân sau dạng ra và hơi khuỵu xuống sẵn sàng chịu đực

Nếu ở giai đoạn này, tế bào trứng gặp tinh trùng và xảy ra quá trình thụ tinh tạo thành hợp tử thì chu kỳ sinh dục ngừng lại, gia súc cái ở vào giai đoạn có thai, đến khi đẻ xong một thời gian nhất định tuỳ loài gia súc thì chu

kỳ sinh dục mới lại bắt đầu Nếu không xảy ra quá trình trên thì lợn cái sẽ chuyển sang giai đoạn tiếp theo của chu kỳ tính

Giai đoạn này kéo dài khoảng hai ngày, toàn bộ cơ thể nói chung và cơ quan sinh dục nói riêng dần trở lại trạng thái sinh lý bình thường Trên buồng trứng, thể hồng chuyển thành thể vàng, đường kính lên tới 7 - 8 mm và bắt đầu tiết Progesterone Progesterone tác động lên vùng dưới đồi theo cơ chế điều hoà ngược làm giảm tiết Oestrogen, từ đó làm giảm tính hưng phấn thần kinh, con vật dần chuyển sang trạng thái yên tĩnh, chịu ăn uống hơn, niêm mạc toàn bộ đường sinh dục tăng sinh, các tuyến ở cơ quan sinh dục ngừng tiết dịch, cổ tử cung đóng lại

Giai đoạn này kéo dài từ 10 - 12 ngày, bắt đầu từ ngày thứ tư sau khi rụng trứng mà không được thụ tinh và kết thúc khi thể vàng tiêu huỷ Đây là giai đoạn con vật hoàn toàn yên tĩnh, cơ quan sinh dục hoạt động trở lại trạng thái sinh lý bình thường, trong buồng trứng thể vàng bắt đầu teo đi, noãn bao bắt đầu phát dục nhưng chưa nổi rõ trên bề mặt buồng trứng Toàn bộ cơ quan sinh dục dần xuất hiện những biến đổi chuẩn bị cho chu kỳ sinh dục tiếp theo Trong chăn nuôi lợn nái sinh sản, nắm được chu kỳ tính và các giai đoạn của quá trình động dục sẽ giúp cho người chăn nuôi có chế độ nuôi dưỡng,

Trang 22

chăm sóc cho phù hợp và phối giống kịp thời, đúng thời điểm, từ đó góp phần nâng cao năng suất sinh sản của lợn nái

*Cơ chế động dục

Chu kỳ động dục của lợn cái được điều khiển bởi 2 yếu tố thần kinh và thể dịch Khi các nhân tố ngoại cảnh như: ánh sáng, nhiệt độ, mùi con đực tác động và kích thích vùng dưới đồi (Hypothalamus) giải phóng ra các yếu tố tác động lên tuyến yên, kích thích thuỳ trước tuyến yên tiết FSH (Folliculo Stimulin Hormone) và LH (Lutei Stimulin Hormone) FSH kích thích noãn bao phát triển đồng thời cùng với LH làm cho noãn bao thành thục, chín và rụng trứng Khi noãn bao phát triển và thành thục, tế bào hạt trong thượng bì bao noãn tiết ra Oestrogen chứa đầy trong xoang bao noãn Khi hàm lượng hormone này trong máu đạt 64 - 112% sẽ kích thích con vật có những biểu hiện động dục Đồng thời dưới tác động của Oestrogen cơ quan sinh dục biến đổi: tử cung hé mở, âm hộ, âm đạo sung huyết, tiết niêm dịch, sừng tử cung

và ống dẫn trứng tăng sinh tạo điều kiện cho sự làm tố của hợp tử sau này Cuối chu kỳ động dục thì Oestrogen lại kích thích tuyến yên tiết ra LH và giảm tiết FSH Khi lượng LH/FSH đạt tỷ lệ 3/1 thì sẽ kích thích cho trứng chín và rụng trứng Sau khi trứng rụng thể vàng được hình thành ở nơi bao noãn vỡ ra Thể vàng tiết Progesterone giúp cho quá trình chuẩn bị tiếp nhận hợp tử ở sừng tử cung đồng thời ức chế tiết GSH (Gonado Stimulin Hormone) của tuyến yên làm cho bao noãn trong buồng trứng của lợn cái không phát triển được và kết thúc một chu kỳ động dục

* Thời điểm phối giống thích hợp

Thời gian tinh trùng lợn đực giống sống trong tử cung lợn nái khoảng 45

- 48 giờ, trong khi thời gian trứng của lợn nái tồn tại và thụ thai có hiệu quả là rất ngắn, cho nên phải tiến hành phối giống đúng lúc Thời điểm phối giống thích hợp nhất là vào giữa giai đoạn chịu đực

Trang 23

Đối với lợn nái ngoại, lợn lai, thời điểm phối giống tốt nhất là sau khi có hiện tượng chịu đực 6 - 8 giờ, hoặc cho phối vào cuối ngày thứ 3 và sang ngày thứ 4 kể từ lúc bắt đầu động dục

Đối với lợn nái nội thời điểm phối giống sớm hơn lợn nái ngoại và lai 1 ngày, tức là vào cuối ngày thứ 2 và sáng ngày thứ 3 vì thời gian động dục ngắn hơn

Khi thực hiện thụ tinh nhân tạo, thấy lợn nái chịu đực buổi sớm thì cho phối vào buổi chiều, nếu có triệu chứng chịu đực buổi chiều thì sáng hôm sau cho phối, thường phối 2 lần (phối lặp) ở giai đoạn chịu đực “chặn đầu khoá đuôi” của thời kỳ rụng trứng

2.2.2.3 Sinh lý đẻ

Gia súc cái mang thai trong một thời gian nhất định tùy từng loài gia súc, khi bào thai phát triển đầy đủ, dưới tác động của hệ thống thần kinh - thể dịch, con mẹ sẽ xuất hiện những cơn rặn để đẩy bào thai, nhau thai và các sản phẩm trung gian ra ngoài, quá trình này gọi là quá trình sinh đẻ

Khi gần đẻ con cái sẽ có các triệu chứng biểu hiện: trước khi đẻ 1 - 2 tuần, nút niêm dịch ở cơ tử cung, đường sinh dục lỏng, sánh dính và chảy ra ngoài Trước khi đẻ 1 - 2 ngày, cơ quan sinh dục bên ngoài bắt đầu có những thay đổi: âm môn phù to, nhão ra và sung huyết nhẹ, đầu núm vú to, bầu vú căng to, sữa bắt đầu tiết

Ở lợn, sữa đầu là một trong những chỉ tiêu quan trọng để xác định gia súc đẻ:

+ Trước khi đẻ 3 ngày, hàng vú giữa vắt ra nước trong

+ Trước khi đẻ 1 ngày, hàng vú giữa vắt được sữa đầu

+ Trước khi đẻ 1/2 ngày, hàng vú trước vắt được sữa đầu

+ Trước khi đẻ 2 - 3h, hàng vú sau vắt được sữa đầu

Trang 24

- Cơ chế đẻ: Đẻ là một quá trình sinh lý phức tạp chịu sự điều hòa của cơ

chế thần kinh - thể dịch, với sự tham gia tác động cơ giới của thai đã thành thục

- Về mặt cơ giới: Thai trong tử cung cơ thể mẹ sinh trưởng và phát triển một cách tối đa Ở thời kỳ cuối, thai to tiếp giáp với tử cung, thai chèn ép xoang bụng, đè mạnh vào cơ quan sinh dục, ép chặt mạch máu và đám rối thần kinh hông - khum, làm kích thích truyền về thần kinh trung ương, điều tiết hormone gây đẻ Mặt khác, thai chèn ép, đạp vào tử cung làm kích thích

tử cung co bóp, sự co bóp tăng theo thời gian, kể cả cường độ và tần số, dẫn đến tử cung mở và thai thoát ra ngoài

- Nội tiết: Trong thời gian mang thai, thể vàng và nhau thai cùng tiết ra Progesterone, hàm lượng Progesterone trong máu tăng tạo nên trạng thái an thai Đến kỳ chửa cuối, thể vàng teo dần và mất hẳn nên lượng Progesterone giảm (chỉ còn 0,22%) Đồng thời tuyến yên tiết Oxytocine, nhau thai tăng tiết relaxin làm giãn dây chằng xương chậu và mở cổ tử cung, tăng tiết oestrogen làm tăng độ mẫn cảm của cổ tử cung với Oxytocine trước khi đẻ

- Biến đổi quan hệ giữa cơ thể mẹ và bào thai: Khi thai đã thành thục thì quan hệ sinh lý giữa mẹ và nhau thai không còn cần thiết nữa, lúc này thai đã trở thành như một ngoại vật trong tử cung nên được đưa ra ngoài bằng động tác đẻ

- Thời gian đẻ kéo dài hay ngắn tùy từng loài gia súc, ở lợn thường từ 2 - 6h,

nó được tính từ khi cố tử cung mở hoàn toàn đến khi bào thai cuối cùng ra ngoài

2.2.2.4 Sinh lý lâm sàng

 Thân nhiệt:

Nhiệt độ thân thể gọi tắt là thân nhiệt, là một hằng số hằng định sinh học

ở các động vật cấp cao như động vật có vú, người

Trong điều kiện chăn nuôi giống nhau, thân nhiệt của gia súc non bao giờ cũng cao hơn thân nhiệt của gia súc trưởng thành và gia súc già: ở con cái cao hơn

Trang 25

con đực Trong một ngày đêm, thân nhiệt thấp nhất lúc sáng sớm (1 - 5 h sáng), cáo nhất vào buổi chiều từ 16h - 18h

Theo Nguyễn Thị Ngân và cs (2016) [20], thân nhiệt của lợn trong điều

kiện sinh lý bình thường dao động trong khoảng 38,5 - 39,5°C

 Sốt:

Sốt là phản ứng toàn thân đối với các tác nhân gây bệnh mà đặc điểm chủ yếu là thân nhiệt cơ thể cao hơn so với sinh lý bình thường Quá trình chủ yểu là do tác động của vi sinh vật gây bệnh, độc tố và những chất khác được hình thành trong quá trình sinh bệnh Những chất đó chủ yếu là protein hay sản phẩm của nó Một số kích tố như Adrenalin, Parathyoroxyn, nước muối, Glucoza ưu chương đều có thể gây sốt

2.2.3 Một số nguyên nhân gây bệnh

Theo Trần Tiến Dũng và cs (2002) [9], viêm tử cung là một quá trình bệnh lý thường xảy ra ở gia súc cái sinh sản sau đẻ Quá trình viêm phá huỷ các tế bào tố chức của các lớp hay các tầng tử cung gây rối loạn sinh sản ở gia súc cái làm ảnh hưởng lớn, thậm chí làm mất khả năng sinh sản ở gia súc cái Khoáng chất, vitamin ảnh hưởng đến viêm tử cung Thiếu vitamin A gây sưng niêm mạc, sót nhau (Nguyễn Thị Thuận, 2010) [29]

Theo Đào Trọng Đạt và cs (2000) [10], bệnh viêm tử cung ở lợn nái thường do các nguyên nhân sau:

Trang 26

- Công tác phối giống không đúng kỹ thuật, nhất là phối giống bằng phương pháp thụ tinh nhân tạo làm xây sát niêm mạc tử cung, dụng cụ dẫn tinh không được vô trùng khi phối giống có thể đưa vi khuẩn từ ngoài vào tử cung lợn nái gây viêm

- Lợn nái phối giống trực tiếp, lợn đực mắc bệnh viêm bao dương vật hoặc mang vi khuẩn từ những con lợn nái khác đã bị viêm tử cung, viêm âm đạo truyền sang cho lợn khoẻ

- Lợn nái đẻ khó phải can thiệp bằng thủ thuật gây tổn thương niêm m ạc

tử cung, vi khuẩn xâm nhập gây nhiễm trùng, viêm tử cung kế phát

- Lợn nái sau đẻ bị sát nhau xử lý không triệt để cũng dẫn đến viêm tử cung

- Do kế phát từ một số bệnh truyền nhiễm như: sẩy thai truyền nhiễm, phó thương hàn, bệnh lao, gây viêm

Theo Nguyễn Văn Điền, 2015 [11], do lợn nái chửa thiếu vận động, chuồng nuôi bẩn; do dinh dưỡng không hợp lý (lợn quá béo hoặc quá gầy), thiếu vitamin A, D, E và các nguyên tố vi lượng cần thiết Do công tác vệ sinh, chăm sóc quá trình sau đẻ không đảm bảo kỹ thuật

Theo (Trần Trọng Bằng, 2010) [2], vệ sinh chuồng trại kém, vệ sinh bộ phận sinh dục lợn nái trước khi đẻ không tốt, khu vực chuồng trại có mầm bệnh Do quá trình can thiệp khi lợn đẻ, thủ thuật đỡ đẻ, thao tác và dụng cụ không đúng kỹ thuật làm tổn thương niêm mạc Do tinh dịch bị nhiễm khuẩn

và dụng cụ thụ tinh không vô trùng đã đưa vi khuẩn gây viêm nhiễm vào bộ phận sinh dục của lợn nái Do lợn đực bị viêm liệu quản và dương vật khi nhảy trực tiếp sẽ truyền sang lợn nái

Ngoài các nguyên nhân kể trên viêm tử cung còn có thể là biến chứng nhiễm trùng do vi khuẩn xâm nhập vào dạ con gây nên trong thời gian động dục (vì lúc đó cổ tử cung mở), vi khuẩn xâm nhập vào tử cung theo đường máu và viêm tử cung là một trong những triệu chứng lâm sàng chung (Lê Văn Năm, 1997) [17]

Trang 27

Theo Madec F., Neva C (1995) [38]: Bệnh viêm tử cung và các bệnh ở đường tiết niệu có mối quan hệ với nhau, vi khuẩn trong nước tiểu cũng phát triển trong âm đạo và việc gây nhiễm ngược lên tử cung là rất dễ xảy ra

Nhiễm khuẩn tử cung qua đường máu là do vi khuẩn sinh trưởng ở một

cơ quan nào đó có kèm theo bại huyết, do vậy có trường hợp lợn hậu bị chưa phối nhưng đã bị viêm tử cung

Trịnh Đình Thâu và cs (2010) [27]: Sau khi đẻ tử cung co bóp yếu trong thời gian mang thai nhất là giai đoạn cuối con vật không được vận động phù hợp Trong thức ăn thiếu các chất khoáng, nhất là Ca và P Hoặc tử cung bị sa liệt, con vật quá gầy yếu hoặc quá béo, chửa quá nhiều thai, thai quá to, khó

đẻ, nước ối quá nhiều làm tử cung giãn nở quá mức

- Nhau mẹ và nhau con dính vào nhau: do con mẹ bị viêm tử cung hoặc

bị bệnh sảy thai truyền nhiễm làm cho các núm nhau bị viêm, làm phá vỡ mối quan hệ giữa nhau mẹ và nhau con nên dính vào nhau Do sự dính chặt này

mà nhiều khi tử cung co bóp mạnh nhau thai cũng không bong ra được

2.2.4 Các thể viêm tử cung

Theo Bane A (1986) [32], các quá trình bệnh xảy ra ở cơ quan sinh dục

là các nguyên nhân chính dẫn đến hiện tượng rối loạn sinh sản và giảm năng suất của gia súc cái

Nguyễn Văn Thanh và cs (2004) [24] cho biết: tuỳ vào vị trí tác động của quá trình viêm đối với tử cung của lợn nái, người ta chia thành ba thể viêm

Theo Nguyễn Văn Thanh (2007) [25], Black W.G (1983) [35], viêm nội mạc tử cung thể nhẹ (+), là viêm lớp niêm mạc của tử cung, đây là một trong các nguyên nhân làm giảm khả năng sinh sản của gia súc cái, nó cũng

là thể bệnh phổ biến và chiếm tỷ lệ cao trong các bệnh của viêm tử cung Viêm nội mạc tử cung thường xảy ra sau khi gia súc sinh đẻ, nhất là trong trường hợp đẻ khó phải can thiệp làm niêm mạc tử cung bị tổn thương, tiếp

Trang 28

đó các vi khuẩn Streptococcus, Staphylococcus, E.coli, Salmonella,

C.pyogenes, Bruccella, roi trùng Trichomonas Foetus… xâm nhập và tác

động lên lớp niêm mạc gây viêm

Theo Nguyễn Hữu Ninh, Bạch Đăng Phong (2000) [19], viêm nội mạc tử cung căn cứ vào triệu chứng có thể chia 2 loại:

- Viêm nội mạc tử cung thể cata cấp tính có mủ: thân nhiệt hơi cao,ăn uống giảm, lượng sữa giảm Con vật có trạng thái đau đớn nhẹ, có khi cong lưng dặn, tỏ vẻ không yên tĩnh Cơ quan sinh dục thải ra hỗn dịch niêm dịch lẫn với dịch viêm, mủ, lợn cợn những mảnh tổ chức chết, chỉ gây tổn thương

ở niêm mạc tử cung

- Viêm nội mạc tử cung có màng giả: tổ chức niêm mạc đã bị hoại tử, tổn thương lan sâu xuống dưới tầng cơ của tử cung và chuyển thành viêm hoại tử Thân nhiệt lên cao, ăn uống giảm xuống, lượng sữa giảm hoặc mất hẳn, kế phát viêm vú, âm hộ chảy ra nước màu đỏ nhạt hoặc nâu lẫn tổ chức hoại tử

 Viêm cơ tử cung

Viêm cơ tử cung thể vừa (++): thường kế phát từ viêm nội mạc tử cung thể màng giả Niêm mạc tử cung bị thấm dịch thẩm xuất, vi khuẩn xâm nhập

và phát triển sâu vào tổ chức làm niêm mạc bị phân giải, thối rữa gây tổn thương cho mạch quản và lâm ba quản, từ đó làm lớp cơ và một ít lớp tương mạc của tử cung bị hoại tử Nếu bệnh nặng, can thiệp chậm có thể dẫn tới nhiễm trùng toàn thân, huyết nhiễm trùng hoặc huyết nhiễm mủ Có khi do lớp cơ và lớp tương mạc của tử cung bị phân giải mà tử cung bị thủng hoặc tử cung bị hoại tử từng đám to

Lợn nái bị bệnh này thường biểu hiện triệu chứng toàn thân rõ: thân nhiệt tăng cao, mệt mỏi, ủ rũ, ăn uống giảm, lượng sữa giảm hoặc mất hẳn Mép âm đạo tím thẫm, niêm mạc âm đạo khô, nóng màu đỏ thẫm Gia súc biểu hiện trạng thái đau đớn, rặn liên tục Từ cơ quan sinh dục luôn thải ra ngoài hỗn dịch màu đỏ nâu, lợn cợn mủ và những mảnh tổ chức thối rữa nên

Trang 29

có mùi tanh, thối Con vật thường kế phát viêm vú, có khi viêm phúc mạc Thể viêm này thường ảnh hưởng đến quá trình thụ thai và sinh đẻ lần sau Có trường hợp điều trị khỏi nhưng gia súc vô sinh

Theo Đặng Đình Tín (1986) [30], viêm tương mạc tử cung thể nặng (+++): thường kế phát từ viêm cơ tử cung Thể viêm này thường cấp tính cục

bộ, toàn thân xuất hiện những triệu chứng điển hình và nặng Lúc đầu lớp tương mạc tử cung có màu hồng, sau chuyển sang đỏ sẫm, sần sùi mất tính trơn bóng Sau đó các tế bào bị hoại tử và bong ra, dịch thẩm xuất tăng tiết Nếu bị viêm nặng, nhất là viêm có mủ, lớp tương mạc có thể dính với các tổ chức xung quanh gây nên tình trạng viêm mô tử cung (thể paramestritis), thành tử cung dày lên, có thể kế phát viêm phúc mạc

Lợn nái biểu hiện triệu chứng toàn thân: nhiệt độ tăng cao, mạch nhanh, con vật ủ rũ, mệt mỏi, uể oải, đại tiểu tiện khó khăn, ăn uống kém hoặc bỏ ăn Lượng sữa rất ít hoặc mất hẳn, thường kế phát viêm vú Con vật luôn biểu hiện trạng thái đau đớn, khó chịu, lưng và đuôi cong, rặn liên tục Từ âm hộ thải ra ngoài rất nhiều hỗn dịch lẫn mủ và tổ chức hoại tử, có màu nâu và mùi thối khắm Khi kích thích vào thành bụng thấy con vật có phản xạ đau rõ hơn, rặn nhanh hơn, từ âm hộ dịch chảy ra nhiều hơn Trường hợp một số vùng của tương mạc đã dính với các bộ phận xung quanh thì có thể phát hiện được trạng thái thay đổi về vị trí và hình dáng của tử cung, có khi không tìm thấy một hoặc cả hai buồng trứng Nếu điều trị không kịp thời sẽ chuyển thành viêm mạn tính, tương mạc đã dính với các bộ phận xung quanh thì quá trình thụ tinh và sinh đẻ lần sau sẽ gặp nhiều khó khăn, có thể dẫn tới vô sinh Thể viêm này thường kế phát bệnh viêm phúc mạc, bại huyết, huyết nhiễm mủ

2.2.5 Đường xâm nhập

Mầm bệnh có mặt trong ruột, truyền qua niêm mạc đi vào máu, xâm

Trang 30

nhập vào tử cung, nguyên nhân chính của sự xâm nhập này là sự kém nhu động của ruột và nhất là táo bón Xâm nhập có thể hướng từ ngoài vào do vi khuẩn hiện diện trong phân và nước tiểu Bệnh nhiễm trùng mạn tính của thận, bàng quang và đường niệu cũng là nguyên nhân gây nhiễm Hầu hết các trường hợp viêm tử cung đều có sự hiện diện của vi sinh vật cơ hội thường xuyên có mặt trong chuồng nuôi Lợi dụng lúc sinh sản tử cung, âm đạo tổn thương chứa nhiều sản dịch, vi trùng xâm nhập đường sinh dục gây viêm tử cung

2.2.6 Chẩn đoán

Triệu chứng lâm sàng: bệnh viêm tử cung thường biểu hiện vào lúc đẻ và thời kì tiền động đực, cổ tử cung mở nên dịch viêm có thể chảy ra ngoài Số lượng mủ không ổn định, từ vài ml cho tới 200 ml hoặc hơn nữa Tính chất

mủ từ dạng dung dịch màu trắng loãng cho tới màu xám hoặc vàng, đặc như kem, có thể màu máu cá Người ta thấy rằng thời kì sau sinh đẻ hay xuất hiên viêm tử cung cấp tính, viêm tử cung mạn tính thường gặp trong thời kì cho sữa Hiện tượng chảy mủ ở âm hộ có thể cho phép nghi viêm nội mạc tử cung Theo Nguyễn Tài Năng và cs (2016) [18]: vệ sinh chuồng trại sạch sẽ một tuần trước khi lợn đẻ, rắc vôi bột hoặc nước vôi 20% sau đó rửa sạch bằng nước thường, tắm cho lợn trước khi đẻ, vệ sinh sạch sẽ bộ phận sinh dục

và bầu vú

Nguyễn Văn Thanh và cs (2015) [26] cho biết: khi lợn nái mang thai, cổ

tử cung sẽ đóng rất chặt vì vậy nếu có mủ chảy ra thì có thể là do viêm bàng quang Nếu mủ chảy ở thời kỳ động đực thì có thể bị nhầm lẫn

Như vậy, việc kiểm tra mủ chảy ra ở âm hộ chỉ mang tính chất tương đối Trong một trại có nhiều biểu hiện mủ chảy ra ở âm hộ, ngoài việc kiểm tra mủ nên kết hợp xét nghiêm nước tiểu và kiểm tra cơ quan tiết niêu sinh dục Mặt khác, nên kết hợp với đặc điểm sinh lý sinh dục của lợn nái để chẩn đoán cho chính xác

Trang 31

Theo Lê Văn Năm (1997) [17] khi lấy Protid Muxin trong dịch nhầy chảy ra từ âm đạo lợn nái rồi cho vào l ml dung dịch acid axetic 1% hay (dấm chua) nếu phản ứng dương tính khi muxin kết tủa điều đó chứng tỏ lợn không

bị viêm tử cung, nếu ngược lại muxin không kết tủa phản ứng âm tính kết Mỗi thể viêm khác nhau biểu hiện triệu chứng khác nhau và có mức độ ảnh hưởng khác nhau tới khả năng sinh sản của lợn nái Để hạn chế tối thiểu hậu quả do viêm tử cung gây ra cần phải chẩn đoán chính xác mỗi thể viêm từ

đó đưa ra phác đổ điều trị tối ưu nhằm đạt được hiệu quả điều trị cao nhất, thời gian điều trị ngắn nhất, chi phí điều trị thấp nhất

Bảng 2.2 Các chỉ tiêu chẩn đoán viêm tử cung

Viêm tử cung thể nặng

2 Dịch

viêm

Màu Trắng xám, trắng sữa Hồng, nâu đỏ Nâu rỉ sắt

5 Bỏ ăn Bỏ ăn một phần hoặc

hoàn toàn Bỏ ăn hoàn toàn Bỏ ăn hoàn toàn

(Nguồn: Phòng kỹ thuật của trại)

Để chẩn đoán người ta dựa vào những triệu chứng điển hình ở cục bộ

cơ quan sinh dục và triệu chứng toàn thân Có thể dựa vào các chỉ tiêu ở bảng sau

- Đối với lợn nái sau khi đẻ có thể dựa trên cách tính điểm sau:

Trang 32

+ Số ngày chảy mủ, tính từ ngày đầu tới ngày thứ 5 sau khi sinh, 1 ngày

= 1 điểm

+ Bỏ ăn từ ngày đầu tới ngày thứ 5 sau khi sinh, 1 ngày = 1 điểm, nếu bỏ

ăn môt phần tính 1/2 điểm

+ Ngưỡng thân nhiệt để tính sốt và số ngày bị sốt là 39,8oC, 1 ngày = 1 điểm

- Tổng số điểm được dùng để đánh giá mức độ nghiêm trọng của bệnh như sau:

+ Tổng số điểm dưới 1 điểm: không có vấn đề

+ Tổng số điểm từ 2 đến 5 điểm: bệnh nhẹ đến trung bình

+ Tổng số điểm trên 6: bệnh nghiêm trọng

Tóm lại: chẩn đoán viêm tử cung cần rất cẩn thận, phải theo dõi thường xuyên vì mủ chảy ra ở âm hộ chỉ mang tính chất thời điểm và có khi viêm tử cung nhưng không sinh mủ

+ Viêm tử cung cata cấp tính: thường bị biến chứng do vi sinh vật gây

mủ và thể hiện dưới dạng viêm cata có mủ Dịch rỉ viêm tích lại trong xoang

tử cung trở dày có mủ, bở trắng ra, niêm mạc tử cung sung huyết, bở, trên niêm mạc xuất hiện nhiều dạng xuất huyết khác nhau

+ Viêm cata mạn tính trong tử cung: viêm mạc tử cung phẳng ra, không

có nếp gấp, phù nề sung huyết, với nhiều điểm xuất huyết, có nhiều đoạn bị loét,có nhiều ổ hoại tử, xoang tử cung chứa nhiều dịch mủ quánh dạng kem sữa hoặc là chất lỏng lợn cợn đôi khi là máu

Trang 33

- Viêm cata chảy máu trong tử cung: màng niêm mạc bị trương, phình,

bở, màu đỏ sẫm hay tím sẫm, bề mặt niêm mạc đầy những điểm xuất huyết Trong xoang tử cung đôi khi chứa nhiều dịch rỉ màu vàng sẫm hay đỏ lợn cợn nhiều cục máu, viêm xuất huyết tử cung chủ yếu ở lợn từ 3-5 tuổi

- Hoá cứng tử cung: là những biến đổi về cấu trúc và chức năng vách tử cung do chúng bị thoái hoá Do biến chứng viêm cata, viêm cata có mủ, viêm cata xuất huyết dài trong tử cung Ngoài ra còn có viêm cổ tử cung, viêm quanh tử cung có u nước, teo tử cung

2.2.7 Hậu quả

Bệnh viêm tử cung ở lợn nái là một trong những tổn thương đường sinh dục ảnh hưởng rất lớn đến khả năng sinh sản, làm mất sữa Lợn con không có sữa sẽ còi cọc, suy dinh dưỡng, chậm phát triển Lợn nái chậm động dục trở lại, không thụ thai, có thể dẫn đến vô sinh, mất khả năng sinh sản

Đặc biệt tử cung là một trong những bộ phận quan trọng nhất trong cơ quan sinh dục của lợn nái, nếu tử cung xảy ra bất kỳ quá trình bệnh lý nào thì đều ảnh hưởng rất lớn tới khả năng sinh sản của lợn mẹ và sự sinh trưởng, phát triển của lợn con

Khi lợn nái bị viêm tử cung sẽ dẫn tới một số hậu quả chính sau:

- Khi lợn bị viêm tử cung dễ dẫn tới sảy thai

- Lợn mẹ bị viêm tử cung bào thai cũng phát triển kém hoặc thai chết lưu

- Lớp nội mạc của tử cung bị viêm cấp tính, bào thai nhận được ít thậm chí không nhận được dinh dưỡng từ mẹ nên phát triển kém hoặc chết lưu

- Sau khi sinh con lượng sữa giảm hoặc mất hẳn sữa nên lợn con trong giai đoạn theo mẹ thường bị tiêu chảy

- Khi lợn nái bị nhiễm trùng tử cung, lợn nái ít hoặc mất hẳn sữa Lượng sữa giảm, thành phần sữa cũng thay đổi nên lợn con thường bị tiêu chảy, còi cọc

- Lợn nái bị viêm tử cung mạn tính sẽ không có khả năng động dục trở lại

Trang 34

- Nếu tử cung bị viêm mạn tính thì sự phân tiết PGF2  giảm, do đó thể vàng vẫn tồn tại

Theo Trần Thị Dân (2004) [5], lợn nái bị mắc bệnh viêm tử cung mạn tính sẽ không có khả năng động dục trở lại Nếu tử cung bị viêm mạn tính thì

sự phân tiết PGF2 giảm, do thể vàng vẫn tồn tại, vẫn tiếp tục tiết Progesterone Progesterone ức chế thùy trước tuyến yên tiết LH, do đó ức chế

sự phát triển của noãn bao trong buồng trứng nên lợn nái không thể động dục trở lại được và không rụng trứng

Qua đó ta thấy hậu quả của viêm tử cung là rất lớn, để tỷ lệ mắc bệnh giảm, người chăn nuôi phải có những hiểu biết nhất định về bệnh từ đó tìm ra biện pháp để phòng và điều trị hiệu quả

2.2.8 Biện pháp phòng và điều trị

* Phòng bệnh: vệ sinh chuồng nái đẻ sạch sẽ một tuần trước đẻ, rắc vôi

bột hoặc nước vôi 20% sau đó rửa bằng nước sạch hoặc dùng dung dịch Biocid - 30 pha với tỷ lệ 1/1000

Khi đẻ, vệ sinh sạch sẽ bộ phận sinh dục và bầu vú, phun sát trùng bằng dung dịch Biocid - 30 pha với tỷ lệ 1/1000 lên mình gia súc

Khi đỡ đẻ bằng tay cần có găng tay, tay được sát trùng kỹ bằng rượu, cồn, bôi trơn vazơlin hoặc dầu lạc Sau khi lợn đẻ xong phải bơm rửa bằng nước đun sôi để nguội, pha thuốc tím với tỷ lệ 1/1000 hay nước muối sinh lý 9/1000 hay Biocid - 30 1/2000 Sau đó bơm hoặc đặt thuốc kháng sinh penicilin 2 - 3 triệu UI, tetramycin hay sulfanilamid 2 - 5gam vào tử cung để chống viêm Trước khi cho lợn giao phối cần kiểm tra lợn đực xem có mắc bệnh không, vệ sinh sạch sẽ bộ phận sinh dục của lợn đực và lợn nái Nếu thụ tinh nhân tạo cần kiểm tra dụng cụ, vệ sinh sát trùng dụng cụ, kiểm tra phẩm chất tinh dịch,

Trang 35

* Biện pháp điều trị

Để điều trị tốt bệnh viêm tử cung cho lợn cần phải theo dõi, phát hiện bệnh kịp thời và chẩn đoán đúng bệnh Phát hiện điều trị bệnh sớm sẽ rút ngắn được thời gian điều trị, đỡ tốn kém thuốc, bệnh chóng khỏi và con vật chóng hồi phục

+ Tiêm kháng sinh

Cách 1: Tiêm amoxiject LA, tiêm bắp liều 1 ml/ 10 - 15kg TT/ngày, dùng liên tục 3 - 5 ngày

Cách 2: Tiêm tylo - genta, tiêm bắp liều 1 ml/10 - 15kg TT, tiêm liên tục

3 - 5 ngày, kết hợp với septotryl tiêm bắp hoặc tĩnh mạch liều 1ml/10 - 15kg TT/ngày, dùng liên tục 3 - 5 ngày

+ Tiêm thuốc trợ sức: vitamin B1, vitamin C, vitamin B12 Lưu ý khi pha thuốc tiêm vitamin C không dùng chung với kháng sinh peniciline, sulfamid

Amoxinject LA tiêm bắp 1ml/10 - 15kg TT

Thụt 1 triệu UI penicillin + 1g Streptomycine

Liệu trình ngày 1 lần

Phác đồ II:

tylo - genta, tiêm bắp 1ml/10 - 15kg TT

Thụt 1 triệu UI penicilin + 1g Streptomycine

Liệu trình ngày 1 lần

Trang 36

Penicilin 1 triệu UI Streptomycin 1g Nước cất 50 ml Hòa tan hỗn hợp bơm trực tiếp vào tử cung

Điều trị toàn thân

Tiêm kháng sinh: amoxinject LA dùng tiêm bắp thịt, tiêm 1ml/10 - 15kg TT/ngày

Tiêm thuốc trợ sức: vitamin B1, B12, C

Cùng với việc điều trị, con vật được chăm sóc, nuôi dưỡng vệ sinh tốt.

* Thành phần và tác dụng của một số thuốc điều trị bệnh viêm tử cung cho lợn nái

- Dung dịch biocid - 30

+ Thành phần: trong 100 ml biocid có chứa 3% I-ốt

+ Công dụng: dùng thụt rửa tử cung, chất lượng thuốc ổn định, có tác dụng diệt khuẩn nhanh, kéo dài, an toàn cho gia súc khi sử dụng, diệt vi khuẩn, virus, các dạng nha bào của vi sinh vật, nấm

Biocid liều lượng sử dụng thụt rửa tử cung là 1/2000 còn có tác dụng sát trùng chuồng trại, dụng cụ chăn nuôi Dùng thuốc pha với tỷ lệ 1/500 để phun rửa Pha tỷ lệ 1/1000 phun sát trùng lên mình gia súc trong chuồng nuôi, pha

tỷ lệ 1/2000 sát trùng nước uống gia súc

Ngày đăng: 20/09/2018, 09:07

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w