~ 1 ~ TÁC PHẨM TUYÊN NGÔN ĐỘC LẬP – HỒ CHÍ MINH I TÁC GIẢ, TÁC PHẨM 1 Tác giả Hồ Chí Minh sinh ngày 19 05 1890, mất ngày 02 09 1969, tên khai sinh là Nguyễn Sinh Cung, Người là nhà cách mạng, người sáng lập Đảng Cộng sản Việt Nam, một trong những người đặt nền móng và lãnh đạo công cuộc đấu tranh giành độc lập, toàn vẹn lãnh thổ cho Việt Nam trong thế kỷ XX, một chiến sĩ cộng sản quốc tế Hồ Chí Minh đã s{ng t{c nhiều tác phẩm văn học có giá trị thuộc nhiều thể loại Người am hiểu quy luật v| đặc.
Trang 1TÁC PHẨM: TUYÊN NGÔN ĐỘC LẬP – HỒ CHÍ MINH
I TÁC GIẢ, TÁC PHẨM
1 Tác giả
- Hồ Chí Minh sinh ngày 19-05-1890, mất ngày 02-09-1969, tên khai sinh là
Nguyễn Sinh Cung, Người là nhà cách mạng, người sáng lập Đảng Cộng sản Việt Nam, một trong những người đặt nền móng và lãnh đạo công cuộc đấu
tranh giành độc lập, toàn vẹn lãnh thổ cho Việt Nam trong thế kỷ XX, một chiến sĩ cộng sản quốc tế
- Hồ Chí Minh đã s{ng t{c nhiều tác phẩm văn học có giá trị thuộc nhiều thể loại Người am hiểu quy luật v| đặc trưng của hoạt động văn nghệ Bác xem văn học l| vũ khí chiến đấu lại hại phụng sự cho sự nghiệp cách mạng Người chú trọng tính chân thật và tính dân tộc của văn học Hơn nữa, khi cầm bút
Hồ Chí Minh bao giờ cũng xuất phát từ múc đích, đối tượng, nội dung và hình thức của tác phẩm
- Phong c{ch s{ng t{c trong văn chính luận: Ngắn gọn, súc tích, lập luận chặt chẽ, lí lẽ đanh thép Những {ng văn chính luận tiêu biểu của Hồ Chí Minh cho thấy người viết không chỉ bằng lí trí sáng suốt, trí tuệ sắc sảo, mà còn bằng
cả tấm lòng yêu nước nồng nàn của một trái tim lớn
2 Tác phẩm “Tuyên ngôn độc lập”
Hoàn cảnh sáng tác:
- Trong nước: Bản tuyên ngôn ra đời trong hoàn cảnh đất nước đang trong tình thế vô cùng cấp bách: khi nền độc lập mới gi|nh được bị đe dọa bởi các thế lực phản động quốc Tế, c{c nước đế quốc mượn danh nghĩa Đồng minh muốn tiến v|o nước ta, nhà cầm quyền Ph{p cũng muốn quay lại nước ta với luận điệu nước ta từng là thuộc địa của chúng
- Thế giới: Đầu mùa thu năm 1945, tình hình quốc tế có nhiều chuyển biến, cuộc chiến tranh thế giới thứ hai đang đi v|o giai đoạn cuối Phát xít Nhật đầu h|ng qu}n Đồng minh Chớp lấy thời cơ đó, nh}n d}n ta, dưới sự tổ chức và chỉ đạo của Việt Minh đã vùng lên cướp lấy chính quyền
Trang 2Nội dung: Tác phẩm “Tuyên ngôn độc lập” được soạn thảo vào ngày 26-08-1945
tại số nhà 48 Hàng Ngang, giữa thành phố Hà Nội, với mục đích tuyên bố độc lập, khai sinh nước Việt Nam dân chủ cộng hòa trước toàn dân và toàn thế giới, đồng thời bác bỏ luận điệu sảo tr{, }m mưu x}m lược của c{c nước đế quốc, thực dân, bên cạnh đó l| khẳng định quyết tâm gìn giữ và bảo vệ nền độc lập của dân tộc ta Đ}y là bản tuyên ngôn độc lập lần đầu tiên tuyên bố với thế giới về sự ra đời của một nh| nước mới, đ{nh dấu một kỉ nguyên mới – kỉ nguyên độc lập, tự do – cho một dân tộc bất khuất, kiên cường
II KIẾN THỨC TRỌNG TÂM
1 Phần 1: Cơ sở pháp lý và chính nghĩa
Mở đầu bài viết, tác giả đã đi thẳng vào vấn đề, nêu ra những căn cứ
luận điểm pháp lí: “Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng Tạo hóa cho
họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc” hay “Người ta sinh ra tự do
và bình đẳng về quyền lợi; và phải luôn luôn được tự do và bình đẳng về quyền lợi”
Đó l| những câu tuyên bố nổi tiếng được Bác rút ra từ hai bản tuyên ngôn:
“tuyên ngôn độc lập” của Mĩ v| “tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền” của Pháp
Cả hai bản tuyên ngôn n|y đều đề cập đến quyền tự do, quyền sống, quyền bình đẳng của con người Người trân trọng, đề cao những lời lẽ trong hai văn bản này Nội dung này tạo nên nguyên lí chung l|m cơ sở cho hệ thống luận điểm là lập luận cho bản tuyên ngôn Đó l| nguyên lí phổ quát mang tính chân lí về quyền hưởng độc lập, tự do của con người, của tất cả các dân tộc trên thế giới Đồng thời nó cũng gợi lại niềm tự hào cao cả của lịch sử dân tộc Việt Nam về các triều đại Đinh, Lý, Trần, cùng sánh với với các triều đại Hán,
Đường, Tống, Nguyên đã được Nguyễn Trãi ghi lại trong “Bình Ngô Đại cáo”
Người khẳng định “đó là những lẽ phải không ai chối cãi được” Việc trích dẫn hai văn bản này có tác dụng rất lớn, nó như một cách “gậy ông đập lưng ông”, đập tan mọi luận điệu xảo trá của kẻ thù, tố cáo tội ác của chúng Cách
nêu dẫn chứng ấy vừa khéo léo vừa kiên quyết cũng h|m chứa sự phê phán: thực d}n Ph{p v| đế quốc Mĩ đã ch| đạp lên ch}n lí, ch| đạp lên lương t}m v|
Trang 3lí tưởng của cha ông chúng Đó l| c{ch dùng lí lẽ của kẻ thù để chống lại kẻ thù Câu nói của người mở đầu cho tr|o lưu giải phóng dân tộc trên khắp thế giới Đồng thời, đặt bản tuyên ngôn của nước ta ngang hàng với hai bản tuyên ngôn của thực d}n Ph{p v| đế quốc Mĩ nhằm khẳng định vị thế của đất nước
ta đầy kiêu hãnh trước thế giới, đó l| một niềm tự hào, tự tôn dân tộc và quốc
tế hóa vấn đề độc lập của dân tộc ta
Tuy nhiên, nếu như bản Tuyên ngôn của nước Mỹ v| nước Pháp chỉ đơn thuần đề cập đến quyền con người như một sự tất yếu của tạo hóa thì Chủ tịch Hồ Chí Minh bằng trí tuệ mẫn tiệp, bằng sự trải nghiệm thực tế và thực tiễn cách mạng Việt Nam đã ph{t triển sáng tạo, đưa ra một mệnh đề không
thể phủ nhận về quyền độc lập của mọi dân tộc: “Suy rộng ra câu ấy có nghĩa là: Tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng; dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do” Người đã đi từ khái niệm con người
sang khái niệm dân tộc một cách tổng qu{t v| cũng đầy thuyết phục, khẳng định quyền dân tộc và quyền con người có mối quan hệ biện chứng, t{c động qua lại lẫn nhau V| điều đó cũng có nghĩa l| Người đưa vấn đề độc lập của dân tộc Việt Nam thành vấn đề tiêu biểu cho phong trào giải phóng dân tộc trên thế giới
Cụm từ “suy rộng ra” hết sức quan trọng vì nội dung c}u văn ngay sau l|
sự phát triển, sáng tạo tư tưởng từ nguyên lí về quyền tự do, bình đẳng của cá nh}n đi đến nguyên lí chung mang tính kh{t qu{t hơn về quyền tự do, bình
đẳng của dân tộc Đồng thời cái luận điểm “suy rộng ra” kia chính là phát súng
lệnh mở đầu cho bão táp cách mạng ở các thuộc địa sẽ làm sụp đổ chủ nghĩa thực dân trên khắp thế giới vào nửa sau thế kỉ XX C}u văn mang tính đối thoại, tranh biện, luận chiến, khẳng định lập trường chính nghĩa v| đặt cơ sở pháp lí vững chắc cho nền độc lập dân tộc
2 Phần 2: Vạch trần sự tàn ác, bộ mặt của thực dân Pháp
Trên cơ sở đó, Hồ Chí Minh đã lên {n sự tàn bạo để thấy rõ bản chất phản động của chủ nghĩa thực dân Những lời bất hủ trong hai bản tuyên ngôn cả Ph{p v| Mĩ đã trở th|nh cơ sở ph{p lí để Bác kết tội thực dân Pháp:
“Thế mà hơn 80 năm nay, bọn thực dân Pháp lợi dụng lá cờ tự do, bình đẳng, bác ái,
Trang 4đến cướp đất nước ta, áp bức đồng bào ta” B{c đã vạch trần luận điệu xảo trá của
thực d}n Ph{p, gi{ng đòn phủ đầu về phía chúng Tội ác ấy được phơi b|y trên nhiều khía cạnh: kinh tế, chính trị, văn hóa Về chính trị, Bác nêu hàng
loạt những dẫn chứng bằng các hình ảnh vô cùng tàn bạo: “chúng tuyệt đối không cho nhân dân ta một chút tự do dân chủ nào”, “chúng thi hành những luật pháp dã man”, “ngăn cản dân tộc ta đoàn kết”, “chúng lập ra nhà tù nhiều hơn trường học”, “chúng thẳng tay chém giết ”, “chúng tắm các cuộc khởi nghĩa của ta trong những bể máu” Lời kể tội của tác giả hùng hồn, đanh thép, cùng với cách
lập luận trùng điệp, sử dụng những động từ mạnh nhằm làm nổi bật sự gian sảo của thực dân Pháp
Về kinh tế, B{c cũng kết tội thực dân Pháp từ kh{i qu{t đến cụ thể:
“chúng bóc lột dân ta đến xương tủy, khiến cho dân ta nghèo nàn, thiếu thốn, nước ta
xơ xác, tiêu điều”, “chúng giữ độc quyền in giấy bạc, xuất cảng và nhập cảng”,
“chúng đặt ra hàng trăm thứ thuế vô lí”, “chúng không cho các nhà tư sản ta ngóc đầu lên”, “chúc bóc lột công nhân ta một cách vô cùng tàn nhẫn” Tội ác lớn nhất
của thực dân Pháp gây ra là nạn đói khủng khiếp năm 1945: Pháp khiến nhân
dân ta chịu hai tầng xiềng xích Pháp và Nhật, “từ đó nhân dân ta càng cực khổ, nghèo nàn”, “hơn hai triệu đồng bào ta bị chết đói” Giọng văn ở phần này thay
đổi linh hoạt được người vận dụng một cách triệt để Nếu như ở phần liệt kê tội ác, việc làm xấu xa của thực d}n Ph{p, Người dùng giọng đanh thép, mỉa mai, căm thù qu}n địch thì khi tới miêu tả hậu quả mà dân ta phải chịu, phải gồng mình lên chống đỡ thì giọng văn lại chuyển sang nhẹ nh|ng, đau xót, thương cảm Hơn nữa, thực dân Pháp đã thi h|nh chính s{ch ngu d}n, tiêu diệt văn hóa, chính l| muốn diệt trừ tận gốc bản sắc dân tộc ta Tác giả cũng không bỏ xót tội {c b{n nước ta hai lần cho Nhật trong vòng năm năm, chúng
thẳng tay khủng bố Việt Minh, “giết nốt số đông tù chính trị ở Yên Bái và Cao Bằng” Điệp từ “chúng” xuất hiện d|y đặc, lồng trong những câu song hành,
đồng nghĩa như những nh{t búa đập thẳng vào lớp vỏ bọc hoa mĩ của bọn thực dân, tạo âm vang lớn, vừa kết án tội ác của thực dân Pháp vừa chứng tỏ sức mạnh của dân tộc ta, sức mạnh của chính nghĩa
Từng câu, từng chữ đã nêu bật bản chất bọn x}m lược, Người đã lột mặt
nạ “khai hóa” và “bảo hộ” của chúng trước nhân dân thế giới, khơi dậy lòng
Trang 5căm thù địch của nh}n d}n ta H|nh động của chúng hết sức vô nh}n đạo, sự thật lịch sử đã tố cáo bản chất dối trá, hèn nhát của bọn x}m lược Tất cả những lí lẽ và bằng chứng đều được cấu trúc trong một hệ thống lập luận chặt chẽ, đanh thép nhằm chống lại những ngụy thuyết thực dân, những mưu đồ x}m lược của các lực lượng đế quốc nhằm giữ vững chính quyền – vấn đề quan trọng nhất đối với vận mệnh dân tộc ta lúc bấy giờ Từ những hành động tàn nhẫn của thực dân Pháp, tác giả dẫn dắt chúng ta đến những hành động nh}n đạo, khoan hồng của quân và dân ta: giúp nhiều người Pháp chạy qua biên thùy, cứu nhiều người Pháp ra khỏi nhà giam Nhật, bảo vệ tính mạng và tài sản cho họ Đ}y chính l| gi{ trị nh}n đạo của bản tuyên ngôn
Bác khẳng định một sự thật lịch sử: “Sự thật là từ năm 1940 trở đi, nước ta
đã trở thành thuộc địa của Nhật, chứ không phải thuộc địa của Pháp nữa” Để đập tan }m mưu t{i chiếm Đông Dương, Hồ Chí Minh dõng dạc tuyên bố: “Sự thật
là dân ta đã lấy lại nước Việt Nam từ tay Nhật, chứ không phải từ tay Pháp” Điệp ngữ “sự thật là” mang }m hưởng mạnh mẽ, đã khẳng định ta đã lấy lại đất
nước từ tay Nhật, đất nước mà thực d}n Ph{p đã cướp rồi bán cho phát xít Nhật Chúng ta chiến đấu chống ph{t xít, đứng về phía mặt trận dân chủ chống phát xít, có vai trò và vị trí xứng đ{ng trước thế giới chính do sức mạnh
tự chủ của dân tộc Như vậy c{c nước tiến bộ trên thế giới phải đồng tình ủng
hộ quyền được hưởng tự do độc lập một c{ch chính đ{ng của dân tộc ta
3 Phần 3: Lời tuyên bố độc lập
Tiếp theo là lời tuyên bố sáng ngời chính nghĩa, thể hiện quyết tâm sắt
đ{, không một thế lực thù địch nào có thể lay chuyển: “tuyên bố thoát li hẳn quan hệ thực dân với Pháp, xóa bỏ hết hiệp ước mà Pháp đã kí về nước Việt Nam, xóa
bỏ tất cả mọi đặc quyền của Pháp trên đất nước Việt Nam” Tuyên bố với thế giới
về việc thành lập của một đất nước mới nhưng đã phải chịu nhiều đau
thương, t{c giả đã rất đanh thép v| triệt để khi dùng những cụm từ “thoát li hẳn”, “xóa bỏ hết” để nhấn mạnh sự phủ định tuyệt đối mọi quan hệ giữa nước
ta và Pháp, chặt nốt những mắt xích cuối cùng ràng buộc Việt Nam, để đất nước đứng lên trong sự tự do hoàn toàn, xây dựng chế độ mới Cuối cùng, thay mặt cho cả một dân tộc vừa gi|nh được tự do, độc lập, Người nêu lời thề
‚toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và
Trang 6của cải để giữ vững quyền tự do độc lập ấy” Lời tuyên bố vang lên như một lời
thề thiêng liêng làm chấn động lòng người, đồng thời như một lời cảnh cáo với Pháp, với Đồng minh, một lời tuyên thệ của nhân dân Việt Nam với thế giới, khẳng định ý chí quyết tâm giữ vững độc lập, tự do của nhân dân ta
4 Nhận xét chung
- To|n văn bản “Tuyên ngôn độc lập” không quá dài mà rất súc tích, cô đọng,
hàm ý sâu xa Bằng lí lẽ, lập luận sắc bén, giọng văn thay đổi luân chuyển nhịp nh|ng, Người vừa vạch ra hàng loạt tội {c t|y đình của thực dân Pháp, vừa bày tỏ lòng biết ơn sự hi sinh, tình yêu quê hương s}u sắc của dân tộc Việt Nam đã đúc kết thành một làn sóng mạnh mẽ
- Bản tuyên ngôn có thể sánh với những {ng ‚thiên cổ hùng văn‛ m| ông cha
ta đã để lại trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước của cả ng|n năm tồn tại
trong mối quan hệ với phương Bắc như “áng thơ thần bên sông Như Nguyệt” gắn với cuộc kháng chiến chống Tống của Lý Thường Kiệt, như “Hịch tướng sĩ” thời Trần Hưng Đạo thống lĩnh to|n d}n ba lần đ{nh bại giặc Nguyên - Mông, hay “Đại cáo Bình Ngô” của Nguyễn Trãi tuyên cáo về chiến thắng vẻ
vang của cuộc kháng chiến trường kỳ đ{nh đuổi giặc Minh đô hộ dưới ngọn
cờ của minh quân Lê Lợi Nhưng với “Tuyên ngôn Độc lập” ra đời vào một
thời điểm có ý nghĩa lịch sử đối với toàn thế giới khi cuộc đại chiến lần thứ hai kết thúc lại mang một giá trị đặc biệt Nó không còn trong giới hạn của khẳng định về quyền tự chủ của dân tộc ta đối với nước láng giềng phương Bắc của
“Nam quốc sơn hà Nam đế cư” mà còn khẳng định được với toàn thế giới về sự
ra đời một nước Việt Nam hiện đại, không chỉ thoát ly chế độ thuộc địa của thực d}n Ph{p đã đầu hàng, từ tay chủ nghĩa ph{t xít Nhật đã bại trận, mà còn chấm dứt luôn cả chế độ quân chủ từng tồn tại cả ng|n năm bằng sự thoái
vị của ông vua cuối cùng của triều Nguyễn
- Trên tinh thần kế thừa những áng thiên cổ hùng văn, Hồ Chí Minh làm rõ hơn quyền độc lập tự do trên cơ sở ph{p lí v| cơ sở thực tế Từ đó khẳng định cuộc đấu tranh chính nghĩa, yêu cầu thế giới thừa nhận quyền của những con người chính nghĩa, quyết tâm bảo vệ nền độc lập Tinh thần tự chủ được nâng cao và mở rộng hơn, xứng đ{ng l| {ng văn mẫu mực
Trang 7=> Bản “Tuyên ngôn độc lập” vì thế đóng vai trò ho|n tất một xứ mệnh lịch sử
Sự ra đời đúng lúc của nó đã chặn đứng }m mưu t{i x}m lược Việt Nam của thực dân Pháp, chống lại ý đồ can thiệp vào Việt Nam của c{c nước đế quốc khác, mở đầu cho làn sóng giải phóng thuộc địa ở châu Á, khẳng định quyền v| n}ng cao địa vị của dân tộc ta trên trường quốc tế Với ý nghĩa như vậy,
“Tuyên ngôn độc lập” đã thực sự khai sinh ra một nước Việt Nam mới, mở ra kỉ
nguyên độc lập, tự do cho dân tộc ta
5 Đặc sắc nghệ thuật
- Sức thuyết phục của bản tuyên ngôn ở sự chính xác và giàu sức biểu cảm của
hệ thống ngôn từ, chỉ với một câu chín từ mà nêu bật một cục diện chính trị:
‚Ph{p chạy, Nhật hàng, vua Bảo Đại thoái vị‛
- Lập luận: chặt chẽ, sắc bén, thống nhất quan điểm chính trị từ đầu đến cuối bản tuyên ngôn độc lập
- Lí lẽ: xuất phát từ tình yêu công lí, th{i độ tôn trọng sự thật, dựa vào lẽ phải
đã được nhân dân thế giới công nhận và từ các cuộc đấu tranh vì chính nghĩa trong lịch sử nhân loại
- Dẫn chứng: xác thực, với những bằng chứng đanh thép, số liệu chính xác được lấy từ sự thực lịch sử
- Ngôn ngữ: hùng hồn, chan chứa tình cảm, c{ch xưng hô của Bác tạo được sự gần gũi với nhân dân cả nước trong giờ phút thiêng liêng của dân tộc; Giọng điệu nghị luận rất đanh thép, cứng rắn và giàu tính luận chiến; Hình ảnh được
sử dụng rất đa dạng, giàu sức gợi hình, giàu cảm xúc
- Việc sự dụng hàng loạt điệp từ, điệp ngữ tạo hiệu quả cao trong việc khẳng định c{c ý tưởng, đảm bảo sự chính xác và sức mạnh cho lí lẽ vừa gợi xúc cảm nhằm t{c động đến nh}n t}m, thôi thúc người nghe, người đọc nhận ra và thừa nhận chân lí Tất cả những điều đó đã khẳng định trình độ nghệ thuật
xuất sắc của tác giả, đưa “Tuyên ngôn độc lập” trở thành một mẫu mực của thể
văn chính luận
Trang 8Tài liệu tham khảo: Nghiên cứu
Tuyên ngôn độc lập - Bản Tuyên ngôn về các giá trị làm người
28/09/2017, Phạm Ngọc Anh - PGS.TS, Học viện Chính trị Quốc gia HCM (Mặt trận) - Tuyên ngôn độc lập gắn liền với tên tuổi và sự nghiệp của Chủ tịch Hồ Chí Minh, với ý chí và khí phách của dân tộc Việt Nam “Thà hy sinh tất cả chứ quyết không chịu làm nô lệ”
Bản Tuyên ngôn ấy thực sự là Tuyên ngôn lập quốc của dân tộc Việt Nam trong thời hiện đại Nó kế thừa truyền thống anh hùng, bất khuất của ông cha ta qua mọi triều đại, tiếp nối và phát triển sức sống mãnh liệt, giá trị
và bản sắc văn hóa cũng như bản lĩnh chính trị của dân tộc ta qua hàng ngàn năm lịch sử dựng nước và giữ nước để l|m thăng hoa trí tuệ và tâm hồn Việt Nam, ch}n lý v| đạo lý Việt Nam trong kỷ nguyên độc lập, tự do, trong thời đại mới mang tên thời đại Hồ Chí Minh, độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội
Bác Hồ đọc Tuyên ngôn Độc lập tại Quảng trường Ba Đình ng|y 2/9/1945 Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói: Trong đời, Người đã viết nhiều, nhưng đến bây giờ mới viết được một bản Tuyên ngôn như vậy Điều này ho|n to|n chính x{c Tuyên ngôn độc lập ngày 2 th{ng 9 năm 1945 l| một trong những sự kiện sáng chói nhất của thế kỷ XX Bởi vì, chính với bản Tuyên ngôn đó, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã được khai sinh, khẳng định thắng lợi trọn vẹn của cuộc Cách mạng Tháng Tám Bản Tuyên ngôn độc lập là kết quả của bao hy sinh xương m{u của đồng bào và những người con anh dũng của Việt Nam Nó được phôi thai từ bản Yêu s{ch t{m điểm năm
1919, Chương trình Việt Minh năm 1941 v| của những bản tuyên ngôn khác của các vị tiền bối Bản Tuyên ngôn độc lập là kết quả của bao hy vọng, gắng sức v| tin tưởng của hơn hai mươi triệu nhân dân Việt Nam Bản Tuyên ngôn độc lập đã kế thừa và phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc được kết tinh qua h|ng nghìn năm lịch sử, m| điểm sáng chói là chủ nghĩa yêu nước và tinh thần dân tộc; là trí tuệ và bản lĩnh văn hóa Việt Nam với khát vọng cháy bỏng l| đấu tranh vì nền độc lập dân tộc và bảo vệ chủ quyền quốc gia, toàn vẹn lãnh thổ Với tinh thần đó, Tuyên ngôn độc lập, thành quả
Trang 9của cuộc Cách mạng Tháng Tám, xứng đ{ng l| văn kiện lịch sử vô giá, có ý nghĩa lịch sử to lớn và giá trị thời đại sâu sắc
Tuyên ngôn độc lập của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tuyên bố quyền tự do của dân tộc, khẳng định thắng lợi của cách mạng nước ta Bản Tuyên ngôn đó không còn chỉ dành riêng cho dân tộc Việt Nam mà còn là sự cổ vũ, lời khẳng định thiêng liêng của tất cả các dân tộc trên thế giới, đặc biệt là các dân tộc nhược tiểu Như vậy, có thể khẳng định, Tuyên ngôn độc lập của Chủ tịch Hồ Chí Minh vừa mang tính dân tộc, nh}n văn, vừa mang tính thời đại Tính thời đại ấy được thể hiện rất rõ r|ng v| súc tích trong tư tưởng chủ đạo của bản Tuyên ngôn, đó l| Tuyên ngôn độc lập đã vạch trần bản chất gian xảo và tội ác của thực dân Pháp với đồng bào ta Nêu bật truyền thống nhân ái, lòng yêu độc lập, tự do; ý chí quyết tâm bảo vệ độc lập tự do của dân tộc Việt Nam
Trong phần đầu của bản Tuyên ngôn độc lập, Hồ Chí Minh nêu nguyên tắc tự do, bình đẳng và dẫn chứng ra hai bản tuyên ngôn nổi tiếng trong lịch
sử nhân loại của hai nước lớn là bản ‚Tuyên ngôn độc lập 1776‛ của Mỹ và bản ‚Tuyên ngôn nh}n quyền và dân quyền‛ của Pháp Sử dụng hai bản tuyên ngôn này, Hồ Chí Minh đã khẳng định quyền tự do, độc lập của dân tộc
ta bằng chính quan điểm của người Mỹ v| người Pháp về vấn đề n|y Đ}y l|
sự kế thừa hết sức khéo léo, chặt chẽ; và từ bản tuyên ngôn của Mỹ và Pháp, Người đã nêu những quy luật bất biến, được thừa nhận chung về quyền con người, quyền l|m người, khái quát lên thành quyền độc lập, tự do của cả một dân tộc
Việc trích dẫn hai bản tuyên ngôn nổi tiếng này có dụng ý của Bác Thứ nhất, B{c đã mượn hai bản tuyên ngôn kia để xây dựng nguyên tắc lý luận, đặt cơ sở ph{p lý kh{ch quan cho Tuyên ngôn độc lập của Việt Nam Thứ hai, đ}y l| c{ch đặt ba cuộc cách mạng, ba nền độc lập, ba bản tuyên ngôn ngang hàng nhau, thể hiện một niềm tự hào, tự tôn dân tộc< Thứ ba, B{c đã thể hiện một nguyên tắc chính trị khéo léo bằng phương ph{p ‚gậy ông đập lưng ông‛, dùng ngay lý lẽ của đối thủ để đẩy chúng vào thế ‚tự vạch mặt‛
Một tài tình nữa của Bác nằm trong ba chữ ‚suy rộng ra‛, từ quyền con người nói chung, B{c đã ph{t triển thành quyền dân tộc cụ thể Đ}y l| vấn đề
Trang 10có ý nghĩa thực tiễn to lớn đối với dân tộc Việt Nam, nhất l| khi độc lập dân tộc đang bị các lực lượng thù địch bao vây tứ phía Đ}y cũng l| mối bận tâm lớn nhất trong cuộc đời của B{c: ‚Ham muốn tột bậc l| l|m sao cho nước ta ho|n to|n độc lập, d}n ta được hoàn toàn tự do, đồng b|o ta ai cũng có cơm
ăn, {o mặc, ai cũng được học h|nh‛ N}ng quyền con người thành quyền dân tộc là một sáng tạo đ{ng quý của Bác, thể hiện tâm huyết lớn của Bác dành cho dân tộc mình Ý kiến ‚suy rộng ra‛ ấy còn là một đóng góp rất lớn v| đầy
ý nghĩa của B{c đối với phong trào giải phóng dân tộc trên thế giới Cống hiến nổi tiếng của Hồ Chí Minh là ở chỗ Người đã ph{t triển quyền lợi của con người thành quyền lợi của dân tộc Như vậy tất cả mọi dân tộc đều có quyền
tự quyết lấy vận mệnh của mình
Phần thứ hai, về lý lẽ, dẫn chứng, ngữ điệu để tiến công đối thủ, Bác có c{ch l|m riêng: Trước hết, lý lẽ của Bác bao giờ cũng ngắn gọn và sắc sảo:
‚Thế m| hơn 80 năm nay, bọn thực dân Pháp lợi dụng lá cờ tự do bình đẳng b{c {i đến cướp nước ta, áp bức đồng b|o ta H|nh động của chúng trái hẳn với nh}n đạo v| chính nghĩa‛ Chỉ với hai c}u văn B{c đã lột được mặt nạ địch thủ, tương phản giữa khẩu hiệu ‚tự do, bình đẳng, b{c {i‛ m| Ph{p rêu rao với thực tế ch| đạp lên tự do, độc lập của nhân dân Việt Nam Bản chất của thực dân Pháp lộ hẳn ra: Lời nói đối nghịch với việc làm, khẩu hiệu đẹp là cái mặt nạ rơi xuống đất để trơ ra bộ mặt phi nhân bất nghĩa
Về thực tế khách quan, dẫn chứng của B{c cũng rất phong phú, cụ thể, chính x{c, được rút ra từ những sự thật không thể chối cãi được ở những phương diện rất cơ bản: Chính trị, văn hóa, kinh tế; sự bán rẻ nước ta hai lần cho Nhật, tội ‚giết nốt số đông tù chính trị ở Yên Bái và Cao Bằng‛ Chỉ một c}u ‚Ph{p chạy, Nhật hàng, vua Bảo Đại thoái vị‛ m| chứa đựng được những biến động lớn nhất của Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX, nó đã đặt dấu chấm hết cho một thể chế, mở ra một thời đại mới Về thực tế chủ quan, B{c đã viện dẫn Dân tộc ta - nhân dân ta vốn yêu chuộng hoà bình, khao khát tự do - độc lập; từng kêu gọi Pháp liên minh chống Nhật; gan góc chống ách nô lệ của Ph{p trên 80 năm ; Gan góc đứng về phe Đồng minh chống phát xít; khoan hồng với kẻ thù bị thất thế; gi|nh độc lập từ tay Nhật chứ không phải từ Pháp; dân tộc ta nổi dậy giành chính quyền, đ{nh đổ chế độ phong kiến - thực dân,
Trang 11lập nên chế độ Dân chủ cộng hoà; thoát ly quan hệ với thực dân Pháp; xoá bỏ mọi hiệp ước, mọi đặc quyền - đặc lợi của Ph{p trên đất nước Việt Nam
Tuyên Ngôn độc lập đã ho|n to|n phủ nhận vai trò của Pháp ở Việt Nam
Đồng thời, nêu cao tinh thần yêu nước và truyền thống anh dũng của dân tộc ta; khẳng định quyền tự do và sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa - Một chế độ xã hội đảm bảo các giá trị l|m người đã được lịch sử gọi tên
và thừa nhận B{c đã tạo ra một biên bản lịch sử từ sự thật hiển nhiên không thể chối cãi của đời sống
Đến cuối bản Tuyên ngôn, B{c đưa ra những tuyên bố về lập trường của dân tộc Việt Nam Có các nội dung tuyên bố quan trọng: Phủ nhận triệt để vai trò của thực dân Pháp ở Việt Nam, tuyên bố lập nên chế độ Dân chủ Cộng hoà, yêu cầu Quốc tế công nhận độc lập, tự do của dân tộc Việt Nam: ‚Một dân tộc đã gan góc chống ách nô lệ của Pháp hơn 80 năm nay, một dân tộc đã gan góc đứng về phe Đồng minh chống phát xít mấy năm nay, d}n tộc đó phải được tự do! Dân tộc đó phải được độc lập!‛
Trong lời kết luận, sự khẳng định nền độc lập còn được tăng lên một bậc nữa: ‚Nước Việt Nam có quyền được hưởng tự do v| độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do, độc lập‛ V| vì thế, bản Tuyên ngôn đã khẳng định ý chí của người Việt Nam quyết bảo vệ nền độc lập dân tộc ấy bằng mọi giá
‚To|n thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy‛, cũng có nghĩa l| bảo
vệ chân lý, quyền sinh tồn và các giá trị l|m người!
Tuyên ngôn độc lập có giá trị lý luận và thực tiễn sâu sắc Việt Nam đã có
một bề dày mấy ng|n năm lịch sử chống ngoại xâm hào hùng với một ý thức quốc gia độ c lập có chủ quyền thuộc loại vững chắc Nhưng Chủ tịch Hồ Chí Minh mới l| người Việt Nam đầu tiên đã thống nhất hai nội dung ‚nước độc lập‛ v| ‚d}n tự do, hạnh phúc‛ l|m một Chế độ mới n|y được khai sinh bởi
bản Tuyên ngôn độc lập của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa lịch sử, do chính
Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại soạn thảo và công bố
Bản Tuyên ngôn độc lập được viết và hoàn thành trong một thời gian rất ngắn Nhưng nhất định Tuyên ngôn độc lập - một văn bản chính luận hiện đại
Trang 12với hệ thống lý lẽ đanh thép v| hệ thống dẫn chứng hùng hồn không thể chối cãi, có sức thuyết phục cao - phả i là kết quả của cả một qu{ trình trăn trở, suy ngẫm trong h|nh trình tìm đường cứu nước qua nhiều quốc gia trên thế giới của Chủ tịch Hồ Chí Minh; là kết quả của thực tiễn lãnh đạo t|i tình đưa c{ch
mạng Việt Nam đến thắng lợi của Người Tuyên ngôn Độc lập đã thể hiện sự
sáng suốt, nhạy bén và tầm nhìn chiến lược sâu rộng, khả năng dự báo thiên tài của Chủ tịch Hồ Chí Minh; là kết quả của tầm nhìn sâu rộng, của bao suy nghĩ trăn trở, v| hơn cả là của một tấm lòng luôn luôn hướng về đất nước, về nhân dân của Chủ tịch Hồ Chí Minh
Bản Tuyên ngôn độc lập là một văn kiện lịch sử có giá trị về mọi mặt, nhất
là về chính trị, tư tưởng Những lời trong Tuyên ngôn là kết tinh những giá trị tinh thần v| văn ho{ truyền thống của dân tộc Việt Nam Trải qua hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước Thể hiện truyền thống đấu tranh bất khuất chống x}m lược v| tư tưởng không có gì quý hơn độc lập, tự do của dân tộc Việt Nam
Tuyên ngôn độc lập là một văn bản pháp lý hiện đại, mang một giá trị đặc
biệt, không chỉ giới hạn về quyền độc lập, tự chủ của dân tộc ta đối với nước láng giềng, mà còn khẳng định với toàn thế giới về sự ra đời một nước Việt Nam hiện đại, thoát ly chế độ thuộc địa của thực d}n Ph{p đã đầu hàng và chủ nghĩa ph{t xít Nhật đã bại trận, đồng thời chấm dứt luôn chế độ quân chủ từng tồn tại cả ng|n năm bằng sự thoái vị của ông vua cuối cùng của triều đình nh| Nguyễn
Bản Tuyên ngôn độc lập còn khẳng định chủ quyền v| địa vị pháp lý của
Nh| nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và quyết tâm của nhân dân Việt Nam trong sự nghiệp bảo vệ quyền thiêng liêng bất khả xâm phạm Nâng quyền con người thành quyền dân tộc là một sáng tạo thiên tài của Hồ Chủ tịch, thể hiện tâm huyết lớn của Người dành cho dân tộc Việt Nam và các dân tộc trên thế giới Người đã ph{t triển quyền lợi của con người thành quyền lợi của dân tộc; khẳng định tất cả mọi dân tộc đều có quyền tự quyết định lấy vận mệnh của mình
Trang 13Về mặt thực tiễn, sự ra đời bản Tuyên ngôn độc lập của nước Việt Nam
Dân chủ Cộng hòa thực sự là một mốc son trong lịch sử của dân tộc Việt Nam;
đã khẳng định những quyền dân tộc cơ bản của dân tộc Việt Nam và trở thành một cuộc đối thoại lớn có ý nghĩa lịch sử trọng đại: Tuyên bố với thế giới về việc chấm dứt 80 năm đô hộ của thực d}n Ph{p v| h|ng nghìn năm phong kiến ở Việt Nam; tuyên bố sự ra đời và yêu cầu Quốc tế công nhận nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa; khẳng định quyền được hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã th|nh một nước tự do, độc lập của Việt Nam; thể hiện quyết tâm cao nhất của dân tộc trong đấu tranh giữ gìn độc lập dân tộc, tự do hạnh phúc của nhân dân
Ngay sau Lễ tuyên thệ của Chính phủ lâm thời do Chủ tịch Hồ Chí Minh lãnh đạo, Người nói: ‚Độc lập, tự do là của quý báu, quý giá vô ngần, ta
đã khổ sở trong bao nhiêu năm mới gi|nh được, cần cố gắng giữ gìn, bảo vệ‛ Ngay sau tuyên bố trịnh trọng với dân tộc và toàn thế giới về quyền bình đẳng thế giới của dân tộc, quyền mưu cầu tự do, sung sướng của nhân dân và tuyên bố quyết tâm cao nhất của dân tộc Việt Nam để quyết giữ gìn độc lập tự
do ấy, là những tuyên bố đanh thép kh{c của Người: ‚Nước độc lập mà dân không được tự do hạnh phúc thì độc lập đó chẳng có ý nghĩa gì‛; ‚Th| hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, không chịu làm nô lệ‛,
‚Không có gì quý hơn độc lập, tự do‛ đã khích lệ dân tộc Việt Nam đ{nh thắng c{c đế quốc to, hùng mạnh nhất thế giới và thời đại ở thế kỷ XX, giữ vững độc lập dân tộc v| đang từng bước mang lại ngày càng nhiều các hạnh phúc to lớn cho nhân dân
Tuyên ngôn độc lập của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời trong
một thời điểm trọng đại và phức tạp của lịch sử, có ý nghĩa x{c lập tính hợp pháp và hợp hiến của Nh| nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa; là tác phẩm bất
hủ của Hồ Chủ tịch; là bản anh hùng ca mở đầu kỷ nguyên mới Độc lập, tự do
và chủ nghĩa xã hội của dân tộc Việt Nam Ng|y nay, Tuyên ngôn độc lập đồng thời còn có giá trị đấu tranh bác bỏ những lý lẽ l{o xược cùng }m mưu tái chiếm Việt Nam của các lực lượng thù địch, tranh thủ sự đồng tình rộng rãi của dư luận quốc tế vì một nước Việt Nam độc lập có chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ
Trang 14Bản Tuyên ngôn độc lập không còn chỉ dành riêng cho dân tộc Việt Nam
m| đó còn l| sự cổ vũ, lời khẳng định thiêng liêng của tất cả các dân tộc trên thế giới, đặc biệt là các dân tộc kém v| chưa ph{t triển Tuyên ngôn Độc lập
của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã được thế giới coi như l| Tuyên ngôn nhân quyền của các dân tộc thuộc địa trên toàn thế giới Đó l| một đạo luật mới
của nhân dân thế giới khẳng định quyền tự do, độc lập bất khả xâm phạm của các dân tộc bị áp bức
Trong bối cảnh ngày nay, những giá trị của Tuyên ngôn độc lập 1945 của
Việt Nam: Thống nhất độc lập dân tộc với tự do, hạnh phúc của nhân dân là đồng thời giương cao hai ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; thống nhất biện chứng quyền con người với quyền dân tộc, đặt cơ sở khoa học và nền móng pháp lý cho công cuộc xây dựng Nh| nước của dân, do dân và vì dân, xác lập nền văn hóa chính trị dân chủ mới – dân là gốc; khẳng định quyền tự quyết và thể hiện quyết tâm cao nhất của mỗi dân tộc trong đấu tranh giữ gìn độc lập dân tộc;< cùng với tinh thần đấu tranh không mệt mỏi v| không khoan nhượng cho độc lập, tự do của dân tộc và quyền sống, quyền hạnh phúc của con người của nhân dân và dân tộc Việt Nam không chỉ có ý nghĩa lịch sử, mà mãi mãi còn nguyên tính thời đại
Với giá trị về nhiều mặt, mà hạt nhân cốt lõi là các giá trị l|m người,
Tuyên ngôn độc lập trở thành một văn kiện chính trị - pháp lý và thấm nhuần
sâu sắc các giá trị nh}n văn của thời đại mới đề cao dân chủ và tự do, công bằng v| bình đẳng xã hội Với con người - đó l| quyền được tồn tại thực sự xứng đ{ng với những con người tự do, quyền được phát triển như một chủ thể nhân cách sáng tạo, ở đó, phẩm gi{ l|m người được tôn trọng và những đè nén, áp bức, bất công làm nhục con người, thống trị dân tộc trong tình cảnh nô
lệ bị xóa bỏ Đi v|o lịch sử và sống mãi với thời gian Tuyên ngôn độc lập mang tinh thần cách mạng triệt để, thấm đượm một triết lý phát triển đồng thời là thông điệp phát triển của Việt Nam trong thời đại mới Đó l| một áng thiên cổ hùng văn tiếp nối liền mạch với các áng thiên cổ hùng văn trước đó của ông cha ta với những }m hưởng hào sảng của Lý Thường Kiệt, dũng khí mãnh liệt của Trần Quốc Tuấn, trí tuệ v| nh}n nghĩa của Nguyễn Trãi, trù tính định liệu việc lớn để an dân trị quốc của Nguyễn Huệ - Quang Trung
Trang 15Giá trị của bản Tuyên ngôn độc lập
09/08/2017
1 Giới thiệu
Tháng 8/1945, cách mạng nổ ra và thành công trên phạm vi cả nước Ngày 19/8, nhân dân Thủ đô H| Nội gi|nh được chính quyền, đ{nh dấu sự kiện Cách mạng tháng Tám thành công rực rỡ Ngày 26/8, Chủ tịch Hồ Chí Minh từ chiến khu Việt Bắc về Hà Nội Ngay sau về đến Thủ đô, tại căn nh|
số 48 – phố Hàng Ngang, Hồ Chủ tịch đã bắt tay ngay vào việc soạn thảo bản Tuyên ngôn Độc lập Đ}y l| văn bản chính luận mẫu mực, đanh thép v| có gi{ trị lịch sử to lớn, khai sinh ra Nước Việt Nam d}n chủ cộng hòa (nay là Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam), đồng thời mở ra một kỷ nguyên mới, kỷ nguyên độc lập, tự do v| bình đẳng cho dân tộc
2 Tính chính luận và giá trị lịch sử của bản Tuyên ngôn Độc lập
2.1 Tính chính luận
Vấn đề lớn v| khó khăn nhất được đặt ra ngay từ khi mới cầm bút là: l|m sao để khẳng định một c{ch đanh thép th|nh quả của một dân tộc đã trải qua h|ng ng|n năm kiên dũng đấu tranh lật đổ ách thống trị của bọn thực dân – phong kiến v| đập tan luận điệu xảo trá của thực d}n Ph{p đang nuôi dã t}m cướp đất nước ta một lần nữa Với t|i năng, trí tuệ, bản lĩnh v| t}m huyết của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã xuất sắc vượt qua trở ngại đó bằng một văn bản chính luận mẫu mực Sự mẫu mực, hùng hồn trong văn phong, logic, đanh thép trong c{ch lập luận xuất phát từ việc x{c định một c{ch rõ r|ng đối tượng, mục đích v| c{ch viết của Tuyên ngôn Độc lập
Đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh, việc x{c định đối tượng, mục đích v| cách viết là nhiệm vụ quan trọng đầu tiên khi đặt bút viết bất cứ cái gì, dù nó thuộc thể loại nào Vì thế, khi tìm hiểu bản Tuyên ngôn Độc lập, nhiệm vụ đầu tiên của người đọc là phải x{c định đối tượng của nó là ai Một công việc tưởng như không cần thiết, bởi lẽ Chủ tịch đã khẳng định một cách rõ ràng:
‚Hỡi đồng bào cả nước‛ v| ‚Chúng tôi – Chính phủ lâm thời của Nước Việt Nam dân chủ cộng hòa – trịnh trọng tuyên bố với thế giới rằng‛ Rõ r|ng, đối
Trang 16tượng của Tuyên ngôn Độc lập là toàn thể đồng bào cả nước và nhân dân khắp thế giới Tuy nhiên, vấn đề không chỉ đơn giản có vậy và không dừng lại
ở đó Nếu chỉ đơn giản là viết cho đồng bào ta và nhân dân thế giới một cách chung chung thì Hồ Chủ tịch không cần phải sử dụng nhiều lý lẽ đến thế và cũng không cần phải trích dẫn những nội dung chính của bản Tuyên ngôn Độc lập năm 1776 của nước Mỹ và bản Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của Cách mạng Ph{p năm 1791 Để hiểu rõ đối tượng, bản chất thực sự của đối tượng và mục đích của văn kiện lịch sử n|y, người đọc bắt buộc phải tìm hiểu thật kỹ bối cảnh lịch sử khi Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn Độc lập
Cuối th{ng 8 đầu tháng 9/1945, thực dân Pháp ở miền Nam đang núp dưới bóng quân giải giáp của đế quốc Anh nhằm thực hiện }m mưu chiếm đất nước ta thêm một lần nữa Ở miền Bắc, qu}n Tưởng Giới Thạch – tay sai đắc lực của đế quốc Mỹ đang chờ chực ở biên giới và sẵn s|ng đổ bộ v|o nước ta bất cứ lúc nào Bên cạnh đó, m}u thuẫn trong phe đồng minh, giữa c{c nước: Anh, Pháp, Mỹ và Liên Xô có thể khiến cho Anh, Mỹ nh}n nhượng cho Pháp quay trở lại tái chiếm Việt Nam Để hợp ph{p hóa }m mưu tiếp tục thôn tính đất nước ta, thực d}n Ph{p đã tung ra luận điệu vô cùng xảo trá rằng: Pháp có công bảo hộ Đông Dương, ph{t xít Nhật nhảy v|o Đông Dương nay đã đầu h|ng đồng minh Ph{p trong phe đồng minh nay trở lại Đông Dương l| đương nhiên v| hợp lẽ Đến đ}y, ta mới thấy bản Tuyên ngôn Độc lập của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa không chỉ để đọc trước quốc d}n đồng bào
và nhân dân thế giới, cũng không phải chỉ để tuyên bố độc lập một cách chung chung m| để đập tan luận điệu xảo trá của qu}n x}m lược Ph{p trước
dư luận thế giới, đồng thời khẳng định quyền độc lập, tự do và toàn vẹn lãnh thổ của dân tộc
Không phải ngẫu nhiên Chủ tịch Hồ Chí Minh mở đầu bản Tuyên ngôn Độc lập của mình bằng những lý lẽ bất hủ của tổ tiên người Mỹ v| người Ph{p được trích dẫn trong hai bản tuyên ngôn nổi tiếng của họ ‚Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng Tạo hóa cho họ những quyền không ai
có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự
do và quyền mưu cầu hạnh phúc‛ Chủ tịch giải thích: ‚Lời bất hủ ấy ở trong
Trang 17bản Tuyên ngôn Độc lập năm 1776 của nước Mỹ Suy rộng ra, câu ấy có ý nghĩa l|: tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do‛ Không dừng lại ở đấy Hồ Chủ tịch còn khẳng định: ‚Bản Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của Cách mạng Ph{p năm 1791 cũng nói: ‚Người ta sinh ra tự do và bình đẳng về quyền lợi và phải luôn được tự do, bình đẳng về quyền lợi‛
Cách lập luận này vừa khéo léo lại vừa kiên quyết Khéo léo vì Chủ tịch cho người đọc thấy rõ sự tôn trọng của mình đối với bản Tuyên ngôn Độc lập năm 1776 của nước Mỹ và bản Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của Cách mạng Ph{p năm 1791 Kiên quyết vì thêm một lần nữa, Chủ tịch chính thức cảnh báo rằng: Nếu họ cứ tiếp tục tiến công x}m lược Việt Nam thì chính
họ chứ không phải ai kh{c đã phản bội v| ch| đạp lên lá cờ nh}n đạo của tổ tiên mình và nhất định sẽ nhận thất bại thảm hại Mục đích cuối cùng của việc đưa ra c{c lý lẽ mang tính logic và thuyết phục này là muốn khẳng định độc lập, chủ quyền của dân tộc
Trích dẫn nội dung hai bản Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của
tổ tiên người Ph{p v| người Mỹ, Chủ tịch Hồ Chí Minh còn muốn khẳng định với toàn thế giới rằng: ba cuộc cách mạng của Pháp, Mỹ và Việt Nam là ngang tầm nhau, ba bản tuyên ngôn, ba nền độc lập và ba dân tộc là ngang hàng nhau Điều n|y cũng khẳng định uy thế của một dân tộc tuy bé nhỏ, nghèo n|n nhưng với trí tuệ và lòng quyết tâm của mình đã l|m nên một cuộc cánh mạng vĩ đại bậc nhất thế giới Cuộc cách mạng ấy cùng một lúc đã giải quyết được hai nhiệm vụ là dân tộc và dân chủ, trong khi cuộc cách mạng Mỹ năm
1976 chỉ đ{nh đổ được thực d}n Anh, gi|nh độc lập dân tộc, cuộc cách mạng Ph{p năm 1791 chỉ lật đổ được chế độ phong kiến Pháp, thiết lập chế độ quân chủ Nội dung bản Tuyên ngôn Độc lập của Chủ tịch Hồ Chí Minh còn có giá trị nhân bản sâu sắc Từ quyền lợi của một con người, Chủ tịch đã ph{t triển
nó thành quyền lợi của cả một dân tộc Đ}y thực sự là phát súng mở đầu, báo hiệu phong trào bão táp cách mạng đã bùng lên mạnh mẽ ở c{c nước thuộc địa, từng bước lật đổ hoàn toàn Chủ nghĩa thực dân vào nửa sau thế kỷ XX
Kẻ thù trực tiếp và nguy hiểm nhất đe dọa nền độc lập dân tộc khi bản Tuyên ngôn Độc lập ra đời l| qu}n x}m lược Ph{p, để làm phá sản hoàn toàn
Trang 18}m mưu của chúng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đưa ra hệ thống lý lẽ đanh thép, bằng chứng thuyết phục và cách lập luận hùng hồn Pháp huênh hoang với
dư luận thế giới l| có công ‚khai hóa‛ Đông Dương thì hơn bao giờ hết, tác giả đã vạch trần tội ác tày trời của chúng trong vòng 80 năm qua ‚Thế m| hơn 80 năm nay, bọn thực dân Pháp lợi dụng lá cờ tự do, bình đẳng, bác ái, đến cướp đất nước ta, áp bức đồng b|o ta H|nh động của chúng trái hẳn với nh}n đạo v| chính nghĩa‛
Về chính trị, Pháp thủ tiêu mọi quyền tự do dân chủ, chia rẽ đất nước ta thành 3 kỳ, dùng mọi thủ đoạn để phá hoại, không cho đất nước ta được thống nhất Chúng lập ra nhà tù nhiều hơn trường học, thẳng tay đ|n {p, chém giết một cách man rợ những người Việt Nam yêu nước thương nòi Dìm các cuộc khởi nghĩa của nhân dân ta trong biển m{u, đầu độc nhân dân bằng rượu cồn và thuốc phiện, làm cho suy kiệt giống nòi ‚Chúng tuyệt đối không cho nhân dân ta một chút tự do dân chủ nào Chúng thi hành những luật pháp
dã man Chúng lập ba chế độ khác nhau ở Trung, Nam, Bắc để ngăn cản việc thống nhất nước nhà của ta, để ngăn cản dân tộc ta đo|n kết‛
Về kinh tế, chúng ra sức vơ vét t|i nguyên thiên nhiên của đất nước ta đến mức cạn kiệt, đồng thời bóc lột nh}n d}n đến tận xương tủy ‚Chúng cướp không ruộng đất, hầm mỏ, nguyên liệu Chúng giữ độc quyền in giấy bạc, nhập cảng và xuất cảng Chúng đặt ra h|ng trăm thứ thuế vô lý, làm cho nhân dân ta, nhất là dân cày và dân buôn trở nên bần cùng Chúng không cho c{c nh| tư sản ta ngóc đầu lên Chúng bóc lột công nhân ta một cách vô cùng tàn nhẫn‛ H|nh động tham lam và bất lương của chúng gây ra nạn đói khủng khiếp vào cuối năm 1944 đầu năm 1945, cướp đi mạng sống của hơn 2 triệu người và hàng triệu người kh{c rơi v|o tình trạng khắc khoải giữa chết
và sống Chúng đặt ra h|ng trăm thứ thuế vô lý, bất công Chúng cướp không nhà cửa, ruộng vườn, hầm mỏ< khiến nhân dân ta bần cùng, đói rét, nước ta
xơ x{c tiêu điều
2.2 Giá trị lịch sử
Thực dân Pháp muốn kể công bảo hộ Đông Dương thì bản Tuyên ngôn chỉ rõ, đó không phải công mà là tội: ‚Mùa thu năm 1940, ph{t xít Nhật đến
Trang 19x}m lăng Đông Dương để mở thêm căn cứ đ{nh Đồng Minh, thì bọn thực dân Pháp quỳ gối đầu hàng, mở cửa đất nước ta rước Nhật Từ đó d}n ta chịu hai tầng xiềng xích: Pháp và Nhật, dân ta càng cực khổ, nghèo nàn Kết quả là cuối năm ngo{i sang đầu năm nay, từ Quảng Trị đến Bắc bộ, hơn hai triệu đồng bào ta bị chết đói Ng|y 9 th{ng 3 năm nay, Nhật tước khí giới của quân đội Pháp Bọn thực dân Pháp hoặc là bỏ chạy, hoặc l| đầu hàng Thế là chẳng những chúng không ‚bảo hộ‛ được ta, trái lại, trong năm năm, chúng đã b{n nước ta hai lần cho Nhật‛ T|n {c hơn, trước khi tháo chạy trong cơn điên cuồng giãy giụa chúng còn giết thêm một số tù chính trị của Việt Nam ở Cao Bằng và Yên Bái
Nếu thực dân Pháp tuyên bố rằng: Đông Dương l| thuộc địa của chúng thì bản Tuyên ngôn chỉ rõ: sự thực là từ mùa thu năm 1940, Đông Dương không còn là thuộc địa của chúng nữa Khi phát xít Nhật đầu h|ng đồng minh, nhân dân Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Việt Minh đã đứng lên đấu tranh cướp chính quyền từ tay phát xít Nhật chứ không phải từ tay Ph{p Đ}y
là những lập luận có ý nghĩa hết sức quan trọng, là những bằng chứng xác thực hùng hồn mà kẻ thù không thể nào chối cãi được Đ}y cũng l| cơ sở dẫn đến lời tuyên bố của bản Tuyên ngôn: ‚Bởi thế cho nên chúng tôi – Chính phủ lâm thời của nước Việt Nam mới, đại biểu cho toàn nhân dân Việt Nam – tuyên bố thoát ly hẳn quan hệ với Pháp, xóa bỏ mọi hiệp ước m| Ph{p đã ký
về Việt Nam, xóa bỏ tất cả mọi đặc quyền của Ph{p trên đất Việt Nam
Tuyên ngôn Độc lập không chỉ đập tan những luận điệu xảo trá của thực dân Pháp mà còn khẳng định quyền độc lập dân tộc, quyền tự do dân chủ của nhân dân và bản lĩnh của Việt Nam trước quốc d}n đồng bào và thế giới Nếu Pháp có tội phản bội, hai lần bán rẻ đất nước ta cho phát xít Nhật thì ngược lại, nhân dân Việt Nam đứng đầu là Mặt trận Việt Minh đã anh dũng
tự chống Nhật cứu nước Nếu thực dân Pháp bộc lộ tính chất đê hèn, t|n bạo bằng h|nh động khủng bố, giết hại tù chính trị thì nhân dân Việt Nam không những không trả thù mà còn thể hiện sự khoan hồng, độ lượng Ngay cả khi tàn quân Pháp thất thế, Việt Nam vẫn giúp đỡ qu}n đội Pháp rút khỏi các nhà giam của Nhật, tháo chạy qua biên giới
Trang 20Dân tộc Việt Nam đã phải chịu biết bao đau khổ dưới ách thực dân tàn bạo, một dân tộc đã kiên dũng đứng về phía đồng minh chống phát xít, chiến đấu cho độc lập tự do ‚Chúng tôi tin rằng c{c nước Đồng minh đã công nhận những nguyên tắc dân tộc, bình đẳng ở các Hội nghị Tê-hê-răng (Hội nghị của đại diện ba nước: Liên Xô, Mỹ, Anh họp từ ng|y 28 th{ng 11 đến mùng 1 th{ng 12 năm 1943 tại Tê-hê-răng (thủ đô nước I-răng) Hội nghị đã thông qua
kế hoạch tiêu diệt các lực lượng vũ trang của ph{t xít Đức, quyết định mở mặt trận thứ hai ở ch}u Âu trước ng|y mùng 1 th{ng 5 năm 1944 v| thông qua nghị quyết bảo đảm nền hòa bình lâu dài trên toàn thế giới sau chiến tranh< Nhưng sau đó, c{c giới cầm quyền ở Mỹ v| Anh đã không thi h|nh triệt để những điều khoản đã ký kết trong Hội nghị này) và Cựu Kim Sơn (Hội nghị của đại diện 50 nước do Liên Xô, Mỹ, Anh và Trung Quốc (cũ) triệu tập, họp tại Cựu Kim Sơn (Xan Phơ-ran-xít-cô) ở Mỹ từ ngày 25 tháng 4 đến 26 tháng 6 năm 1945 để thành lập một tổ chức quốc tế gọi là Liên hợp quốc), quyết không thể không công nhận quyền độc lập của dân Việt Nam Một dân tộc đã gan góc chống ách nô lệ của Ph{p hơn 80 năm nay, một dân tộc đã gan góc đứng
về phe Đồng minh chống phát xít mấy năm nay, d}n tộc đó phải được tự do Dân tộc đó phải được độc lập‛ (1, tr.48) Tinh thần đo|n kết, gắn bó triệu người như một c|ng ng|y c|ng được ph{t huy cao độ Điều n|y được thể hiện trong lời kết của bản Tuyên ngôn: ‚To|n thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất
cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững nền độc lập, tự do ấy‛
3 Kết luận
Bản Tuyên ngôn Độc lập của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa l| văn bản có tính chính luận mẫu mực và giá trị lịch sử to lớn Đ}y l| bản anh hùng
ca bất hủ của thời đại Hồ Chí Minh đã kế thừa và phát huy sâu sắc những áng
‚thiên cổ hùng văn‛ của dân tộc như: ‚Nam quốc sơn h|‛ của Lý Thường Kiệt, ‚Bình ngô đại c{o‛ của Nguyễn Trãi Tuyên ngôn Độc lập còn là sự đúc kết kinh nghiệm của nhiều thế hệ, nhiều thế kỷ đấu tranh vì nhân quyền – dân quyền, vì độc lập tự do của dân tộc và nhân loại, thể hiện hùng hồn ý chí quyết tâm và sức mạnh Việt Nam
Nguyễn Thanh Tuấn - Trường Đại học Nội vụ Hà Nội
Trang 21Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 461
***** ***** *****
Tuyên ngôn độc lập - Những giá trị lịch sử
(TG) - Với thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám, ngày 2/9/1945 tại Quảng trường Ba Đình Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản ”Tuyên ngôn Độc lập” lịch
sử do chính người chuẩn bị, trịnh trọng tuyên bố trước toàn thế giới về sự ra đời của một nhà nước mới: Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (nay là nước Cộng hòa Xã hôi chủ nghĩa Việt Nam)
72 năm trước đ}y, dưới sự lãnh đạo đúng đắn và sáng tạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, nhân dân cả nước đã nhất tề đứng lên làm cách mạng tháng Tám thành công, giành chính quyền trong cả nước Hơn 2/3 thế kỷ đã qua đi, nhiều chi tiết nội dung trong ‚Tuyên ngôn‛ đã được nghiên cứu làm sáng tỏ trên nhiều lĩnh vực, chúng ta càng thấy rõ những tư tưởng vĩ đại, tầm nhìn chiến lược của Chủ tịch Hồ Chí Minh thể hiện trong ‚Tuyên ngôn Độc lập‛ Tuy nhiên, đến nay vẫn còn một số người không hiểu hoặc cố tình không hiểu đưa ra những suy luận xuyên tạc lịch sử hòng phủ nhận thành quả to lớn, thắng lợi vĩ đại của Cách mạng Tháng Tám 1945, cùng với những suy
diễn mơ hồ nhằm hạ thấp, phủ nhận giá trị v| ý nghĩa lịch sử của Tuyên ngôn Độc lập
Bản Tuyên ngôn Độc lập ngày 2/9/1945 không chỉ khai sinh ra nước Việt
Nam Dân chủ Cộng ho| m| còn l| văn bản ph{p lý đặt cơ sở cho việc khẳng định thiết lập nhà nước pháp quyền ở Việt Nam, với mục tiêu Độc lập - Tự do
- Hạnh phúc khơi nguồn sáng tạo v| soi s{ng con đường cách mạng Việt Nam hướng lên tầm cao mới trong sự nghiệp xây dựng Nh| nước pháp quyền XHCN của dân, do dân và vì dân, vì mục tiêu d}n gi|u, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh Hơn thế nữa ‚Tuyên ngôn độc lập‛ còn đóng góp cơ sở
lý luận và thực tiễn cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, là sự mở đầu kỷ nguyên độc lập, tự do của các dân tộc thuộc địa, bị áp bức trên toàn thế giới Tuyên ngôn Độc lập là một văn kiện lích sử, một văn bản pháp lý quan trọng bậc nhất của nước Việt Nam, là một cột mốc lịch sử, nó chấm dứt giai đoạn mất nước và sống kiếp nô lệ của dân tộc ta
Trang 22Với hệ thống lập luận chặt chẽ, lý lẽ sắc bén với giọng văn hùng hồn, một cơ sở pháp lý vững chắc khẳng định mạnh mẽ chủ quyền quốc gia của dân tộc Việt Nam trước toàn thế giới, mở ra thời kỳ mới của dân tộc ta trên con đường phát triển Lịch sử đã sang trang Một kỷ nguyên mới bắt đầu: Kỷ nguyên của Độc lập, Tự do, Hạnh phúc.Bản đồ thế giới phải sửa đổi lại vì sự
ra đời của một nh| nước mới: Nh| nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa
Tuyên ngôn Độc lập là một văn kiện lịch sử đã được các nhà khoa học
thuộc nhiều lĩnh vực nghiên cứu, l|m rõ nhưng cho đến nay vẫn còn có người khi đọc văn bản lịch sử n|y đã đặt ra câu hỏi: Vì sao Chủ tịch Hồ Chí Minh lại
mở đầu bản Tuyên ngôn Độc lập của mình bằng những câu trích dẫn từ hai bản Tuyên ngôn của nước Mỹ và Pháp, ngay cả một số nhà sử học Mỹ cũng nói rằng: Chủ tịch Hồ Chí Minh đã mở đầu bản ‚Tuyên ngôn Độc lập‛ của Việt Nam bằng cách trích dẫn: ‚Tuyên ngôn‛ của Mỹ Điều này có phần nào đúng nhưng chưa đủ, trong cách hiểu và lý giải của vấn đề Đúng vì mở đầu
bản Tuyên ngôn Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: Hỡi đồng bào cả nước [ ] Đó là những lẽ phải không ai chối cãi được Đ}y l| điều cần được lý giải sâu sắc trên cơ
sở thực tuễn và khoa học:
Trước hết, cần phải hiểu rằng: Chủ tịch Hồ Chí Minh l| danh nh}n văn
hóa thế giới như UNESCO đã tôn vinh, Người nhắc đến hai văn kiện lịch sử
ấy với lòng trân trọng đặc biệt của một trí tuệ lớn đối với sự phát triển của văn minh nhân loại mà Cách mạng gi|nh độc lập của Hoa Kỳ năm 1776 v| C{ch mạng tư sản Ph{p 1789 đã thể hiện Đ}y l| những thành quả văn ho{ của nhân loại, là dấu mốc lớn trong tiến trình phát triển của lịch sử nhân loại, trong đó đã khẳng đinh những quyền cơ bản của con người Đó l|‛ quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc‛< Đ}y l| những tư tưởng rất tiến bộ đã được khẳng định trong hai bản Tuyên ngôn của nước Mỹ v| nước Pháp
Hai là, trên cơ sở và tiền đề đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định rằng
chính cuộc cách mạng mà dân tộc Việt Nam đã gi|nh được vào Tháng Tám năm 1945 l| bước đi tiếp trong sự phát triển của nhân loại, đồng thời cũng l| một cái cột mốc cho sự phát triển của lịch sử giải phóng con người thuộc các dân tộc bị áp bức, bóc lột Vì đó l| mẫu hình đầu tiên v| cũng l| ngọn cờ đầu
Trang 23của cuộc đấu tranh giải phóng các dân tộc thuộc địa thoát khỏi {ch đô hộ, thống trị của chủ nghĩa thực d}n cũ v| mới mà cách mạng Việt Nam do Đảng
và Chủ tịch Hồ Chí Minh lãnh đạo đã gương cao
Ba là, đi s}u nghiên cứu hai bản Tuyên ngôn của nước Mỹ v| nước Pháp,
chúng ta thấy: Cả hai bản Tuyên ngôn đã đề cao và khẳng định quyền con người ‚mọi người đều sinh ra bình đẳng‛, từ những tiền đề đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã suy rộng ra, câu ấy có ý nghĩa l|: Tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng, dân tộc n|o cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do Chính sự suy rộng ra đã thể hiện một tư tưởng lớn, một luận điểm quan trọng thể hiện sự vượt trội của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã được trình b|y trong Tuyên ngôn Độc lập của nước Việt Nam Đ}y l| một nội dung rất căn bản, có ý nghĩa không chỉ đối với dân tộc ta m| còn có ý nghĩa s}u sắc đối với thời đại Từ đó, tới nay c{c nước trên thế giới đã v| đang liên tục đấu tranh để gi|nh độc lập, giành quyền dân tộc cơ bản của mình
Như vậy, có thể thấy với thiên tài của trí tuệ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dịch và trích dẫn Tuyên ngôn của nước Mỹ v| nước Ph{p nhưng có sự điều chỉnh và phát triển để thể hiện quan điểm riêng của mình về quyền con người
và trên thực tế đã được thể hiện và khẳng định trong tất cả các bản Hiến pháp của Việt Nam từ trước đến nay Đó chính l| sự đóng góp về lý luận và thực tiễn về quyền con người đem lại những tiến bộ và phù hợp với sự phát triển
của nhân loại Cuối cùng, bản Tuyên ngôn Độc lập đã khẳng định quyết tâm: Vì
những lẽ trên chúng tôi, chính phủ lâm thời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, trịnh trọng tuyên bố với thế giới rằng: Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do v| độc lập, và sự thật đã th|nh một nước tự do độc lập Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy<
Hơn 72 năm đã trôi qua, tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong
Tuyên ngôn Độc lập ngày 2/9/1945 đã trở thành sức mạnh to lớn của toàn dân
tộc Việt Nam vượt qua mọi khó khăn th{ch thức, thực hiện lời thề với Người trong ngày lễ độc lập ‚To|n thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần
và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập.‛ Với tinh thần đó, c{ch mạng Việt Nam dưới sự lãnh đạo của đảng đã gi|nh được
Trang 24những thành tựu to lớn có ý nghĩa lịch sử trong suốt hơn 72 năm qua Hiện nay, to|n Đảng, to|n d}n ta đã v| đang tiếp tục đẩy mạnh sự nghiệp đổi mới toàn diện trong bối cảnh tình hình thế giới và khu vực còn nhiều diễn biến rất phức tạp, t{c động trực tiếp đến nước ta, tạo ra cả thời cơ v| th{ch thức Để tận dụng, phát huy tốt nhất thời cơ, thuận lợi, vượt qua khó khăn, th{ch thức, to|n Đảng, toàn dân, toàn quân ta cần đo|n kết một lòng với một quyết tâm cao, phát huy sức mạnh đo|n kết toàn dân tộc đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới, phấn đấu sớm đưa nước ta cơ bản trở th|nh nước công nghiệp theo hướng hiện đại, n}ng cao đời sống của nhân dân.Kiên quyết,kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập,chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa<
Tuyên ngôn Độc lập đã v| đang khơi nguồn sáng tạo, soi s{ng con đường
cách mạng Việt Nam hướng lên tầm cao mới của sự nghiệp xây dựng và bảo
vệ vững chắc Tổ quốc xã hội chủ nghĩa trong thời kỳ phát triển mới Vì mục tiêu d}n gi|u, nước mạnh, dân chủ, công bằng văn minh
TS Vũ Ngọc Am
Trang 25TÁC PHẨM: TÂY TIẾN – QUANG DŨNG
I TÁC GIẢ, TÁC PHẨM
1 Tác giả
- Nh| thơ Quang Dũng tên thật l| Bùi Đình Diệm, sinh năm 1921 tại Phượng Trì, Đan Phượng, Hà Tây Ông là một nghệ sĩ đa t|i: l|m thơ, viết văn, vẽ tranh, Quang Dũng viết khá ít, chủ yếu là truyện ngắn, ký sự Ông gia
nhập Quân đội Nhân dân Việt Nam sau ngày Cách mạng tháng Tám thành công, trở thành phóng viên tiền phương của báo Chiến đấu Năm 1947 ông đi học bổ
túc trung cấp quân sự tại Sơn T}y sau đó ông l|m Đại đội trưởng tại tiểu đo|n
212 Trung đo|n 52 T}y Tiến
- Ông l| nh| thơ trưởng thành trong cuộc kháng chiến chống Pháp, là một trong số những nh| thơ tiêu biểu của nền thơ ca hiện đại Việt Nam từ sau Cách mạng tháng Tám Năm 2001, ông được truy tặng Giải thưởng Nh| nước
về văn học nghệ thuật
- Quang Dũng mang một hồn thơ phóng kho{ng, trung hậu, lãng mạn và tài hoa Đặc biệt ông mang trong mình tình yêu quê hương, đất nước thiết tha, điều đó thấm sâu vào các tác phẩm của ông Trong thơ ông có hình ảnh ‚c{i tôi‛ h|o hoa, thanh lịch, giàu chất lãng mạn, nhạy cảm với vẻ đẹp tinh tế của thiên nhiên, con người
- Tác phẩm tiêu biểu: các tập thơ Bài Thơ Sông Hồng (1956), Mây Đầu Ô (1986); truyện ngắn Mùa Hoa Gạo (1950); hồi ký Làng Đồi Đánh Giặc (1976)
2 Tác phẩm Tây Tiến
Xuất xứ: B|i thơ “Tây Tiến”, được viết năm 1948, l| t{c phẩm nổi bật nhất trong tập ‚Mây đầu ô”
Hoàn cảnh sáng tác: Tác phẩm “Tây Tiến” được viết tại Phù Lưu Chanh, một
l|ng quê bên dòng sông Đ{y, khi m| Quang Dũng đã rời binh đo|n T}y Tiến
Đề tài: Người lính thời kì kháng chiến chống Pháp
Trang 26Nội dung: Với cảm hứng lãng mạn và ngòi bút tài hoa, Quang Dũng đã khắc
họa th|nh công hình tượng người lính Tây Tiến trên nền cảnh thiên nhiên núi rừng miền T}y hùng vĩ, dữ dội v| mĩ lệ
Ý nghĩa nhan đề Tây Tiến: Lúc đầu, Quang Dũng đặt tên b|i thơ l| “Nhớ Tây Tiến” nhưng sau đổi lại thành “Tây Tiến” vì cả b|i thơ l| một nỗi nhớ, và chỉ với hai từ “Tây Tiến” cũng đã đủ gợi lên nỗi nhớ - cảm hứng chủ đạo trong
to|n b|i thơ
Giới thiệu đoàn quân Tây Tiến: Tây Tiến là một đơn vị qu}n đội thành lập đầu
năm 1947 có nhiệm vụ phối hợp với bộ đội Lào bảo vệ biên giới Việt – Lào và đ{nh tiêu hao lực lượng qu}n đội Pháp ở Thượng L|o, đồng thời có trách nhiệm tuyên truyền kháng chiến Chiến sĩ T}y Tiến phần đông l| thanh niên
Hà Nội, chủ yếu là học sinh, sinh viên, chiến đấu trong hoàn cảnh vô cùng gian khổ, thiếu thốn Đo|n qu}y T}y Tiến sau một thời gian hoạt động ở Lào trở về Hòa Bình thành lập trung đo|n 52, Quang Dũng l| Đại đội trưởng ở đó
từ đầu năm 1947, đến năm 1948 thì ông chuyển sang đơn vị khác
II KIẾN THỨC TRỌNG TÂM
1 Đoạn thơ 1: Chặng đường hành quân vất vả gắn với hình ảnh núi rừng hùng vĩ, khắc nghiệt
Mở đầu b|i thơ l| một tiếng gọi l|m nao lòng người Nỗi nhớ như nén chặt bỗng trào dâng, bật lên thành tiếng gọi tha thiết, tiếng gọi như vọng ra từ những v{ch đ{ núi rừng Tây Bắc, từ nỗi nhớ ngàn trùng:
“Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi!
Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi”
Hình tượng con sông Mã mở đầu cho hoài niệm về Tây Tiến như một sự khẳng định }m hưởng hào hùng, bi tráng của những th{ng năm T}y Tiến không thể mờ phai trong tâm trí không phải chỉ mỗi những người lính Tây Tiến mà của cả dân tộc, cả đất nước Và con sông ấy cũng chính l| dòng sông cảm xúc của nh| thơ khi viết về Tây Tiến – một thời quá khứ oanh liệt, hào hùng, đầy niềm kiêu hãnh và tự hào Vậy là sông Mã không đơn thuần là một
Trang 27con sông – nơi đã từng l| địa bàn hoạt động của đo|n qu}n T}y Tiến – mà nó
đã trở thành một chứng nhân lịch sử trong suốt cuộc đời người lính Tây Tiến với bao niềm vui, nỗi buồn Vì thế sông Mã l| người bạn đồng h|nh khăng khít với những người lính Tây Tiến Quang Dũng đã gắn tên đo|n qu}n với sông Mã cùng núi rừng miền T}y cũng có nghĩa l| chừng nào còn dòng sông
Mã, còn núi rừng miền T}y thì người ta còn nhắc về binh đo|n T}y Tiến
Sức nặng của c}u thơ đổ dồn lên hai chữ “xa rồi” bởi binh đo|n T}y Tiến
đã xa nh}n vật trữ tình cả về không gian và thời gian Khi ông nói “xa rồi” là
lúc những hình ảnh của một quá khứ đang ập tới, nhấc bổng ông khỏi mảnh đất thực tại để lửng lơ, chơi vơi trong nỗi nhớ Nh| thơ như để tiếng gọi yêu
thương “Tây Tiến ơi!” vọng về trong thời gian khổ ải nhưng nghĩa tình, đầy sự
gắn bó v| cũng không ít những hi sinh mất mát, vọng về một miền đất xa xôi, vọng tới những người đồng đội của mình dù đã nằm lại nơi biên cương hay đang chiến đấu ở những chiến trường kh{c Âm hưởng c}u thơ có sức vọng mạnh mẽ làm cho tiếng lòng của Quang Dũng như xo{y v|o t}m hồn người đọc những cảm xúc bâng khuâng khó tả Sau khúc dạo đầu ấy là tất cả những
kỉ niệm được hiện về trong nỗi nhớ mang một màu sắc lung linh, đẹp một cách lạ thường Kỉ niệm về một thời chinh chiến với dòng sông Mã thân thương v| khoảng trời miền Tây theo thời gian cứ lần lượt hiện về
Thông thường, khi nhớ về một điều gì, người ta thường nhớ đến những
kỉ niệm để lại dấu ấn sâu sắc, khó quên Điều đầu tiên Quang Dũng nhớ đến
là núi rừng Bởi núi rừng l| nơi xưa kia ông v| đồng đội đã cùng sống, cùng chiến đấu, kề vai sát cánh bên nhau; ở đó in đậm bao nỗi khổ, bao niềm vui của những người chiến sĩ Kỉ niệm sống dậy, tràn ngập trong tâm hồn nh| thơ một nỗi niềm nhớ tiếc, nhớ những tháng ngày hành quân, nhớ quá khứ đã xa,
giờ đ}y chỉ còn là hoài niệm Tính từ “chơi vơi” kết hợp với điệp từ “nhớ”
mang nhịp điệu của điệp khúc, làm cho nỗi nhớ thêm da diết, sâu lắng Ta
cũng từng bắt gặp cấu trúc thơ n|y trong thơ của Chế Lan Viên: “Nhớ bản sương giăng, nhớ đèo mây phủ” Nỗi nhớ ở đ}y được vật chất hóa, tưởng như
đang cất lên ở lưng chừng trời, có thể khiến người đọc muốn rời chân khỏi mảnh đất thực tại mà tham dự vào một cuộc viễn chinh đầy khao khát
Trang 28Nỗi nhớ của Quang Dũng l| nhớ “chơi vơi” - một nỗi nhớ không có hình,
không có lượng, hình như nhẹ tênh mà nặng vô cùng; nó vừa tạo }m hưởng cho c}u thơ vừa tạo sự vang vọng trong lòng người đọc Bởi nó không đo được, không c}n được, chỉ biết nó lửng lơ m| đầy ắp, mênh mông, nó chập chờn giữa hai bờ hư – thực trong không gian bao la, trong thời gian xa xăm,
lưu luyến đầy nhớ thương Cách gieo vần “ơi” của Quang Dũng l|m cho }m
hưởng c}u thơ ng}n d|i, lan tỏa, cho thấy nỗi nhờ trải dài, miên man, da diết
và vang vọng Có lẽ ở đ}y Quang Dũng đã học tập cách diễn đạt nỗi nhớ
trong ca dao: “Ra về nhớ bạn chơi vơi”, nhưng không phải nhớ bạn yêu mà là nhớ rừng núi, nhớ tháng ngày kháng chiến Như vậy, nỗi nhớ “chơi vơi” hẳn là
nỗi nhớ m| nh| thơ đặt mình vào thế giới của miền kí ức rộng lớn trong nơi sâu thẳm tâm hồn
Hai c}u thơ đầu x{c định rõ hai khoảng không gian khác nhau: không gian của thực tại và không gian hồi tưởng Nó mang cái bâng khuâng hoài niệm để gọi về những gì thân thuộc đ{ng nhớ nơi t}m tưởng nh| thơ về một thời Tây Tiến Nỗi nhớ vừa được khơi lên thì hàng loạt hình ảnh những ngày cùng Tây Tiến hành quân ập tới mà không cần sự dẫn dắt dềnh dàng Tất cả hiện ra trong nỗi nhớ rừng núi, nơi thử th{ch cũng l| nơi bao bọc, che chở đo|n qu}n Bằng cách sử dụng câu cảm thán và thủ pháp nghệ thuật nhân
hóa, câu thơ trở nên đẹp diệu kì Do đó, “Tây Tiến” không chỉ để gọi tên một
đơn vị bộ đội m| nó đã trở thành một người bạn ‚tri }m tri kỉ‛ để nh| thơ giãi bày tâm sự
Từ bức tranh toàn cảnh của nỗi nhớ “chơi vơi”, kỉ niệm như ống kính
quay phim làm hiện lên những chặng đường đã qua của đo|n binh T}y Tiến với những địa danh gợi biết bao cảm giác về sự hoang vu, hiểm trở:
“Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi Mường Lát hoa về trong đêm hơi”
Nhớ về Tây Tiến, nh| thơ không thể n|o quên được những khó khăn, gian khổ suốt chặng đường hành quân Những cuộc h|nh qu}n đi qua v| những cuộc hành quân mới lại tiếp nối trong cuộc đời của người lính Tác giả nhắc đến hai cái tên S|i Khao, Mường Lát là những địa danh cụ thể, quen
Trang 29thuộc trong kí ức, những miền đất ấy vời vợi nghìn trùng, đã một thời từng gắn bó máu thịt với binh đo|n T}y Tiến, từng in dấu ch}n đo|n chiến binh Tây Tiến Nó là những cái tên mang hơi thở của rừng núi hoang vu V| cũng chính nơi hoang vu đó, kí ức dồn dập xô về, một m|n sương trắng mờ nhòe phủ kín lối đi, che lấp cả đo|n qu}n mỏi mệt Sương bồng bềnh, giá buốt làm trơn trượt những con đường, làm tê lạnh da người đi trong sương Mặc dù cuộc sống gian khổ không phải l| điều nh| thơ chú trọng phác họa nhưng
trước mắt ta vẫn hiện ra cái khắc nghiệt của núi rừng Tuy nhiên, nếu “sương lấp” lạnh lùng, nặng nề bao nhiêu thì “hoa về” lại nhẹ nhõm, tươi tắn, ấm áp bấy nhiêu “Hoa về”, đấy là ngọn đuốc hoa của những người dân vùng biên
giới đi đón bộ đội giữa rừng trong đêm khuya chăng? Hay đó l| những bông hoa rừng lung linh? Đó cũng có thể là những đóa-hoa-người? Những cô gái trẻ vùng biên cương lặng lẽ v| h}n hoan đón những chàng lính trẻ về với rừng, với bản? Có lẽ Quang Dũng đã nói tất cả, c}u thơ của ông, sự sáng tạo
ấy đã bao h|m v| ôm chứa tất cả những ý nghĩa đó
Cái hay ở đoạn thơ n|y chính l| cùng một lúc xuất hiện hai hình ảnh, hai trạng thái tình cảm đối lập nhưng thống nhất, hài hòa với nhau: vừa gợi sự mịt mù, lạnh lẽo của miền đất lạ cùng sự khó khăn, vất vả của người lính Tây
Tiến, đồng thời gợi lên vẻ độc đ{o, bí ẩn của Tây Bắc Thêm một chữ “mỏi”, cái
mĩ lệ, lãng mạn biến mất, c}u thơ nặng trĩu khung cảnh hiện thực trần trụi Đo|n qu}n không gợi một chút nào cái oai hùng sân khấu mà mệt mỏi vì đường xa, vì những gian khổ Vẻ đẹp ở đ}y l| vẻ đẹp hiện thực chứ không
phải sự hào nhoáng thoáng qua Ngày nối ng|y, đêm nối đêm, “đoàn quân mỏi” giữa cái biển sương mù của núi rừng miền Tây; “đoàn quân mỏi” tưởng
như bị lấp đi, bước chân trùng xuống trong mệt mỏi, gian tru}n Nhưng khi
xuất hiện “hoa về trong đêm hơi”, cái mỏi mệt, cái gian khổ như đã tiêu tan bởi
hình ảnh đẹp lung linh như trong cõi mộng ấy Đ}y l| hình ảnh đầy sáng tạo, một hình ảnh thơ mang đậm tâm hồn thi nh}n Người lính như thả hồn vào
cõi mộng của “đêm hơi” giữa núi rừng, tận hưởng hương thơm của hoa rừng
Tưởng chừng như thiên nhiên đang ban thưởng cho người lính hương hoa để
có sức mạnh vượt đèo, leo dốc, cố gắng gượng chiến đấu đến hơi thở cuối cùng
Trang 30Sự hiện tại hóa quá khứ dưới t{c động của một kí ức sâu, mạnh đã vẽ nên một bức tranh đầy ấn tượng về thiên nhiên khắc nghiệt nhưng cũng tr|n đầy thơ mộng Thiên nhiên ấy thử th{ch người chiến sĩ, đôi khi muốn vùi lấp những sinh mạng nhỏ bé trong khoảnh khắc của thung lũng sương mù Nhưng cũng chính khung cảnh này khiến cho tâm hồn những ch|ng trai được
bay bổng Ở đ}y, t{c gải không viết ‚hoa nở‛ m| viết “hoa về”, không viết
‚đêm sương‛ m| viết “đêm hơi” tạo nên một bản nhạc nhẹ nhàng, êm ái, du
dương, đó cũng l| một nét độc đ{o riêng trong c{ch sử dụng ngôn từ của tác giả Với cách dùng từ ấy, Quang Dũng chuyển từ thế giới thực sang thế giới
mơ, thế giới huyền ảo “Đoàn quân mỏi” nhưng tinh thần không “mỏi”, bởi ý
chí quyết t}m ra đi vì Tổ quốc đã l|m cho những trí thức H| th|nh yêu nước trở nên kiên cường, bất khuất hơn bao giờ hết
Tiếp tục cảm hứng lãng mạn, khung cảnh núi rừng miền Tây với thác lúc mưa nguồn cùng con đường hành quân cheo leo trên dốc núi, trong sương
mờ, bên vực thẳm cứ lần lượt hiện ra như một thước phim quay chậm, mở ra theo bước chân hành quân của người lính:
“Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm Heo hút cồn mây súng ngửi trời Ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi”
Có lẽ đ}y l| bốn c}u thơ g}y ấn tượng mạnh nhất đối với độc giả Bút pháp lãng mạn x}y đắp hình ảnh núi non nên nhạc, nên họa, mà đúng như lời
cổ nhân nói: “Thi trung hữu họa”, “Thi trung hữu nhạc” Đất nước ta với đặc
điểm địa hình 3/4 l| đồi núi, nhưng qua những lời thơ đậm chất tạo hình của Quang Dũng, tưởng chừng như bao dãy núi, ngọn đồi đều đã đổ bộ, tập trung hết lên vùng Tây Bắc này, phủ đặc những cung đường của binh đo|n T}y Tiến Núi rừng Tây Bắc đẹp, hùng vĩ m| dữ dội, một vùng đất có địa hình hiểm trở, khí hậu khắc nghiệt Thiên nhiên cứ cố tình giăng ra biết bao thử thách, bất cứ lúc n|o cũng sẵn sàng bẻ gãy ý chí của con người Người lính Tây Tiến cứ thầm lặng dấn thân, cứ dần vượt qua hiểm trở của lộ trình oai linh nơi rừng thiêng nước độc Quang Dũng đã dựng lên được một không
Trang 31gian ba chiều khiến hình ảnh thơ được chạm nổi lên thành bức phù điêu hùng
vĩ của núi rừng Tây Bắc trên mặt phẳng trang thơ
Trận địa ở đ}y cơ hồ không nghe tiếng súng nổ, không bóng quân thù
mà chỉ có dốc núi, mưa rừng, Mật độ d|y đặc của những thanh trắc kết hợp
với phép điệp hai chữ “dốc” cùng với việc sử dụng nhiều tính từ là từ láy tạo hình: “khúc khuỷu”, “thăm thẳm”, “heo hút”, hòa hợp với tiết tấu nhịp điệu,
âm thanh, tất cả như để nhấn mạnh hơn sự hiểm trở, dữ dội của núi rừng Tây Bắc Thiên nhiên Tây Bắc, qua ngòi bút lãng mạn của Quang Dũng, được cảm nhận với vẻ đẹp vừa đa dạng, vừa độc đ{o Dốc rồi lại dốc, khúc khuỷu, gập ghềnh đường lên, rồi lại thăm thẳm, hun hút đường xuống Thiên nhiên chênh vênh, dựng đứng chính là lời thách thức bước chân chinh phục của người lính Tây Tiến Dốc dựng đứng giữa trời, khi chinh phục được tưởng chừng con người đang bồng bềnh đứng giữa biển mây Lắng nghe }m điệu của những c}u thơ tả dốc, ta thấy dội lên hơi thở nặng nhọc của người lính Tây Tiến Trong tưởng tượng của người đọc, hình ảnh đo|n qu}n như đang trèo trên những cồn m}y, mũi súng chạm tới đỉnh trời Nó gợi ta nhớ đến thơ cổ của Lí Bạch:
“Nước bay thẳng xuống ba nghìn thước Tưởng dải ngân hà tuột khỏi mây”
Những người lính đột nhiên xuất hiện ở tầm cao đỉnh trời trong tiếng
cười lạc quan với chi tiết “súng ngửi trời”, là “ngửi trời” chứ không phải ‚chạm
trời‛ Đó l| một hình ảnh nhân hóa ẩn dụ, được dùng rất hồn nhiên v| cũng rất táo bạo, vừa có chất tinh nghịch của người lính Ta lại chợt nhớ đến câu
thơ trong b|i ‚Đồng chí‛ của Chính Hữu: “Đầu súng trăng treo” thú vị mà ngỗ
nghĩnh Hình ảnh ấy được hiện ra từ cái nhìn của những người lính trẻ - những người đã vượt qua muôn trùng con dốc để vươn tới tận trời Ta hiểu đ}y không chỉ l| đỉnh cao của thiên nhiên m| còn l| đỉnh cao của sự chiến thắng, của nghị lực người chiến sĩ Nó cho ta thấy bên cạnh thiên nhiên hiểm trở là hình ảnh người lính với tư thế oai phong lẫm liệt nơi núi rừng hoang vu Song ở c}u thơ của Quang Dũng, người lính thật hồn nhiên và lãng mạn, vừa thật, vừa khái quát, vừa gi|u ý nghĩa tượng trưng Ta như nghe thấy tiếng
Trang 32cười rũ sạch mọi mệt nhọc gian nan, rũ sạch cả ‚Bụi trường chinh phai bạc áo hào hoa” Mũi súng của họ như đang “ngửi” để thăm dò, nhận biết, để thưởng
thức hương vị mát lành của mây trời Nhờ đó m| thiên nhiên trở nên gần gũi với con người v| người lính được nâng lên một tư thế rất đỗi tự h|o Đó l| tư thế chiến thắng của con người tươi trẻ, lạc quan, yêu đời Tuy nhiên cần phải thấy thơ Quang Dũng có một điểm rất nổi bật, đó l| những hình ảnh tương
phản có giá trị n}ng đỡ lẫn nhau về mặt cảm xúc Cho nên những “khúc khuỷu”, “thăm thẳm”, “heo hút” đã trở th|nh vô nghĩa trong sự thử thách của
thiên nhiên đối với con người Vì sau tất cả những thử thách ấy, là một cảm xúc đầy kiêu hãnh của người lính, họ bất chấp mọi khó khăn để vươn tới một tầm cao lồng lộng giữa đỉnh trời Hình ảnh ấy gợi nhớ đến những dòng thơ
trong “Lên Tây Bắc” của Tố Hữu:
“Rất đẹp hình anh lúc nắng chiều Bóng dài trên đỉnh dốc cheo leo Núi không đè nổi vai vươn tới
Lá ngụy trang reo với gió đèo”
Thiên nhiên có lúc vụt hiện ra từ những câu thơ gi|u gi{ trị tượng hình,
có những nét thật táo bạo, c}u thơ như bẻ gãy l|m đôi: “Ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống”, hai vế của c}u thơ tạo thành cặp tiểu đối hoàn chỉnh, dấu
phẩy giữa dòng chia c}u thơ l|m hai nửa cân xứng tạo ấn tượng về một địa hình gấp gãy giữa không gian Thế núi như vút lên, dựng đứng rồi lại đột
ngột đổ xuống bất ngờ Nh| thơ đã đặt một chữ “cao” vào giữa sự đối lập của
“ngàn thước lên” và “ngàn thước xuống” Chính cấu trúc ngữ nghĩa ấy tạo nên đỉnh cao nghìn thước giữa câu thơ Chẳng những thế, với hai chữ “lên” và
“xuống” còn gợi ra hình ảnh trập trùng của đo|n binh T}y Tiến đang cố gắng
vượt dốc cao, vực thẳm; làm nổi bật tư thế và bản lĩnh của người chiến binh Tây Tiến trên bước đường h|nh qu}n gian nan nhưng vẫn lạc quan, yêu đời
Ném vào trong khung cảnh ấy là một bức tranh thủy mặc hiện đại làm
xao động lòng người: “Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi” Giữa }m điệu gồ ghề
của những thanh trắc, c}u thơ thả xuống toàn thanh bằng, tạo một dấu lặng đột ngột của khúc quân hành, mở ra nét nhạc bâng khuâng man mác hồn
Trang 33người Cũng chính vì thế m| c}u thơ đã trả cho người đọc trạng thái cân bằng, lâng lâng Hình ảnh ấy tạo sự tương phản gay gắt trong diện mạo thẩm mĩ của vùng đất này Âm hưởng nhịp nhàng, nhè nhẹ của những thanh bằng cùng với cách ngắt nhịp 2/2/3 như kéo d|i }m điệu mượt mà trong lời thơ, vẽ ra trước mắt ta một không gian mênh mông, bao la Không gian ấy được thu vào tầm mắt người lính một thế đứng rất ‚lính‛ Tuy rằng những cơn mưa rừng bất chợt mang đến cho người lính Tây Tiến sự giá rét, nhưng khi đưa {nh mắt sang ngang, xa xa, lẫn trong m|n mưa núi, sương rừng, người lính thấy bản làng mờ ảo, thấp tho{ng trong thung lũng, lúc ẩn, lúc hiện Nh| thơ đã rất
sáng tạo khi nói đến mưa rừng bằng cụm từ “mưa xa khơi” Hình ảnh thơ với cấu trúc ngôn từ lạ, táo bạo: “xa khơi” vốn là hình ảnh tả không gian biển, nay
được Quang Dũng sử dụng để tả cảnh không gian núi rừng miền Tây Hình ảnh này khép dòng thơ l|m cho c}u thơ đẹp như một bức tranh lụa mềm mại, rất nên thơ Âm điệu thơ nhẹ nh|ng, thư th{i giúp người đọc hình dung những ngôi nh| đang bồng bềnh giữa biển khơi Nó gợi lên một c{i gì đó rất
kì bí, hoang sơ giữa trốn núi rừng Thiên nhiên hùng tr{ng được miêu tả bằng hình, bằng âm, bằng nhịp điệu v| đặc biệt là bằng cảm hứng lãng mạn để sự hiểm trở của thiên nhiên khơi gợi cảm hứng chinh phục trong con người
Không thi vị hóa hiện thực, ngòi bút thơ Quang Dũng d{m nhìn thẳng vào những tổn thất tất yếu của con người trong cuộc chiến tranh tàn khốc Cái chết vẫn là một mối đe dọa, một sự thật đ{ng ngại rất bi thảm, nhưng qua ngòi bút của Quang Dũng ta lại thấy được ý chí dấn thân của người lính Tây Tiến Có thể nói ngay cái chết cũng rất đỗi h|o hùng, người lính Tây Tiến dù
có chết cũng không rời vũ khí, không xa đồng đội:
“Anh bạn dãi dầu không bước nữa Gục lên súng mũ bỏ quên đời!”
Hai tiếng “anh bạn” được đặt ở đầu c}u thơ như một tiếng khóc thầm
cho sự mất mát về người và tinh thần của người lính, một tiếng gọi của sự gắn
bó Đi kèm sau đó l| “dãi dầu”, dãi dầu với bom đạn, dãi dầu với nắng mưa,
đã lột tả hết sự khốc liệt trong chiến đấu khiến cho người chiến sĩ không còn sức để bước tiếp Sự dãi dầu thân xác nhiều khi chạm tới giới hạn cuối cùng,
Trang 34khiến bước chân các anh cứ chậm dần, chậm dần để rồi dừng lại hẳn và toàn
thân đổ gục xuống Cụm từ “không bước nữa” như l| lời khẳng định chấm dứt
một hoạt động, không thể tiếp tục được nữa, nó là một dẫn chứng rõ nét cho
sự hi sinh của người lính Ngay sau đó l| h|nh động “gục lên súng mũ” rất dứt khoát “Gục” là một động từ miêu tả động thái rất nhanh, mệt mỏi không còn
sức chịu đựng, gian khổ tưởng như đã vượt lên giới hạn chịu đựng của con người Điều đó cũng có nghĩa l| c{c anh đã cố gượng dậy nhưng không còn
chính x{c, trước lúc “gục lên súng mũ”, người lính ấy đã quan t}m đến Tổ quốc
và nền độc lập, đã quyết hi sinh tuổi thanh xuân của mình Có lẽ ở đoạn này, không ít người hiểu hình ảnh đó là sự dừng chân nghỉ ngơi của người chiến sĩ,
người lính mệt mỏi “gục lên súng mũ” – vẫn với tư thế chủ động – quên hết
thảy sự đời Nếu như vậy, ta có thể thấy Quãng Dũng cảm thông sâu sắc với đồng đội của mình khi quá mệt mỏi phải ngủ gục trên đường hành qu}n như
để tạm quên đi bao nỗi nhọc nhằn, vất vả của hiện tại Cách hiểu đó tuy không sai, nhưng nó sẽ làm mất đi vẻ h|o hùng, khí ph{ch đẫm chất bi tráng của
những người lính trẻ Với ba chữ cuối dòng thơ: “bỏ quên đời”, thể hiện tinh
thần, th{i độ của người lính trước cái chết: một sự bất cần, xem cái chết l| điều hiển nhiên, nhẹ tựa lông hồng Đến đ}y, ta liên tưởng đến cái chết nhàn hạ,
nhẹ tênh của người chiến sĩ trong thơ Chính Hữu: “Tôi nhớ thương người bạn cũ/Miệng cười mắt nhắm nghìn thu”, một sự ra đi qu{ đỗi nhẹ nh|ng như việc
đắm mình vào giấc ngủ Các anh đã lên đường, đến với núi rừng miền Tây
dẫu biết rằng “cổ lai chinh chiến kỉ nhân hồi” có nghĩa l| “Xưa nay chinh chiến mấy ai về?” Ở đ}y Quang Dũng miêu tả cái chết của đồng đội như một sự xả
th}n cho lí tưởng Ta chợt nhớ đến d{ng đứng của anh giải phóng quân trong thơ của Lê Anh Xuân:
“Và anh chết trong khi đang đứng bắn
Trang 35Máu anh phun theo lửa đạn cầu vồng
Chợt thấy anh, giặc hốt hoảng xin hàng
Có thằng sụp xuống chân Anh tránh đạn Bởi anh chết rồi nhưng lòng dũng cảm Vẫn đứng đàng hoàng nổ súng tiến công”
Mặc dù Quang Dũng đã thay thế từ ‚chết‛, ‚hi sinh‛ bằng những cụm
từ “không bước nữa”, “gục lên”, “bỏ quên đời” nhưng vẫn trào lên nỗi xót xa,
thương tiếc Vần thơ của Quang Dũng tuy nói đến cái chết của người lính nhưng không gợi ra bi lụy, thảm thương Tr{i lại, trong sự tiếc thương có niềm
tự h|o: Vì độc lập, tự do m| đã có biết bao chiến sĩ anh hùng đã ngã xuống trên chiến trường, trong tư thế lẫm liệt đến như vậy Ở đó, những người lính
đã hi sinh cả tuổi trẻ - điều tốt đẹp nhất của cuộc đời – để giữ gìn cho hòa bình
hôm nay, họ chiến đấu cho một lời thề thiêng liêng: Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh Ngòi bút Quang Dũng không từ chối cái “bi” nhưng cũng biết làm trang trọng hóa cái bi bằng cái “tráng”
Cảnh tượng chiến trường đ}u chỉ có đèo cao, cồn mây, dốc thẳm, đ}u chỉ có mưa ng|n, muỗi rừng, vắt núi, mà còn có biết bao thử thách của rừng thiêng, nước độc Nếu ở mấy c}u đầu tác giả mở rộng thiên nhiên miền Tây Bắc mênh mông qua không gian hùng vĩ, thơ mộng của những cơn mưa rừng với độ cao chạm đến mây trời của đỉnh núi Tây Bắc, thì đến với hai c}u thơ sau thiên nhiên lại được khám phá theo chiều của thời gian:
“Chiều chiều oai linh thác gầm thét Đêm đêm Mường Hịch cọp trêu người”
Thiên nhiên Tây Bắc như rùng mình trong bản giao hưởng của đại ngàn với tiếng thác gầm và tiếng chân cọp dữ Với rừng núi Tây Bắc, cứ mỗi buổi
chiều ta lại nghe thác “gầm thét” đổ xuống từ trên cao và cứ mỗi đêm lại nghe
tiếng cọp gầm gừ Điều đó như l| một sự liên tục, tuần ho|n khép kín Đó l| những âm thanh dữ dội, bí hiểm, man rợn như khúc hòa tấu của chốn oai linh Cũng l| danh từ riêng nhưng Mường Lát lãng mạn bao nhiêu, thơ mộng bao nhiêu thì Mường Hịch dữ dằn, đầy sát khí bấy nhiêu Tên địa danh Mường
Trang 36Hịch đọc lên có cảm giác nặng nề như tiếng chân cọp rậm rịch đi trong đêm Rừng núi mang một không khí rờn rợn, nguyên vẹn vẻ hoang sơ của nó Ở nơi
xa xôi, con người lần đầu đặt ch}n đến, khi mà thiên nhiên vẫn đang l|m chủ thì khó khăn chắc chắn còn tăng thêm gấp bội lần Những nguy hiểm vẫn rập rình đ}u đó, đó l| sự quyết liệt m| binh đo|n T}y Tiến đã một thời vượt qua
Từ “trêu” là cách nói dí dỏm, h|i hước, đẩy nỗi sợ hãi của người lính lùi
xa Mỗi vần thơ để lại trong t}m trí người đọc một ấn tượng: gian nan tột cùng m| cũng can trường tột bậc Với những sự đe dọa từ mọi phía phong tỏa, chúng ta thêm một lần nữa càng thấm thía những khó khăn, vất vả của người lính Tây Tiến khi phải sống và chiến đấu ngơi nước độc, rừng thiêng Dù cho
có bao nhiêu khó khăn, thử th{ch đi chăng nữa thì đo|n qu}n vẫn tiến bước, người nối người băng lên phía trước Uy lực thiên nhiên như bị giảm xuống
và giá trị con người được nâng lên một tầm vóc mới Trong đoạn thơ n|y, Quang Dũng có lẽ đã nói qu{ lên về cái ghê gớm của núi rừng chỉ l| để làm bật lên vẻ đẹp hào hùng của con người chứ không phải để hạ thấp nó
Vượt lên gian khổ, hi sinh, h|nh trang người lính đầy ắp những kỉ niệm đẹp của tình quân dân:
“Nhớ ôi Tây Tiến cơm lên khói Mai Châu mùa em thơm nếp xôi”
Hai câu thơ cuối đoạn gợi cảm gi{c tươi m{t, ngọt ngào về cuộc sống thanh bình thoáng bắt gặp trên đường h|nh qu}n Đằng sau vẻ hoang dại, bí
ẩn của đại ngàn hiện lên hình ảnh con người với vẻ đẹp thật thơ mộng, lãng mạn Bút pháp của Quang Dũng biến ảo: đang g}n guốc, dữ dằn thoắt đã tinh
vi, e ấp Chiến binh Tây Tiến h|o hùng m| cũng rất đỗi hào hoa, rất nhạy cảm
trước vẻ đẹp thiên nhiên v| đằm thắm tình người Chữ “nhớ” đứng ở đầu câu
thơ như kết tụ lại bao tình cảm nhớ thương, bao bồi hồi, xao xuyến vấn vương C}u thơ giống như tiếng gọi thoảng thốt ngân lên từ trong tiềm
thức.“Nhớ ôi” là một câu cảm thán gợi nỗi bâng khuâng khi hồi tưởng lại
những kỉ niệm ấm {p: lúc đo|n binh dừng lại sau một đoạn đường hành quân vất vả, lều trại được dựng lên ở một bản làng, một bếp lửa {nh đỏ hồng, một nồi xôi hương bay ng|o ngạt, khói bếp, khói cơm bay lên hòa quyện vào khói
Trang 37lam chiều Khung cảnh ấy mới đầm ấm làm sao! Nó cho ta thấy tình cảm của tác giả được hướng vào nội t}m như tiếng gọi hoài niệm, xao xuyến, cháy bỏng trong tr{i tim nh| thơ V| nỗi nhớ ấy không kìm nén được nữa để rồi
phải thốt lên thành lời Nhớ “cơm lên khói”, nhớ “thơm nếp xôi” là nhớ hương vị
núi rừng Tây Bắc, nhớ tình nghĩa, nhớ tấm lòng cao cả của đồng b|o người dân Tây Bắc Bữa cơm đầu lên khói tỏa lan mùi nếp xôi gợi cái không khí gia đình ấm {p, xua tan đi cảm giác trống vắng trong tâm hồn những người chiến
sĩ Lúc đó, đồng đội quây quần bên nhau, quên đi bao vất vả, gian khổ Chiến tranh lùi lại vào một góc khuất, nhường chỗ cho cảnh sinh hoạt tươi vui
Chữ “mùa” ở đ}y l| một mốc thời gian đã trở thành dấu ấn in sâu trong tr{i tim người chiến sĩ Tác giả không dùng ‚mùa vụ‛ m| lại sử dụng từ “mùa em” – một từ ngữ sáng tạo, độc đ{o - thể hiện tình yêu, nỗi nhớ trở thành hoài niệm “Mùa em” không phải là một trong bốn mùa xuân, hạ, thu, đông của đất
trời mà là mùa của riêng Quang Dũng khi nhớ về Tây Tiến, nhớ về nơi đã đi qua, ghi lại những kỉ niệm thời trẻ của mình, nó là mùa của kỉ niệm, của những hồi ức Đọng lại trong hai c}u thơ l| hình ảnh người con gái Mai châu cần cù, tần tảo và có vẻ đẹp tâm hồn trong sáng, là một sáng tạo độc đ{o về con người trong ngôn ngữ thi ca, tứ thơ h|m chứa bao tình thương nỗi nhớ, nhịp thơ vì thế trở nên uyển chuyển, mềm mại Giữa cái khổ đau, đoạn thơ bỗng khép lại bằng một kỉ niệm thật ấm {p, như một tiếng hát vui bỗng vút lên Cái tình cảm thắm thiết ấy, sự hào hoa, nét lãng mạn ấy được bồi đắp trong tâm hồn người chiến sĩ, có lẽ bởi đó l| t}m hồn của những chàng trai
‚thanh lịch‛ xuất thân từ H| th|nh Đ}y l| đoạn thơ có sức tạo hình hết sức độc đ{o Cảm hứng lãng mạn đã l|m cho hình tượng người lính trở nên rực
rỡ Hình tượng nghệ thuật vừa bám sát hiện thực lại có sức bay bổng trong t}m tưởng của người đọc
2 Đoạn thơ 2: Kỉ niệm của những người chiến sĩ cách mạng
Kỉ niệm về những th{ng năm ở rừng lại được lọc qua hồn thơ đa cảm,
đa tình của Quang Dũng, khiến nỗi nhớ Tây Tiến như được khoác lên vẻ đẹp vừa tinh khôi, vừa huyền ảo, thoắt ẩn, thoắt hiện Đó l| khi nh| thơ nhớ về những buổi sinh hoạt của đời lính biên cương với bao xúc động trước vẻ đẹp của con người và thiên nhiên:
Trang 38“Doanh trại bừng lên hội đuốc hoa Kìa em xiêm áo tự bao giờ
Khèn lên man điệu nàng e ấp Nhạc về Viên Chăn xây hồn thơ”
Nếu như phần đầu b|i thơ chủ yếu nói về cái khắc nghiệt, dữ dội của hoàn cảnh thì đoạn thơ n|y lại nhấn mạnh đến chất thơ đậm đ| của vùng rừng núi phía tây Tổ quốc Lời thơ bỗng mênh mang, êm mượt như gió thoảng hương rừng Mọi đường nét trở nên hào hoa, thanh tú, bay bổng, chênh chao Qua nét vẽ tài hoa ấy, người đọc như ngỡ ng|ng trước vẻ đẹp nên thơ nên họa của núi rừng Tây Bắc Hồn thơ Quang dũng bị ‚hút‛ bởi sự lãng mạn đầy bí ẩn của quang cảnh v| con người nơi đ}y Với vẻ đẹp ánh sáng và }m thanh, có thơ cùng với nhạc đầy say mê và lãng mạn, nó đối lập hoàn toàn với những con đường hành quân gian lao, nguy hiểm, với những thiếu thốn, mất mát, nhọc nhằn của người lính ở phía trên Điệu nhạc, hồn thơ như thăng hoa cho tâm hồn người chiến sĩ cất cánh, hòa nhịp vào những điệu khèn, câu hát say mê Trong buổi liên hoan văn nghệ, những điệu nhạc, hồn thơ v| cô
em áo xiêm lộng lẫy, e lẹ đã l|m say lòng người lính trẻ, làm cho họ quên hết những mệt mỏi, gian khó đã qua v| sắp tới
Với những nét vẽ khỏe khắn mê say, Quang Dũng dẫn ta vào một đêm văn nghệ rất thực m| tưởng chừng là mơ: doanh trại bừng s{ng dưới ánh lửa
của những ngọn “đuốc hoa” bập bùng Trong {nh đuốc ấy, cảnh vật cùng con
người hiện lên vừa thực vừa ảo, tất cả như đều nhuốm men say ngây ngất
Chữ “bừng” là một nét vẽ có thần, được coi là nhãn tự của c}u thơ, bởi chỉ một
từ này xuất hiện mà khiến cho cả không gian đen tối của đại ngàn Tây Bắc
tràn ngập ánh sáng ấm áp “Bừng” là sáng bừng lên, cháy rực lên từ những ngọn đuốc trong đêm “hội đuốc hoa” Cũng có nghĩa l| tưng bừng, rộn ràng qua tiếng khèn “man điệu”, qua giọng hát tình tứ, say mê của dân ca Thái, dân
ca Lào Chất tài tử, tài hoa và lãng mạn của những người lính Tây Tiến được
thể hiện rõ nét thông qua cụm từ “hội đuốc hoa” Ở đ}y, "đuốc hoa" Quang
Dũng không sử dụng với nghĩa l| ngọn đèn lung linh đêm t}n hôn mà nó là ngọn lửa rực ch{y nơi đầu đuốc của các chiến sĩ Tấy Tiến Nó vừa có tác dụng
Trang 39để soi đường cho người lính trong đêm tối, vừa có thể l|m vũ khí chiến đấu
khi cần thiết Bên cạnh đó, ta cũng có thể hiểu "đuốc hoa" là nhiều c}y đuốc tạo
nên một bông hoa lửa, hay nói cách khác nó chính là lửa trại trong đêm hội có nhạc v| thơ, nó c|ng l|m cho t}m hồn người lính thêm bay bổng, mơ mộng Giữa những ngày gian khổ, các chiến sĩ T}y Tiến vẫn vui sống, vẫn giữ nguyên cốt cách hào hoa của mình, họ tổ chức những đêm lửa trại tưng bừng, náo nhiệt Cái dữ dội, khốc liệt của chiến tranh biến mất chỉ còn lại không gian ngập tràn ánh sáng chập chờn của hội đuốc hoa Trước hình ảnh ấy tâm hồn người lính như bốc men say trong hội vui thắm thiết của tình quân dân Ở đây, ta cảm nhận rõ chất thi sĩ trong t}m hồn người chiến sĩ
C}u thơ “kìa em xiêm áo tự bao giờ” đã bộc lộ tất cả cái ngỡ ngàng, vui
sướng, c{i đắm say của tâm hồn, lại có cái hóm hỉnh, tinh nghịch của người
lính, hai tiếng “kìa em” vừa ngỡ ngàng, vừa trìu mến Những cô gái – những
bông hoa của núi rừng Tây Bắc – hiện ra trong vẻ đẹp lộng lẫy, vừa e thẹn, vừa tình tứ trong một vũ điệu đậm màu sắc dân tộc Có thể hình dung những tâm hồn hào hoa ấy đang đắm chìm trong vẻ đẹp của những bóng hồng Tây
Bắc Tuy nhiên với câu hỏi “tự bao giờ”, ta có thể hiểu đ}y l| một sự phát hiện,
không hề có người con gái nào trong buổi biểu diễn đêm nay Người lính Tây
Tiến đã ph{t hiện ra “anh vệ trọc” trong xiêm y phụ nữ đã đ{nh lừa mình Họ
tự mua vui cho mình bằng cách cải trang thành những cô gái miền sơn cước Như vậy, đối lập với những căng thẳng là một nụ cười tếu táo, lính tráng, rất lạc quan Âm nhạc đã giúp những chàng trai Hà Nội thỏa mãn đời sống tâm hồn, tiếp thêm năng lượng để có đủ sức mạnh bám trụ chốn biên cương
Những từ ngữ mà tác giả sử dụng: “xiêm áo”, “man điệu”, “khèn lên”, “nhạc về”
gợi lên vẻ đẹp hư ảo, một vẻ đẹp vừa gần vừa xa của một khung cảnh nơi xứ
lạ, phương xa, l|m lòng người như đắm say, xốn xang hơn
C}u thơ cuối “Nhạc về Viên Chăn xây hồn thơ” có một thời đã l|m hệ lụy đến tác giả Người ta kết {n Quang Dũng đã đem c{i “buồn rớt”, “mộng rớt”
v|o trong thơ, khuyên người lính bộ đội Cụ Hồ rời bỏ h|ng ngũ v| sống trong yếu mềm, lãng mạn Nhưng thực ra đ}y l| c}u thơ ngợi ca phẩm chất tinh
thần của người lính Tây Tiến Quang Dũng nói về “hồn” tức là cái tinh túy bên
trong chứ không hề nói về ‚x{c‛ Đ}y cũng chính l| t}m hồn hào hoa, tinh tế
Trang 40của Quang Dũng Cảnh vật, con người như ngả nghiêng, ngây ngất, bốc men say rạo rực vì sung sướng khi được sống trong những giây phút bình yên Âm nhạc của tiếng khèn trong đêm văn nghệ giữa núi rừng đã dẫn lối người chiến
sĩ lạc vào miền đất xa xôi, hồn những người lính về với Viên Chăn hoa lệ để xây thêm hồn thơ Dư }m của chiến tranh tàn khốc bị đẩy lùi xa, chỉ còn những tâm hồn lãng mạn trong tiếng nhạc, hồn thơ Hồn về để lấy thêm năng lượng, hồn về để trở lại chốn biên cương, giúp người lính có khả năng chống chọi l}u d|i v| can trường với lí tưởng xả th}n cho độc lập, tự do của dân tộc
Đó l| khoảnh khắc hiếm hoi trong thời chiến, một kỉ niệm đẹp khó phai mờ trong lòng người lính Tây Tiến nói chung và trong lòng tác giả nói riêng Có thể thấy rằng bom đạn của kẻ thù chẳng thể nào khiến cho con người ta sợ hãi, những con người ấy hoàn toàn có thể gạt nỗi sợ sang một bên, dành thời gian xây dựng đời sống tâm hồn thêm phong phú, để thêm quyết tâm chiến đấu và chiến thắng mọi kẻ thù
Nếu bốn c}u thơ đầu ru ta trong nhạc điệu cất lên từ sự say mê của tâm hồn những người lính Tây Tiến thì bốn c}u thơ sau l| nét vẽ t|i hoa như đang thổi hồn cho cảnh vật Một {ng thơ đẹp xuất hiện như m}y chiều biên ải:
“Người đi Châu Mộc chiều sương ấy
Có thấy hồn lau nẻo bến bờ
Có nhớ dáng người trên độc mộc Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa”
Thiên nhiên Tây Bắc hiện lên theo chiều hướng nhẹ hóa Đúng l| một vẻ đẹp qu{ đỗi nguyên sơ, thanh khiết, gợi cảm đến nao lòng Những c}u thơ
đầy chất họa, đường nét thanh thoát, màu sắc tươi tắn “Người đi” trong “chiều sương ấy” l| con người của quá khứ đi trong không gian của quá khứ Cùng
cảnh sông nước, tưởng như người kia đang chèo thuyền ngược dòng kí ức để trở về bờ Châu Mộc hoài niệm Buổi chiều đầy sương ấy in đậm dấu ấn con người khiến hoài niệm càng thêm mênh mang Nhưng sương ở đ}y không
phải là “sương lấp” m| l| ‚sương li biệt‛ trong tư thế của người ra đi vì nghãi
lớn Bởi ở nơi đó có thể là hình ảnh con người đang lao động trong một buổi
chiều sương, nhưng cũng có thể “người đi” là bóng dáng của những người lính