MỤC LỤC PHẦN MỞ ĐẦU 4 PHẦN NỘI DUNG 5 I LUẬN CHUNG VỀ QUAN ĐIỂM TOÀN DIỆN 5 1 Nguyên lí về mối liên hệ phổ biến 5 1 1 Cơ sở khoa học 5 1 2 Khái niệm liên hệ, mối liên hệ 5 1 3 Tính chất của mối liên hệ phổ biến 6 2 Quan điểm toàn diện trong triết học Mac Lenin 7 3 Ý nghĩa của việc nghiên cứu nguyên lý mối liên hệ phổ biến giữa các sự vật, hiện tượng trong hoạt động nhận thức và thực tiễn 8 II VẬN DỤNG QUAN ĐIỂM TOÀN DIỆN VÀO VIỆC XÂY DỰNG VÀ HÌNH THÀNH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN 8 A Lịch sử.
Trang 1MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 4
PHẦN NỘI DUNG 5
I LUẬN CHUNG VỀ QUAN ĐIỂM TOÀN DIỆN 5
1 Nguyên lí về mối liên hệ phổ biến 5
1.1 Cơ sở khoa học 5
1.2 Khái niệm liên hệ, mối liên hệ 5
1.3 Tính chất của mối liên hệ phổ biến 6
2 Quan điểm toàn diện trong triết học Mac-Lenin 7
3 Ý nghĩa của việc nghiên cứu nguyên lý mối liên hệ phổ biến giữa các sự vật, hiện tượng trong hoạt động nhận thức và thực tiễn 8
II VẬN DỤNG QUAN ĐIỂM TOÀN DIỆN VÀO VIỆC XÂY DỰNG VÀ HÌNH THÀNH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN 8
A Lịch sử hình thành và phát triển nhà trường 8
B Những vấn đề cần quan tâm và tìm hiểu trong quá trình xây dựng và phát triển Trường Đại học Kinh tế Quốc dân 9
1 Sứ mệnh 9
2 Tầm nhìn 9
3 Giá trị cốt lõi 9
4 Việc đào tạo dựa trên nhu cầu thị trường và gắn liền với nhu cầu doanh nghiệp là hết sức quan trọng 10
5 Đổi mới phương pháp giáo dục bậc đại học 10
6 Quá trình phát triển cơ chế tự chủ 11
7 Hội nhập và gắn kết các trường đại học Quốc tế 12
C Những thành tựu nổi bật và hạn chế còn tồn đọng cần khắc phục 13
1 Thành tựu nổi bật 13
1.1 Quy mô đào tạo 13
1.2 Hoạt động đào tạo 14
1.3 Đội ngũ giảng viên 14
1.4 Nghiên cứu khoa học 15
1.5 Sinh viên ưu tú 15
1.6 Cơ sở vật chất 16
1.7 Khen thưởng 16
1.8 Chủ động thích nghi với đại dịch Covid 19 17
Trang 22 Hạn chế 17
D Giải pháp khắc phục những hạn chế 18
1 Phát triển nguồn nhân lực 18
2 Chiến lược khoa học công nghệ 19
3 Nâng cao năng lực tài chính 19
PHẦN KẾT LUẬN 20
TƯ LIỆU THAM KHẢO 21
Trang 3PHẦN MỞ ĐẦU
Trường Đại học Kinh tế Quốc dân luôn vinh dự là đơn vị giáo dục đi đầu cả nước về đào tạo sinh viên khối ngành liên quan đến kinh tế trong nhiều năm liền Với tư cách là tân sinh viên của trường, em mong muốn mọi người có cái nhìn sâu rộng hơn về quá trình hình thành và phát triển trường Đại học Kinh tế Quốc dân Quan điểm toàn diện của triết học Mac-Lenin chính là kim chỉ nam, nền tảng tư tưởng hoạt động của trường Tức là chúng ta phải nhìn nhận đánh giá quá trình xây dựng và phát triển của trường tại nhiều khía cạnh khác nhau để có đánh giá đúng đắn nhất cũng như phát huy điểm mạnh và khắc phục điểm yếu còn tồn tại Chính vì vậy đề tài: “Quan điểm toàn diện
và việc vận dụng quan điểm toàn diện trong quá trình xây dựng, phát triển trường Đại học Kinh tế Quốc dân hiện nay” là vô cùng quan trọng bởi trong thời điểm nhiều biến động như hiện nay thì đòi hỏi trường luôn phải sáng tạo, thay đổi để thích nghi và phát triển bền vững Điều này sẽ được lí giải
rõ hơn ở phần nội dung đề tài
Mặc dù đã có rất nhiều cố gắng nhưng do kiến thức bản thân còn hạn hẹp và thời gian còn hạn chế nên bài tiểu luận này không thể tránh khỏi những sai sót Kính mong sự góp ý nhiệt tình của thầy và các bạn để bài tiểu luận hoàn thiện hơn
Em xin chân thành cảm ơn!
Trang 4PHẦN NỘI DUNG
I LUẬN CHUNG VỀ QUAN ĐIỂM TOÀN DIỆN
Quan điểm toàn diện là nguyên tắc cốt lõi khi nghiên cứu sự vật, hiện tượng dựa trên cơ sở lý luận là nguyên lí về mối liên hệ phổ biến
1 Nguyên lí về mối liên hệ phổ biế n
1.1 Cơ sở khoa học
Nguyên lý này được dựa trên một khẳng định trước đó của triết học Mác-Lênin là khẳng định tính thống nhất vật chất của thế giới là cơ sở của mối liên hệ giữa các sự vật và hiện tượng Các sự vật, hiện tượng tạo thành thế giới dù có đa dạng, phong phú, có khác nhau bao nhiêu, song chúng đều chỉ là những dạng khác nhau của một thế giới duy nhất, thống nhất- thế giới vật chất Engels đã nhấn mạnh điều này: “Tính thống nhất của thế giới là ở tính vật chất của nó, và tính vật chất này được chứng minh không phải bằng ba lời lẽ khéo léo của kẻ làm trò ảo thuật, mà bằng sự phát triển lâu dài và khó khăn của Triết học và khoa học tự nhiên.”
Theo Hồ Chí Minh thì: “Thống nhất giữa lý luận và thực tiễn, là một nguyên tắc căn bản của chủ nghĩa.”
Nhờ có tính thống nhất đó, chúng không thể tồn tại biệt lập tách rời nhau mà tồn tại trong sự tác động qua lại chuyển hoá lẫn nhau theo những quan hệ xác định
1.2 Khái niệm liên hệ, mối liên hệ
Khái niệm liên hệ: Là quan hệ giữa hai đối tượng nếu sự thay đổi của một trong số chúng
nhất định làm đối tượng kia thay đổi; ngược lại, cô lập (tách rời) là trạng thái của các đối tượng, khi
sự thay đổi của đối tượng này không làm ảnh hưởng gì đến đối tượng khác, không làm chúng thay đổi
Khái niệm mối liên hệ: Mối liên hệ là phạm trù triết học dùng để chỉ các mối ràng buộc tương
hỗ, quy định và ảnh hưởng đến nhau giữa các yếu tố, bộ phận trong một đối tượng hoặc giữa các đối tượng với nhau
Ví dụ: Mối liên hệ giữa các cơ quan trong cơ thể sống của con người, giữa đồng hóa và dị
hóa, mối liên hệ giữa các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa trong một quốc gia hoặc giữa các quốc gia với nhau
Khái niệm mối liên hệ phổ biến dùng để chỉ tính phổ biến của các mối liên hệ, chỉ những mối
liên hệ tồn tại ở nhiều sự vật, hiện tượng của thế giới hay nói cách khác mối liên hệ phổ biến được dùng với hai nghĩa cơ bản đó là: dùng để chỉ tính phổ biến của các mối liên hệ; dùng để chỉ sự khái quát những mối liên hệ có tính chất phổ biến nhất
Trang 5Ví dụ: Mối liên hệ giữa cái riêng và cái chung; nguyên nhân và kết quả; nội dung và hình
thức; tất nhiên và ngẫu nhiên; bản chất và hiện tượng, khả năng và hiện thực; lượng và chất; các mặt đối lập trong một mâu thuẫn; khẳng định và phủ định Đây là những mối liên hệ phổ biến nhất
Qua đó, chúng ta thấy rằng sự vật hiện tượng nào cũng tồn tại những mối liên hệ như trên,
những mối liên hệ đặc thù đa dạng, phong phú đến đâu thì cũng chỉ nằm trong những mối liên hệ phổ biến đó.Ví dụ điển hình là mối liên hệ giữa cái cây với đất với nước, ánh sáng, độ ẩm, tất cả tựu chung lại đều nằm trong mối quan hệ giữa cái riêng và những cái chung
1.3 Tính chất của mối liên hệ phổ biến
Một là, tính khách quan: Mối liên hệ là cái vốn có của bản thân sự vật, không phụ thuộc vào
ý muốn chủ quan của con người Con người chỉ có thể nhận thức và vận dụng các mối liên hệ đó trong hoạt động thực tiễn của con người
Ví dụ: Mối liên hệ giữa con vật cụ thể (một cái riêng) với quá trình đồng hóa- dị hóa; biến dị
và di truyền; quy luật sinh học: sinh-trưởng thành-già-chết (cái chung) Đó là cái vốn có của con vật đó, tách rời khỏi mối liên hệ đó con vật sẽ chết Điều đó cho thấy rằng mối liên hệ mang tính khách quan, con người không thể sáng tạo ra được mối liên hệ đó mà nó xuất phát từ chính bản thân con vật đó Vai trò của con người ở đây có thể nhận thức được mối liên hệ này mặc dù không tạo ra các mối liên hệ đó để cải tạo, tác động, đem lại điều tốt hơn phục vụ nhu cầu cuộc sống của con người
Hai là, tính phổ biến của các mối liên hệ thể hiện ở chỗ: Mối liên hệ qua lại, quy định,
chuyển hóa lẫn nhau không những diễn ra ở mọi sự vật, hiện tượng tự nhiên, xã hội, tư duy, mà còn diễn ra giữa các mặt, các yếu tố, các quá trình của mỗi sự vật hiện tượng
Ví dụ: Không gian, thời gian, sự vật, hiện tượng nào cũng có mối liên hệ không chỉ trong xã
hội, trong tư duy, tự nhiên mà còn các yếu tố, bộ phận cấu thành sự vật, hiện tượng đó trong quá khứ, hiện tại hay tương lai cũng liên hệ chặt chẽ với nhau
Ba là, tính đa dạng, phong phú: Mỗi sự vật, hiện tượng, quả trình khác nhau thì mối liên hệ
khác nhau; một sự vật hiện tượng có nhiều mối liên hệ khác nhau (bên trong-bên ngoài, chủ yếu- thứ yếu, cơ bản- không cơ bản, ) Chúng giữ vị trí, vai trò khác nhau đối với sự tồn tại và phát triển của
sự vật, hiện tượng, một mối liên hệ trong điều kiện hoàn cảnh khác nhau thì tính chất vai trò cũng khác nhau
Ví dụ: Mối liên hệ của con người với nước khác nhau, cùng là con người nhưng những người
sống ở nơi có khí hậu nóng sẽ có nhu cầu tiêu thụ nhiều nước hơn những người ở các vùng khác Hay có cây cần nhiều nước, ánh sáng để phát triển, có cây lại cần ít nước, ít ánh sáng Cùng là mối quan hệ vợ- chồng, cha mẹ- con cái, thầy- trò; người phương Đông lại có những quan niệm, tư tưởng khác biệt so với người phương Tây
Trang 62 Quan điểm toàn diện trong triết học Mac-Lenin
Mỗi sự vật hiện tượng đều tồn tại trong nhiều mối liên hệ, tác động qua lại với nhau; do đó, khi xem xét đối tượng cụ thể cần tuân theo nguyên tắc toàn diện
Thứ nhất, khi nghiên cứu, xem xét đối tượng cụ thể, cần đặt nó trong chỉnh thể thống nhất tất
cả các mặt, các yếu tố, các bộ phận, các thuộc tính, các mối liên hệ của chỉnh thể đó
Ví dụ, khi nhìn nhận một con người phải xem xét nhiều mặt, nhiều khía cạnh (thể lực, trí lực,
phẩm chất, ); nhiều mối liên hệ khác nhau (thầy cô, bạn bè, gia đình, ) chứ không thể dựa vào chỉ một hành động hoặc bề ngoài mà kết luận rằng con người là tốt hay xấu Phải có cái nhìn bao quát giữa các mặt, mối liên hệ tác động qua lại
Thứ hai, chủ thể phải rút ra được các mặt, các mối liên hệ tất yếu của đối tượng đó và nhận
thức chúng trong sự thống nhất hữu cơ nội tại, bởi chỉ có như vậy, nhận thức mới có thể phản ánh được đầy đủ sự tồn tại khách quan với nhiều thuộc tính, nhiều mối liên hệ, quan hệ và tác động qua lại của đối tương
Ví dụ: Khi đánh giá về công cuộc đổi mới ở Việt Nam từ năm 1986 đến nay, chúng ta phải đánh
giá toàn diện những thành tựu (kết cấu hạ tầng, thu nhâp, mức độ sống, giáo dục, y tế, ) cùng những hạn chế (mặt trái của các yếu tố trên đặc biệt là các tệ nạn xã hội) Về cơ bản, chúng ta rút ra được những thành tựu rực rỡ từ công cuộc đổi mới Trên cơ sở đó, chúng ta kết luận đổi mới là tất yếu là khách quan, phải phân tích chỉ ra được nguyên nhân nào là cơ bản, chủ yếu cũng từ đó rút ra giải pháp khắc phục yếu kém còn tồn tại
Thứ ba, cần xem xét đối tượng này trong mối liên hệ với đối tượng khác và với mối trường
xung quanh, kể cả các mặt của các mối liên hệ trung gian, gián tiếp, trong không gian, thời gian nhất định, tức cần nghiên cứu cả những mối liên hệ của đối tượng trong quá khứ, hiện tại và phán đoán
cả tương lai của nó
Ví dụ: Vẫn tiếp tục về công cuộc đổi mới ở Việt Nam từ năm 1986 đến nay, chúng ta đã chỉ ra
được những mặt còn hạn chế như tham ô, quan liêu, con ông cháu cha, tệ nạn, Sau quá trình đúc kết chúng ta đã rút ra được những nguyên nhân trực tiếp, gián tiếp, cơ bản và không cơ bản, chủ yếu
và thứ yếu (đời sống kinh tế hiện tại, do quan niệm truyền thống, đặc biệt là chủ nghĩa cá nhân, thói tham lam, ích kỉ, ; hệ thống pháp luật chưa đồng bộ còn có nhiều kẽ hở, một số cán bộ lợi dụng thoái hóa biến chất tham ô, tham nhũng; công tác giáo dục, tuyên truyền, giám sát còn lỏng lẻo chưa
có tính kỉ luật, răn đe cao ) Phải phân tích những nguyên nhân chủ yếu, cơ bản, trực tiếp đó để tìm
ra giải pháp phù hợp xóa bỏ những hiện tượng tiêu cực trên
Thứ tư, quan điểm toàn diện đối lập với quan điểm phiến diện một chiều, chỉ thấy mặt này mà
không thấy mặt khác; thuật ngụy biện (đánh tráo các mối liên hệ cơ bản thành không cơ bản hoặc ngược lại); chủ nghĩa chiết trung (lắp ghép vô nguyên tắc các mối liên hệ trái ngược nhau vào một mối liên hệ phổ biến)
Trang 7Ví dụ: Đánh giá một sự vật, chỉ nhìn một vài mặt, vài mối liên hệ đã đi đến kết luận bản chất
(Phiến diện- Sai lầm), chẳng hạn đánh giá con người Biến nguyên nhân cơ bản, chủ yếu thành thứ yếu và ngược lại (Ngụy biện- Sai lầm), chẳng hạn kết quả học tập không được cao thì điều đầu tiên phải tự vấn chính bản thân mình đã cố gắng hết sức chưa chứ không thể đổ tại lỗi do thầy cô hay nhà trường
3 Ý nghĩa của việc nghiên cứu nguyên lý mối liên hệ phổ biến giữa các sự vật, hiện tượng trong hoạt động nhận thức và thực tiễn
Từ tính khách quan và phổ biến của mối liên hệ đã cho ta thấy trong hoạt động thực tiễn và nhận thức cần phải có quan điểm toàn diện
Quan điểm toàn diện đòi hỏi trong nhận thức và xử lý các tình huống thực tiễn cần xem xét sự vật trong mối liên hệ biện chứng qua lại giữa các bộ phận, giữa các yếu tố, giữa các mặt của chính
sự vật và trong sự tác động qua lại giữa các sự vật đó với các sự vật khác Chỉ trên cơ sở đó mới có thể nhận thức đúng về sự vật và xử lý có hiệu quả các vấn đề của đời sống thực tiễn Như vậy, quan điểm toàn diện giúp chúng ta tránh những sai lầm và sự cứng nhắc, chống lại chủ nghĩa siêu hình coi
sự vật là độc lập, riêng lẻ
Lenin cho rằng: “Muốn thực sự hiểu sự vật, cần phải nhìn bao quát và nghiên cứu tất cả các mặt, tất cả các mối liên hệ và “quan hệ giao tiếp” của sự vật đó.”
II VẬN DỤNG QUAN ĐIỂM TOÀN DIỆN VÀO VIỆC XÂY DỰNG VÀ HÌNH THÀNH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
A Lịch sử hình thành và phát triển nhà trường
25/01/1956: Thủ tướng chính phủ ban hành Nghị định số 678/TTg về việc thành lập Trường Kinh tế Tài chính TW (tiền thân của Trường Đại học Kinh tế Quốc dân), đặt trong hệ thống Trường Đại học Nhân dân Việt Nam
22/05/1958: Chính phủ ban hành nghị định số 225/TTg chuyển Trường Đại học Kinh tế Tài chính TW trực thuộc Bộ Giáo dục
Từ 1960 - 11/1964: Trường có tên gọi chính thức là Trường Đại học Kinh tế Tài chính
Từ 1964 – 1965: Trường đổi tên thành Trường Đại học Kinh tế Kế hoạch theo Quyết định số 163/CP ngày 06/11/1964 của Hội đồng Chính phủ
22/10/1985: Bộ trưởng Bộ ĐH&THCN (Bộ GD&ĐT) ra Quyết định số 1443/QD-KH đổi tên Trường thành Trường Đại học Kinh tế Quốc dân, là một trong sáu trường đại học trọng điểm của cả nước
2018: Trường đã đưa vào vận hành đồng bộ Nhà trung tâm đào tạo với trang thiết bị tiên tiến đạt chuẩn quốc tế, hệ thống giảng đường, thư viện hiện đại cùng hệ thống dịch vụ hỗ trợ đào tạo, nghiên cứu khoa học có chất lượng cao
Trang 8B Những vấn đề cần quan tâm và tìm hiểu trong quá trình xây dựng và phát triển Trường Đại học Kinh tế Quốc dân
1 Sứ mệnh
Là trường trọng điểm quốc gia, trường đại học hàng đầu về kinh tế, quản lý và quản trị kinh doanh trong hệ thống các trường đại học của Việt Nam, Trường Đại học Kinh tế Quốc dân có sứ mệnh cung cấp cho xã hội các sản phẩm đào tạo, nghiên cứu khoa học, tư vấn, ứng dụng và chuyển công nghệ chất lượng cao, có thương hiệu và danh tiếng, đạt đẳng cấp khu vực và quốc tế về lĩnh vực kinh tế, quản lý và quản trị kinh doanh, góp phần quan trọng vào sự nghiệp Công nghiệp hóa-Hiện đại hóa đất nước trong bối cảnh hội nhập kinh tế thế giới
2 Tầm nhìn
Trường Đại học kinh tế Quốc dân phấn đấu phát triển thành trường đại học đa ngành theo định hướng nghiên cứu, đạt chất lượng đẳng cấp khu vực và quốc tế trong lĩnh vực quản lý kinh tế, QTKD và một số lĩnh vực mũi nhọn khác Phấn đấu trong những thập kỷ tới, Trường được xếp trong
số 1000 trường đại học hàng đầu thế giới
3 Giá trị cốt lõi
Sáng tạo: Xây dựng môi trường học tập và nghiên cứu thân thiện, đảm bảo cho viên chức, người
lao động, sinh viên, học viên, nghiên cứu sinh được tự do sáng tạo, phát triển tư duy; tôn trọng ý kiến phản biện khách quan, có cơ sở khoa học; giữ vững và phát huy vai trò đi đầu trong đổi mới và sáng tạo, tạo dựng bản sắc riêng
Đoàn kết: Tập thể sư phạm Trường là một khối thống nhất, đồng tâm nhất trí vì sự phát triển;
sẵn sàng hợp tác, chia sẻ nguồn lực, hỗ trợ và giúp đỡ lẫn nhau để hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ Mạng lưới cựu sinh viên, học viên và các đối tác luôn là một phần gắn bó chặt chẽ của Trường
Liêm chính: Tôn trọng sự trung thực, công bằng, minh bạch trong tất cả các hoạt động đào tạo,
nghiên cứu và quản trị đại học; công khai, thực hiện nghiêm túc những cam kết đối với người học, viên chức, người lao động, cộng đồng và xã hội
Hiệu quả: Hướng tới nâng cao chất lượng, hiệu quả tối ưu nhằm đảm bảo sử dụng tốt nhất và
bền vững các nguồn lực; tầm nhìn dài hạn được chú trọng để đảm bảo sự phát triển liên tục
Trách nhiệm: Suy nghĩ và hành động với tinh thần trách nhiệm cao, hết mình vì sự nghiệp
chung; lợi ích của mỗi cá nhân gắn liền với sự phát triển của Trường
4 Việc đào tạo dựa trên nhu cầu thị trường và gắn liền với nhu cầu doanh nghiệp là hết sức quan trọng
Trong những năm gần đây, một trong những vấn đề bức xúc của ngành giáo dục đại học ở Việt Nam là đào tạo chưa gắn liền với nhu cầu xã hội, trong đó đặc biệt là các nhu cầu của doanh nghiệp,
Tỷ lệ sinh viên tốt nghiệp ra trường khó tìm việc làm hoặc làm trái ngành là rất cao Theo thống kê mới nhất của Bộ giáo dục và Đào tạo, 63% sinh viên tốt nghiệp ra trường không có việc làm, 37%
Trang 9được tuyển dụng không đáp ứng nhu cầu công việc, nhiều công ty, doanh nghiệp phải mất 1-2 năm đào tạo lại Các doanh nghiệp phải mất nhiều thời gian, chi phí cho việc đào tạo nhân viên
Hợp tác giữa các trường đại học và doanh nghiệp nói chung và trong lĩnh vực đào tạo nói riêng còn khá mới mẻ ở nước ta Do đó, sự hiểu biết lẫn nhau để thực hiện nguyên tắc cùng có lợi còn rất hạn chế Các doanh nghiệp là tổ chức lợi nhuận nên họ rất quan tâm đến chi phí và lợi ích Họ không bỏ thời gian, tiền bạc để hợp tác với đại học mà không mang lại lợi ích thiết thực nào
Lợi ích lớn nhất mang lại từ việc hợp tác với các trường đại học là có được nguồn nhân lực phù hợp với nhu cầu phát triển của doanh nghiệp Thay vì phải tìm kiếm lao động trên thị trường tự do, mất thời gian và chi phí để đào tạo lại, các doanh nghiệp hợp tác với đại học để đào tạo ra những cán
bộ, chuyên gia đáp ứng nhu cầu phát triển của mình Như vậy, đại học sẽ đem lại lợi ích rẩt lớn, tạo nguồn “tài sản” quý giá trong tương lai cho các doanh nghiệp Ngoài ra, các doanh nghiệp còn nhận được lợi ích từ các đại học trong việc tiếp cận trực tiếp với các giải pháp phát triển doanh nghiệp, phát minh và sáng chế, các dịch vụ tư vấn Đại học gắn kết đào tạo theo nhu cầu của doanh nghiệp
sẽ mang lại lợi ích cho cả hai bên
Nhận thức được tầm quan trọng và lợi ích của việc hợp tác doanh nghiệp mang lại, Trường Đại học Kinh tế Quốc dân đã là đối tác tin cậy với nhiều doanh nghiệp lớn nhỏ trong cả nước Trong đó phải kể đến: “Tập đoàn Hòa Phát”, “Tập đoàn viễn thông Viettel”, “Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam”, đã hỗ trợ trường trong việc vay vốn cho học sinh, sinh viên có hoàn cảnh khó khăn hay tài trợ trong các cuộc thi nghiên cứu khoa học và chuyên môn
5 Đổi mới phương pháp giáo dục bậc đại học
Trường Đại học Kinh tế Quốc dân tập trung phát triển các chương trình giáo dục đại học đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao nhất cả nước về kinh tế, quản lý và quản trị kinh doanh Trường tiếp tục thu hút những sinh viên, học viên xuất sắc, có hoài bão và tâm huyết thay đổi cộng đồng và xã hội, đảm bảo tỷ lệ sinh viên tốt nghiệp có việc làm và mức thu nhập cao hàng đầu trong các trường đại học của Việt Nam, kết nối chặt chẽ giữa sinh viên với cựu sinh viên các thế hệ, xây dựng cộng đồng Đại học Kinh tế Quốc dân có truyền thống vẻ vang và tự hào
Trường chú trọng nâng cao chất lượng đào tạo theo hướng tăng cường hội nhập và gắn kết với thực tiễn Trường Đại học Kinh tế Quốc dân thực hiện đổi mới toàn diện chương trình đào tạo, tăng cường đào tạo bằng tiếng Anh, chuẩn hóa và cung cấp đầy đủ hệ thống học liệu tiên tiến nhất cho người học, thực hiện kiểm định quốc tế các chương trình đào tạo, tăng hàm lượng thực tiễn trong quá trình đào tạo thông qua việc xây dựng và phát triển đội ngũ giảng viên kiêm giảng từ các tổ chức, doanh nghiệp bên ngoài, nâng cao hiệu quả của các bài tập tình huống, các chuyến tham quan thực tế, các kỳ thực tập, tiên phong trong việc mở các ngành đào tạo và đưa vào chương trình đào tạo các môn học mới đáp ứng nhu cầu xã hội
Từng bước mở rộng sang các lĩnh vực và ngành đào tạo mới, liên ngành, xuyên ngành Trường Đại học Kinh tế Quốc dân sẽ phát triển mạnh ngành công nghệ thông tin, tập trung vào định hướng
Trang 10chuyển đổi số, ứng dụng dữ liệu lớn và trí tuệ nhân tạo trong quản lý, kinh tế và quản trị kinh doanh, tạo nền móng trở thành trung tâm đào tạo và nghiên cứu hàng đầu trong lĩnh vực này Trường sẽ thúc đẩy nhanh chóng việc giảng dạy các nội dung về công nghệ, kỹ thuật trong các ngành tài chính,
du lịch và môi trường để tiến tới đào tạo toàn diện các ngành kinh tế này
Đổi mới mạnh mẽ công nghệ và phương thức đào tạo theo hướng tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong giảng dạy trên quan điểm lấy người học làm trung tâm Phương thức đào tạo chủ yếu của Trường sẽ là phương thức kết hợp, bảo đảm người học có quyền lựa chọn cao nhất đối với các chương trình và nội dung đào tạo Trường Đại học Kinh tế Quốc dân sẽ nhanh chóng tiến tới thống nhất một chuẩn mực chất lượng không phân biệt các hình thức đào tạo, phấn đấu có tỷ lệ sinh viên/ giảng viên vào loại thấp nhất trong các trường đại học, thực hiện công nhận văn bằng, tín chỉ, liên thông với các trường đại học trong khu vực và trên thế giới
Xây dựng cơ cấu hợp lý giữa các trình độ đào tạo Đào tạo bậc đại học là nền tảng của Trường với số lượng lớn nhất Đào tạo bậc thạc sĩ mang tính tiên phong (phản ứng nhanh với nhu cầu của thực tiễn kinh tế xã hội) hướng tới đội ngũ cán bộ quản lý trong các tổ chức, doanh nghiệp Đào tạo bậc tiến sĩ mang tính chất tinh hoa sẽ hướng tới việc phát triển một đội ngũ các nhà khoa học cho các trường đại học, các viện nghiên cứu Tỷ lệ giữa các bậc đào tạo (Tiến sĩ/ Thạc sĩ/ Cử nhân) dự kiến sẽ xoay quanh 1/20/100
6 Quá trình phát triển cơ chế tự chủ
Trường Đại học Kinh tế Quốc dân được giao thực hiện Đề án thí điểm đổi mới cơ chế hoạt động theo hướng tự chủ, tự chịu trách nhiệm theo Quyết định số 368/QĐ-TTg ngày 17/3/2015 và Nghị quyết số 117/NQ-CP ngày 09/11/2017 của Chính phủ phiên họp thường kỳ tháng 10/2017 và là một trong 3 cơ sở giáo dục đại học thực hiện thí điểm tự chủ mức cao theo Nghị quyết số 39/NQ-CP ngày 11/06/2019 của Chính phủ phiên họp thường kỳ tháng 5/2019 Sau 5 năm thực hiện cơ chế tự chủ, trường Đại học Kinh tế Quốc dân đã ghi nhận những kết quan trọng
Sự chủ động linh hoạt đã được thúc đẩy mạnh mẽ trong hầu hết các mặt hoạt động của Nhà trường Nhiều chương trình đào tạo mới đáp ứng yêu cầu của quá trình phát triển kinh tế xã hội của đất nước trong bối cảnh cách mạng công nghiệp 4.0 như Kinh doanh số, Công nghệ tài chính, Khởi nghiệp, Khoa học dữ liệu đã được đưa vào thực hiện
Nội dung và phương thức đào tạo đã có những bước tiến phù hợp với xu hướng chuyển đổi số Học tập và giảng dây theo hình thức kết hợp (blended learning) đang là phương thức mang tính chủ đạo Chất lượng đào tạo được nâng cao một bước rõ rệt Nhà trường đặc biệt chú trọng phát triển các chương trình đào tạo bằng tiếng Anh, Chương trình Tiên tiến (CTTT), Chất lượng cao (CLC) và định hướng nghề nghiệp (POHE)
Trường đã chủ động liên kết đào tạo với các trường đại học quốc tế có thứ hạng cao, từ đó tiếp nhận được công nghệ, chương trình đào tạo trong lĩnh vực mà các trường đối tác có thế mạnh đáp ứng được yêu cầu hội nhập quốc tế của đất nước