TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG KHOA: LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ ---o0o---TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC PHÉP BIỆN CHỨNG VỀ MỐI LIÊN HỆ PHỔ BIẾN VÀ VẬN DỤNG PHÂN TÍCH MỐI LIÊN HỆ GIỮA TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ VỚI C
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG KHOA: LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
-o0o -TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC
PHÉP BIỆN CHỨNG VỀ MỐI LIÊN HỆ PHỔ BIẾN VÀ VẬN DỤNG PHÂN TÍCH MỐI LIÊN HỆ GIỮA TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ VỚI CÔNG BẰNG XÃ HỘI
Sinh viên thực hiện : Nguyễn Minh Thư
Mã sinh viên : 2112530052
Lớp tín chỉ : TRIE114CLC.5 Giảng viên hướng dẫn TS: Đào Thị Trang
Hà Nội, 2021
Trang 2MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 2
NỘI DUNG 3
I Phép biện chứng về mối liên hệ phổ biến 3
1 Phép biện chứng duy vật 3
1.1 Khái niệm 3
1.2 Đặc điểm và vai trò 4
2 Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến 4
2.1 Khái niệm 4
2.2 Các tính chất của mối liên hệ phổ biến 4
2.3 Ý nghĩa phương pháp luận 5
II Mối liên hệ giữa tăng trưởng kinh tế với công bằng xã hội 6
1 Khái niệm 6
1.1 Tăng trưởng kinh tế 6
1.2 Công bằng xã hội 7
2 Mối liên hệ giữa tăng trưởng kinh tế với công bằng xã hội 7
3 Thực hiện tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội ở Việt Nam 9
3.1 Những thành tựu 9
3.2 Những hạn chế 9
4 Một số giải pháp 10
KẾT LUẬN 12
TÀI LIỆU THAM KHẢO 13
Trang 3LỜI MỞ ĐẦU
Theo như nguyên lý về mối liên hệ phổ biến trong Triết học Mác-Lênin, tất cả các sự vật, hiện tượng đang cùng tồn tại trên thế giới này đều có một mối liên hệ
và luôn tương tác với nhau để khẳng định mình là những đối tượng thực tồn Kể
cả những đối tượng có trạng thái cô lập, chúng cũng không thực sự tồn tại độc lập, tách rời nhau mà vẫn sẽ liên hệ với các đối tượng khác ở một số khía cạnh
Vì thế, như một điều tất yếu, giữa tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội cũng tồn tại mối liên hệ với nhau
Trước hết, tăng trưởng kinh tế là một vấn đề quan trọng, có liên quan đến sự phát triển hưng thịnh của một quốc gia Bởi vậy, chính phủ các nước đều ưu tiên mọi nguồn lực cho sự tăng trưởng kinh tế và coi đó là nền tảng để giải quyết các vấn đề khác của đất nước Trong khi đó, công bằng xã hội có vai trò khuyến khích tối đa khả năng đóng góp và hạn chế tối thiểu khả năng gây hại của mỗi cá nhân đối với xã hội Do vậy, có thể nói, tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội
là hai nhân tố chính trong việc phát triển xã hội một cách nhanh chóng và bền vững Tăng trưởng kinh tế tạo cơ sở và điều kiện vật chất để thực hiện công bằng xã hội và ngược lại, công bằng xã hội là động lực to lớn nhằm góp phần đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế
Tuy nhiên, trong thực tiễn hiện nay còn tồn tại một vấn đề nan giải Đó là việc làm thế nào để có thể đạt được mục tiêu tăng trưởng kinh tế song song với một trình độ tương ứng về công bằng xã hội bởi không phải mọi nền kinh tế khi phát triển đến trình độ cao đều đi đôi với một xã hội công bằng Vì vậy, tôi đã quyết
định chọn đề tài “Phép biện chứng về mối liên hệ phổ biến và vận dụng phân tích mối liên hệ giữa tăng trưởng kinh tế với công bằng xã hội” để nghiên cứu Trong quá trình nghiên cứu, tôi mong muốn có thể áp dụng phép biện
chứng về mối liên hệ phổ biến trong Triết học Mác-Lênin để tìm hiểu kỹ hơn về mối liên hệ giữa phát triển kinh tế và sự công bằng trong xã hội Qua đó, tôi hy vọng có thể đưa ra những suy nghĩ của bản thân cũng như một số giải pháp thiết thực nhằm giải quyết vấn đề nêu trên và góp phần nào đó để xã hội đạt được sự phát triển nhanh chóng và bền vững trong tương lai
Trang 4NỘI DUNG
I Phép biện chứng về mối liên hệ phổ biến
1 Phép biện chứng duy vật
1.1 Khái niệm
Biện chứng là phương pháp “xem xét những sự vật và những phản ánh của
chúng trong tư tưởng, trong mối liên hệ qua lại lẫn nhau của chúng, trong sự ràng buộc, sự vận động, sự phát sinh và sự tiêu vong của chúng” Biện chứng giúp cho tư duy của con người không những nhìn thấy được sự vật ở trong trạng thái cô lập, tách rời mà còn thấy được cả toàn cảnh mối liên hệ qua lại giữa nó
và các sự vật, hiện tượng khác
Về thực chất, biện chứng đã được chia thành hai loại Biện chứng khách quan chỉ biện chứng của bản thân thế giới tồn tại khách quan, độc lập với ý thức con người Biện chứng chủ quan là biện chứng của tư duy phản ánh hiện thực khách quan vào bộ óc con người Ngay từ hai loại hình này của biện chứng, ta cũng có thể nhận thấy một cách rõ nét tính chính xác của phương pháp biện chứng (biện chứng khách quan và biện chứng chủ quan không chỉ tồn tại một cách độc lập
mà còn tồn tại một cách thống nhất với nhau) Sở dĩ nói như vậy là do thứ nhất,
sự vật hiện tượng trên thực tế và khi được phản ánh trong nhận thức của con người không hoàn toàn trùng khớp nhau bởi quá trình tư duy, nhận thức còn có
sự chủ quan và tính sáng tạo, mục đích của con người; thứ hai, biện chứng khách quan phần nào quy định biện chứng chủ quan vì bản thân sự vật hiện tượng tồn tại biện chứng trong thực tế như thế nào thì nhận thức của con người sẽ phản ánh lại đúng như thế
Phép biện chứng duy vật gồm hai nguyên lý, sáu cặp phạm trù và ba quy luật
cơ bản, thực hiện chức năng phương pháp luận chung nhất của hoạt động nhận thức và thực tiễn Điều này được thể hiện ở việc con người thông qua việc khái quát các cặp phạm trù và các quy luật cơ bản của phép biện chứng thành các nguyên lý, quy luật khoa học nhằm xây dựng một phương pháp luận khoa học
để từ đó, đưa ra các nguyên tắc tương ứng, định hướng hoạt động nhận thức và thực tiễn của mình Từng nguyên lý, luận điểm của phép biện chứng đều được rút ra dựa trên lập trường duy vật, từ sự vận hành của thế giới tự nhiên và lịch sử
xã hội loài người Vì thế, có thể nói phương pháp tư duy biện chứng là công cụ hữu hiệu giúp con người nhận thức và cải tạo thế giới
Trang 51.2 Đặc điểm và vai trò
Với ý nghĩa đó, phép biện chứng duy vật thuộc loại hình biện chứng chủ quan, được hình thành từ sự thống nhất hữu cơ giữa thế giới quan duy vật và phương pháp luận biện chứng; giữa lý luận nhận thức và lôgích biện chứng, được chứng minh bằng sự phát triển của khoa học tự nhiên trước đó
Nó là một hình thức tư duy hiệu quả quan trọng nhất đối với khoa học, là phương pháp luận trong nhận thức và thực tiễn đem lại phương pháp giải thích những quá trình phát triển diễn ra trong thế giới, giải thích những mối quan hệ chung, những bước quá độ từ lĩnh vực này sang lĩnh vực khác
2 Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến
2.1 Khái niệm
Nguyên lý (có nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp cổ với nghĩa đen là “đầu tiên nhất”)
là các tiên đề trong các khoa học cụ thể Nó là tri thức không dễ chứng minh nhưng đã được xác nhận bởi thực tiễn qua nhiều thế hệ, con người ta cần phải tuân thủ nghiêm nghặt, nếu không sẽ mắc sai lầm trong nhận thức và hành động
Mối liên hệ là một phạm trù triết học dùng để chỉ các mối ràng buộc lẫn nhau,
vừa quy định vừa ảnh hưởng đến nhau giữa các yếu tố, các bộ phận trong một đối tượng hoặc giữa các đối tượng với nhau Liên hệ là quan hệ giữa hai đối tượng khi
mà sự thay đổi của một trong số chúng làm đối tượng còn lại thay đổi theo
Mối liên hệ phổ biến: Quan điểm biện chứng duy vật cho rằng, các sự vật,
hiện tượng khác nhau của thế giới vừa tồn tại độc lập, vừa tồn tại trong mối liên
hệ qua lại với nhau, quy định, thâm nhập và chuyển hóa lẫn nhau Cơ sở của sự tồn tại đa dạng các mối liên hệ chính là tính thống nhất vật chất của thế giới Ví dụ: mối liên hệ giữa một hạt giống và môi trường xung quanh là mối liên hệ phổ biến bởi để hạt giống đó có thể nảy mầm, cần có điều kiện môi trường thích hợp
về đất, độ ẩm, không khí, ánh sáng, nhiệt độ,… Nếu không có những điều kiện trên, hạt giống đó sẽ không bao giờ có thể nảy mầm được và sự thay đổi trong điều kiện môi trường sẽ quy định khả năng nảy mầm của hạt giống
2.2 Các tính chất của mối liên hệ phổ biến
Phép biện chứng duy vật khẳng định ba tính chất của mối liên hệ phổ biến, bao gồm: tính khách quan, tính phổ biến và tính đa dạng, phong phú
Tính khách quan: Mối liên hệ phổ biến là cái vốn có và con người chỉ nhận
thức sự vật hiện tượng thông qua các mối liên hệ vốn có của nó Có những mối
Trang 6liên hệ, tác động giữa các sự vật, hiện tượng trong thế giới vật chất với nhau Có những mối liên hệ giữa các sự vật, hiện tượng vật chất với các hiện tượng tinh thần Có những mối liên hệ giữa các hiện tượng tinh thần với nhau Nói chung, các mối quan hệ đó đều là sự quy định, tác động qua lại lẫn nhau giữa các sự vật hiện tượng
Tính phổ biến: Mối liên hệ qua lại, quy định, chuyển hóa lẫn nhau không
những diễn ra ở mọi sự vật, hiện tượng tự nhiên, xã hội, tư duy mà còn diễn ra giữa các khía cạnh, các nhân tố, các quá trình của mỗi một sự vật, hiện tượng Ở bất kỳ đâu cũng không thể thiếu sự tồn tại của các mối liên hệ ấy Không có bất
kỳ một sự vật hiện tượng nào tồn tại một cách hoàn toàn cô lập (tách rời), mà sẽ luôn luôn có mối liên hệ qua lại với các sự vật, hiện tượng khác
Tính đa dạng, phong phú: Mọi sự vật, hiện tượng đều có những mối liên hệ
cụ thể và chúng có thể chuyển hóa cho nhau Các mối liên hệ của các đối tượng rất phức tạp, được phân loại tùy vào tính chất và vai trò của từng mối liên hệ; ví
dụ như mối liên hệ về không gian, mối liên hệ về thời gian, mối liên hệ chung, mối liên hệ riêng,… Tuy nhiên, việc phân loại cũng chỉ mang tính tương đối Ở những điều kiện khác nhau, các mối liên hệ ấy có những tính chất và vai trò khác nhau quy định sự vận động, phát triển của sự vật, hiện tượng
2.3 Ý nghĩa phương pháp luận
Từ nguyên lý về mối liên hệ phổ biến, chúng ta rút ra quan điểm toàn diện khi xem xét sự vật hiện tượng với những nội dung sau:
Thứ nhất, khi nghiên cứu, xem xét sự vật, hiện tượng cụ thể cần đặt nó trong mối
liên hệ giữa các yếu tố, các mặt của chính sự vật và trong sự tác động qua lại giữa
sự vật đó với các sự vật, hiện tượng khác Thứ hai, phải biết phân loại từng mối liên
hệ, xem xét có trọng tâm, trọng điểm để làm nổi bật cái cơ bản nhất của sự vật hiện
tượng Thứ ba, từ việc rút ra mối liên hệ bản chất của sự vật, ta lại đặt mối liên hệ
bản chất đó trong tổng thể các mối liên hệ của sự vật, kể cả các mặt của các mối liên hệ trung gian, gián tiếp và xem xét một cách cụ thể trong từng giai đoạn lịch
sử, kể cả những mối liên hệ của đối tượng trong quá khứ, hiện tại, tương lai Thứ
tư, quan điểm toàn diện đối lập với quan điểm phiến diện siêu hình (chỉ thấy mặt
này mà không thấy mặt khác hoặc đã biết xem xét nhiều mặt nhưng không tìm thấy được cái cơ bản của đối tượng) và cả chủ nghĩa chiết trung (áp dụng nguyên lý về mối liên hệ phổ biến vào thực tế cuộc sống một cách không chính xác do không tuân thủ đúng các nguyên tắc của nó)
Trang 7Như vậy, nội dung của quan điểm toàn diện đã bao hàm nội dung của quan điểm lịch sử - cụ thể Do mỗi sự vật, hiện tượng đều tồn tại trong nhiều mối liên hệ, tác động qua lại với nhau nên khi nghiên cứu đối tượng cụ thể, ta cần tuân thủ nguyên tắc toàn diện nếu trên để có được nhận thức đúng đắn, đầy đủ về sự vật, hiện tượng
để từ đó, tránh phạm sai lầm trong nhận thức và hành động thực tiễn
Ví dụ, khi xem xét đánh giá về thành quả học tập 1 năm qua của bản thân, chúng ta cần vận dụng quan điểm toàn diện thì mới có thể đánh giá một cách chính xác nhất Trước hết, cần phải điểm qua những điều tích cực trong việc học tập của bản thân, có thể kể đến những nỗ lực, thời gian dành cho việc học cũng như những kiến thức thu nhận được Bên cạnh đó, ta cũng cần phải đánh giá các mặt tiêu cực nếu có như việc trì trệ, không tuân thủ nội quy trường lớp và điểm không như mong muốn Quan trọng hơn cả là cần rút ra cái cơ bản giữa những mối liên hệ đó, cụ thể là những mặt tích cực Từ đó, hướng tới mục tiêu thực tiễn
để phát huy điểm mạnh và cải thiện điểm yếu nhằm nâng cao kết quả học tập một cách tổng thể
II Mối liên hệ giữa tăng trưởng kinh tế với công bằng xã hội
1 Khái niệm
1.1 Tăng trưởng kinh tế
Tăng trưởng kinh tế là sự thay đổi trong nền kinh tế của một quốc gia hoặc
một khu vực theo chiều hướng tiến bộ, bằng cách mở rộng quy mô sản xuất và tiêu dùng hàng hóa và dịch vụ, đồng thời làm tăng giá trị của hàng hóa và dịch
vụ Có thể hiểu một cách đơn giản tăng trưởng kinh tế là khi thu nhập của người tiêu dùng cao hơn, họ sẵn sàng chi tiêu cho hàng hóa và dịch vụ nhiều hơn, đồng nghĩa với việc nâng cao mức sống và chất lượng cuộc sống của người dân Tăng trưởng kinh tế là một tiêu chí quan trọng để đánh giá một cách tổng quan tình hình kinh tế của một quốc gia, để từ đó dự báo xu hướng phát triển tiếp theo của quốc gia đó trong những năm sau Bởi vậy, mỗi quốc gia đều ưu tiên vấn đề tăng trưởng kinh tế, coi đó là cái gốc để giải quyết hàng loạt vấn đề như giải quyết vấn đề việc làm, phúc lợi xã hội,…
Tăng trưởng kinh tế thường được đo lường qua tốc độ tăng trưởng kinh tế - là phần trăm thay đổi trong giá trị của toàn bộ hàng hóa và dịch vụ của một quốc gia trong một khoảng thời gian nhất định so với một mốc thời gian trước đó -được tính thông qua sự thay đổi của tổng sản phẩm quốc nội (GDP) hoặc tổng sản phẩm quốc dân (GNP)
Trang 81.2 Công bằng xã hội
Công bằng xã hội là một phạm trù chính trị - văn hóa – xã hội, thể hiện mối
quan hệ giữa các thành viên trong xã hội dựa trên nguyên tắc thống nhất ngang bằng giữa cống hiến và hưởng thụ Hiện nay khái niệm công bằng xã hội là một khái niệm còn nhiều ý kiến tranh luận chưa thống nhất, được diễn giải bằng nhiều định nghĩa khác nhau Theo từ điển Oxford, công bằng xã hội (social justice) là sự phân bổ một cách công bằng về của cải và các cơ hội trong một xã hội nhất định Tuy nhiên, quan niệm như vậy là chưa thật sự đầy đủ và toàn diện Theo nghĩa rộng, công bằng xã hội là công bằng về các quyền và nghĩa vụ của con người và về điều kiện thực hiện các quyền và nghĩa vụ đó của các cá nhân Một xã hội công bằng nên là một xã hội tạo ra cho mọi người những cơ may để họ có thể tự phát triển, tự đem lại hạnh phúc cho bản thân và có những đóng góp ngược lại cho xã hội Bởi vậy nên công bằng xã hội không đồng nghĩa với sự ngang bằng nhau giữa các thành viên trong xã hội về mọi phương diện vì
xã hội không thể lo cho đời sống của một cá nhân mà chỉ có thể tạo điều kiện để mọi người tự lo cho cuộc sống của mình
Có thể kể đến một số quan điểm sai lầm về công bằng xã hội như: suy nghĩ
“làm ít được nhiều”, ám chỉ một cá nhân lười biếng, làm khối lượng công việc ít hơn người khác mà lại mong muốn được hưởng một thành quả tương đương; suy nghĩ “lấy của người giàu chia cho người nghèo”, ám chỉ việc chia đều tài sản của người giàu cho người nghèo,… bởi công bằng xã hội không phải là thứ
để ai đó có thể đòi hỏi chỉ vì cá nhân họ cảm thấy bất công
Trong thực tế cuộc sống chưa bao giờ tồn tại công bằng xã hội một cách tuyệt đối vì mỗi cá nhân trong xã hội sẽ có mức độ cống hiến khác nhau nên mức hưởng thụ tương xứng mà họ nhận được cũng phải khác nhau Mục tiêu cần hướng đến của các quốc gia là làm thế nào để giảm những bất công trong xã hội như nạn phân biệt chủng tộc, quan niệm “trọng nam khinh nữ”, hay đặc quyền của giai cấp thống trị,… để hướng tới một xã hội công bằng hơn – một xã hội hướng đến lợi ích chung của cộng đồng thay vì lợi ích của một cá nhân cụ thể
2 Mối liên hệ giữa tăng trưởng kinh tế với công bằng xã hội
Phát triển xã hội một cách nhanh chóng và bền vững là mục tiêu hướng tới của nhiều quốc gia trên thế giới Để có thể đạt được điều đó thì cần đến sự kết hợp của nhiều nhân tố, trong số đó thì tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội là hai nhân tố chính, đóng vai trò chủ chốt Để có được kết quả là sự phát triển xã hội
Trang 9nói chung, thì tăng trưởng kinh tế được coi là động lực về mặt vật chất, còn công bằng xã hội được xác định như là động lực về mặt tinh thần với ý nghĩa quan trọng không kém
Giữa tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội tồn tại mối liên hệ: vừa mâu thuẫn đối kháng nhau, lại vừa tác động qua lại chặt chẽ với nhau, cái nọ làm tiền
đề cho cái kia, với mục tiêu cùng vận động phát triển theo chiều hướng tiến bộ không ngừng Sự tăng trưởng kinh tế tạo ra những điều kiện cho phép giải quyết công bằng xã hội ngày một tốt hơn và ngược lại, khi đạt được một trình độ về công bằng xã hội cao hơn, sẽ có những động lực mới thúc đẩy sự phát triển kinh
tế tiếp theo Tuy nhiên, trong quá trình phát triển của nhân loại vẫn luôn luôn tồn tại những bất công chưa thể xóa sạch, khó có thể đạt được công bằng xã hội
Ví dụ: một quốc gia kém phát triển còn nghèo nàn, lạc hậu sẽ gặp rất nhiều khó khăn trong việc giải quyết công bằng xã hội như vấn đề tạo ra nhiều cơ hội việc làm, nâng cao phúc lợi xã hội,… Điều này là do nếu tiến hành đầu tư dàn trải để nâng cao mức độ công bằng xã hội, sự tăng trưởng kinh tế sẽ bị hạn chế cho đất nước còn thiếu tiềm lực kinh tế Vì vậy, có thể mục tiêu trước mắt của các quốc gia đó sẽ là tập trung nguồn lực vào phát triển một số ít ngành, một số
ít khu vực với tiềm năng phát triển cao Sau khi những chiến lược ưu tiên đó giúp nền kinh tế tăng trưởng nhanh, thì tiềm lực kinh tế lúc này sẽ cho phép quốc gia đó tập trung vào việc giải quyết công bằng xã hội để từ đó, làm tăng tính công bằng giữa các thành viên trong xã hội, đồng thời tạo ra những nguồn lực mới nhằm thúc đẩy sự phát triển kinh tế
Như vậy, có thể nói, trong một số trường hợp mức độ bất bình đẳng có xu hướng gia tăng trong giai đoạn đầu của quá trình phát triển kinh tế, sau đó sẽ dần giảm bớt
đi khi nền kinh tế đã đạt đến một trình độ phát triển cao hơn Nhưng sự không công bằng vẫn sẽ tiếp diễn mặc dù đã có thêm một bước đáng kể trong việc giải quyết công bằng xã hội bởi một nền kinh tế không thể dàn trải hết các chương trình phát triển các ngành kinh tế và nâng cao công bằng xã hội trong cùng một thời điểm Hơn thế, các ngành, các khu vực được ưu tiên đầu tư trước đây sẽ có những tiềm lực lớn hơn đáng kể, sẽ đi trước các ngành, các khu vực còn lại với một khoảng cách nào đó trong dài hạn Bởi vậy, mục tiêu của đa phần các quốc gia hiện nay là tăng trưởng kinh tế song song với một trình độ tương ứng về công bằng xã hội để phát triển xã hội nhanh và bền vững Tùy từng giai đoạn, tùy từng hoàn cảnh khác nhau mà các quốc gia phải tìm ra mô hình phù hợp cho mình
Trang 103 Thực hiện tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội ở Việt Nam
3.1 Những thành tựu
Trong Văn kiện Đại hội lần thứ VI của Đảng (năm 1986), lần đầu tiên thuật ngữ “chính sách xã hội” được đưa ra, xác định: “Trình độ phát triển kinh tế là điều kiện vật chất để thực hiện chính sách xã hội, nhưng những mục tiêu xã hội lại là mục đích của các hoạt động kinh tế” và nhấn mạnh: “Cần có chính sách xã hội cơ bản, lâu dài và xác định những nhiệm vụ, mục tiêu phù hợp với yêu cầu, khả năng trong chặng đường đầu tiên Đó là một bước tiến mới trong nhận thức
về chính sách xã hội của Đảng”
Từ đó cho đến nay, chủ trương thực hiện tăng trưởng kinh tế đi đôi với nâng cao công bằng xã hội của Đảng và Nhà nước Việt Nam đã được kế thừa và phát huy qua các kỳ Đại hội Đại biểu toàn quốc, giúp đất nước ta phát triển nhanh và khá bền vững
Về tốc độ tăng trưởng kinh tế: Một trong những thành quả nổi bật của đất nước
ta chính là tốc độ tăng trưởng kinh tế cao và khá ổn định Sau khi đổi mới, trong giai đoạn 1986-1990, tốc độ tăng trưởng bình quân hằng năm là 4,5%; trong giai đoạn 1991-1997 là 8,4%; trong giai đoạn 1998-2008 là 7,23%; và trong năm 2020 với tốc độ tăng GDP là 2,91% mặc dù nền kinh tế phải chịu tác động từ khủng hoảng kinh tế Châu Á (năm 1997), dịch bệnh SARS (năm 2003) và đặc biệt là dịch bệnh Covid-19 – khi kinh tế thế giới được dự báo suy thoái nghiêm trọng nhất trong lịch sử và tốc độ tăng trưởng của các nền kinh tế lớn đều giảm sâu
Về công bằng xã hội: Các chính sách Đảng và Nhà nước cả về kinh tế và xã
hội đều chú trọng việc đặt con người vào vị trí trung tâm, tạo điều kiện cho mọi người với tư cách từng cá nhân và cả cộng đồng đều có cơ hội phát triển, sử dụng tốt năng lực của mình để góp phần cống hiến vào lợi ích chung của toàn xã hội cũng như đạt được những mức hưởng thụ tương ứng, xứng đáng với công sức bỏ ra Có thể kể đến như các chính sách xóa đói giảm nghèo, thực hiện công bằng xã hội trong giáo dục, trợ cấp và bảo hiểm y tế cho người nghèo,…
3.2 Những hạn chế
Bên cạnh những thành tựu đã đạt được, nền kinh tế của Việt Nam kể từ thời kì đổi mới đến nay vẫn còn tồn tại một số những hạn chế cần được khắc phục, điển hình như việc thiếu tính ổn định, bền vững trong tăng trưởng kinh tế và tình trạng phân hóa giàu nghèo