1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hoàn cảnh lịch sử xã hội việt nam tác động đến sự hình thành tư tưởng hồ chí minh

38 9 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Hoàn Cảnh Lịch Sử Xã Hội Việt Nam Tác Động Đến Sự Hình Thành Tư Tưởng Hồ Chí Minh
Trường học Trường Đại Học
Chuyên ngành Tư Tưởng Hồ Chí Minh
Thể loại tiểu luận
Định dạng
Số trang 38
Dung lượng 149,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Lý do chọn đề tài Trong lịch sử của các dân tộc thường có những vĩ nhân mà cuộc đời và sự nghiệp, tư tưởng và hành động gắn liền với cả một giai đoạn lịch sửsôi động đầy biến cố của dân

Trang 1

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Trong lịch sử của các dân tộc thường có những vĩ nhân mà cuộc đời

và sự nghiệp, tư tưởng và hành động gắn liền với cả một giai đoạn lịch sửsôi động đầy biến cố của dân tộc và thời đại họ đã sống; phản ánh ý chí,nguyện vọng của các dân tộc và bằng các hoạt động, họ góp phần vào sựphát triển của thời đại, Mác, Ăngghen, Lênin, Hồ Chí Minh là những conngười như vậy

“Dân tộc ta, nhân dân ta, non sông đất nước ta đã sản sinh ra Chủtịch Hồ Chí Minh, người anh hùng dân tộc vĩ đại, và chính người đã làmrạng rỡ dân tộc ta, nhân dân ta và non sông đất nước ta”.(1)

Cuộc đời Hồ Chí Minh là tấm gương chói lọi về chủ nghĩa anh hùngcách mạng, về tinh thần độc lập, tự chủ, sáng tạo, lòng yêu nước thắm thiếtgắn bó với nhân dân; về tinh thần đoàn kết, về đạo đức giản dị, khiêm tốn,cần kiệm liêm chính, chí công vô tư Hồ Chí Minh là nhà cách mạng, nhà

tư tưởng vĩ đại của dân tộc Việt Nam, là một vĩ nhân được UNESCOphong danh hiệu “anh hùng giải phóng dân tộc, nhà văn hoá lớn” Hồ ChíMinh để lại cho chúng ta một di sản vô cùng quý báu, đó là “thời đại HồChí Minh, thời đại rực rỡ nhất trong lịch sử quang vinh của dân tộc Đó là

kỷ nguyên độc lập, tự do của tổ quốc, kỷ nguyên CNXH ở nước ta”

Tư tưởng Hồ Chí Minh không phải là sản phẩm chủ quan, phản ánhtâm lý, nguyện vọng của nhân dân Việt Nam đối với lãnh tụ kính yêu củamình Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc

về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, từ cách mạng dân tộc dânchủ nhân dân đến cách mạng xã hội chủ nghĩa; là kết quả của sự vận dụngsáng tạo và phát triển chủ nghĩa Mác – Lênin vào điều kiện cụ thể của nước

Trang 2

ta, đồng thời là sự kết tinh tinh hoa văn hoá dân tộc và trí tuệ thời đại nhằmgiải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp và giải phóng con người.

Tư tưởng Hồ Chí Minh được hình thành dưới tác động, ảnh hưởngcủa những điều kiện lịch sử, xã hội cụ thể của dân tộc và thời đại mà Người

đã sống và hoạt động Thiên tài Hồ Chí Minh là ở chỗ Người đã nắm bắtchính xác xu hướng phát triển của thời đại để tìm ra con đường cách mạngđúng đắn cho dân tộc mình

“Hoàn cảnh lịch sử xã hội Việt Nam tác động đến sự hình thành

tư tưởng Hồ Chí Minh” là một vấn đề mang tính thời sự và tính chiến lược

lâu dài Vì vậy, tôi đã chọn vấn đề này làm đề tài tiểu luận học phần 1 mônhọc Tư tưởng Hồ Chí Minh

2 Mục đích nghiên cứu.

Trên cơ sở tìm hiểu nghiên cứu đề tài, làm nổi bật tầm quan trọng và

sự tác động mạnh mẽ của hoàn cảnh lịch sử xã hội Việt Nam đối với sự hìnhthành và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh Đồng thời tích luỹ tri thức, nângcao hiểu biết và rèn luyện kỹ năng tìm hiểu, nghiên cứu cho người viết

3 Phạm vi nghiên cứu.

Với phạm vi của một đề tài, người viết chủ yếu đi sâu vào tìm hiểu,nghiên cứu hoàn cảnh lịch sử xã hội Việt Nam cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ

XX Qua đó cho thấy tác động của hoàn cảnh lịch sử xã hội Việt Nam tới

sự hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh

4 Kết cấu tiểu luận.

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dungtiểu luận được chia như sau:

1 Khái quát giá trị truyền thống dân tộc, truyền thống quê hươnggia đình

2 Hoàn cảnh lịch sử xã hội Việt Nam tác động đến sự hình thành tưtưởng Hồ Chí Minh

Trang 3

3 Sự hình thành và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG

1 KHÁI QUÁT GIÁ TRỊ TRUYỀN THỐNG DÂN TỘC TRUYỀN THỐNG QUÊ HƯƠNG, GIA ĐÌNH

1.1 Khái quát giá trị truyền thống dân tộc.

Muốn hiểu được sự hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh phải bắt đầutìm hiểu từ những truyền thống tư tưởng - văn hoá của dân tộc đã góp phầnhun đúc nên con người Hồ Chí Minh

Dân tộc Việt Nam trong hàng nghìn năm lịch sử dựng nước và giữnước đã tạo lập cho mình một nền văn hoá riêng, phong phú và bền vữngvới những truyền thống tốt đẹp và cao quý

1.1.1 Chủ nghĩa yêu nước và ý chí bất khuất đấu tranh để dựng nước và giữ nước

Từ văn hoá dân gian đến văn hoá bác học, từ nhân vật truyền thuyếtđến các tên tuổi sáng ngời trong lịch sử như Hai Bà Trưng, Ngô Quyền, TrầnHưng Đạo, Nguyễn Trãi, đều đã phản ánh chân lý đó một cách hùng hồn

Chủ nghĩa yêu nước là dòng chủ lưu chảy xuyên suốt trường kỳ lịch

sử Việt Nam, là chuẩn mực cao nhất, đứng đầu bảng giá trị văn hoá - tinhthần Việt Nam Mọi học thuyết đạo đức, tôn giáo từ nước ngoài du nhậpvào Việt Nam đều được tiếp nhận khúc xạ qua lăng kính của tư tưởng yêunước đó

1.1.2 Tinh thần nhân nghĩa, truyền thống đoàn kết, tương thân, tương

ái, “lá lành đùm lá rách” trong hoạn nạn khó khăn.

Truyền thống này cũng hình thành cùng một lúc với sự hình thành dântộc, từ hoàn cảnh và nhu cầu đấu tranh quyết liệt với thiên nhiên và với giặcngoại xâm Người Việt Nam quen sống gắn bó với nhau trong tình làng

Trang 4

nghĩa xóm, tắt lửa tối đèn có nhau Bước sang thế kỷ XX, mặc dù xã hộiViệt Nam đã có sự phân hoá về giai cấp, truyền thống này vẫn còn rất bềnvững.

Vì vậy, Hồ Chí Minh đã chú ý kế thừa, phát huy sức mạnh củatruyền thống nhân nghĩa, nhấn mạnh bốn chữ “đồng”: đồng tình, đồng sức,đồng lòng, đồng minh

1.1.3 Truyền thống lạc quan yêu đời.

Trong muôn nguy, ngàn khó, người lao động vẫn động viên nhau

“chớ thấy sóng cả mà ngã tay chèo” Tinh thần lạc quan có cơ sở từ niềmtin vào sức mạnh của bản thân mình, tin vào sự tất thắng của chân lý, chínhnghĩa, dù trước mắt còn đầy gian truân, khổ ải phải chịu đựng, vượt qua

Hồ Chí Minh là hiện thân của truyền thống lạc quan đó

1.1.4 Truyền thống cần cù, dũng cảm, thông minh, sáng tạo trong sản xuất và chiến đấu Một dân tộc ham học hỏi và không ngừng mở rộng cửa đón nhận tinh hoa, văn hoá của nhân loại, từ Nho, Phật, Lão của phương Đông đến tư tưởng - văn hoá hiện đại phương Tây.

Nhờ vị trí địa lý thuận lợi, ở giữa đầu mối của sự giao lưu văn hoáBắc - Nam và Đông - Tây, người Việt Nam từ xưa đã rất xa lạ với đầu óchẹp hòi, thủ cựu, thói bài ngoại cực đoan Trên cơ sở giữ vững bản sắc củadân tộc, nhân dân ta đã biết chọn lọc, tiếp thu, cải biến những cái hay, cáitốt đẹp của người thành những giá trị riêng của mình Hồ Chí Minh là hìnhảnh sinh động và trọn vẹn của truyền thống đó

Bên cạnh những giá trị truyền thống dân tộc tốt đẹp kể trên, tư tưởng

Hồ Chí Minh còn được hun đúc, xây đắp từ truyền thống quê hương, gia đình

1.2 Truyền thống quê hương, gia đình.

1.2.1 Quê hương

Trang 5

Nguyễn Sinh Cung (tên thời thơ ấu của Chủ tịch Hồ Chí Minh) sinhngày 19 tháng 5 năm 1980, tại làng Hoàng Trù (quê mẹ), thuộc xã Chung

Cự, tổng Lâm Thịnh, nay là xã Kim Liên, Huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An

Đất Hoàng Trù thời ấy vốn nghèo, nắng lên là hạn, mưa to mấy ngày

là lụt Dân Hoàng Trù vừa làm ruộng hai sương một nắng, vừa phải làmnhiều nghề phụ khác như: nghề mộc, nghề rèn, dệt vải, mà cuộc sốngvẫn gian nan

Quê nội của Nguyễn Sinh Cung là làng Kim Liên (làng Sen), cáchHoàng Trù 2km Tuy nghèo nhưng Kim Liên mang truyền thống hiếu họccủa xứ Nghệ Từ năm 1635 đến năm 1918, qua 96 khoa thi hương và thi hội,làng Kim Liên đã có tới 53 người đỗ đạt Trong làng, nhiều người mở lớpchữ Hán dạy dỗ học trò, tự hào quê hương mình là “đất văn vật, chốn thithư”

Mang truyền thống đất Nghệ Tĩnh, nhân dân Kim Liên cần cù tronglao động, tình nghĩa trong cuộc sống và bất khuất trước kẻ thù, là mảnh đấtanh hùng giàu truyền thống yêu nước, chống ngoại xâm; đó cũng là quêhương của nhiều anh hùng nổi tiếng trong lịch sử Việt Nam như Mai ThúcLoan, Nguyễn Biểu, Đặng Dung; các lãnh tụ yêu nước cận đại như PhanĐình Phùng, Phan Bội Châu và biết bao con người ưu tú khác của dântộc Việt Nam

Ngay mảnh đất Kim Liên cũng đã thấm máu anh hùng của bao liệt sĩchống Pháp như Vương Thúc Mậu, Nguyễn Sinh Quyến cả anh chị củaNguyễn Tất Thành cũng đều tham gia hoạt động yêu nước, chống Pháp, bịbắt giam và lưu đày hàng chục năm Không phải ngẫu nhiên mà Nghệ Tĩnh

có vinh dự sinh ra vị anh hùng giải phóng dân tộc, nhà tư tưởng, nhà vănhoá kiệt xuất của nước Việt Nam mới

1.2.2 Gia đình

Trang 6

Hồ Chí Minh sinh ra trong một gia đình nhà Nho yêu nước, gần gũivới nhân dân, cụ Phó Bảng Nguyễn Sinh Sắc, thân phụ của Người là mộtnhà Nho cấp tiến, có lòng yêu nước thương dân.

Ông Nguyễn Sinh Sắc sinh năm 1862, con vợ thứ của ông NguyễnSinh Nhâm và bà Hà Thị Hy, người làng Mậu Tài, xã Chung Cự Do cha

mẹ mất sớm, từ nhỏ ông đã phải chăn châu, cắt cỏ, lao động giúp anh Mặc

dù cuộc sống khó khăn, vất vả nhưng Nguyễn Sinh Sắc rất ham mê học tậptrong làng ai cũng khen

Năm 1883, ông thành hôn với bà Hoàng Thị Loan, một phụ nữ cầnmẫn đảm đang, giàu lòng thương người Tuy cuộc sống bộn bề khó khănnhưng ông bà vẫn vô cùng hạnh phúc

Năm 1894, ông Sắc đậu cử nhân kỳ thi hương tại trường thi Nghệ

An, năm 1895, ông vào Huế thi Hội nhưng không đỗ Cuối năm 1895, ông

về làng đưa vợ và hai con trai vào Huế để vừa học vừa kiếm sống nuôinhau Năm 1898, ông dự thi lần hai nhưng kết quả vẫn không được nhưmong đợi Cuộc sống gia đình thêm chật vật khó khăn

Ngày 22 tháng chạp năm Canh Tý, bà Hoàng Thị Loan lâm bệnh vàđột ngột qua đời Sau khi thu xếp tạm ổn cuộc sống cho các con, nghe lờikhích lệ của bà con trong họ ngoài làng, ông lại tạm biệt quê hương vào Huế

dự kỳ thi Hội năm Tân Sửu đời Thành Thái thứ 13 (1901) Lần đi này ôngmang tên mới là Nguyễn Sinh Huy Tại khoa thi năm đó ông đỗ Phó Bảng

Tấm gương lao động cần cù, ý chí kiên cường vượt qua gian khổ khókhăn để đạt được mục tiêu, đặc biệt là tư tưởng thương dân, chủ trương lấydân làm hậu thuẫn cho mọi cải cách chính trị – xã hội của cụ Bảng Sắc đã

có ảnh hưởng sâu sắc đối với sự hình thành nhân cách của Nguyễn TấtThành Sau này, cái chủ thuyết học được ở người cha bắt gặp trào lưu tư

Trang 7

tưởng mới của thời đại đã được Nguyễn Ái Quốc nâng lên thành tư tưởngđường lối chính trị của mình.

Những truyền thống tư tưởng văn hoá dân tộc và truyền thống quêhương gia đình đã góp phần hun đúc nên con người Hồ Chí Minh Và chínhhoàn cảnh lịch sử xã hội là nhân tố tác động mạnh mẽ nhất đến sự hìnhthành tư tưởng của Người

Trang 8

2 HOÀN CẢNH LỊCH SỬ XÃ HỘI VIỆT NAM TÁC ĐỘNG ĐẾN SỰ HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH

2.1 Quá trình xâm lược của Thực dân Pháp từ năm 1858 đến 1884.

2.1.1 Âm mưu xâm lược.

Âm mưu xâm lược của tư bản Pháp đối với Việt Nam lâu dài và liêntục, bắt nguồn từ những năm đầu thế kỷ XVII, và ngày càng được xúc tiếnmột cách mạnh mẽ, đặc biệt từ giữa thế kỷ XIX Tháng 9 năm 1856, mâuthuẫn Anh – Pháp tạm thời hoà hoãn, liên quân hai nước cùng nhau câu kết

để uy hiếp Trung Quốc, cộng thêm các báo cáo của bọn con buôn và Giáo

sĩ về tình hình ngày thêm suy đốn của triều đình Huế, Napôlêông III mớidám ra mặt hành động

Ngày 16 tháng 9 năm 1856, tàu chiến Catinat đến Đà Nẵng, có pháiviên cầm quốc thư sang Việt Nam, nhưng triều đình Huế lo ngại khôngchịu tiếp Ngày 26 tháng 9 năm 1856, tư bản Pháp trắng trợn nổ súng bắnphá các đồn luỹ rồi kéo lên khoá tất cả các đại bác bố trí ở trên bờ, sau đó

bỏ đi Một tháng sau, ngày 24 tháng 10 năm 1856, tàu chiến Caprixiơ lạicập bến Đà Nẵng xin được gặp các quan lại triều đình để thương lượngnhưng cũng bị cự tuyệt Cuối cùng, ngày 23 tháng 01 năm 1857, phái viêncủa Napôlêông III là Mông-ti-nhi cập bến Đà Nẵng yêu cầu được tự dotruyền đạo và buôn bán Thực ra đây chỉ là một chuyến dọn đường sẵn chocuộc can thiệp vũ trang khi đánh xong Trung Quốc

Sau khi liên quân Anh – Pháp đánh xong Quảng Châu ngày 5 tháng

01 năm 1858, và dùng áp lực quân sự buộc phong kiến Trung Quốc kí Điềuước Thiên Tân ngày 27 tháng 6 năm 1858, Giơnuiy kéo ngay quân xuốnghợp với quân Tây Ban Nha do đại tá Pa-lăng-ca chỉ huy, rồi giong buồmkéo thẳng tới Đà Nẵng dàn trận từ chiều ngày 31 tháng 8 năm 1858

Trang 9

2.1.2 Quá trình xâm lược Việt Nam từ 1858 đến 1884.

Chiều ngay 31 tháng 8 năm 1858, liên quân Pháp – Tây Ban Nhagồm 2500 quân (450 lính Tây Ban Nha), 13 chiến thuyền, trang bị vũ khíhiện đại, có tàu chiến và 50 đại bác, dưới quyền chỉ huy của sĩ quan PhápGiơnuiy, có giám mục Perơlanh làm cố vấn nổ súng tấn công Đà Nẵng, bắtđầu cuộc xâm lược Việt Nam Nếu hoàn thành việc đánh chiếm Đà Nẵng,Pháp sẽ vượt đèo Hải Vân tấn công kinh thành Huế, buộc triều đình nhàNguyễn đầu hàng, nhanh chóng kết thúc chiến tranh Dưới sự chỉ huy củaTổng thống quân thứ Quảng Nam Nguyễn Tri Phương, quân ta đã kìm chânđược quân Pháp Âm mưu đánh nhanh thắng nhanh của chúng thất bại,

Thất bại ở Đà Nẵng, Giơnuiy thấy phải tính kế lâu dài, đưa quân vàođánh Gia Định để chiếm một vùng giàu lúa gạo, từ đó đánh chiếmCampuchia, Lào và chiếm toàn bộ Đông Dương Ngày 10 tháng 2 năm

1859, Hải quân Pháp đánh chiếm thành Gia Định Gia Định thất thủ, Hộđốc Võ Duy Ninh và Án sát Lê Từ tự sát Thượng thư Bộ hộ Tôn Thất Cáp,

kề đó Nguyễn Tri Phương được cử làm Tổng thống quân vụ mặt trận.Nhưng cả hai đều án binh bất động, qua 5 tháng với hàng vạn quân màkhông tiêu diệt được 1000 quân Pháp ở thành Gia Định Ngày 23 tháng 2năm 1861, 4000 quân Pháp với 50 chiếc thuyền do Đô đốc Sacne chỉ huytấn công Đại đồn Gia Định, sau hai ngày, đại đồn thất thủ Ngày 28 tháng 2năm đó, Pháp chiếm Phủ Tân Bình; ngày 12 tháng 4 chiếm thành ĐịnhTường; ngày 18 tháng 12 Biên hoà mất; ngày 23 tháng 3 năm 1862 Phápchiếm thành Vĩnh Long Ngày 5 tháng 6 năm 1862 Phan Thanh Giản, LâmDuy Hiệp thay mặt Tự Đức ký với Pháp “hiệp ước hoà bình và hữu nghị”

Do thái độ hèn nhát đầu hàng của triều đình Huế, chỉ 5 ngày từ ngày 20 đếnngày 24 tháng 6 năm 1867 Pháp chiếm ba tỉnh miền Đông là Vĩnh Long,

An Giang, Hà Tiên

Trang 10

Trước đó Pháp đã đánh chiếm Bắc Kỳ lần 1 Ngày 20 tháng 11 năm

1783, quân pháp cùng với quân Duypuy tiến đánh thành Hà Nội Hà Nộithất thủ Ngày 21 tháng 12 năm 1873, trong trận phục kích ở Cầu Giấy,quân ta giết chết Gacniê và nhiều binh lính, sĩ quan Pháp Trận Cầu Giấylàm cho Pháp rất hoang mang Chính phủ Pháp điện sang yêu cầu quânPháp rút khỏi Hà Nội và toàn miền Bắc Thắng lợi đã ở trong tầm tay thìtriều đình Huế lại điều động quân Hoàng Tá Viêm lên Sơn Tây, điều LưuVĩnh Phúc về Lào Cai Sau đó, ngày 15 tháng 3 năm 1874, triều đình Huế

ký với Pháp một Hiệp định đầu hàng tại Sài Gòn, Hiệp ước hoà bình và liênminh gồm 22 khoản quy định có lợi cho Pháp

Tháng 3 năm 1882, Pháp tăng quân ở Hà Nội; ngày 25 tháng 4 năm

1882 Hăngri-Rivie tiến đánh Hà Nội Quan lại triều đình sợ hãi bỏ chạy, HàNội thất thủ Sau trận thua tại Cầu Giấy tháng 5 năm 1883, quân Pháphoang mang cực độ, nhưng triều đình Huế vẫn chủ trương hoà hoãn vớiPháp Pháp lấn tới, quyết tâm chiếm Việt Nam làm thuộc địa

Ngày 19 tháng 7 năm 1883 vua Tự Đức chết, ngày 20 tháng 8 năm

1883 Pháp chiếm đánh Thuận An, ngày 25 tháng 8 năm 1883 triều Nguyễn

ký với Pháp hiệp ước hoà bình Đây là hiệp ước đầu hàng toàn diện của nhàNguyễn, thừa nhận cho Pháp đặt ách cai trị lên toàn cõi Việt Nam, nhàNguyễn bị tước quyền ngoại giao Hiệp ước chia nước ta thành 3 kỳ: Nam

kỳ (từ Bình Thuận vào Nam) là thuộc địa của Pháp, Trung kỳ (từ Khánh Hoàtới Đèo Ngang gọi là An Nam) là chế độ bảo hộ, Bắc kỳ (từ Đèo Ngang trởra) đặt dưới chế độ nửa bảo hộ Ngày 6 tháng 6 năm 1884, Pháp làm sẵn mộtHiệp ước mới đưa cho triều đình Huế ký nhận Đó là Hiệp ước Patơnôt gồm

19 khoản giống như Hiệp ước năm 1883, chỉ khác là đưa Bình Thuận từ phíanam và Thanh Hoá từ phía Bắc là thuộc địa phận Trung kỳ Hiệp ước đặt cơ

sở lâu dài và chủ yếu cho quyền đô hộ của Pháp ở Việt Nam

Trang 11

Hiệp ước cắt Việt Nam ra làm ba miền với ba chế độ khác nhau Đó

là điểm chính trong toàn bộ chính sách chia để trị của chủ nghĩa thực dân

2.2 Sự chuyển biến lịch sử xã hội dưới ách thống trị của thực dân Pháp

2.2.1 Sự chuyển biến về kinh tế, chính trị, văn hoá - giáo dục

Sau cuộc khai thác thuộc địa Đông Dương lần thứ nhất (cuối thế kỷXIX, đầu thế kỷ XX) và cuộc khai thác thuộc địa Đông Dương lần thứ haiđược thực hiện vào năm 1919 và diễn ra vào các năm 20 của thế kỷ XX,nền kinh tế Việt Nam có nhiều thay đổi Công nghiệp bị hạn chế phát triển,

để cột chặt Đông Dương vào nền công nghiệp nước Pháp, biến ĐôngDương thành thuộc địa cung cấp nguyên liệu, nhân công rẻ mạt cho tư bảnđộc quyền Pháp, đem cho chúng những khoản lợi nhuận khổng lồ Tất cảnhững ngành kinh tế đều do ngân hàng Đông Dương nắm giữ, là kẻ chỉ huy

và nắm quyền kinh tế ở Đông Dương, Tư bản tài chính có cổ phần ở tất cảcác công ty, xí nghiệp lớn Ngân hàng Đông Dương phục vụ đắc lực chobọn “trùm sỏ” tài chính Pháp Lực lượng sản xuất, quan hệ sản xuất tư bảnchủ nghĩa được phát triển mạnh hơn

Về chính trị: chính sách cai trị thuộc địa của đế quốc Pháp ở ĐôngDương vẫn không hề thay đổi Chúng thi hành chính sách chuyên chế triệt

để, vua quan Nam triều chỉ là bù nhìn tay sai, quyền hành trong tay ngườiPháp Nhân dân ta không được hưởng một chút tự do dân chủ nào, mọihành động yêu nước đều bị chúng thẳng tay đàn áp

Về văn hoá - giáo dục, chúng triệt để thi hành chính sách văn hoá nôdịch, nhằm gây tâm lý tự ti, vong bản, ra sức khuyến khích các hoạt động mêtín dị đoan, các tệ nạn xã hội Trường học được mở nhỏ giọt, chất lượng đàotạo không cao Sách, báo xuất bản công khai cũng lợi dụng triệt để vào việc

Trang 12

tuyên truyền chính sách “khai hoá” của bọn thực dân và gieo rắc ảo tưởng hoàbình hợp tác với bọn thực dân cướp nước và vua quan bù nhìn bán nước.

2.2.2 Sự chuyển biến về xã hội Việt Nam

Sau chiến tranh, dưới ảnh hưởng của chính sách khai thác được đẩymạnh trên quy mô lớn, sự phân hoá giai cấp trong xã hội Việt Nam ngàycàng sâu sắc Mỗi giai cấp, tầng lớp xã hội có địa vị và quyền lợi khác nhaunên cũng có thái độ chính trị khác nhau trong cuộc đấu tranh dân tộc và đấutranh giai cấp đang ngày càng phát triển

Giai cấp địa chủ phong kiến ở nông thôn là chỗ dựa của chủ nghĩa đếquốc Sự câu kết ngày càng thêm chặt chẽ giữa hai thế lực phản động trên

đã tạo cơ hội cho chúng chia nhau chiếm đoạt ruộng đất của nông dân,đồng thời đẩy mạnh bóc lột về kinh tế và tăng cường kìm kẹp, đàn áp vềchính trị đối với nông dân Cố nhiên cũng có một bộ phận, nhất là địa chủvừa và nhỏ, có tinh thần yêu nước nên có tham gia các phong trào yêu nướckhi có điều kiện

Giai cấp tư sản tiếp nối quá trình tập hợp từ trong đợt khai thác thuộcđịa lần thứ nhất trước chiến tranh và suốt bốn năm chiến tranh, tầng lớp tưsản ngày càng thêm đông, nhưng cũng phải đến mấy năm sau khi chiếntranh kết thúc thì giai cấp tư sản mới ra đời Họ phần đông là những tiểuchủ đứng trung gian làm thầu khoán, cung cấp nguyên vật liệu hay đại lýhàng hoá cho tư bản Pháp Tuy mới ra đời nhưng giai cấp tư sản Việt Nam

đã bị tư sản Pháp chèn ép, kìm hãm nên số lượng ít, thế lực kinh tế yếu,nặng về thương nghiệp, không thể đương đầu nổi với sự cạnh tranh của tưbản Pháp Phát triển đến một mức nào đó thì họ phân hoá thành hai bộphận: tầng lớp tư sản mại bản có quyền lợi gắn liền với đế quốc nên câu kếtchặt chẽ về chính trị với chúng; tầng lớp tư sản dân tộc có khuynh hướngkinh doanh độc lập nên ít nhiều có tinh thần dân tộc dân chủ chống đế quốc

Trang 13

và phong kiến, nhưng cũng có thái độ không kiên định, dễ thoả hiệp, cảilương khi đế quốc mạnh.

Các tầng lớp tiểu tư sản bao gồm những người buôn bán, chủ xưởngnhỏ, viên chức, trí thức, học sinh, sinh viên Họ cũng bị tư bản Pháp ráoriết chèn ép, bạc đãi, khinh rẻ, đời sống bấp bênh, dễ bị xô đẩy vào conđường phá sản và thất nghiệp Trong khi đó, bộ phận tri thức, sinh viên,học sinh lại có điều kiện tiếp xúc với các trào lưu tư tưởng văn hoá tiến bộbên ngoài nên có tinh thần hăng hái cách mạng, và là một lực lượng quantrọng trong cách mạng dân chủ ở nước ta

Giai cấp nông dân chiếm trên 90% số dân, bị đế quốc phong kiến ápbức bóc lột nặng nề bằng các thủ đoạn sưu cao, thuế nặng, tô tức, phu phen,tạp dịch, cướp đoạt ruộng đất Họ bị bần cùng hoá và phá sản trên quy môlớn, nhưng chỉ có một bộ phận nhỏ rời làng đi tìm việc làm, được thu nhậnvào trong các nhà máy, hầm mỏ, đồn điền, còn phần đông vẫn phải quay vềlàng sống cuộc đời tá điền cực nhọc với chủ ruộng mới ngay trên mảnh đất

cũ của mình Trong hoàn cảnh đó, giai cấp nông dân Việt Nam là lực lượnghăng hái và đông đảo nhất của cách mạng

Giai cấp công nhân ra đời rất sớm, ngay từ trong thời kỳ khai thácthuộc địa lần thứ nhất của đế quốc Pháp Nó phát triển khá nhanh trong thời

kỳ khai thác thuộc địa lần thứ hai cả về số lượng và chất lượng

Trước chiến tranh, tổng số công nhân các ngành mới có trên dưới 10vạn, sau chiến tranh tính đến năm 1929 lên tới 22 vạn, phần lớn tập trungtại các vùng mỏ, đồn điền cao su, các thành phố công nghiệp như Hà Nội,Sài Gòn – Chợ lớn, Hải Phòng, Nam Định

Ngoài những đặc điểm chung của giai cấp công nhân quốc tế, giaicấp công nhân Việt Nam có những đặc điểm riêng: bị ba tầng áp bức bóclột của đế quốc, phong kiến, tư sản người Việt; có quan hệ tự nhiên gắn bó

Trang 14

với giai cấp nông dân; kế thừa truyền thống yêu nước anh hùng, bất khuấtcủa dân tộc.

Đặc biệt, giai cấp công nhân Việt Nam vừa lớn lên đã tiếp thu ngayđược ảnh hưởng mạnh mẽ của phong trào cách mạng thế giới sau chiếntranh, nhất là ảnh hưởng của cách mạng tháng Mười Nga và của chủ nghĩaMác – Lênin

Hoàn cảnh và đặc điểm ra đời, phát triển của giai cấp công nhân ViệtNam dẫn đến giai cấp đó sớm trở thành một lực lượng chính trị độc lập,thống nhất, tự giác trong cả nước, trên cơ sở đó nhanh chóng vươn lên nắmquyền lãnh đạo cách mạng nước ta

Như vậy công cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất và lần thứ haicủa thực dân Pháp ở Đông Dương nói chung và Việt Nam nói riêng làmcho nền kinh tế Việt Nam thành nền kinh tế thuộc địa phong kiến, kinh tế

tư bản đan xen với kinh tế phong kiến, quan hệ tư bản đan xen với quan hệphong kiến trong một xã hội thuộc địa nửa phong kiến Những giai cấp cũcòn tồn tại, những giai cấp mới ra đời trong hoàn cảnh mất độc lập Giaicấp phong kiến câu kết với đế quốc thực dân, làm tay sai trung thành chothực dân Pháp Xã hội thuộc địa nửa phong kiến cũng in đậm trong cơ cấuchính trị, trong nhà nước thực dân thuộc địa Từ đó xã hội Việt Nam tồn tạihai mâu thuẫn cơ bản: Mâu thuẫn giữa toàn dân tộc Việt Nam mất độc lậpvới đế quốc Pháp xâm lược, và mâu thuẫn giữa nhân dân, chủ yếu là nôngdân với giai cấp địa chủ phong kiến

Để giải quyết mâu thuẫn cơ bản thứ nhất, Việt Nam phải tiến hànhcuộc cách mạng giải phóng dân tộc đánh đuổi đế quốc Pháp

Để giải quyết mâu thuẫn cơ bản thứ hai, Việt Nam phải tiến hành cuộc cáchmạng dân chủ tư sản, đánh đổ phong kiến, đem lại ruộng đất cho nông dân,quyền dân chủ cho nhân dân

Trang 15

Hai cuộc cách mạng này phải tiến hành đồng thời, có mối quan hệchặt chẽ với nhau Trong các cương lĩnh của mình, Đảng Cộng sản ĐôngDương gọi gộp hai cuộc cách mạng này là hai chiến lược cách mạng hay làcách mạng dân tộc dân chủ nhân dân Đó là cương lĩnh giải phóng dân tộcbằng con đường cách mạng vô sản Có nghĩa là cách mạng dân tộc dân chủnhân dân do giai cấp vô sản lãnh đạo, được tiến hành bằng phương phápcách mạng vô sản và sau khi hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ phảitiến lên cách mạng xã hội chủ nghĩa để giải phóng xã hội, giải phóng giaicấp Như vậy cuộc cách mạng dân chủ tư sản ở Việt Nam là cuộc cáchmạng dân chủ tư sản kiểu mới, tức là làm nhiệm vụ cách mạng tư sảnnhưng do giai cấp vô sản lãnh đạo.

2.3 Các phong trào yêu nước chống thực dân Pháp xâm lược

2.3.1 Các phong trào yêu nước theo khuynh hướng phong kiến.

Vốn có truyền thống yêu nước, bất khuất, quật cường nên dù triềuđình Huế phản bội đầu hàng, nhân dân ta vẫn liên tục đứng dậy chống thựcdân Pháp ngay từ khi chúng mới đặt chân xâm lược nước ta Đi đầu trongcuộc kháng chiến là nhân dân Gia Định (Nam kỳ), mở đầu là cuộc khởinghĩa của Trương Công Định (quê ở Quảng Ngãi) khi đó giữ chức quản cơ

Năm 1859, Trương Công Định lãnh đạo nhân dân chống Pháp xâmlược ngay ở trung tâm Gia Định Sau khi Đại đồn thất thủ, Trương CôngĐịnh đem quân về xây dựng căn cứ ở Tân Hoà, Gò Công, Mỹ Tho, Tân

An, Chợ lớn, Vàm Cỏ thuộc các tỉnh Định Tường, Gia Định

Năm 1862, triều đình Huế phong ông chức Phó Lãnh binh tỉnh BìnhĐịnh, sau đó lại điều ông đi nhận chức Lãnh binh An Giang Nhân dân GiaĐịnh, Định Tường giữ ông lại và tôn ông làm Bình Tây đại nguyên soái

Trang 16

Ngày 20 tháng 8 năm 1864, quân Pháp được tên phản bội Huỳnh Long Tấndẫn đường đánh bất ngờ vào nghĩa quân ở Phước Lộc – Tiên Phước,Trương Công Định bị thương, ông rút gươm tự sát, khi đó ông mới 44 tuổi.

Ngoài cuộc khởi nghĩa của Trương Công Định còn nhiều cuộc khởinghĩa khác chống Pháp quyết liệt khi địch đánh chiếm ba tỉnh miền Đông.Khi lửa chiến tranh xâm lược của Pháp lan đến các tỉnh miền tây, nhân dâncác tỉnh này đã anh dũng chống Pháp Lớn nhất là hoạt động của nghĩaquân Nguyễn Trung Trực ở Hà Tiên với căn cứ Hòn Chông Cùng với nhândân Nam kỳ, nhân dân Trung và Bắc kỳ cũng đồng loạt đứng lên khángchiến chống thực dân Pháp, với hai phong trào lớn là sự bùng nổ của phongtrào Cần Vương và phong trào đấu tranh tự vệ của nông dân Yên Thế

Sau khi Tự Đức chết, quyền lực triều đình Huế rơi vào tay Hội đồngphụ chính mà người đứng đầu là Tôn Thất Thuyết thuộc phái chủ chiến Ông

ta phế truất các vua thân Pháp như Dục Đức, Hiệp Hoà, Kiến Phúc và đưaHàm Nghi mới bảy tuổi lên ngôi Ngày 13 tháng 7 năm 1885, vua Hàm Nghi

hạ chiếu Cần Vương, kêu gọi các văn thân và sĩ phu nổi dậy đánh Pháp, giúpvua cứu nước Lời kêu gọi của vua Hàm Nghi đã dấy lên một phong tràochống Pháp mạnh mẽ ở Bắc và Trung kỳ gọi là phong trào Cần Vương

Phong trào Cần Vương bùng nổ từ năm 1885, kéo dài đến hết thế kỷXIX, kể cả sau khi vua Hàm Nghi bị bắt ngày 01 tháng 11 năm 1888.Trong đó khởi nghĩa Ba Đình (Thanh Hoá), khởi nghĩa Bãi Sậy (HưngYên), khởi nghĩa Hương Khê (Hà Tĩnh) là tiêu biểu nhất cho phong tràoCần Vương rộng lớn

Khởi nghĩa Ba Đình do Đốc học Phạm Bành, Đề đốc Đinh CôngTráng và Nguyễn Khế lãnh đạo, dựa vào ba làng: Mỹ Khê, Thượng Thọ,Mậu Thịnh (Nga Sơn – Thanh Hoá) xây dựng thành cứ điểm Ba Đình Từtháng 12 năm 1886 đến tháng 01 năm 1887 nghĩa quân bẻ gãy nhiều cuộc

Trang 17

tấn công, tiêu diệt hàng trăm lính Pháp Pháp phải dùng chiến thuật đào hàoqua cánh đồng lúa chiêm lầy lội, từng bước tiến vào căn cứ Ba Đình rồidùng xăng dầu đốt luỹ tre, Ba Đình biến thành biển lửa, 150 nghĩa quân vàtướng Nguyễn Khế hy sinh Đinh Công Tráng mở đường máu rút về MãCao Năm 1887, Đinh Công Tráng hy sinh, khởi nghĩa thất bại.

Khởi nghĩa Bãi Sậy (1885 – 1892) do Nguyễn Thiện Thuật (quê ởHưng Yên) lãnh đạo Nghĩa quân xây dựng căn cứ ở Bãi Sậy thuộc huyệnVăn Giang, Khoái Châu, Mỹ Hào (Hưng Yên) Đây là cứ điểm kháng Phápmạnh mẽ nhất miền Bắc Với chiến thuật du kích, nghĩa quân đã thắngPháp nhiều trận, bắt và diệt nhiều binh sĩ Pháp Pháp đối phó bằng chiếnthuật lập hệ thống đồn bốt dày đặc, kiểm soát từng địa phương, cắt đứt sựliên lạc giữa nghĩa quân với nhân dân Mặt khác cử tên Việt gian HoàngCao Khải dẫn đường có thuỷ binh và pháo binh yểm trợ, mở cuộc tấn cônglớn vào Bãi Sậy và tiêu diệt từng đạo nghĩa quân ở các địa phương Ngày

12 tháng 8 năm 1889, Pháp tiêu diệt được đạo quân Đốc Tích ở Hai Sông(Đông Triều) Khởi nghĩa Bãi Sậy thất bại

Khởi nghĩa Hương Khê (1885 – 1896) do Phan Đình Phùng (quê ở

Hà Tĩnh) lãnh đạo là cuộc khởi nghĩa tiêu biểu nhất, lâu dài nhất của phongtrào Cần Vương Tham gia nghĩa quân có các tướng lĩnh xuất sắc như CaoThắng, Nguyễn Chanh, Cầm Bá Thước Nghĩa quân dựa vào rừng núi hiểmtrở ở Hương Khê - Hà Tĩnh làm căn cứ nhưng địa bàn hoạt động của nghĩaquân bao gồm Hà Tĩnh, Nghệ An, Thanh Hoá, Quảng Bình; tấn công địchbằng chiến thuật du kích: phục kích các đường giao thông, tiêu diệt các đồn

lẻ Pháp thi hành chính sách khủng bố nhân dân, xây dựng đồn bốt báo vâycăn cứ, cắt đứt đường tiếp tế của nghĩa quân Ngày 28 tháng 11 năm 1895,Phan Đình Phùng mất tại núi Quạt Địch dùng 300 quân càn quét vào căn

cứ Khởi nghĩa đến đây thất bại

Trang 18

Bên cạnh cuộc khởi nghĩa của phong trào Cần Vương còn có cáccuộc khởi nghĩa Yên Thế do Đề Thám lãnh đạo, bùng nổ vào năm 1885.Yên Thế trở thành căn cứ chống Pháp mạnh nhất thời kỳ đó, gây cho Phápnhiều khó khăn trong công cuộc bình định Từ năm 1887 đến 1895, nghĩaquân chống càn quét, làm tiêu hao sinh lực địch Tháng 9 năm 1894 nghĩaquân bắt được Sécnây - địa chủ Pháp, chủ nhiệm báo Tương lai Bắc kỳ Đểchuộc Séc-nây, Pháp phải giảng hoà với nghĩa quân Yên Thế với điều kiện

bỏ ra mười lăm nghìn đồng tiền chuộc, phải để cho Đề Thám làm chủ bốntổng Yên Thế

Sau một năm đình chiến, cuối tháng 11 năm 1895, Pháp tấn côngYên Thế với lực lượng của bộ binh, thuỷ binh, pháo binh nhưng Pháp bịthiệt hại phải giảng hoà lần thứ hai vào năm 1897

Ngày 29 tháng 01 năm 1909, Pháp mở cuộc tấn công đại quy mô dođại tá Ba Tay chỉ huy phối hợp với tên việt gian Lê Hoan Nghĩa quân YênThế chiến đấu dũng cảm nhưng các tướng lĩnh lần lượt hy sinh Hoàng HoaThám chạy về miền núi Thái Nguyên và bị một tên phản bội giết hại Khởinghĩa Yên Thế thất bại sau 24 năm tồn tại

Không chỉ người Kinh mà đồng bào dân tộc thiểu số cũng đứng lênchống Pháp anh dũng ở cả ba miền, vì vậy dù Pháp đã chiếm được ViệtNam làm thuộc địa nhưng các cuộc đấu tranh liên tục, rộng khắp của nhândân ta đã làm cho Pháp khó khăn, thiệt hại và khiếp sợ

2.3.2 Các phong trào yêu nước theo khuynh hướng tư sản

Vào đầu thế kỷ XX, do cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất củaPháp, kinh tế xã hội Việt Nam chuyển biến, đã làm chuyển biến tư tưởng,

từ đó xuất hiện những xu hướng mới trong phong trào đấu tranh giải phóngdân tộc Hơn nữa, cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc theo xu hướng vàphương pháp cũ đã thất bại Một số sĩ phu phong kiến thức thời tiếp thu tư

Trang 19

tưởng dân chủ tư sản Tây Âu đã khởi xướng phong trào giải phóng dân tộctheo xu hướng tư sản mà người tiêu biểu là Phan Bội Châu.

Phan Bội Châu sinh năm 1867 ở huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An.Tháng 5 năm 1904, Phan Bội Châu thành lập Duy Tân ở Quảng Nam Mụcđích của hội là dùng vũ trang bạo động đánh đuổi giặc Pháp, thành lậpquốc gia độc lập theo chế độ quân chủ nghị viện Phan Bội Châu chủtrương dựa vào Nhật Bản để đánh Pháp Hội tổ chức phong trào Đông du,đưa thanh niên Việt Nam sang du học ở Nhật

Ở trong nước, Phan Bội Châu liên kết với nghĩa quân Yên Thế của

cụ Đề Thám, tranh thủ các nhà hào phú, quyền quý quan lại, tín đồ Thiênchúa giáo, binh lính thuỷ quân, lục quân người Việt trong quân đội Pháp,các Đảng, Hội, giới phụ nữ, con em các tầng lớp trên và học sinh hải ngoại.Như vậy, Phan Bội Châu là người đầu tiên đưa ra tư tưởng đoàn kết rộngrãi để giải phóng dân tộc Tuy nhiên, do hạn chế của nhãn quan chính trị,Phan Bội Châu chưa thu hút được công nông vào mặt trận và chưa thấyđược họ là nền tảng của khối đại đoàn kết dân tộc Phan Bội Châu cũng làngười đầu tiên gắn đấu tranh giải phóng dân tộc với đấu tranh thống nhấtđất nước Dù đã nhìn thấy sự thối nát của giai cấp phong kiến nhưng PhanBội Châu không thấy được giai cấp này là đối tượng cần phải đánh đổ củacách mạng Ông đề cao dân quyền và đề cập đến quyền làm chủ đất nướccủa nhân dân, là người đầu tiên mở ra xu hướng hướng ra bên ngoài để tìmcon đường giải phóng đất nước

Tháng 9 năm 1908, Chính phủ Nhật giải tán Đông Á đồng văn thưviện Phong trào Đông Du thất bại vì cụ Phan Bội Châu dựa vào Nhậtchống Pháp là điều không tưởng Do ảnh hưởng của cách mạng dân chủ tưsản Trung Quốc năm 1911, Phan Bội Châu thành lập tổ chức cách mạngViệt Nam Quang Phục Hội với tôn chỉ mục đích đánh đuổi quân Pháp, khôi

Ngày đăng: 15/06/2022, 17:30

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Hội đồng Trung ương chỉ đạo biên soạn giáo trình quốc gia các bộ môn khoa học Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh: Giáo trình tư tưởng Hồ Chí Minh, NXB Chính trị quốc gia, H, 2003 Khác
2. Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh: Hồ Chí Minh tiểu sử, NXB Lý luận chính trị, H, 2006 Khác
3. Tư tưởng Hồ Chí Minh di sản văn hoá dân tộc, NXB Quân đội nhân dân, H, 2000 Khác
4. Phạm Văn Đồng: Những nhận thức cơ bản về tư tưởng Hồ Chí Minh, NXB Chính trị quốc gia, H, 1998 Khác
5. Tiểu ban nghiên cứu Lịch sử Đảng tỉnh uỷ Nghệ An: Hồ Chí Minh thời niên thiếu, NXB Nghệ An, Nghệ An, 2000 Khác
6. Phạm Văn Đồng: Chủ tịch Hồ Chí Minh tinh hoa và khí phách của dân tộc, lương tâm của thời đại, NXB Sự thật, H, 1970 Khác
7. Đại tướng Võ Nguyên Giáp (chủ biên): Tư tưởng Hồ Chí Minh và con đường cách mạng Việt Nam, NXB Chính trị quốc gia, H, 1996 Khác
8. Đinh Xuân Lâm (chủ biên): Đại cương lịch sử Việt Nam, Tập 2, Nxb Giáo dục, H, 2005 Khác
9. Cao Văn Liên: Phác thảo Lịch sử Việt Nam, NXB Lý luận chính trị, H, 2006 Khác
10. Hồ Chí Minh: Di chúc, NXB Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, H, 1989 Khác
11. Trần Dân Tiên: Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ Tịch, NXB Sự thật, H, 1975 Khác
12. Lê Duẩn: Dưới lá cờ vẻ vang của Đảng, vì độc lập, tự do, vì CNXH, tiến lên giành những thắng lợi mới, NXB Sự thật, H, 1976 Khác
13. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, NXB Chính trị quốc gia, H, 2000 Khác
14. Tiến sĩ M.Ahmed. Hội thảo quốc tế: Chủ tịch Hồ Chí Minh, anh hùng giải phóng dân tộc, nhà văn hoá lớn, NXB khoa học xã hội, H, 1991 Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w