1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Tieu luan phan tu chon 2 hcm, cơ sở hình thành tư tưởng hồ chí minh về tôn giáo và sự vận dụng của đảng và nhà nước ta hiện nay

42 5 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tư tưởng Hồ Chí Minh về tôn giáo và sự vận dụng của đảng và nhà nước ta hiện nay
Người hướng dẫn P.T.S. Nguyễn Văn A
Trường học Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn TP.HCM
Chuyên ngành Lịch sử và lý luận chính trị
Thể loại Tiểu luận
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 42
Dung lượng 58,98 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • I. CƠ SỞ HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ TÔN GIÁO (3)
    • 1. Một số khái niệm cơ bản (3)
    • 2. Cơ sở thực tiễn (5)
    • 3. Cơ sở lý luận (18)
  • II. QUAN ĐIỂM, CHÍNH SÁCH CỦA ĐẢNG VÀ NHÀ NƯỚC TA HIỆN NAY (23)
    • 1. Đặc điểm, tình hình tôn giáo ở Việt Nam (25)
    • 2. Quan điểm của Đảng (28)
    • 3. Đối với hệ thống pháp luật về tôn giáo (33)
  • KẾT LUẬN (37)
  • TÀI LIỆU THAM KHẢO (40)

Nội dung

Tiểu luận phần tự chọn 2 Tư tưởng Hồ Chí Minh về tôn giáo, tín ngưỡng LỜI MỞ ĐẦU Tôn giáo là một hình thái ý thức xã hội, cũng là một thực thể xã hội luôn biến động cùng với sự biến thiên của lịch sử[.]

CƠ SỞ HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ TÔN GIÁO

Một số khái niệm cơ bản

Chủ nghĩa Mác - Lênin xem tín ngưỡng và tôn giáo là những hình thái ý thức phản ánh một cách hoang đường, hư ảo về thực tại khách quan Qua hình thức phản ánh của tôn giáo, những sức mạnh tự phát trong tự nhiên và xã hội trở thành thần bí và siêu nhiên Ph.Ăngghen trong tác phẩm "Chống Đuyrinh" nhấn mạnh rằng tất cả các tôn giáo đều phản ánh những lực lượng tự nhiên và xã hội trong tâm trí con người dưới hình thức siêu nhiên Cả chủ nghĩa Mác và Ph.ăngghen đều coi tôn giáo là một hiện tượng xã hội, văn hóa và lịch sử, đồng thời là một lực lượng xã hội trần thế ảnh hưởng sâu sắc đến đời sống cộng đồng.

Giữa tín ngưỡng và tôn giáo có sự khác nhau, song lại có quan hệ chặt chẽ mà ranh giới để phân biệt chúng chỉ là tương đối.

Tín ngưỡng là một khái niệm rộng hơn so với tôn giáo, phản ánh các niềm tin và thực hành tâm linh của cộng đồng Trong bài viết này, chúng tôi tập trung vào một dạng tín ngưỡng đặc thù là tín ngưỡng tôn giáo, hay còn gọi là tôn giáo, để làm rõ các đặc điểm và vai trò của nó trong đời sống tinh thần Tín ngưỡng tôn giáo đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành giá trị, giữ gìn truyền thống và phát huy các nét đặc trưng văn hóa của cộng đồng.

Tín ngưỡng là niềm tin và sự ngưỡng mộ của con người vào các hiện tượng siêu nhiên, mang yếu tố thần bí, vô hình và ảnh hưởng mạnh đến tâm linh con người Tín ngưỡng bao gồm niềm tin vào các hiện tượng siêu nhiên, tôn sùng những điều vô hình và tác động sâu sắc đến đời sống tinh thần của mọi người Trong khi đó, tôn giáo được hiểu là một hiện tượng xã hội gồm các ý thức tôn giáo dựa trên niềm tin tôn giáo, cùng với các hành vi, tổ chức và nghi lễ tín ngưỡng Tôn giáo thường có hệ thống giáo lý, giáo luật, lễ nghi và các tổ chức giáo hội nhằm duy trì và truyền đạt niềm tin tôn giáo.

Mê tín dị đoan là một hiện tượng xã hội tiêu cực đã tồn tại từ lâu và vẫn phổ biến trong xã hội hiện đại Nó thường xuyên xen lẫn vào các hoạt động tín ngưỡng tôn giáo, gây ảnh hưởng tiêu cực đến cộng đồng Hiện tượng này chủ yếu được nhận biết qua các biểu hiện và hậu quả tiêu cực mà nó mang lại Mê tín dị đoan thể hiện niềm tin mù quáng vào các lực lượng siêu nhiên, dẫn đến các hành vi cực đoan, phi nhân tính và phản văn hóa, thường gọi là cuồng tín Đặc biệt, các hiện tượng mê tín dị đoan thường lợi dụng các hình thức tín ngưỡng để hoạt động, gây tác động xấu đến đời sống tinh thần xã hội Do đó, song song với việc bảo vệ quyền tự do tín ngưỡng và tôn giáo của nhân dân, chúng ta cần dần loại bỏ mê tín dị đoan để thúc đẩy một xã hội lành mạnh, văn minh hơn.

Tôn giáo là sản phẩm của con người, phản ánh sự bất lực và bế tắc trước tự nhiên và xã hội Điều này xuất phát từ các điều kiện lịch sử tự nhiên và xã hội xác định, khiến tôn giáo trở thành một hiện tượng xã hội phản ánh những khó khăn và hạn chế của con người trong cuộc sống hàng ngày.

Theo Tác giả C Mác, "sự nghèo nàn của Tôn giáo vừa phản ánh nghèo nàn thực tế, vừa là biểu hiện của sự phản kháng chống lại thế giới không có trái tim." Ông còn nhận định rằng, "Tôn giáo giống như thuốc phiện của nhân dân," thể hiện vai trò của tôn giáo trong việc an ủi, duy trì những trật tự không có tinh thần trong xã hội.

Cơ sở thực tiễn

2.1 Đặc điểm tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam

Sinh ra và lớn lên tại một đất nước đa tôn giáo, Hồ Chí Minh đã tiếp nhận các tri thức quý báu về các tín ngưỡng và tôn giáo đa dạng của Việt Nam Ngoài hệ thống tín ngưỡng dân gian phong phú, Việt Nam còn có các tôn giáo khu vực như Nho giáo và Đạo giáo, cùng với các tôn giáo thế giới như Phật giáo và Công giáo Những nền tảng tôn giáo này góp phần hình thành nên kiến thức sâu rộng của Hồ Chí Minh về các hệ thống tín ngưỡng, tôn giáo đa dạng của dân tộc.

Với tín ngưỡng dân gian của người Việt, Hồ Chí Minh cho rằng

Việc cúng bái tổ tiên là một hiện tượng xã hội quan trọng trong đời sống người Việt Hồ Chí Minh nhấn mạnh rằng đạo tổ tiên không chỉ theo nghĩa hẹp mà còn theo nghĩa rộng, thể hiện qua những nghi lễ tưởng niệm của người già trong gia đình và làng xóm Những nhận định sâu sắc của Người cho thấy sự am hiểu sâu sắc về tín ngưỡng cổ truyền của dân tộc, từ đó Người luôn khuyên cán bộ cần chú ý đến phong tục, tập quán của người dân trong quá trình xây dựng cuộc sống mới Người nhấn mạnh tầm quan trọng của việc tránh phạm đến các tục lệ và tín ngưỡng truyền thống, đồng thời yêu cầu tìm hiểu và nghiêm túc chấp hành các điều kiêng để giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc.

Nho giáo du nhập vào Việt Nam gắn liền với quá trình xâm lược của các triều đại phong kiến phương Bắc, ảnh hưởng sâu rộng đến văn hóa và xã hội nước ta Sau khi vào Việt Nam, Nho giáo đã góp phần hình thành nền tảng đạo đức và tư tưởng cho xã hội Việt Nam thời kỳ phong kiến Nó tác động mạnh mẽ đến đời sống tinh thần của người dân và góp phần định hình các giá trị truyền thống của đất nước.

Chủ tịch Hồ Chí Minh chịu ảnh hưởng lớn từ Nho giáo, bắt nguồn chủ yếu từ người cha là cụ Nguyễn Sinh Sắc, người đã dạy chữ Hán cho Người và theo nghiệp Nho học không vì mục đích quan quyền hay giàu sang Dù đã đỗ Phó bảng và từng làm quan cho triều đình Huế sau nhiều lần từ chối, cụ Nguyễn Sinh Sắc đã nhận xét về giới quan trường là "nô lệ", thể hiện tư duy tiến bộ và nhân cách cao thượng Những giá trị và tư tưởng của người cha đã để lại ấn tượng sâu sắc trong tâm hồn của Nguyễn Sinh Cung - Hồ Chí Minh, người con hiếu thảo và luôn mang trong mình những giá trị nhân đạo của Nho giáo.

Qua các bài viết và bài nói, Hồ Chí Minh thể hiện sự hiểu biết sâu sắc về Nho giáo, Khổng Tử và vận dụng các kiến thức Nho học vào cuộc đấu tranh cách mạng cũng như cuộc sống hàng ngày Mặc dù Nho giáo thuộc hệ tư tưởng phong kiến, nhưng nó còn chứa đựng những yếu tố tích cực như triết học hành động, tư tưởng nhập thế, hành đạo giúp đời, hướng tới một xã hội bình trị và "thế giới đại đồng" Những triết lý nhân sinh như tu thân dưỡng tính và chủ trương lấy tu thân làm gốc từ thiên tử đến thứ dân đã được Hồ Chí Minh lựa chọn, tiếp thu một cách có chọn lọc và sáng tạo Đồng thời, ông còn đề cao văn hóa, nhân văn và truyền thống hiếu học với phương châm “Học không biết chán, dạy không biết mỏi”, cũng như các đạo đức như trung, hiếu, cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, góp phần hình thành nên những giá trị văn hóa tích cực trong tư tưởng và hành động của ông.

Hồ Chí Minh đánh giá cao nhân cách đạo đức của Khổng Tử, nhận định rằng ông là vị đứng đầu các nhà hiền triết và tặng những danh hiệu tôn vinh cho những người kế nghiệp Đạo đức, học vấn và kiến thức của Khổng Tử khiến nhiều người cùng thời và hậu thế phải cảm phục Hồ Chí Minh cũng cho rằng học thuyết của Khổng Tử nổi bật với sự tu dưỡng đạo đức cá nhân, đề cao các đức tính như nhân, lễ, nghĩa, trí, tín, trung của con người.

Trong tư tưởng của Mạnh Tử, ông đề cao vai trò của quần chúng nhân dân, nhấn mạnh rằng “Dân vi quý, xã tắc thứ chi, quân vi khinh,” nghĩa là lợi ích của dân là trên hết, còn lợi ích của quốc gia và vua không đáng kể Ông khẳng định rằng “Dân là tất thảy, vua không là gì cả,” thể hiện tầm quan trọng của nhân dân trong xã hội Đồng thời, Mạnh Tử nhấn mạnh phương châm tu dưỡng đạo đức cá nhân: “Khắc kỷ, phục lễ, vi nhân,” tức là tự kiểm điểm, thực hiện lễ nghĩa để hoàn thiện nhân cách Ông còn đề ra kế hoạch tổ chức sản xuất và tiêu thụ, bảo vệ và phát triển lành mạnh trẻ em, giáo dục và lao động cưỡng bức với người lớn, lên án thói ăn bám, xóa bỏ bất bình đẳng về hưởng thụ Tư tưởng này nhấn mạnh hạnh phúc không chỉ dành cho số đông mà phải mang lại cho tất cả mọi người, thể hiện tư duy nhân văn sâu sắc được Hồ Chí Minh trân trọng và đánh giá cao.

Hồ Chí Minh đã tiếp thu và vận dụng những khái niệm cơ bản của Nho giáo như nhân, lễ, nghĩa, trí, tín, cần, kiệm, liêm, chính, trung, hiếu một cách linh hoạt, không mang tính máy móc hay giáo điều Ông đã điều chỉnh, nâng cao các nội dung này để phù hợp với cuộc sống và thời đại mới, ví dụ như với đức tính nhân, nghĩa, lễ, trí, dũng, liêm trong lực lượng cách mạng, những phẩm chất này mang ý nghĩa mới so với khái niệm truyền thống của Nho giáo Đồng thời, khái niệm trung, hiếu của Hồ Chí Minh cũng hoàn toàn khác biệt so với khái niệm của Nho giáo, thể hiện rõ quan điểm và giá trị riêng của ông trong xây dựng phẩm chất đạo đức mới cho con người thời đại mới.

Ngày xưa, trung là trung với Vua và hiếu là hiếu với cha mẹ Ngày nay, đất nước ta theo chế độ Dân chủ Cộng hòa, nghĩa là trung là trung với Tổ quốc và hiếu là hiếu với nhân dân Chúng ta không những yêu thương cha mẹ của mình mà còn phải thương yêu và chăm sóc cha mẹ của người khác, để mọi người đều biết giữ gìn đạo hiếu và tình cảm đối với cha mẹ.

Hồ Chí Minh am hiểu sâu sắc về Nho giáo và nhận ra những hạn chế của tư tưởng đạo Khổng Tử Ông nhận xét tinh tế rằng “chỉ thích hợp với một xã hội bình yên không bao giờ thay đổi”, cho thấy sự không thích ứng của Nho giáo với những biến đổi xã hội Đồng thời, Hồ Chí Minh cho rằng “đạo đức của ông hoàn hảo, nhưng không thể dung hợp với các trào lưu tư tưởng hiện đại”, nhấn mạnh sự bất cập của các giá trị Nho giáo trong bối cảnh lịch sử mới Ông còn chỉ ra rằng, “ông không phải là người cách mạng mà còn là vì ông tiến hành một cuộc tuyên truyền mạnh mẽ có lợi cho giai cấp phong kiến thống trị”, thể hiện sự phê phán những mặt hạn chế và xu hướng bảo thủ trong tư tưởng Nho giáo thời đó.

Hồ Chí Minh nhấn mạnh tầm quan trọng của việc hoàn thiện bản thân về mặt tinh thần bằng cách đọc các tác phẩm của Khổng Tử nhằm phát huy những giá trị tích cực của Nho giáo Ông cũng nhận thức rõ những hạn chế của Nho giáo và nhấn mạnh rằng người Việt Nam cần phải tự cải thiện để phù hợp với thời đại mới Đó là bài học quý giá về việc giữ gìn truyền thống tốt đẹp đồng thời không ngừng phát triển bản thân để xây dựng đất nước thịnh vượng.

Tử và về mặt cách mạng thì đọc các tác phẩm của Lênin”7.

Hồ Chí Minh thể hiện sự hiểu biết sâu sắc của Đạo giáo qua lối sống và cách sử dụng ngôn ngữ tự nhiên mang đậm nét thanh thản và hiền hòa Phẩm chất này phản ánh tư tưởng của Lão Tử, đại biểu xuất sắc của Đạo giáo, về việc loại bỏ sự quá mức, xa hoa và hào nhoáng trong cuộc sống Trong chuyến đi Pháp thăm nơi kỷ niệm Napôlêông, Hồ Chí Minh nhấn mạnh rằng, trong đời, nhiều người thất bại vì không biết trí túc, và nếu Napoleon biết gạt bỏ tham muốn quá mức, có thể nước Pháp đã tránh được chiến tranh và những thiệt hại lớn Tư tưởng tri túc, một trong những giá trị cốt lõi của Đạo giáo, cũng được nhắc đến như một bài học sâu sắc cho cuộc sống hiện đại.

Hồ Chí Minh đã tiếp thu và vận dụng một số tư tưởng triết học của Đạo giáo như sống hòa hợp với tự nhiên, không đặt nặng danh lợi, tri túc và gạt bỏ những thái quá Việc áp dụng những tư tưởng này, đã được kiểm nghiệm thực tiễn, góp phần xây dựng nhân cách và lối sống của người yêu nước, người cách mạng.

Với Phật giáo, Phật giáo là một tôn giáo lớn được du nhập vào

Trong lịch sử Việt Nam từ đầu Công nguyên, Phật giáo đã đóng vai trò quan trọng trong các triều đại phong kiến, góp phần ổn định xã hội và làm phong phú đời sống tinh thần của người dân Phật giáo còn thúc đẩy các giá trị nhân ái, bao dung và độ lượng, trở thành nền tảng tinh thần vững chắc cho sự phát triển của đất nước.

Ảnh hưởng của Phật giáo đến Hồ Chí Minh bắt nguồn từ những ngày đầu đời, bắt đầu từ tấm gương của người cha, cụ Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc Lòng yêu nước, thương dân và triết lý từ bi của Đạo Phật qua nhân cách của cụ Nguyễn Sinh Sắc đã có tác động sâu sắc đến Hồ Chí Minh, người con yêu quý nhất của cụ Như vậy, tấm gương đạo đức và tinh thần nhân ái của Phật giáo đã góp phần hình thành tư duy, đạo đức và lý tưởng của Hồ Chí Minh trong sự nghiệp cứu nước và giải phóng dân tộc.

Cơ sở lý luận

3.1 Kế thừa những giá trị truyền thống tốt đẹp từ gia đình, từ lịch sử dân tộc và của những nhà cách mạng tiền bối

Ảnh hưởng từ gia đình, đặc biệt là hình mẫu đạo đức và khí tiết của người cha - Cụ Nguyễn Sinh Sắc, đã để lại dấu ấn sâu đậm trong tâm trí Nguyễn Sinh Cung (Hồ Chí Minh) Dù theo nghiệp Nho học, Cụ không theo con đường làm quan để hưởng cuộc sống giàu sang, mà đã từng làm quan cho triều đình Huế sau khi đỗ Phó Bảng Tuy nhiên, tính cách khí khái và tư tưởng tiến bộ của Cụ đã thúc đẩy ông phản kháng chế độ đương thời, thể hiện rõ qua nhận xét chua xót của Cụ: “Quan trường thị nô lệ trung chi nô lệ, hữu nô lệ”, phản ánh chế độ phong kiến đầy áp bức và bất công.

Bà Hoàng Thị Loan với tư tưởng tiến bộ, nhân cách cao thượng và tình mẫu tử thiêng liêng đã trở thành tấm gương sáng về đạo đức và lòng hy sinh tận tụy vì gia đình Nhờ những đức tính cao quý này, bà đã ảnh hưởng sâu sắc đến hình thành tư duy về bình đẳng, tự do và khoan dung trong Hồ Chí Minh từ khi còn trẻ Hình ảnh người mẹ mẫu mực, luôn đặt lợi ích của chồng con lên hàng đầu, góp phần hình thành nên nhân cách cao đẹp và tư tưởng tiến bộ của vị lãnh tụ vĩ đại của dân tộc.

Trên cấp độ gia đình, Bác Hồ đã kế thừa những giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt Nam, đặc biệt là tinh thần đoàn kết và tương thân tương ái của cộng đồng các dân tộc Những truyền thống quý báu này góp phần hình thành tư duy và đạo đức của Người, từ đó rút ra bài học quý giá: lịch sử dân tộc đã dạy cho chúng ta bài học về lòng nhân ái, đoàn kết, và giữ gìn bản sắc văn hóa.

Lúc nào dân ta đoàn kết muôn người như một thì nước ta độc lập, tự do.

Trái lại, lúc nào dân ta không đoàn kết thì bị nước ngoài xâm lấn”21.

Hồ Chí Minh sinh ra và lớn lên trong bối cảnh các phong trào cách mạng sôi nổi nhằm xây dựng xã hội mới, như phong trào của Hoàng Hoa Thám, Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh Ngài đã kế thừa và phát triển các tư tưởng về tôn giáo của những nhà cách mạng tiền bối này, nhận thức rõ yếu tố tiến bộ trong một số quan điểm của họ, đặc biệt về tôn giáo và tín ngưỡng Dù phê phán con đường cứu nước của Phan Bội Châu, Hồ Chí Minh không bỏ qua những điểm tích cực trong quan điểm của các sĩ phu yêu nước đầu thế kỷ XX như Phan Chu Trinh và các sĩ phu Đông Kinh Nghĩa Thục.

Phan Bội Châu nhận xét về tình hình tôn giáo và tín ngưỡng ở Việt Nam đầu thế kỷ XX, cho biết người Việt Nam thường cầu khấn thần linh và coi trọng lễ nghi thờ cúng, thể hiện sự cẩn thận trong việc tôn thờ các thần linh Tuy nhiên, ông cảnh báo rằng sự quá đắm đuối và cẩn thận quá mức có thể dẫn đến mê hoặc, làm mất đi sự sâu sắc trong lòng tin Ông còn nhấn mạnh rằng dân chúng thường xem cả những khối đá quái dị, cổ thụ, rừng hoang, mộ vắng như những thần linh cứu thế, lạy lục và cầu xin thần linh hàng ngày, phản ánh một niềm tin tôn giáo phong phú và đa dạng của người Việt thời đó.

Phan Bội Châu chỉ rõ sự sai lầm của niềm tin mù quáng vào trời và thần linh, khi cho rằng dân tộc Việt Nam trước đây đã bị khống chế bởi thế lực siêu nhiên mà bỏ qua trách nhiệm và sức mạnh của chính bản thân Ông nhấn mạnh rằng, khi sống tin vào thần linh để mong đợi mọi sự, đến khi hy vọng vỡ tan, người ta sẽ đổ lỗi cho trời đất và quên đi vai trò của chính mình trong việc xây dựng tương lai Tư tưởng này phản ánh sự phê phán sâu sắc về niềm tin mê muội, cảnh báo về việc bỏ qua trách nhiệm của con người và lệ thuộc quá mức vào các thế lực siêu nhiên mà bỏ lỡ khả năng tự lực tự cường của dân tộc.

Cụ Phan Bội Châu và các sĩ phu tân học đầu thế kỷ XX nhấn mạnh tác động tiêu cực của tôn giáo và tín ngưỡng đối với phong trào đấu tranh chống Pháp, đồng thời vạch trần âm mưu của thực dân Pháp lợi dụng tôn giáo để kiểm soát dân tộc Trong tác phẩm Thiên hồ! Đế hồ!, Phan Bội Châu chỉ rõ rằng chính phủ Pháp dùng vũ lực không phải là phương án tối ưu, mà đã lợi dụng tôn giáo, như việc thờ tượng Giêsu Kitô và cây thánh giá, để thực hiện chính sách tiêu diệt nòi giống người Việt; đây chính là bí mật đằng sau thành công của Pháp trong việc chinh phục Việt Nam với sự hỗ trợ từ giới tôn giáo.

Phan Bội Châu nhận định rằng người Pháp đã dùng chiến thuật khôn khéo bằng cách bảo vệ và hỗ trợ tài chính cho các chùa chiền ở làng xóm để lấy lòng và kiểm soát Ông cho biết họ phát tiền bạc để các chùa sắm sửa, làm như thế để dễ dàng thực hiện các mục đích độc lợi của mình Phan Bội Châu cho rằng, cách làm của người Pháp thể hiện sự hiểu biết sâu sắc về tâm lý và cách thao túng xã hội Việt Nam, nhằm đạt được lợi ích lâu dài và kiểm soát toàn diện.

Yêu Tổ quốc, yêu đồng bào, cứu nhân dân, ghét kẻ thù là những giá trị cốt lõi thể hiện tinh thần yêu nước của Phan Bội Châu cùng các sĩ phu tân học đầu thế kỷ Ông nhấn mạnh rằng, người Việt Nam đã là những "thần" tự thân, không cần phải cầu thần ở bên ngoài để thể hiện lòng yêu nước và ý chí độc lập Phan Bội Châu và các sĩ phu thời kỳ này đặt trọng trách bảo vệ đất nước, phát triển tinh thần dân tộc, góp phần thúc đẩy phong trào cách mạng yêu nước trong giai đoạn lịch sử quan trọng.

XX đã tiếp thu tư tưởng “tự do tín ngưỡng” của các nhà tư tưởng phương Tây và giải thích tuy còn sơ lược, nhấn mạnh rằng các nước văn minh không cấm dân tin các tôn giáo khác, nghĩa là tự do tín ngưỡng Theo đó, người dân có quyền theo tôn giáo mình thích, nhưng cần hiểu rõ tôn chỉ và thực hành tận tâm, không chỉ thắp hương lễ bái Quan điểm “tự do tín ngưỡng” không những đề cao quyền tự do tôn giáo mà còn coi đó là yếu tố góp phần đoàn kết các tầng lớp nhân dân trong công cuộc cứu nước, giải phóng dân tộc Phan Bội Châu nhấn mạnh rằng tôn giáo chỉ nên bàn về sức mạnh của quốc gia, không nên tranh luận đúng sai của tôn giáo nào, mà phải tập trung vào việc xây dựng đất nước vững mạnh hay yếu kém.

Hãy tận tâm yêu nước, yêu nòi và sẵn sàng hy sinh chống giặc để bảo vệ tổ quốc Con người nên sống vì nghĩa lớn, và như vậy thì không cần thiết phải theo đạo Khổng, Phật hay Đạo Dátô Khi bản sắc dân tộc còn tồn tại, chúng ta mới có thể chọn con đường tâm linh phù hợp sau này Ngược lại, nếu bỏ mặc nòi giống, thì chính nòi giống sẽ tuyệt chủng, khiến không còn nền tảng để tôn vinh bất kỳ tôn giáo nào.

Hồ Chí Minh chắc chắn đã tiếp xúc và hiểu rõ các quan điểm tiến bộ về tôn giáo tín ngưỡng của các sĩ phu yêu nước nổi tiếng như Phan Bội Châu và Phan Chu Trinh Những sĩ phu này có mối quan hệ gần gũi với gia đình của Người, góp phần hình thành nhận thức và tư duy của Hồ Chí Minh về tôn giáo trong phong trào yêu nước Đặc biệt, Nguyễn Ái Quốc đã từng hợp tác và cùng chung hoạt động với Phan Chu Trinh tại Paris vào năm 1917-1928, thể hiện sự hiểu biết và tôn trọng các quan điểm tiến bộ về tín ngưỡng của các nhà yêu nước thời đó.

Như vậy, có thể suy luận rằng Hồ Chí Minh đã tiếp thu và phát triển các quan điểm tiến bộ về tín ngưỡng và tôn giáo từ các nhà yêu nước đầu thế kỷ XX như Phan Bội Châu và Phan Chu Trinh Điều này cho thấy sự kế thừa mang tính bước ngoặt trong tư duy về tín ngưỡng của Hồ Chí Minh, thể hiện tinh thần đổi mới và tiến bộ trong tư duy chính trị và tôn giáo Việc này khẳng định tầm ảnh hưởng của các sĩ phu tân học yêu nước thời kỳ đó đối với sự hình thành các quan điểm của Hồ Chí Minh về tôn giáo và tín ngưỡng.

3.2 Tiếp thu những thành tựu của khoa học tự nhiên, xã hội và những giá trị của cuộc cách mạng tư sản châu Âu thế kỷ XIX

Nguyễn Ái Quốc đã sống và làm việc tại Anh và Pháp trong một thời gian quan trọng Trong giai đoạn này, các chính phủ tư bản của hai nước đã từng bước mở rộng quyền tự do tín ngưỡng cho nhân dân, đồng thời tiến hành các cuộc đấu tranh chống lại chế độ phong kiến và các thế lực tôn giáo độc đoán Đến năm 1945, những trải nghiệm và hoạt động của Nguyễn Ái Quốc tại châu Âu góp phần hình thành tư duy cách mạng của ông, thúc đẩy phong trào đấu tranh giành độc lập dân tộc.

Tuyên ngôn độc lập, Hồ Chí Minh đã trích dẫn những câu nổi tiếng về quyền con người trong Tuyên ngôn độc lập năm 1776 của nước Mỹ và

Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền của cách mạng tư sản Pháp thế kỷ XVIII đã đặt nền móng cho các nguyên tắc tự do, bình đẳng và nhân quyền Hồ Chí Minh, sau hơn ba mươi năm hoạt động tại trung tâm văn minh châu Âu, đã có đủ thời gian và điều kiện tiếp thu những tri thức cần thiết để xây dựng lý tưởng giải phóng dân tộc Trong quá trình đó, vấn đề tôn giáo cũng được xem là một phần quan trọng trong tư duy và hành động của Người.

3.3 Lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, đặc biệt là những lý luận về vấn đề tôn giáo

QUAN ĐIỂM, CHÍNH SÁCH CỦA ĐẢNG VÀ NHÀ NƯỚC TA HIỆN NAY

Đặc điểm, tình hình tôn giáo ở Việt Nam

1.1 Đặc điểm tôn giáo ở Việt Nam

Một là, Việt Nam là nước có nhiều tín ngưỡng, tôn giáo.

Hiện nay, Việt Nam có 12 tôn giáo lớn đã được nhà nước công nhận về tổ chức, với tổng số tín đồ lên đến vài chục triệu người Bên cạnh đó, còn có hàng chục triệu người vẫn duy trì các tín ngưỡng dân gian, truyền thống và tín ngưỡng nguyên thủy, thể hiện sự đa dạng về tôn giáo và tín ngưỡng của cộng đồng trong nước.

Tín ngưỡng và tôn giáo tại Việt Nam chủ yếu mang tính chất tâm lý hơn là hiểu biết sâu sắc về giáo lý Nhiều tín đồ tuy sùng đạo nhưng ít hiểu rõ giáo lý, thường gia nhập đạo do lan truyền tâm lý hoặc bị vận động, lôi kéo Do đó, ý thức tôn giáo của phần lớn tín đồ chưa thật sự sâu sắc và vững vàng.

Hai là, các tôn giáo, tín ngưỡng dung hợp, đan xen và hòa đồng, không có kỳ thị, tranh chấp và xung đột tôn giáo.

Các tín ngưỡng truyền thống và tàn dư tôn giáo nguyên thủy đã in đậm dấu ấn vào đời sống tinh thần người Việt qua các thời kỳ lịch sử Tâm linh là nền tảng dễ dàng đón nhận các tôn giáo khác nhau, nhờ vào sự khoan dung, lòng độ lượng và nhân ái của dân tộc Người Việt Nam tiếp thu các tín ngưỡng mới một cách tự nhiên, miễn là phù hợp với lợi ích dân tộc, truyền thống văn hóa và tín ngưỡng cổ truyền, góp phần củng cố sự đoàn kết để bảo vệ độc lập và thống nhất lãnh thổ quốc gia.

Sự phân bố tôn giáo ở nước ta đặc trưng bởi các cộng đồng tín đồ thường sinh sống thành những nhóm nhỏ, xen kẽ và hòa hợp với nhau trong cùng một khu vực Ở nhiều làng, xã, các nhóm tín đồ của các tôn giáo khác nhau sống xen kẽ, tạo thành mô hình cộng đồng đa dạng, nơi các tôn giáo khác nhau có thể tồn tại hòa bình và đồng hành cùng nhau, thậm chí xen kẽ với những người không theo tôn giáo nào.

Các tôn giáo chính ảnh hưởng lớn đến xã hội Việt Nam đều có nguồn gốc từ bên ngoài và đã trải qua quá trình biến đổi để phù hợp với văn hóa địa phương, mang đậm dấu ấn riêng của đất nước.

Các tôn giáo từ bên ngoài vào Việt Nam đã du nhập tự nhiên qua giao lưu kinh tế, văn hóa như Phật giáo và Hồi giáo, cũng như bị áp đặt đi kèm với quá trình xâm lược của các đế quốc, như Công giáo và Tin lành Quá trình gặp gỡ và giao lưu giữa các tôn giáo này đã thúc đẩy sự biến đổi phù hợp với đặc điểm địa lý, lịch sử và văn hóa Việt Nam Sự đa dạng trong quá trình tiếp nhận đã góp phần làm phong phú thêm nền tôn giáo Việt Nam, đồng thời tạo ra những sự hòa quyện và biến đổi đặc trưng của từng tôn giáo trong bối cảnh địa phương.

Bốn là, sự pha trộn phức tạp giữa ý thức tôn giáo với tín ngưỡng truyền thống và tính chất, phong tục tập quán và nhân dân.

Tín ngưỡng truyền thống dân gian, nổi bật nhất là phong tục thờ cúng tổ tiên, đã hòa quyện với các tôn giáo khác, góp phần định hình đặc điểm tâm hồn và tính cách của người Việt Nam Sự pha trộn phức tạp giữa ý thức tôn giáo, tín ngưỡng cổ truyền và phong tục tập quán đã đi sâu vào đời sống tinh thần, giúp một bộ phận lớn người lao động dễ dàng tiếp nhận những tín ngưỡng và ý thức tôn giáo mới.

1.2 Tình hình tôn giáo ở nước ta hiện nay

Dù phạm vi ảnh hưởng và số lượng tín đồ của các tôn giáo khác nhau, các đồng bào tôn giáo đã đóng góp xứng đáng vào sự nghiệp đấu tranh giành độc lập dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Sự đóng góp này thể hiện rõ vai trò tích cực của các tín đồ tôn giáo trong các giai đoạn quan trọng của lịch sử dân tộc Những nỗ lực và hy sinh của họ góp phần quan trọng vào công cuộc xây dựng đất nước, góp phần thúc đẩy nền hòa bình và phát triển bền vững của quốc gia.

Trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, hàng chục vạn thanh niên có đạo đã tham gia chiến đấu và hy sinh anh dũng vì sự nghiệp giải phóng dân tộc, biểu thị tinh thần yêu nước và niềm tự hào của cộng đồng tín đồ Trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội, nhiều tín đồ và giáo sĩ đã nhận thức đúng chính sách, pháp luật của Nhà nước, góp phần tích cực vào công cuộc phát triển đất nước bằng cách cân bằng giữa “việc đạo” và “việc đời” Tình hình kinh tế, an ninh chính trị và trật tự xã hội tại nhiều vùng tôn giáo vẫn khá ổn định, tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển cộng đồng Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân khác nhau, một bộ phận đồng bào có tín ngưỡng tôn giáo vẫn còn băn khoăn, lo lắng về cả phần đạo và phần đời, cần được quan tâm, hướng dẫn để ổn định và phát triển bền vững.

Trong những năm gần đây, hoạt động tôn giáo tại Việt Nam đã có sự phát triển rõ rệt, với nhiều nhà thờ, đình chùa, miếu mạo được tu sửa, tôn tạo, xây dựng mới, cùng với việc ấn hành tài liệu và đào tạo chức sắc Số lượng người tham gia các hoạt động tôn giáo ngày càng tăng, đặc biệt trong các lễ hội gắn liền với tín ngưỡng, mang nhiều màu sắc đa dạng Tuy nhiên, song song với đó cũng xuất hiện nhiều hiện tượng mê tín dị đoan, phản ánh nhu cầu tinh thần của một bộ phận người dân nhưng cũng gây ra những vấn đề không bình thường Kể từ khi đổi mới và dân chủ hóa, tự do tín ngưỡng được mở rộng hơn, đáp ứng mong muốn của một số đông quần chúng, song đồng thời cũng xuất hiện những biểu hiện không trong sạch, khi hoạt động tôn giáo bị lợi dụng để phục vụ mục đích chính trị hoặc phát sinh mê tín dị đoan.

Tại Đại hội XI, nhấn mạnh việc tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, cũng như quyền người không tín ngưỡng, tôn giáo theo quy định của pháp luật Chính sách này khẳng định cam kết đấu tranh và xử lý nghiêm mọi hành động vi phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo, đồng thời ngăn chặn lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để gây tổn hại đến lợi ích của Tổ quốc và nhân dân.

Quan điểm của Đảng

2.1 Tiếp tục khẳng định quan điểm cho rằng tín ngưỡng tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân, đang và sẽ tồn tại cùng dân tộc trong quá trinh xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta Đây là cách nhìn nhận vừa mới mẻ, vừa thực tiễn và thể hiện bước chuyển về nhận thức đối với sự tồn tại của tín ngưỡng, tôn giáo hiện nay ở nước ta Xét trên phương diện tư tưởng, 20% dân số theo các tôn giáo khác nhau và một bộ phận đông đảo quần chúng có tín ngưỡng ở nước ta còn có sự khác biệt về thế giới quan, nhân sinh quan so với tư tưởng chính thống của xã hội ta, song Đảng và Nhà nước ta luôn tôn trọng sự tồn tại khách quan đó, coi đó là nhu cầu có thực, hiện hữu đang tồn tại phổ biến ở mọi vùng miển trong cả nước Việt thờ cúng ông bà tổ tiên, thờ thành hoàng, đến với cửa Phật hoặc nhà thờ, nhà nguyện để cầu nguyện cho sự yên lành đã trở thành tâm niệm của hàng triệu con người đất Việt Chúng ta không đối lập trừu tượng, máy móc giữa vô thần và hữu thần theo lối tư duy cũ Thừa nhận tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu tinh thần và sẽ còn tồn tại lâu dài cùng dân tộc trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội, Đảng và Nhà nước ta đã đặt tôn giáo và công tác tôn giáo trên một tầm chiến lược, cơ bản và lâu dài Những thành tựu của sự nghiệp đổi mới kể từ sau Nghị quyết

Từ năm 1990, 24 của Bộ Chính trị cho thấy Đảng và Nhà nước đã quan tâm đặc biệt đến nhu cầu tín ngưỡng, tâm linh, và tôn giáo của nhân dân Chính sách tự do tín ngưỡng, tôn giáo ngày càng trở nên mở, cởi mở và hiệu quả hơn, thể hiện sự tôn trọng và bảo vệ quyền tự do tín ngưỡng của nhân dân.

2.2 Có biện pháp nhằm hướng các tổ chức tôn giáo đồng hành cùng dân tộc Đây là vấn đề thể hiện rõ sự chuyển biến về nhận thức và hành động về tính hai mặt: tích cực và tiêu cực của tôn giáo, tín ngưỡng. Xuất phát từ chỗ nhận thức rõ, đúng về tính hai mặt nói trên m từ gốc độ chính trị đến gốc độ văn hóa, đạo đức, Đảng ta ngày càng có ý thức rõ rệt hơn trong việc phát huy sự tương đồng trên cơ sở lợi ích dân tộc và những lợi ích chung khác của toàn xã hội Những chuyển biến tích cực ở tất cả các tôn giáo lớn ở nước ta thời gian qua đã minh chứng cho điều đó Đồng hành cùng dân tộc, phát huy mặt tích cực của các tôn giáo chính là xu thế chủ đạo của những người có tôn giáo, tín ngưỡng hiện nay ở nước ta Với phương châm hành đạo “Đạo pháp,dân tộc và chủ nghĩa xã hội”, hàng chục triệu phật tử đã có những đóng góp to lớn trong sự nghiệp đổi mới Với phương châm hành đạo “Sống phúc âm trong lòng dân tộc để mưu cầu hạnh phúc cho đồng bào”,truyệ đại bộ phận giáo dân Công giáo đang xóa dần những định kiến của quá khứ để hòa nhịp cùng cả nước trong sự nghiệp dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh Với phương châm “Kính chúa, yêu nước, phụng sự Thiên chúa, phục vụ Tổ quốc và Dân tộc” hàng triệu tín đồ Tin lành đang có nững đóng góp ngày càng hữu dụng cho cả đạo và đời Tương tự như vậy, với phương châm “Nước vinh, đạo sáng”, hàng triệu tín hữu của Cao Đài và Phật giáo Hòa Hảo cũng đang dốc lòng vì ấm no, tự do, hạnh phúc của cả dân tộc và tạo ra sự hài hòa giữa đạo và đời ngay trong lòng dân tộc Lợi ích của cả cộng đồng, từng công dân, mỗi tín đồ đang và sẽ tiếp tục đặt ra và đòi hỏi sự đồng thuận, đồng hành từ cả hai phía đạo và đời.

Nước ta là một quốc gia đang phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa, với mục tiêu xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Trong đó, các hoạt động lợi dụng tôn giáo vi phạm pháp luật và truyền đạo trái pháp luật là các mặt tiêu cực, chiếm tỷ lệ nhỏ theo so sánh với xu hướng chung của các tôn giáo Thực tiễn những năm gần đây cho thấy, đa số chức sắc, nhà tu hành và tín đồ các tôn giáo tại Việt Nam đều tuân thủ các quy định của Hiến pháp, pháp luật, pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo, đồng thời hợp tác chặt chẽ với chính quyền các cấp trong quản lý hoạt động tôn giáo Xu hướng đồng hành cùng dân tộc, tuân thủ pháp luật là chủ đạo trong hoạt động tôn giáo, góp phần thúc đẩy sự phát triển hài hòa giữa tôn giáo và nhà nước.

2.3 Có chính sách phát huy những giá trị đạo đức và văn hóa của tôn giáo phù hợp với công cuộc xây dựng xã hội mới

Nhận thức về đạo đức trong tôn giáo đã có sự chuyển biến rõ rệt tại Việt Nam, khi Đảng và Nhà nước ngày càng nhận thức sâu sắc hơn về giá trị đạo đức của tôn giáo trong xây dựng nhân cách và giáo dục con người Trước đây, xã hội còn nhiều định kiến và mặc cảm với các hoạt động tôn giáo, tuy nhiên hiện nay, các giá trị nhân đạo và hướng thiện của tôn giáo được trân trọng và ghi nhận Những giá trị nhân văn của các tôn giáo đóng góp quan trọng vào giáo dục đạo đức, giúp kìm hãm suy thoái xã hội, giảm thiểu các tệ nạn như cờ bạc, nghiện hút, đặc biệt rõ rõ ở những vùng tập trung tôn giáo, nơi các hoạt động tiêu cực ít gặp phải hơn so với các khu vực khác.

Từ nhận thức và cách tiếp cận mới này mà Đảng ta đã chỉ đạo phải

Việc giữ gìn và phát huy các giá trị tích cực của truyền thống thờ cúng tổ tiên là yếu tố quan trọng trong việc tôn vinh những người có công với Tổ quốc và nhân dân Chính sự thừa nhận khách quan về đời sống tâm linh cùng các giá trị đạo đức tôn giáo hiện nay đã giúp Đảng ta có cơ sở khoa học để xây dựng chính sách tự do tín ngưỡng, tôn giáo, góp phần củng cố và bảo tồn bản sắc văn hóa dân tộc Đây cũng là cách thể hiện đạo lý uống nước nhớ nguồn, ghi nhận công lao những anh hùng, liệt sĩ, góp phần nâng cao lòng tự hào dân tộc và sự hòa hợp trong cộng đồng.

502 Bad GatewayUnable to reach the origin service The service may be down or it may not be responding to traffic from cloudflared

2.4 Cần làm cho cán bộ, đảng viên xác định rõ nội dung cốt lõi của công tác tôn giáo là công tác vận động quần chúng

502 Bad GatewayUnable to reach the origin service The service may be down or it may not be responding to traffic from cloudflared

2.5 Có quan điểm thống nhất về vấn đề theo đạo và truyền đạo Đây là vấn đề thuộc năm quan điểm chỉ đạo của Đảng ta về công tác tôn giáo theo tinh thần Nghị quyết số 25/NQ-TW

502 Bad GatewayUnable to reach the origin service The service may be down or it may not be responding to traffic from cloudflared

502 Bad GatewayUnable to reach the origin service The service may be down or it may not be responding to traffic from cloudflared

Cần xây dựng cơ sở pháp lý rõ ràng cho khái niệm truyền đạo trái phép để đảm bảo sự thống nhất trong nhận thức về vấn đề này Để đạt được mục tiêu đó, chúng ta nên tổ chức các cuộc nghiên cứu và hội thảo quốc tế, trong đó các nhà nghiên cứu và cán bộ lãnh đạo địa phương cùng tham gia, nhằm thảo luận và đề xuất các giải pháp phù hợp Việc nghiên cứu toàn diện và rộng rãi về truyền đạo trái phép sẽ giúp đưa ra những kết luận chính xác, góp phần nâng cao hiệu quả xử lý vấn đề trong thực tiễn.

Đối với hệ thống pháp luật về tôn giáo

3.1 Phải tiếp tục thể chế hóa hơn nữa nội dung các quyền về tự do tôn giáo, tín ngưỡng trong điều kiện Việt Nam ngày càng hội nhập sâu rộng hơn vào quốc tế

Chủ nghĩa xã hội cần thể hiện rõ tính ưu việt để đáp ứng nhu cầu tự do tín ngưỡng và tôn giáo của nhân dân cũng như bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự xã hội Chính sách tôn giáo của nước ta phải toàn diện, sâu sắc và cụ thể hơn về quyền tự do tôn giáo cũng như quyền không tự do tôn giáo của nhân dân, phù hợp với các Công ước quốc tế về tôn giáo và nhân quyền mà chúng ta đã cam kết Hiện nay, chính sách tôn giáo chủ yếu tập trung vào quyền tự do tín ngưỡng mà chưa phản ánh đầy đủ quyền tự do không tôn giáo của đại đa số dân cư, ảnh hưởng đến đời sống của những người không theo tôn giáo Song song đó, sự nâng cao trình độ dân trí ngày càng cao đòi hỏi tính dân chủ hơn trong các mối quan hệ xã hội, góp phần thúc đẩy sự phát triển của xã hội Việt Nam.

3.2 Cần phải chủ động xây dựng hệ thống pháp luật có thể giải quyết được vấn đề đa dạng hóa tôn giáo trước xu thế của toàn cầu hóa

Việt Nam là quốc gia đa tôn giáo, và trong bối cảnh toàn cầu hóa, xu hướng đa dạng hóa về tôn giáo ngày càng rõ nét hơn Dự kiến trong tương lai, sẽ xuất hiện nhiều hiện tượng tôn giáo mới cũng như các phái đã tồn tại từ nhiều thập kỷ trước Hiện nay, các văn bản pháp luật chỉ tập trung vào sáu tôn giáo chính mà nhà nước quản lý, nhưng chưa đủ hoặc còn hạn chế trong việc điều chỉnh các tôn giáo khác, đặc biệt là các hiện tượng tôn giáo mới Chính sách tôn giáo cần phải chú trọng đến việc quản lý đa dạng các tôn giáo đã, đang tồn tại và có khả năng xuất hiện trong tương lai tại Việt Nam Điều này đòi hỏi các quy định pháp luật phải mở rộng, nâng cao năng lực quản lý, bao quát nhiều lĩnh vực liên quan đến hoạt động tôn giáo Trong bối cảnh “Toàn cầu hóa tôn giáo” ngày càng phức tạp và đa dạng, việc hoàn thiện luật pháp về tôn giáo là điều cấp thiết để thích ứng với thực tiễn hiện nay của đất nước.

3.3 Cần có chính sách để cho các tôn giáo tích cực tham gia hơn nữa vào công tác xã hội hóa giáo dục, y tế, kinh tế, văn hóa, xã hội

Chính Sắc lệnh 234 do Chủ tịch Hồ Chí Minh ký ngày 14/6/1955 đã mở đường cho các tôn giáo tham gia vào lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội, quy định các tổ chức tôn giáo hoạt động sau khi được phép của chính quyền và bảo hộ pháp luật Hiện nay, chính sách của Nhà nước chỉ cho phép chức sắc, nhà tu hành tham gia hoạt động với tư cách cá nhân, hạn chế khả năng các tổ chức tôn giáo tham gia vào các lĩnh vực này, gây ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của các tôn giáo trong các lĩnh vực như giáo dục, y tế, và cứu trợ xã hội Các tổ chức tôn giáo có lợi thế lớn trong lĩnh vực giáo dục, y tế, và cứu trợ nhờ “tâm”, “tiền” và “tài”, nếu được phép tham gia sẽ mang lại hiệu quả rõ rệt Tuy nhiên, cần xây dựng luật pháp rõ ràng để tránh các trường tư thục tôn giáo trở thành các trường dòng đào tạo chức sắc, đồng thời cần có chính sách toàn diện hơn để khuyến khích sự tham gia mạnh mẽ của các tôn giáo vào lĩnh vực kinh tế, văn hóa, đặc biệt là giáo dục và y tế Trong khi nhiều quốc gia đã quản lý các trường tự do của tổ chức tôn giáo hiệu quả, Việt Nam cần cập nhật và hoàn thiện các quy định pháp luật để thúc đẩy sự tham gia của các tôn giáo vào các hoạt động này một cách hợp pháp và bền vững.

Hiện nay, cần nghiên cứu đưa các trường đào tạo chức sắc và nhà tu hành, đặc biệt là ở bậc đại học và sau đại học, vào hệ thống đào tạo này bằng cách bổ sung các môn học bắt buộc ngoài chương trình đào tạo tôn giáo truyền thống Nhà nước đã quy định bắt buộc các trường đào tạo chức sắc, nhà tu hành dạy các môn như Giáo dục Công dân, Lịch sử Việt Nam và Văn hóa Việt Nam, tuy nhiên, xu hướng hiện nay của các tôn giáo mở rộng đào tạo sang nhiều lĩnh vực xã hội khác Mô hình đào tạo của các chức sắc, nhà tu hành tương lai không chỉ gắn với hoạt động tôn giáo thuần túy mà còn liên quan đến nhiều lĩnh vực xã hội như lịch sử, tư tưởng, văn hóa và các giá trị nhân loại Chính vì vậy, các trường như Học viện Phật giáo Hà Nội đã tích hợp các môn như Lịch sử Việt Nam, Lịch sử tư tưởng, Văn hóa Việt Nam, Lịch sử văn minh nhân loại và Tư tưởng Hồ Chí Minh vào chương trình đào tạo để nâng cao kiến thức đa lĩnh vực cho các nhà tu hành.

Nhiều quốc gia như Thái Lan và Ấn Độ đã tích hợp các trường đào tạo vào hệ thống giáo dục quốc dân để nâng cao chất lượng và khả năng tiếp cận Việc này giúp các trường ngày càng thu hút đa dạng đối tượng học viên từ các nhóm xã hội khác nhau, góp phần thúc đẩy sự phát triển toàn diện của hệ thống giáo dục quốc gia.

Ngày đăng: 23/01/2023, 00:04

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện Đại hội đại biểu Toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị quốc gia, H. 2011 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu Toàn quốc lần thứ XI
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2011
2. Bộ Giáo dục và đào tạo: Giáo trình Chủ nghĩa xã hội khoa học (Dùng cho các trường đại học, cao đẳng), Nxb. Chính trị quốc gia, H. 2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Chủ nghĩa xã hội khoa học (Dùng cho các trường đại học, cao đẳng)
Tác giả: Bộ Giáo dục và đào tạo
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 2010
3. Hỏi đáp Tư tưởng Hồ Chí Minh về Dân tộc và tôn giáo, Nxb. Quân đội nhân dân, H. 2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hỏi đáp Tư tưởng Hồ Chí Minh về Dân tộc và tôn giáo
Nhà XB: Nxb. Quân đội nhân dân
Năm: 2008
4. PGS. TS. Nguyễn Đức Lữ: Tìm hiều về tôn giáo và chính sách đối với tôn giáo của Đảng và Nhà nước Việt Nam hiện nay , Nxb. Chính trị - Hành chính, H. 2011 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiều về tôn giáo và chính sách đối với tôn giáo của Đảng và Nhà nước Việt Nam hiện nay
Tác giả: Nguyễn Đức Lữ
Nhà XB: Nxb. Chính trị - Hành chính
Năm: 2011
5. PGS. TS. Nguyễn Đức Lữ: Tư tưởng Hồ Chí Minh về tôn giáo và sự vận dụng ở Việt Nam hiện nay, Nxb. Chính trị - Hành chính, H.2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tư tưởng Hồ Chí Minh về tôn giáo và sự vận dụng ở Việt Nam hiện nay
Tác giả: PGS. TS. Nguyễn Đức Lữ
Nhà XB: Nxb. Chính trị - Hành chính
Năm: 2009
6. PGS. TS. Nguyễn Đức Lữ: Tôn giáo - quan điểm, chính sách của Đảng và Nhà nước Việt Nam hiện nay, Nxb. Chính trị - Hành chính, H. 2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tôn giáo - quan điểm, chính sách của Đảng và Nhà nước Việt Nam hiện nay
Tác giả: Nguyễn Đức Lữ
Nhà XB: Nxb. Chính trị - Hành chính
Năm: 2009

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w