Tiểu luận phần II Tiểu sử, sự nghiệp và nguồn gốc, quá trình hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh LỜI MỞ ĐẦU Trong lịch sử dựng nước và giữ nước, dân tộc ta đã sản sinh ra biết bao anh hùng dân tộc, nhà tư[.]
BỐI CẢNH XUẤT HIỆN NHÀ TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH
Hồ Chí Minh xuất hiện ở vào thời điểm gạch nối giữa các thời kỳ lịch sử tư tưởng của dân tộc Việt Nam
Xã hội Việt Nam thế kỷ XIX vẫn giữ nguyên đặc điểm xã hội phong kiến, nông nghiệp lạc hậu và trì trệ Sau khi lật đổ triều đại Tây Sơn, chính quyền nhà Nguyễn áp dụng chính sách bảo thủ, phản động cả về nội bộ lẫn đối ngoại bằng cách gia tăng đàn áp, bóc lột và thiết lập chính sách bế quan tỏa cảng, phản đối mọi cải cách dù nhỏ Chính sách này đã ngăn cản Việt Nam tiếp xúc và hội nhập với thế giới, đặc biệt là thị trường tư bản châu Âu, làm suy yếu khả năng cạnh tranh và phát triển của đất nước Hệ quả là Việt Nam không phát huy được tiềm năng về địa lý, tài nguyên và con người, từ đó thiếu đi lực lượng vật chất và tinh thần cần thiết để bảo vệ Tổ quốc chống lại âm mưu xâm lược của thực dân phương Tây Trách nhiệm của tình trạng này trước hết thuộc về các vua chúa nhà Nguyễn.
Từ năm 1858 đến cuối thế kỷ XIX, phong trào khởi nghĩa chống thực dân Pháp lan rộng mạnh mẽ khắp cả nước, nổi bật với các cuộc đấu tranh của Trương Định, Nguyễn Trung Trực ở Nam Bộ Các cuộc khởi nghĩa này thể hiện tinh thần yêu nước mãnh liệt và ý chí kiên cường của nhân dân trong cuộc đấu tranh giành độc lập Các anh hùng như Trần Tấn, Đặng Như Mai, Nguyễn Xuân đã góp phần làm nên phong trào chống Pháp sôi động và quyết liệt, góp phần hình thành tinh thần yêu nước và khát vọng độc lập cho dân tộc Việt Nam.
Quang Bích và các cuộc nổi dậy ở miền Bắc đều xuất phát từ lòng yêu nước nhiệt thành và chí căm thù giặc sục sôi, nhưng nhiều lần thất bại do thiếu một đường lối kháng chiến rõ ràng Lãnh đạo các cuộc khởi nghĩa này chủ yếu là các sĩ phu văn thân mang đậm tư tưởng phong kiến, còn nặng về tôn quân và chưa thực sự tin tưởng vào sức mạnh của nhân dân Điều này phản ánh rõ sự bất lực của hệ tư tưởng phong kiến trước các thử thách của thời đại và nhiệm vụ lịch sử cần đổi mới.
Vào đầu thế kỷ XX, sau khi tạm thời chấm dứt các cuộc đấu tranh vũ trang của nhân dân, thực dân Pháp bắt đầu cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất, dẫn đến sự biến chuyển và phân hóa trong xã hội Việt Nam Các tầng lớp tiểu tư sản và giai cấp tư bản tiềm năng bắt đầu xuất hiện, đồng thời phong trào yêu nước chuyển hướng sang khuynh hướng dân chủ tư sản với sự xuất hiện của các phong trào như Đông Du, Đông Kinh Nghĩa Thục, Duy Tân và Việt Nam Quang Phục Hội Tuy nhiên, các phong trào này chỉ tồn tại trong thời gian ngắn rồi bị dập tắt, một phần do chưa thu hút được lớp quần chúng rộng lớn, phần khác vì các phong trào đều do các sĩ phu phong kiến, cựu học truyền bá, dẫn dắt, làm giới hạn khả năng thành công Ảnh hưởng của tư tưởng tư sản qua các phong trào yêu nước của các sĩ phu phong kiến chuyển dần sang khuynh hướng tư sản rõ nét hơn ở Việt Nam đầu thế kỷ XX, tiêu biểu nhất là phong trào Đông Du của Phan Bội Châu, gắn liền với ảnh hưởng từ Nhật Bản.
Phong trào yêu nước sôi nổi nhất đầu thế kỷ 20 do hai cụ Phan: Phan Bội Châu và Phan Chu Trinh lãnh đạo, với mục tiêu giành độc lập dân tộc Phan Bội Châu chủ trương dùng phương pháp bạo động vũ trang để xây dựng nước độc lập theo chế độ cộng hòa đại nghị tư sản, đã phát động các phong trào như Đông Du (1906-1908) và Việt Nam Quang Phục Hội (1912) Trong khi đó, Phan Chu Trinh hướng tới chế độ đại nghị tư sản nhưng chọn phương pháp “Bất bạo động, bạo động tắc tử”, hoạt động nhằm khai dân trí, chấn dân khí và phát triển kinh tế hậu chiến, qua việc mở trường học chữ quốc ngữ, dạy khoa học thực dụng, bồi dưỡng tinh thần tự lực tự cường, nâng cao quyền lợi của nhân dân và thúc đẩy phát triển kinh tế như khai hoang, lập hội buôn, sản xuất hàng hóa.
Dưới tinh thần của Cụ, phong trào yêu nước sôi nổi đã lan rộng, như phong trào Duy Tân (1906-1908) và Đông Kinh Nghĩa Thục (1907), góp phần khai sáng và đổi mới xã hội Việt Nam thời phong kiến tăm tối Trong khi phong trào Cụ Phan Bội Châu thực hiện các hoạt động bạo động và bị thực dân Pháp đàn áp nghiêm khắc, thì phong trào ôn hòa, bất bạo động của Cụ Phan Chu Trinh lại gây khó chịu cho chính quyền thực dân, bởi chính sách “làm cho dân ngu để dễ trị” của chúng nhằm kềm chế sự tiến bộ của dân tộc Chính quyền phong kiến Việt Nam đã liên kết với thực dân Pháp bắt giữ Cụ Phan Chu Trinh tại Hà Nội ngày 31/3/1908 và đưa về Huế, thể hiện rõ ý đồ đàn áp phong trào yêu nước đòi tự do, độc lập của nhân dân Việt Nam.
Khi Nguyễn Tất Thành trưởng thành, phong trào cứu nước đầu thế kỷ gặp phải nhiều khó khăn nặng nề, như Trường Đông Kinh Nghĩa Thục bị đóng cửa vào tháng 12/1907, các cuộc biểu tình chống sưu thuế ở Huế và miền Trung bị đàn áp khốc liệt vào tháng 4/1908 Năm 1908 còn chứng kiến vụ Hà Thành đầu độc thất bại và bị thảm sát, căn cứ nghĩa quân Yên Thế bị bao vây và phá hủy vào tháng 1/1909 Phong trào Đông Du tan rã, Phan Bội Châu cùng các đồng chí bị trục xuất khỏi Nhật Bản vào tháng 2/1909 Các lãnh tụ phong trào Duy Tân Trung kỳ như Trần Quý Cáp, Nguyễn Hằng Chi bị xử tử, còn nhiều người khác như Phan Chu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng, Ngô Đức Kế, Đặng Nguyên Cẩn bị đày ra Côn Đảo, thể hiện giai đoạn vô cùng khó khăn của phong trào cách mạng Việt Nam thời đó.
Ngọn cờ cứu nước theo hệ tư tưởng phong kiến đã bị gãy gục dưới áp lực của thực dân Pháp, đồng thời, ngọn cờ của chủ nghĩa tư sản cũng bị đẩy lui bởi ách thống trị của thực dân Dù nhân dân ta đã anh dũng hy sinh máu đào để đấu tranh, những hy sinh đó chưa thể đưa đất nước đến độc lập, tự do như mong muốn Để đạt được thắng lợi, phong trào cứu nước cần phải đi theo một con đường mới, phù hợp với thời cuộc và yêu cầu của lịch sử.
Quê hương và gia đình của Chủ tịch Hồ Chí Minh
Hồ Chí Minh sinh ra trong một gia đình nhà nho yêu nước, thân thiện với nhân dân, với người cha là cụ Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc – một nhà nho cấp tiến có lòng yêu nước và thương dân sâu sắc Những tấm gương về lao động cần cù, ý chí kiên cường vượt qua khó khăn để đạt mục tiêu, cùng với tư tưởng thương dân và lấy dân làm hậu thuẫn trong các cải cách chính trị – xã hội của cụ Sắc đã ảnh hưởng sâu sắc đến nhân cách của Nguyễn Tất Thành Sau này, những giá trị này được Nguyễn Ái Quốc nâng lên thành tư tưởng cốt lõi trong đường lối chính trị của mình, phù hợp với xu hướng tư tưởng của thời đại.
Nghệ An, quê hương của Chủ tịch Hồ Chí Minh, là vùng đất giàu truyền thống yêu nước và chống ngoại xâm, góp phần hình thành tinh thần cách mạng của đất nước Nơi đây còn là quê hương của nhiều anh hùng dân tộc nổi bật như Mai Thúc Loan, Nguyễn Biểu và Đặng Dung, đã góp phần giữ gìn và phát huy truyền thống lịch sử hào hùng Ngoài ra, Nghệ An còn là nơi sinh ra các lãnh tụ yêu nước cận đại tiêu biểu như Phan Đình Phùng và Phan Bội Châu, cùng nhiều nhân vật xuất sắc khác của dân tộc Việt Nam, góp phần vào quá trình đấu tranh giải phóng dân tộc và xây dựng đất nước.
Kim Liên là mảnh đất thiêng liêng, nơi ghi dấu sự hy sinh anh dũng của các liệt sĩ chống Pháp như Vương Thúc Mậu, Nguyễn Sinh Quyến, cùng các thành viên trong gia đình Nguyễn Tất Thành đã tham gia hoạt động yêu nước, bị bắt giam và lưu đày hàng chục năm Những hy sinh này góp phần tạo nên truyền thống kiên cường, anh hùng của Nghệ Tĩnh – vùng đất vinh dự sinh ra vị anh hùng giải phóng dân tộc, nhà tư tưởng và nhà văn hóa kiệt xuất của Việt Nam.
Ngay từ nhỏ, Nguyễn Sinh Cung đã chứng kiến cuộc sống nghèo khổ, bị đàn áp và bóc lột của đồng bào trên quê hương, điều này đã khiến ông cảm thấy xót xa và mong muốn thay đổi Trong những năm ở Huế, Bác Hồ đã tận mắt thấy tội ác của thực dân và thái độ bạc nhược của quan lại Nam triều, điều này thôi thúc ông ra đi tìm đường cứu dân, cứu nước Tuy đã chuẩn bị kỹ lưỡng về mặt tư tưởng và ý chí, nhưng Nguyễn Tất Thành nhận thức rõ rằng thành công chỉ đến khi ông hòa nhập và đi theo các trào lưu mới của thời đại.
Bối cảnh thời đại
Nguyễn Ái Quốc gia nhập lĩnh vực chính trị vào thời kỳ chủ nghĩa tư bản chuyển đổi từ tự do cạnh tranh sang chủ nghĩa đế quốc Chủ nghĩa đế quốc, với sự thống trị toàn cầu, là hiện tượng quốc tế, diễn ra qua cuộc đấu tranh giành thuộc địa và liên minh để nô dịch các dân tộc nhỏ yếu trong hệ thống thuộc địa.
Cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc trong thế kỷ XX không chỉ là hành động riêng lẻ của các quốc gia chống lại sự xâm lược và thống trị của nước ngoài, mà đã trở thành phong trào chung của các dân tộc thuộc địa chống chủ nghĩa đế quốc và chủ nghĩa thực dân Sự nghiệp giải phóng này gắn liền chặt chẽ với cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản quốc tế, tạo thành một hành trình thống nhất nhằm xóa bỏ bất công và xây dựng bình đẳng, tự do cho các dân tộc bị áp bức.
Trong điều kiện lịch sử mới, mỗi thuộc địa là một mắt khâu của hệ thống đế quốc, điều này cho thấy rằng cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc của mỗi nước không thể thành công nếu chỉ thực hiện riêng rẽ Sự thất bại của các phong trào cứu nước cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX xuất phát từ việc nhân dân ta không thiếu anh hùng hay các lãnh tụ phong trào kém nhiệt huyết, mà do họ không nhận thức được đặc điểm của thời đại mới, vẫn theo đuổi các phương pháp đấu tranh cũ như tự mình nỗi dậy như Phan Đình Phùng.
Hoàng Hoa Thám; đấu tranh không thắng nổi thì đi cầu ngoại viện, như trường hợp của Phan Bội Châu và nhiều người khác.
502 Bad GatewayUnable to reach the origin service The service may be down or it may not be responding to traffic from cloudflared
502 Bad GatewayUnable to reach the origin service The service may be down or it may not be responding to traffic from cloudflared
502 Bad GatewayUnable to reach the origin service The service may be down or it may not be responding to traffic from cloudflared
Năm 1919, Nguyễn Ái Quốc gửi tới Hội nghị Hòa bình tại Vécxây Bản Yêu sách của nhân dân An Nam, đòi các quyền tự do và dân chủ tối thiểu cho Việt Nam Những yêu sách ôn hòa này đã bị từ chối, chứng minh rằng các dân tộc chỉ có thể dựa vào chính mình để giải phóng Qua sự kiện này, Nguyễn Ái Quốc rút ra bài học rằng để đạt được độc lập, các dân tộc cần dựa vào sức mạnh và ý chí chính mình.
Tuy nhiên, đến thời điểm đó, Nguyễn Ái Quốc vẫn chưa nhận thức rõ về vai trò của hai sự kiện lịch sử quan trọng là Cách mạng Tháng Mười và việc thành lập Quốc tế III trong quá trình giải phóng dân tộc và các dân tộc thuộc địa Những sự kiện này có tác động quyết định thúc đẩy ý thức cách mạng của ông, mở ra hướng đi đúng đắn cho phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc.
Cuộc cách mạng Nga nổ ra từ tháng 10/1917, nhưng tác động tránh xa ngay khỏi Thủ đô Paris do nỗi lo chiến tranh đè nặng lên nước Pháp Hơn nữa, giới báo chí tư sản đã đóng kín thông tin về biến cố này để ngăn chặn ảnh hưởng của cuộc cách mạng vô sản lớn nhất thế kỷ, gây ra sự bưng bít thông tin trong giới xã hội và truyền thông Pháp.
Vào tháng 3 năm 1919, V.I Lenin thành lập Quốc tế III, đánh dấu bước ngoặt quan trọng trong phong trào cộng sản quốc tế Sau đó, Nhà nước Xô Viết đã chiến thắng trong cuộc chiến tranh can thiệp do 14 nước đế quốc và bọn bạch vệ tiến hành, thể hiện sức mạnh của cách mạng tháng Mười Từ năm 1920, ảnh hưởng của cuộc cách mạng lan rộng ra châu Âu và toàn thế giới, tạo ra những biến chuyển lớn trong phong trào công nhân quốc tế Tuy nhiên, cuộc khủng hoảng trong phong trào công nhân châu Âu ngày càng sâu sắc, dẫn đến sự phân liệt rõ rệt trong nội bộ Đảng Dân chủ Xã hội - Quốc tế II, do sự khác biệt trong quan điểm về các vấn đề chiến tranh, cách mạng xã hội, chuyên chính vô sản, chủ nghĩa dân tộc và chủ nghĩa quốc tế, đặc biệt là vấn đề dân tộc và thuộc địa.
Nguyễn Ái Quốc là đảng viên tích cực hoạt động trong Đảng Xã hội Pháp và luôn sẵn sàng tham gia vào các cuộc tranh luận chính trị Để có thể tham gia đấu tranh hiệu quả, ông hiểu rõ tầm quan trọng của việc nghiên cứu và nắm vững lý luận cách mạng Vào tháng 7 năm 1920, báo L’ Humanité đăng tải nhiều bài viết thể hiện quan điểm cách mạng, góp phần thúc đẩy phong trào đấu tranh của Nguyễn Ái Quốc.
Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và thuộc địa của
V.I Lênin và các văn kiện khác chuẩn bị đưa ra Đại hội lần thứ II Quốc tế Cộng sản.
Nguyễn Ái Quốc đã nhận định rằng chủ nghĩa tư bản và đế quốc đều mang tính tàn bạo, độc ác và bất công ở mọi nơi Người lao động bị áp bức, bóc lột và đày đọa bất chấp màu da hay địa phương, chỉ chia thành hai loại người: người bóc lột và người bị bóc lột Trong bối cảnh đó, ông nhấn mạnh rằng tình hữu ái vô sản là mối quan hệ thật sự và duy nhất mang ý nghĩa đoàn kết, giúp chống lại sự bất công của chủ nghĩa tư bản và đế quốc.
Người đã chuyển đổi nhận thức từ quan hệ áp bức dân tộc sang nhận thức về quan hệ áp bức giai cấp, mở rộng quyền của các dân tộc thành quyền của con người, đặc biệt là người lao động Người xác định rõ kẻ thù là chủ nghĩa đế quốc, đồng thời nhận thức được nhân dân lao động cả trong chính quốc lẫn thuộc địa là những đồng minh chiến đấu.
Trước Đại hội Tua, Nguyễn Ái Quốc đã bắt đầu tiếp cận gần hơn với chân lý của Chủ nghĩa Mác - Lênin, suy nghĩ về những vấn đề mà Lênin đã đề cập, dù chưa rõ ràng và sáng tỏ Đến khi đọc Luận cương của Lênin, Người nhận thấy Lênin diễn đạt một cách đầy đủ và sâu sắc những ý tưởng mà mình đang ấp ủ, khiến Người cảm thấy vô cùng vui mừng và xúc động Chính Luận cương của Lênin đã giúp Nguyễn Ái Quốc tìm ra con đường chân chính cho sự nghiệp cứu nước và giải phóng dân tộc Đêm kết thúc Đại hội Tua ngày 30/12/1920 đánh dấu bước ngoặt quan trọng trong cuộc đời hoạt động cách mạng của Nguyễn Ái Quốc, chuyển từ chủ nghĩa yêu nước sang chủ nghĩa Mác - Lênin, mở ra con đường giải phóng dân tộc trong sự nghiệp giải phóng tất cả các dân tộc của thế giới Đây cũng là bước ngoặt mở ra làn sóng cách mạng mới của đất nước, bắt đầu quá trình chuyển đổi quan trọng cho thế hệ người Việt Nam từ người yêu nước thành người cộng sản.
Tóm lại, tư tưởng Hồ Chí Minh là sự gặp gỡ giữa trí tuệ lớn của Hồ
Chí Minh vận dụng trí tuệ của dân tộc và thế giới để hình thành tư tưởng, phản ánh sự phát triển của phong trào yêu nước Việt Nam cuối thế kỷ XIX đến những năm 1920, khi tiếp cận chủ nghĩa Mác - Lênin Tư tưởng Hồ Chí Minh được hình thành qua quá trình tiếp thu, vận dụng sáng tạo và phát triển những luận điểm mới dựa trên thực tiễn đất nước và dân tộc, góp phần làm phong phú thêm chủ nghĩa Mác - Lênin Bối cảnh lịch sử và điều kiện cụ thể đã tạo nền tảng cho sự ra đời của tư tưởng Hồ Chí Minh, phản ánh sự kết hợp giữa trí tuệ dân tộc và chính trị thời đại.
NGUỒN GỐC TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH
Tinh hoa văn hóa dân tộc
Việt Nam tự hào với nền văn hóa lâu đời, được hình thành và phát triển qua hàng nghìn năm lịch sử, giữ gìn bản sắc riêng độc đáo Văn hóa Việt Nam trở thành nguồn nuôi dưỡng tinh thần mạnh mẽ, góp phần giữ vững ý chí đoàn kết của dân tộc Chính nhờ nét đặc trưng văn hóa này, đất nước đã vượt qua mọi thử thách, chiến thắng âm mưu đồng hóa của các thế lực xâm lược.
Khi bước vào kỷ nguyên độc lập, ý thức và niềm tự hào về bản sắc văn hóa riêng của dân Đại Việt ngày càng phát triển mạnh mẽ Dưới thời vua Trần Nghệ Tông (1370-1388), tinh thần tự tôn dân tộc được thể hiện rõ nét qua các hoạt động văn hóa và quân sự, góp phần giữ vững nền độc lập của đất nước trước những thử thách của lịch sử.
1372) mới lên ngôi, triều thần có kẻ muốn thay đổi phép tắc, chế độ, vua nói:
Trong thời triều trước, nước ta xây dựng luật pháp và chế độ riêng, không theo quy chế của nhà Tống, phản ánh tinh thần độc lập khi mỗi miền Nam, Bắc giữ quyền tự chủ quốc gia Nhà vua đã lên án những người dự định thay đổi phong tục truyền thống của tổ tông để theo tục lệ phương Bắc về trang phục và âm nhạc Trong thời Lê Mạc, Lê Quýnh bỏ nước chạy theo Lê Chiêu Thống sang Tàu, nhưng bị buộc phải “gióc tóc, đổi áo” theo phong cách Tàu dưới sự ép buộc của Phúc Khang An và nhà Thanh Dẫu đứng trước áp lực đó, Lê Quýnh vẫn kiên cường khẳng định: “Đầu ta có thể chặt được, chứ tóc không thể gióc được; da ta có thể lột được, chứ áo ta không thể đổi.”
Văn hóa Việt Nam đặc trưng bởi nền tảng nhân nghĩa, như Nguyễn Trãi đã nhấn mạnh: “Phàm mưu việc lớn phải lấy nhân nghĩa làm gốc,” cho thấy sự coi trọng đạo đức và nhân ái trong các giá trị cốt lõi của dân tộc Chính vì thế, trong tư duy và hành xử, người Việt luôn đặt nhân nghĩa lên hàng đầu, hướng đến xây dựng cộng đồng đoàn kết, thực hiện những việc lớn dựa trên nền tảng đạo đức và nghĩa tình.
Trừ độc, trừ tham, trừ bạo ngược
Trong nền văn hóa Việt Nam, nhân, trí, anh hùng là những giá trị cốt lõi thể hiện đạo lý làm người và trách nhiệm đối với gia đình, làng nước, Tổ quốc Văn hóa truyền thống đề cao nhân nghĩa, đạo đức của những người “ưu quốc, ái dân”, luôn quan tâm vun đắp cho vận mệnh chung của đất nước và cộng đồng Những chuẩn mực này nhấn mạnh rằng nhân cách của con người không chỉ thể hiện ở phẩm chất cá nhân mà còn ở trách nhiệm với cộng đồng và lòng biết ơn, giữ vững cội nguồn đất tổ.
Dù ai đi ngược về xuôi Nhớ về giỗ Tổ, mồng mười tháng ba.
Người Việt hướng về cội nguồn qua truyền thống tôn thờ tổ tiên, biết ơn người đã khuất, coi trọng mộ phần và gắn bó với quê hương đất tổ, thể hiện nền văn hóa tình nghĩa “đền ơn đáp nghĩa” và “ăn quả nhớ kẻ trồng cây” Nền văn hóa này đề cao dân, lấy dân làm gốc, hình thành trên nền nông nghiệp lúa nước, đòi hỏi sự cân đối giữa các yếu tố như nước, phân bón, giống cây, thời vụ và khí hậu Chính nếp canh tác này đã hình thành tư duy hài hòa của người Việt, luôn hướng tới các mối quan hệ hài hòa giữa con người, thiên nhiên và cộng đồng xã hội.
Trong sản xuất nông nghiệp, vai trò của phụ nữ không hề thua kém đàn ông, và quyền bình đẳng giới được tôn trọng mạnh mẽ Các dân tộc sống du mục hay săn bắn thường có nền văn hóa khác biệt, nhưng tại đây, phụ nữ đóng vai trò quan trọng trong các hoạt động nông nghiệp Tục thờ cúng Bốn Vị Thánh Mẫu thể hiện sự kính trọng và ghi nhận công lao của những người phụ nữ xuất sắc đã góp phần to lớn vào sự dựng nước và giữ nước của dân tộc Những nhân vật tiêu biểu như bà Trưng, bà Triệu, Dương Văn Nga, và Ỷ được nhớ đến với lòng kính trọng sâu sắc, thể hiện vai trò quan trọng của phụ nữ trong lịch sử và văn hóa Việt Nam.
Lan phu nhân, nữ tướng Bùi Thị Xuân, đã phản ánh truyền thống nữ quyền trong lịch sử Việt Nam Các bộ luật phong kiến như Hình thư của triều Lý, Quốc triều hình luật của triều Trần và Hồng Đức của triều Lê đều nhấn mạnh quyền bình đẳng của phụ nữ, bao gồm quyền ly hôn, quyền thừa kế tài sản và quyền nhận con nuôi khi không có con Những quy định này công nhận vai trò và công lao của người phụ nữ trong gia đình và xã hội, thể hiện tinh thần bình đẳng giới trong lịch sử pháp luật Việt Nam.
Trong thời kỳ Lý - Trần, nền chính trị thể hiện rõ tinh thần trọng dân và thân dân, phản ánh ảnh hưởng của tư tưởng "dân vi quý" và đạo lý “từ bi hỉ xả” của Nho giáo đầu đời Các vua Lý - Trần thường xuyên nhấn mạnh vai trò của dân trong chính sách và các quyết định quốc gia, coi dân là cối nguồn của sự thành công và ổn định đất nước Khi đưa ra các quyết định lớn liên quan đến quốc gia, các vua thường lắng nghe và tham khảo ý kiến của nhân dân để đảm bảo lợi ích chung, thể hiện ý thức tôn trọng và đặt dân làm trung tâm của chính quyền.
Lý Thái Tổ đã dời đô năm 1000 và Trần Nhân Tông tổ chức Hội nghị Diên Hồng năm 1285 để lấy ý kiến của các bô lão, thể hiện sự tôn trọng ý kiến của dân chứ không chỉ của các lãnh đạo điền trang, thái ấp Các vua nhà Lý đặc biệt coi trọng quyền tố cáo và khiếu nại của người dân, khi mới lên ngôi, Lý Thái Tổ đã ra sắc lệnh cho phép dân tố cáo oan ức và vua trực tiếp xét xử Trong các năm 1029, 1033, và 1052, các vua Lý đều cho đúc chuông và tự mình thẩm quyết các vụ việc, thể hiện sự quan tâm đến quyền lợi của nhân dân và sự công bằng trong triều đình.
Lý Nhân Tông ban chiếu cầu những “lời nói thẳng”, mong muốn nghe những lời tấu bày trung thực để hiểu rõ nguyện vọng của muôn dân Trong cộng đồng làng Việt Nam, các chức sắc như Hội đồng tộc biểu và giáp biểu do dân cử ra theo nguyên tắc tranh cử quyết liệt giữa các họ tộc, phe giáp nhằm quản lý các mối quan hệ xã hội Ngoài pháp luật của nhà nước, chế độ phong kiến còn cho phép các làng lập ra khoán lệ và hương ước như luật tục để tự quản lý, mọi người dân đều coi đó là chuẩn mực bắt buộc tuân theo, tạo nên một hệ thống quản trị đặc biệt, khác xa chế độ chuyên chế quân chủ Hương ước, dù nhằm giữ gìn trật tự xã hội và phát triển đất nước, nhưng có thể làm giảm hiệu lực cai trị của vua quan, gây ra các hiện tượng tự trị vượt quá quyền lực trung ương.
"Phép vua thua lệ làng" nhấn mạnh vai trò của tinh thần dân chủ, tôn trọng ý kiến của nhân dân và quyền tự quản của cộng đồng Nếu nhà nước tập quyền thiếu đi sự gần gũi và phản ánh ý chí của dân, thì sẽ gặp khó khăn trong việc duy trì trật tự và sự đoàn kết Chính vì vậy, việc duy trì mối quan hệ hài hòa giữa nhà nước và cộng đồng là yếu tố thiết yếu để đảm bảo sự phát triển bền vững của xã hội.
Văn hóa Việt Nam nổi bật với tinh thần khoan dung, hòa mục và hòa đồng, thể hiện qua phương châm “hòa nhi bất đồng” Được hình thành dựa trên cơ sở văn hóa Đông Nam Á, văn hóa Việt còn là sự kết tinh của hơn 50 dân tộc anh em, chia sẻ những giá trị nguyên thủy như câu chuyện về cái bọc trăm trứng hay quả bầu nở ra trăm người con, tượng trưng cho sức mạnh đoàn kết và sự đồng lòng của dân tộc Việt từ ngày đầu thành lập đất nước.
Trong quá trình giao lưu văn hóa khu vực, Việt Nam không ngừng tiếp thu và làm giàu văn hóa Trung Hoa, Ấn Độ, và sau này là phương Tây Nhờ sức sống mạnh mẽ và sự chăm sóc giữ gìn bản sắc độc đáo, bản sắc văn hóa Việt Nam không bị phai nhạt mà ngày càng đậm nét hơn Chính điều này giúp Việt Nam trở thành một trong hơn 30 quốc gia giữ được nét văn hóa truyền thống đặc trưng trong kho tàng văn hóa nhân loại.
Nhờ tư duy khoan dung, hòa nhập, không hẹp hòi và kỳ thị, văn hóa Việt Nam đã liên tục tiếp nhận và Việt hóa các giá trị văn hóa từ bên ngoài để phát triển thành một nền văn hóa phong phú, đa dạng và độc đáo Tư duy này giúp các yếu tố như Nho, Phật, Lão cùng tồn tại, bổ sung lẫn nhau, góp phần vào sự ổn định xã hội của đất nước Nho giáo phù hợp với mục tiêu an dân, trị quốc; Phật giáo đáp ứng nhu cầu tâm linh và giúp con người thoát khỏi tham sân si, hướng tới tâm trong sáng; Lão tử đưa con người trở về với thiên nhiên, giữ vững sự hòa hợp trong cuộc sống, thoát khỏi mọi ràng buộc của danh lợi Nhờ tư duy trung hòa này, người Việt Nam biết kết hợp giữa cá nhân, xã hội và thiên nhiên để hành xử hài hòa Chính tư duy này góp phần giữ gìn nền hòa bình, giúp Việt Nam chưa từng xảy ra các cuộc chiến tranh sắc tộc hay tôn giáo kể từ cổ đại đến nay.
Tinh hoa văn hóa nhân loại
Tư tưởng phương Đông, đặc biệt là hệ tư tưởng của tam giáo: Phật, Nho, Lão, có ảnh hưởng sâu sắc đến văn hóa Việt Nam từ thế kỷ XIX trở về trước Các học thuyết và tôn giáo này được du nhập vào Việt Nam đã phản ánh qua chủ nghĩa yêu nước truyền thống, qua đó cha ông ta đã gạn lọc, cải biến và tiếp nhận những yếu tố tích cực để phục vụ sự nghiệp dựng nước và giữ nước Hồ Chí Minh kế thừa tinh thần đó, dù là một nhà cách mạng hiện đại và duy vật Mác - Lênin, nhưng vẫn duy trì mối liên hệ với truyền thống, chủ trương lấy yếu tố phù hợp, bỏ hệ thống cồng kềnh, tiếp thu có phê phán và đổi mới sáng tạo để phục vụ cách mạng hiện đại.
2.1 Tư tưởng và văn hóa phương Đông
Nho giáo đã xâm nhập vào Việt Nam từ thế kỷ II trước Công nguyên, chủ yếu qua con đường quan lại và nho sĩ Trung Quốc, cùng với sự di cư của binh lính, nông dân và thương gia Trung Quốc định cư và Việt hóa Một dòng Nho giáo tồn tại trong giao tiếp hàng ngày, trở thành phong tục tập quán dân gian, trong khi dòng khác chỉ xuất hiện trong các văn bản kinh điển, tạo thành hai dạng Nho giáo không hoàn toàn đồng nhất trong thực tế.
Nho giáo là một hệ thống tư tưởng phong phú, chứa đựng những yếu tố tích cực như triết lý hành động, tư tưởng nhập thế và hành đạo giúp đời, góp phần xây dựng xã hội bình trị, an ninh và hòa mục Radó ý tưởng về một "thế giới đại đồng" phản ánh ước vọng về một xã hội ổn định và hòa bình, đồng thời nhấn mạnh triết lý nhân sinh: tu thân dưỡng tính, bắt đầu từ nhà vua đến thứ dân, xem việc tự hoàn thiện bản thân là nền tảng của mọi xã hội Tuy nhiên, Nho giáo cũng chứa đựng những yếu tố duy tâm, lạc hậu, phản động như tư tưởng đẳng cấp, khinh lao động chân tay và phụ nữ, cùng thái độ khinh thường thực nghiệm, danh lợi, mà Hồ Chí Minh đã từng phê phán và bác bỏ Tuy còn nhiều hạn chế, nhưng Nho giáo vẫn duy trì sức sống mạnh mẽ nhờ các yếu tố tích cực này qua hàng nghìn năm lịch sử.
Nho giáo có mặt tích cực nổi bật là đề cao văn hóa và lễ giáo, góp phần xây dựng truyền thống hiếu học trong cộng đồng So với các học thuyết cổ đại, Nho giáo vượt trội bởi thúc đẩy nhân cách và tri thức qua giáo dục, trong khi nhiều học thuyết khác chủ trương ngu dân để dễ cai trị.
Hồ Chí Minh đã khai thác Nho giáo, lựa chọn những yếu tố tích cực phù hợp để phục vụ cho nhiệm vụ cách mạng, như câu nói của Ngườı tại Hội nghị huấn luyện toàn quốc tháng 5/1950: “Khẩu hiệu ‘Học không biết chán, dạy không biết mỏi’ của Khổng Tử” Mặc dù Khổng Tử mang đậm tính phong kiến và trong học thuyết có nhiều điều không đúng, nhưng những giá trị tích cực trong đó vẫn đáng để học hỏi Hồ Chí Minh còn dẫn lời của Lenin rằng: “Chỉ có những người cách mạng chân chính mới thu hái được những điều hiểu biết quý báu của các thời đại để lại”, thể hiện sự trân trọng và vận dụng linh hoạt các giá trị nền tảng để phục vụ cho sự nghiệp cách mạng.
Phật giáo đã vào Việt Nam từ rất sớm và vẫn có ảnh hưởng mạnh mẽ trong đời sống nhân dân ngay cả khi Nho giáo trở thành quốc giáo, để lại dấu ấn sâu đậm trong văn hóa Việt Nam, từ tư tưởng, tín ngưỡng đến phong tục tập quán và lối sống Ảnh hưởng của Phật giáo còn thể hiện rõ qua vai trò của nó trong việc hình thành những giá trị đạo đức, cách ứng xử và suy nghĩ của người Việt Mặc dù là tôn giáo có thể mang lại những mặt tiêu cực, nhưng những nét tích cực của Phật giáo đã góp phần định hình tư duy tích cực, hành động nhân ái của người Việt Nam Trong đó, ảnh hưởng của Phật giáo thể hiện rõ trong những đặc trưng văn hóa đặc trưng của Việt Nam, góp phần xây dựng nền tảng tinh thần bền vững cho cộng đồng.
Tư tưởng vị tha, từ bi, bác ái luôn là nền tảng của lòng nhân Ái, thể hiện qua việc cứu khổ, cứu nạn và thương yêu mọi người như chính bản thân mình Tình yêu bao la này không chỉ dành cho con người mà còn lan tỏa đến chim muông, cây cỏ, thể hiện sự trân quý sự sống và hướng về điều thiện trong cuộc sống hàng ngày.
Thứ hai, là nếp sống có đạo đức, trong sạch, giản dị, chăm lo làm điều thiện.
Thứ ba thể hiện tinh thần bình đẳng và dân chủ chân chính, đấu tranh chống lại mọi hình thức phân biệt đẳng cấp trong xã hội Đức Phật nhấn mạnh rằng “Ta đã trở thành Phật, còn chúng sinh vẫn đang trên hành trình thành Phật,” khơi dậy ý chí bình đẳng giữa các chúng sinh và khẳng định giá trị của mọi người trong con đường giải thoát.
Thứ tư, là Phật giáo Thiền tông đề ra luật “chấp tác”: “nhất nhật bất tác, nhất nhật bất thực”, đề cao lao động, chống lười biếng.
Phật giáo đã vào Việt Nam và kết hợp cùng tinh thần yêu nước, truyền thống đấu tranh chống ngoại xâm của dân tộc ta, hình thành nên Thiền phái Trúc lâm Việt Nam Thiền phái này chủ trương sống gần gũi với nhân dân và đất nước, tham gia tích cực vào cộng đồng và các phong trào đấu tranh chống kẻ thù dân tộc.
Phật giáo Việt Nam đã có những ảnh hưởng tích cực và ngày càng đi sâu vào đời sống tinh thần của dân tộc và nhân dân lao động Gia đình Chủ tịch Hồ Chí Minh là gia đình nhà nho nghèo, gắn bó gần gũi với nông dân, qua đó cũng thấm nhuần tinh thần Phật giáo và để lại dấu ấn sâu đậm trong tư tưởng của Người.
Hồ Chí Minh thường xuyên trích dẫn các nhà tư tưởng phương Đông như Lão Tử, Mặc Tử, Quản Tử để thể hiện giá trị của tư tưởng truyền thống trong các bài nói và bài viết của mình Sau này, khi trở thành người theo chủ nghĩa Mác, Nguyễn Ái Quốc vẫn dành thời gian tìm hiểu về Chủ nghĩa Tam dân của Tôn Trung Sơn và nhận thấy những yếu tố phù hợp với điều kiện đất nước Việt Nam Với tư duy tỉnh táo và sáng suốt của một người mác xít, Hồ Chí Minh đã khai thác những giá trị tích cực của tư tưởng và văn hóa phương Đông để phục vụ cho sự nghiệp cách mạng của dân tộc.
2.2 Tư tưởng và văn hóa phương Tây
Trong hơn ba mươi năm hoạt động cách mạng tại nước ngoài, Hồ Chí Minh đã sống chủ yếu ở châu Âu, tiếp xúc sâu rộng với nền văn hóa dân chủ và phong trào cách mạng phương Tây Những trải nghiệm và ảnh hưởng từ nền văn hóa này đã góp phần hình thành tư duy và phong cách hoạt động của Người trong công cuộc giải phóng dân tộc Ngay từ khi còn học tập tại nước ngoài, Hồ Chí Minh đã tiếp nhận và thấm nhuần các giá trị tiến bộ của phương Tây, từ đó phát triển tư duy cách mạng phù hợp với hoàn cảnh Việt Nam Những ảnh hưởng này đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành tư tưởng, chiến lược đấu tranh của Người trong sự nghiệp giải phóng đất nước.
Nguyễn Tất Thành, sau khi học tại Trường Tiểu học Đông Ba và tiếp tục học tại Trường Quốc học Huế, đã tiếp xúc với văn hóa Pháp, mở rộng kiến thức và tầm hiểu biết của bản thân Đặc biệt, ông rất đam mê môn lịch sử và luôn mong muốn tìm hiểu sâu về Cuộc Cách mạng Pháp năm 1789, một sự kiện quan trọng trong lịch sử thế giới.
Người đã từng du hành sang Mỹ và sinh sống tại New York, nơi Người làm thuê tại Brooklyn Trong các chuyến đi, Người thường xuyên thăm khu Harlem của người da đen, thể hiện sự quan tâm đến cuộc sống và quyền lợi của cộng đồng này Các bài viết sau này của Người nhấn mạnh ý chí đấu tranh cho tự do và độc lập, phản ánh quyền sống của con người và được ghi nhận trong Tuyên ngôn độc lập 1776 của Hoa Kỳ.
Vào đầu năm 1913, Người sang Anh để tham gia vào cuộc đấu tranh giành độc lập của nhân dân Airơlen Tại Anh, Người bắt đầu bước chân vào hoạt động chính trị, gia nhập công đoàn thủy thủ và cùng giai cấp công nhân Anh tổ chức các cuộc biểu tình, đình công trên bờ sông Thêmdơ.
Những nhân tố chủ quan thuộc về phẩm chất cá nhân của Nguyễn Ái Quốc
Nguyễn Ái Quốc nổi bật với những phẩm chất cá nhân chủ quan, như khả năng nhận thức về những quy luật tự nhiên mà ít người nhận ra, ví dụ như ông là người duy nhất phát hiện ra định luật hấp dẫn của Newton khi mọi người chỉ chú ý vào quả táo rơi Trong bối cảnh chính trị, chỉ có Nguyễn Ái Quốc là đảng viên Đảng Xã hội Pháp người Việt Nam và người thuộc địa hiểu sâu sắc Luận cương của Lenin, thể hiện phẩm chất tư duy sắc bén và tinh thần cách mạng Những yếu tố này góp phần làm nên tư duy độc lập, tầm nhìn chiến lược của Nguyễn Ái Quốc trong cuộc đấu tranh vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.
Quốc tìm thấy trong đó con đường chân chính cho sự nghiệp cứu nước và giải phóng các dân tộc thuộc địa.
Những nhân tố nào đã giúp cho Người tìm đường gặp gỡ người dẫn đường trong cùng một phương hướng suy nghĩ?
Trước hết, đó là khả năng tư duy và trí tuệ Hồ Chí Minh
Hồ Chí Minh đã không ngừng quan sát và nhận xét thực tiễn trong những năm tháng hoạt động trong nước cũng như khi bôn ba khắp thế giới để học tập và nghiên cứu Những trải nghiệm này đã giúp ông phong phú thêm kiến thức của mình và hình thành những nền tảng quan trọng cho các thành công sau này trong lĩnh vực hoạt động lý luận.
Các nhà yêu nước tiền bối cùng thời với Hồ Chí Minh đã có những quan sát về dân tộc, nhưng chưa nhận thức đầy đủ về sự thay đổi của thời đại Trong quá trình tìm đường cứu nước, Hồ Chí Minh khám phá các quy luật vận động xã hội, đời sống văn hóa và cuộc đấu tranh của các dân tộc, tổng hợp thành lý luận để chỉ đạo hoạt động thực tiễn Nhờ vào con đường nhận thức chân lý này, lý luận của Hồ Chí Minh mang tính khách quan, cách mạng và khoa học, có giá trị thực tiễn sâu sắc.
Thứ hai, đó là phẩm chất đạo đức và năng lực hoạt động thực tiễn
Mục tiêu đấu tranh giải phóng dân tộc xuyên suốt thời kỳ Hồ Chí Minh hoạt động, thể hiện rõ tầm nhìn chiến lược và ý chí kiên cường Sự tác động mạnh mẽ của thời đại và những biến động toàn cầu đã làm nổi bật vai trò của Hồ Chí Minh trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc Nhận thức đúng đắn về thời đại đã giúp Hồ Chí Minh thúc đẩy các hoạt động cách mạng phù hợp, góp phần nâng cao hiệu quả đấu tranh cho tự do, độc lập của dân tộc và tiến bộ nhân loại.
Có được điều đó là nhờ vào nhân cách, phẩm chất và tài năng trí tuệ siêu việt của Hồ Chí Minh.
Phẩm chất và tài năng thể hiện rõ nét qua tư duy độc lập, tự chủ và sáng tạo Bên cạnh đó, khả năng phê phán tinh tế, sáng suốt trong việc nhận xét và đánh giá các sự vật, sự việc xung quanh là những yếu tố then chốt giúp phát huy tối đa năng lực của mỗi người.
Phẩm chất và tài năng của Hồ Chí Minh thể hiện qua bản lĩnh kiên định, luôn tin tưởng vào nhân dân, khiêm tốn và bình dị Ông ham học hỏi, nhạy bén với cái mới, có phương pháp biện chứng và tư duy thực tiễn sắc bén Chính nhờ những đặc điểm này, Hồ Chí Minh đã khám phá ra lý luận cách mạng thuộc địa trong thời đại mới, xây dựng hệ thống quan điểm lý luận toàn diện, sâu sắc và sáng tạo về cách mạng Việt Nam Ông kiên trì giữ vững chân lý, đề ra các quyết sách đúng đắn, sáng suốt để đưa phong trào cách mạng đến thắng lợi.
Hồ Chí Minh thể hiện phẩm chất cá nhân qua sự khổ công học tập để chinh phục đỉnh cao tri thức nhân loại, là biểu tượng của một nhà yêu nước chân chính, chiến sĩ cộng sản nhiệt huyết và tâm hồn yêu nước thương dân Ông luôn sẵn sàng chịu đựng hy sinh vì độc lập tự do của Tổ quốc, vì hạnh phúc của đồng bào.