1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Tiểu luận cao học nguồn gốc hình thành tư tưởng hồ chí minh về đại đoàn kết

24 9 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tiểu luận cao học nguồn gốc hình thành tư tưởng hồ chí minh về đại đoàn kết
Người hướng dẫn PTS. Nguyễn Văn A
Trường học Trường Đại học Quốc gia Hà Nội
Chuyên ngành Triết học, Lịch sử, Chính trị học
Thể loại Tiểu luận cao học
Năm xuất bản 2024
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 24
Dung lượng 34,65 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

A. PHẦN MỞ ĐẦU I. Lý do chọn đề tài: Hiện nay, việc nghiên cứu Tư tưởng Hồ Chí Minh đã và đang được đặt ra một cách nghiêm túc. Trên cơ sở tìm hiểu là khoa học và chính xác nhằm tìm hiểu rõ giá trị tư tưởng của Người về nguồn gốc hình thành tư tưởng đại đoàn kết. Với ý nghĩa đó, trong phạm vi nghiên cứu tiểu luận này nhằm xác định rõ những nguồn gốc, từ yếu tố khách quan đến yếu tố chủ quan của Hồ Chí Minh. Làm rõ vai trò, ý nghĩa của các nhân tố đó ảnh hưởng tới thế giới quan và nhân sinh quan của Hồ Chí Minh. Để từ đó Hồ Chí Minh nhận thức và phát triển, sáng tạo và xây dựng tư tưởng đại đoàn kết trong toàn dân. Nghiên cứu tìm hiểu nguồn gốc tư tưởng đại đoàn kết Hồ Chí Minh là một nội dung rất quan trọng, đặt nền tảng cho việc tìm hiểu những giá trị ẩn chứa trong tư tưởng của Người. II. Mục đích nghiên cứu: Đề tài nghiên cứu tìm nguồn gốc hình thành tư tưởng đại đoàn kết Hồ Chí Minh nghĩa là xác định những yếu tố cơ bản nhất, có tác động tới quá trình hình thành tư tưởng của Người. Từ đó liên hệ đến ngày nay để thấy rõ giá trị tư tưởng Hồ Chí Minh trong thời đại mới còn mang đầy hơi thở và sức sống cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay. III. Phạm vi nghiên cứu: Nghiên cứu nguồn gốc hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết. IV. Phương pháp nghiên cứu: Vận dụng phương pháp nghiên cứu tổng hợp mang tính chất liên ngành, trong đó chủ yếu là phương pháp lịch sử và phương pháp lôgic, kết hợp với các phương pháp khác như: Phương pháp thống kê, phương pháp so sánh, phân tích tổng hợp, đối chiếu… V. Lịch sử vấn đề nghiên cứu: Hiện nay đã có nhiều đề tài khoa học nghiên cứu Tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc, dưới góc độ tiểu luận này, nội dung chủ yếu là tìm hiểu để thấy rõ vai trò của tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc. VI. Kết cấu đề tài:

Trang 1

A PHẦN MỞ ĐẦU

I Lý do chọn đề tài:

Hiện nay, việc nghiên cứu Tư tưởng Hồ Chí Minh đã và đang được đặt ramột cách nghiêm túc Trên cơ sở tìm hiểu là khoa học và chính xác nhằm tìmhiểu rõ giá trị tư tưởng của Người về nguồn gốc hình thành tư tưởng đại đoànkết

Với ý nghĩa đó, trong phạm vi nghiên cứu tiểu luận này nhằm xác định

rõ những nguồn gốc, từ yếu tố khách quan đến yếu tố chủ quan của Hồ ChíMinh Làm rõ vai trò, ý nghĩa của các nhân tố đó ảnh hưởng tới thế giới quan

và nhân sinh quan của Hồ Chí Minh Để từ đó Hồ Chí Minh nhận thức và pháttriển, sáng tạo và xây dựng tư tưởng đại đoàn kết trong toàn dân Nghiên cứutìm hiểu nguồn gốc tư tưởng đại đoàn kết Hồ Chí Minh là một nội dung rấtquan trọng, đặt nền tảng cho việc tìm hiểu những giá trị ẩn chứa trong tư tưởngcủa Người

II Mục đích nghiên cứu:

Đề tài nghiên cứu tìm nguồn gốc hình thành tư tưởng đại đoàn kết HồChí Minh nghĩa là xác định những yếu tố cơ bản nhất, có tác động tới quá trìnhhình thành tư tưởng của Người Từ đó liên hệ đến ngày nay để thấy rõ giá trị tưtưởng Hồ Chí Minh trong thời đại mới còn mang đầy hơi thở và sức sống cho

sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay

III Phạm vi nghiên cứu:

Nghiên cứu nguồn gốc hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết

IV Phương pháp nghiên cứu:

Vận dụng phương pháp nghiên cứu tổng hợp mang tính chất liên ngành,trong đó chủ yếu là phương pháp lịch sử và phương pháp lôgic, kết hợp với cácphương pháp khác như: Phương pháp thống kê, phương pháp so sánh, phân tíchtổng hợp, đối chiếu…

V Lịch sử vấn đề nghiên cứu:

Trang 2

Hiện nay đã có nhiều đề tài khoa học nghiên cứu Tư tưởng Hồ Chí Minh

về đại đoàn kết dân tộc, dưới góc độ tiểu luận này, nội dung chủ yếu là tìm hiểu

để thấy rõ vai trò của tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc

VI Kết cấu đề tài:

Đề tài ngoài phần Mở đầu, phần Kết luận và Danh mục tài liệu thamkhảo, đề tài gồm 3 phần với kết cấu như sau:

B PHẦN NỘI DUNG

PHẦN I:

VỀ MẶT LÝ LUẬN, TƯ TƯỞNG ĐẠI ĐOÀN KẾT HỒ CHÍ MINH ĐƯỢC XÂY DỰNG TRÊN CƠ SỞ KẾ THỪA, PHÁT TRIỂN NHỮNG GIÁ TRỊ NHÂN VĂN CỦA TRUYỀN THỐNG DÂN TỘC VỀ VĂN HOÁ NHÂN LOẠI, ĐẶC BIỆT LÀ NHỮNG NGUYÊN LÝ CƠ BẢN CỦA CHỦ NGHĨA MÁC-LÊNIN.

I Nguồn gốc hình thành tư tưởng đại đoàn kết của Hồ Chí Minh là kết tinh truyền thống yêu nước, tinh thần nhân ái của dân tộc.

Truyền thống yêu nước đoàn kết, nhân nghĩa của cộng đồng dân tộc, làkinh nghiệm, tư tưởng tập hợp lược lượng dân tộc để cứu nước, dựng nước củacác thế hệ yêu nước, cách mạng tiền bối

Việt Nam là một dải đất hẹp, nằm trọn trong vành đai nhiệt đới gió mùa,điều kiện thiên nhiên thuận lợi, những cư dân người Việt từ xa xưa đã đượcthừa hưởng sự ưu đãi của đất trời tuy nhiên cũng phải đối mặt với những thửthách của thiên tai, địch hoạ Lịch sử dựng nước và giữ nước diễn ra trên mảnhđất này là sự nối tiếp hàng ngàn năm với biết bao những cuộc đấu tranh khôngmiệt mỏi chống hạn hán thiên tai, chống chiến tranh xâm lược từ bên ngoài.Chính trong cuộc đấu tranh trường kỳ đó đã sớm nảy sinh và định hình ý thứccộng đồng, ý thức tập thể, và cao hơn nữa là ý thức dân tộc ý thức này đã thấmvào máu thịt của con người Việt Nam và được trao truyền từ thế hệ này sangthế hệ khác, để tạo thành truyền thống đoàn kết nhân nghĩa, trên nền tảng củachủ nghĩa yêu nước

Trang 3

Trong văn học dân gian tinh thần đó đã được nhân dân đúc kết thànhnhững câu ca dao, tục ngữ đã trở thành một triết lý nhân sinh, trở thành phépứng xử và tư duy chính trị, ví dụ:

“Một cây làm chẳng nên non

Ba cây chụm lại nên hòn núi cao”

Hay như là:

“Nhà – Làng - Nước thống nhất,Chèo thuyền là dân, lật thuyền cũng là dân”

Những giá trị nhân bản sâu sắc và quý giá ấy không chỉ được phản ánhtrong kho tàng văn học trong dân gian Việt Nam mà còn được những người anhhùng dân tộc như: Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, Nguyễn Trãi, Quang Trung…đãđúc kết và nâng lên thành kinh nghiệm, bài học dung trong phép trị nước vàđánh giặc như “Khoan thư sức dân làm kế gốc sâu dễ bền”, “Trên dưới đồnglòng cả nước chung sức”, “Tướng sỹ một lòng phụ tử, hoà nước sống chénrượu ngọt ngào”…

Mảnh đất Nghệ An - Nơi sinh ta Hồ Chủ Tịch là một miền quê nhiều đauthương bất khuất ở đó cũng hội tụ và kết tinh một cách điển hình truyền thốngyêu nước, đoàn kết, nhân nghĩa và dân tộc Người sinh ra trong một gia đìnhnhà nho nghèo, yêu nước, và điều kiện quan hệ qua lại với các nhà yêu nước vànhân dân địa phương Hồ Chí Minh sớm tiếp thu được những giá trị của truyềnthống yêu nước, đoàn kết, nhân nghĩa, của dân tộc Điều này giúp cho Ngườisớm có những khái quát và đánh giá những truyền thống này: “Từ xưa đến nay,mỗI khi Tổ quốc bị xâm lăng thì tinh thần ấy lại sôi nổi, nó kết thành làn sóng

vô cùng mạnh mẽ, to lớn, nó lướt qua mọi nguy hiển, khó khăn, nó nhấn chìmtất cả lũ bán nước và cướp nước”

Chỉ cần suy ngẫm lời tổng kết cô động và sâu sắc này cũng có thể hiểuđược Hồ Chí Minh và đã thấu triệt đến mức nào giá trị truyền thống đó của dântộc Thật hiển nhiên chính truyền thống đạo lý đó là cơ sở bắt nguồn quan trọng

Trang 4

để Hồ Chí Minh kế thừa và phát triển và xây dựng tư tưởng đại đoàn kết, chiếnlược đại đoàn kết.

Trong cuộc đấu tranh chống thực dân Pháp xâm lược và các thế lực phongkiến phản động tay sai, một số nhà yêu nước tiền bối đã đề xuất tư tưởng cứunước, tiêu biểu là Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh, đối với người hai cụ Phan lànhững bậc tiền bối đáng kính và những tư tưởng cứu nước, tư tưởng tập hợp dântộc, lực lượng quốc tế có ảnh hưởng lớn đến quá trình tìm đường cứu nước và xâydựng đường lối cứu nước

Đóng góp tích cực của hại cụ Phan là ở chổ, sau thất bại của phong tràoCần Vương cuối thế kỷ XIX, phong trào yêu nước chống Pháp của nhân dân talâm vào những khủng hoảng và bế tắc lớn, vấn đề đặt ra là con đường cứu nướccủa dân tộc đi theo con đường nào và bằng cách nào…hai cụ đã đánh hồichuông cảnh tỉnh kêu gọi toàn dân đấu tranh tìm ra phương thức mới, dựa trênnền tảng chủ nghĩa yêu nước nồng cốt, có yêu nước thì mới hết lòng phụng sựđất nước, đấu tranh giải phóng dân tộc, đem đến phong trào yêu nước chốngPháp đầu thế kỷ XX của nhân dân ta những màu sắc mới Hồ Chí Minh khôngnhững được sống trong bầu không khí này mà còn được trực tiếp ảnh hưởng từtinh thần này của các vị

Theo cụ Phan Bội Châu tất cả những người dân nước Việt “Đều là concháu một họ”, “Chú bác anh em” đều có một tài sản chung là giang sơn đấtnước của ông cha để lại cho nên phải có trách nhiệm “ Chung nhau một lòng

mà giữ lấy” Trong di sản tư tưởng của Cụ để lại về đoàn kết tập hợp quầnchúng có hai phương diện: Đoàn kết quốc tế và đoàn kết dân tộc

Về phương diện đoàn kết quốc tế, Phan Bội Châu đã đi tìm một đối tượngmới để liên kết-đó là Nhật Bản vì sau Minh Trị duy tân, đặc biệt sau khi chiếnthắng nước Nga Sa Hoàng (1904-1905) Nhật Bản được tôn vinh là “Anh cả davàng”, đưa lại niềm hy vọng cho các nước trong khu vực Cụ Phan Bội Châunhìn thấy ở Nhật Bản có thể là chổ dựa cho công cuộc cứu nước ở Việt Nam bởitheo Cụ, Nhật Bản có những tiêu chí cho sự liên kết những đồng châu, đồng

Trang 5

chủng, đồng văn Đến 1908 sau khi Nhật Pháp cấu kết đã trục xuất Cụ và sinhviên Việt Nam lúc này Cụ mới nhận ra rằng ba cái “đồng” trên không bằng đồngbệnh Cụ đã đến với Tôn Trung Sơn và Chính Phủ cách mạng Quảng Châu,nhằm đặt niềm tin vào cùng một nước cảnh ngộ, cùng mục tiêu chiến đấu Đây làmột bước tiến đáng kể trong tư tưởng đoàn kết quốc tế của Phan Bội Châu.

Trên phương diện đoàn kết dân tộc, Phan Bội Châu sớm có ý tưởng mới

mẻ đó là đặt nhiệm vụ cứu nước thành trách nhiệm của quốc dân, thành tráchnhiệm của hàng triệu người và cứu nước không phải một tay, một chân mà làmnên, mà phải là tâm huyết của hàng vạn người anh hùng vô danh

Năm 1905, trong Việt Nam vong quốc sử, Phan Bội Châu chia ngườinước ta làm 5 bậc, tất cả đều chung 1 cha, một mẹ, một bầu trời, một mặt đất, tất

cả đều là đồng bào và có nghĩa vụ làm cho nước nhà hồi sinh, năm 1906, trongHải ngoại huyết thư, cụ tiến thêm một bước khi nói tới “mười hạng người đồngtâm”, bao gồm: các nhà hào phú, các quan lại tại chức, các con nhà quyền quý,giáo độ thiên chúa giáo, lính tập, hội Đảng, thông ngôn, ký lục, bồi bếp, giới phụ

nữ, con em các gia đình bị giặc tàn sát, những người đi du học Điểm mới trong tưtưởng đoàn kết của Cụ không chỉ nêu lên sự đồng tâm của mười hạng người nóitrên mà còn ở chõ, lần đầu tiên Cụ nhấn mạnh và hô hào đoàn kết giáo dân, đoànkết tín đồ tôn giáo trên lập trường cứu nước Phan Bội Châu còn là người sớm đưa

ra những tư tưởng về tổ chức các chính Đảng yêu nước của nhân dân - mà khi đó

Cụ gọi là “Hội” (Duy tân hội, Quang phục hội)

Tuy nhiên do những hạn chế của cá nhân và của lịch sử, tư tưởng đoàn kếtcủa cụ Phan Bội Châu không tránh khỏi những thiếu sót Nói về lực lượng yêunước của dân chúng, Cụ chưa thấy được vai trò, vị trí của hai lực lượng động đảo

và quan quan trọng nhất là nông dân và công nhân; khi đề cập đế các hội, Cụ chưanêu ra được một lý luận khoa học dẫn đường, chưa có đường lối tổ chức hội mộtcách hệ thống, hoàn chỉnh…

II Hồ Chí Minh tiếp thu chọn lọc tinh hoa văn hoá phương Đông và Phương Tây.

Trang 6

Những giá trị văn hoá nhân bản trong văn hoá phương Đông và phươngTây và với tư tưởng hợp lực lượng của các nhà cách mạng lớn của khu vực,trên thế giới, cũng là những cơ sở quan trọng giúp Hồ Chí Minh xây dựngchiến lược đại đoàn kết dân tộc của mình

Sinh ra và lớn trong một gia đình nhà Nho yêu nước, Người sớm có điềukiện tiếp xúc với những giá trị văn hoá phương Đông, giá trị nhân bản của Phậtgiáo, Nho giáo, đặc biệt là sự gạn lọc các yếu tố tích cực trong tư tưởng Nhogiáo tạo thành một yếu tố trong nhiều yếu tố tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh

Tư tưởng đại đoàn kết dân tộc Hồ Chí Minh, Nxb KHXH, H, 1993 Trong tưtưởng Nho giáo có nhiều nội dung, tư tưởng nhân ái và luân lý yêu thương, nhưnhân, nghĩa, lễ, trí, tín của Nho giáo là những yếu tố được Hồ Chí Minh tiếpthu và cải biến,cách mạng hoá trong quá trình xây dựng chiến lược đại đoàn kếtcủa Người Đối với Hồ Chí Minh trong quá trình hoạt động cách mạng củamình, Người luôn vận dụng sáng tạo triết lý của Phật giáo Ta có thể rút ra một

số điểm sau :

- Hồ Chí Minh - tấm gương đạo đức nhân bản

- Hồ Chí Minh - hạnh vô ngã

- Hồ Chí Minh - hạnh tịnh tấn

- Hồ Chí Minh với tự giác, tự tha

- Tinh thần “lục hoà” trong tư tưởng của Người

- Hương vị thiền trong Nhật ký trong tù

Trong những tinh thần nói trên, tinh thần lục hoà trực tiếp ảnh hưởng đếntinh thần đại đoàn kết của Hồ Chí Minh, Lục Hoà là sáu phương pháp cư xửnhằm tạo nên tính hài từ vật chất đến tinh thần, từ lời nói đến việc làm nhằm đạtmục đích cao đẹp Sáu phương pháp đó là: thân đồng hoà trụ, ngôn đồng hoàhiệp, giới đồng hoà tụ, ý hoà đồng hiệp, kiến hoà đồng giải, lợi hoà đồng quân

Từ những nguyên tắc trên Hồ Chí Minh đã tiếp thu sáng tạo và phát triển vậndụng vào phương pháp đại đoàn kết dân tộc

Trang 7

Trong suốt hơn ba mươi năm hoạt động ở nước ngoài Hồ Chí Minh cóđiều kiện tiếp xúc với môi trường văn hoá phương Tây và do vậy với trí tuệ vàkinh nghiệm sống Hồ Chí Minh đã tiếp thu và chọn lọc trong nền văn hoáphương Tây, mà cụ thể là tư tưởng bình đẳng, bác ái, tự do, được ghi trên lá cờcủa các trào lưu tư tưởng Phương Tây Những tư tưởng nhân văn ấy đã được HồChí Minh tiếp nhận ngay từ lúc còn ngồi trên ghế nhà trường ở quê hương vàđược Người tìm hiểu, kiểm chứng, sàng lọc trong suốt 30 năm bôn ba ở nướcngoài Cụ thể, ngay như trong Tuyên ngôn độc lập, không phải ngẫu nhiên màNgười đã nhắc tới những lời bất hủ ghi trong Tuyên ngôn độc lập của Mỹ năm

1776, và Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của Pháp 1791 Có thể nói HồChí Minh là biểu tượng của sự kết hợp hài hoà giữa cốt cách Phương Đông thâmtrầm và sâu sắc với phong cách thoáng đạt, cởi mở của Phương Tây Bởi vậy, tưtưởng Hồ Chí Minh không chỉ dễ thấm sâu vào lòng người Việt Nam, lòngngười Phương Đông mà còn có sức hấp dẫn lôi cuốn đối với tâm hồn phươngTây Một nhà nghiên cứu của Trường Đại học quốc gia Ôxtrâylia đã nhận xét:

“Hồ Chí Minh đã biết cách tiếp các đại diện Phương Tây, dù cao cấp hay thấpcấp, mà nhiều bản hồi ký đã nói đến Ông dễ dàng điều khiển nhịp và hướngđàm thoại, nêu câu hỏi, lắng nghe, đặt các sự kiện của Việt Nam bằng lời lẽ, hìnhảnh lại xuất xứ từ truyền thống của chính đất nước người tiếp xúc với ông Tàidùng ngôn ngữ, tính ham biết và những kiến thức về những vấn đề quốc tế củaông không khi nào không làm cho người ta kinh ngạc”

Hồ Chí Minh trong quá trình xây dựng đường lối cứu nước nói chung,chiến lược đại đoàn kết dân tộc nói riêng đã nghiên cứu, tham khảo các họcthuyết, các tư tưởng tập hợp cách mạng của các nhà cách mạng lớn trên thếgiới, ở khu vực Châu Á, Người thường nhắc đến 2 nhân vật nổi tiếng là TônDật Tiên và Mahatma Gan Di

Với Tôn Dật Tiên là người tổ chức, lãnh đạo cách mạng Tân Hợi 1911,Người sáng lập Quốc Dân Đảng Trung Hoa, có một hệ tư tưởng là Tôn DậtTiên Tư tưởng cốt lõi của Tôn Dật Tiên là sáng lập một tổ chức cách mạng, vũ

Trang 8

trang cho Đảng một học thuyết “đó là chủ nghĩa tam dân: dân tộc độc lập, dânquyền tự do, dân sinh hạnh phúc” và tiến hành chủ nghĩa đó trong nhân dân,lãnh đạo cuộc đấu tranh chống các thế lực đế quốc và bọn phản cách mạng thugiang sơn về một mối Về đoàn kết dân tộc, ông chủ trương tập hợp 4 trămdòng họ trong cả nước không phân biệt dòng họ, giai cấp, mà chủ trương hợptác với Đảng Cộng sản Trung Quốc để tạo thành một Mặt trận dân tộc thốngnhất rộng rãi, ủng hộ lực lượng công nông - lực lượng chiếm đại đa số trongnhân dân Về đoàn kết quốc tế, ông chủ trương liên kết với nước Nga Xô Viết,với Quốc tế Cộng sản, làm chỗ dựa cho cuộc đấu tranh của giai cấp mình Cóthể nói tư tưởng của Tôn Dật Tiên có ảnh hưởng lớn tới các nhà yêu nước, cácnhà cách mạng nước ta thời đó.

Với Mahatma Gan Di là một lãnh tụ của Đảng Quốc đại ấn Độ cũng làmột nhà ái quốc tiêu biểu mà tư tưởng đoàn kết dân tộc của ông cũng có ảnhhưởng sâu sắc tới nhiều nước Châu Á Công hiến lớn lao của Gan Di là đã tậphợp và thức tỉnh đồng thời phát huy sức mạnh của nhân dân ấn Độ vào cuộcđấu tranh độc lập dân tộc

Hồ Chí Minh đã tiếp cận có chọn lọc những tư tưởng tích cực, của TônTrung Sơn và GanDi cùng các nhà cách mạng khác trên thế giới và khu vực,đồng thời bổ sung, sáng tạo phát triển tạo thành một chiến lược đại đoàn kếttrên lập trường vô sản

III Hồ Chí Minh với những nguyên lý cơ bản của Chủ nghĩa Mác – Lênin.

Cơ sở lý luận quan trọng nhất của chiến lược đoàn kết Hồ Chí Minh lànhững nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin, trong đó có những quanđiểm cốt lõi như: cách mạng là sự nghiệp của quần chúng, nhân dân là ngườisáng tạo ra lịch sử

Chủ nghĩa Mác – Lênin là học thuyết khoa học tiên tiến của thời đại, nó

có sức hấp dẫn, chinh phục hàng triệu triệu trái tim và khối óc nhân loại Sứchấp dẫn của học thuyết là ở chỗ các nhà sáng lập đã đặt giai cấp vô sản - giaicấp làm thuê và bị bóc lột của xã hội Tư bản - trở thành chủ thể sáng tạo của

Trang 9

lịch sử, sáng tạo ra một thế giới mới tự do, bình đẳng và bắc ái thực sự, không

có người bóc lột người Trong Tuyên ngôn của Đảng cộng sản, Mác vàĂngghen đã đưa ra một khẩu hiệu chiến đấu vang dội: “vô sản tất cả các nướcđoàn kết lại” Chủ nghĩa Mác - Lênin khi nói tới sứ mệnh lịch sử của xã hộiloài người đã chỉ rõ với mỗi nước, mỗi giai cấp có điểm chung là giai cấp vôsản cách mạng nhất, do đó giai cấp vô sản phải lãnh đạo cách mạng, phải đoànkết với mọi tầng lớp giai cấp khác, tạo thành một khối thống nhất, với sứcmạnh bất diệt của nó mới có thể thực hiện được sứ mệnh lịch sử của mình Chủnghĩa Cộng sản từ một bóng ma đang ám ảnh Châu Âu đã trở thành một hiệnthực sinh động trên một đất nước chiếm 1/6 trái đất Công lao to lớn đó là doLênin, một người đã tiếp thu và phát triển chủ nghĩa Mác một cách sáng tạo.Ông đã xây dựng một Đảng kiểu mới, đó là Đảng Cộng sản Bônsevich Nga - đểlãnh đạo giai cấp vô sản và quần chúng bị áp bức bóc lột ở Nga tiến hành thắng lợicuộc cách mạng vô sản đầu tiên trên thế giới Việc thành lập Đảng cộng sản - bộtham mưu chiến đấu của giai cấp vô sản ở từng nước, quốc tế cộng sản - bộ thammưu chiến đấu của giai cấp vô sản toàn thế giới làm hạt nhân cho mặt trận thốngnhất chống chủ nghĩa đế quốc là một tư tưởng sáng chói của các nhà kinh điển chủnghĩa Mác-Lênin

Dưới ánh sáng tư tưởng đó của Lênin, Đại hội các dân tộc ở PhươngĐông họp ở BaCu tháng 9/1921 là một biện pháp quan trọng để tạo ra sự thốngnhất giữa những người lao động Phương Tây và các dân tộc bị áp bức ởPhương Đông Tiếp đó, Quốc tế Cộng sản đã triệu tập Đại hội các dân tộc ViễnĐông tại Matxcơva vào tháng 12/1921, Đại hội có 150 đại biểu thay mặt chocác tổ chức cách mạng của Nhật Bản, Trung Quốc, Triều Tiên, Mông Cổ…trong đại hội có nhấn mạnh rằng: Con đường thực sự dẫn tới tự do độc lập củacác dân tộc bị áp bức ở Viễn Đông trải qua sự liên minh của quần chúng laođộng ở Viễn Đông với giai cấp vô sản các nước tiên tiến và chỉ liên minh với

họ thì mới chống lại được đế quốc

Trang 10

Đối với Hồ Chí Minh, đến với Chủ nghĩa Mác - Lênin, động lực thúc đẩyngười tin theo Lênin, tin theo Quốc tế cộng sản trước hết là vì Lênin là hiệnthân của tình anh em bốn bể, là vì Chủ nghĩa Mác - Lênin, đề cập đến sự cầnthiết và con đường tập hợp các lực lượng cách mạng tạo thành một khối thốngnhất, hùng mạnh chống lại chủ nghĩa đế quốc Nhờ những nguyên lý của Chủnghĩa Mác - Lênin mà Hồ Chí Minh có cơ sở để đánh giá những yếu tố tích cực

và hạn chế của các di sản truyền thống dân tộc, văn hoá của nhân loại, của tưtưởng tập hợp lực lượng của các nhà yêu nước Việt Nam tiền bối và thế giới

Từ đó có điều kiện để rút kinh nghiệm và xây dựng một chiến lược đoàn kếthoàn chỉnh Một điểm rất riêng của Hồ Chí Minh là người luôn xác định Chủnghĩa Mác - Lênin là kim chỉ nam, là cẩm nang thần kỳ, những không học tậpmột cách giáo điều mà sử dụng nó một cách rất sáng tạo, độc đáo và hiệu quả

Do vậy, với chiến lược đại đoàn kết dân tộc của Người cũng mang một sắc tháiriêng - sắc thái Hồ Chí Minh, sắc thái Việt Nam

Trang 11

PHẦN II

VỀ MẶT THỰC TIỄN -TƯ TƯỞNG ĐẠI ĐOÀN KẾT HỒ CHÍ MINH ĐƯỢC HÌNH THÀNH TRÊN CƠ SỞ TỔNG KẾT NHỮNG KINH NGHIỆM

VÀ NẮM BẮT NHỮNG ĐÒI HỎI KHÁCH QUAN CỦA CÁCH MẠNG

VIỆT NAM VÀ CÁCH MẠNG THẾ GIỚI.

I Thực tiễn phong trào cách mạng Việt Nam vào cuối thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX

Cuối thế kỷ XIX ở Việt Nam, triều đình phong kiến Nhà Nguyễn đã ởvào buổi xế chiều của chế độ phong kiến nói chung Vua Tự Đức với sự ươnhèn, vị kỷ, cố chấp, cùng với đám vua quan nịnh thần là nguyên nhân trực tiếplàm cho đất nước rơi vào tay thực dân Pháp xâm lược, Tổ quốc mất quyền độclập, nhân dân phải chịu kiếp lầm than

Trước hoàn cảnh đó, cách mạng Việt Nam đòi hỏi phải có một conđường cách mạng để giải phóng đất nước Hồ Chí Minh là biểu tượng sự kếthợp hài hoà giữa hoạt động lý luận và thực tiễn Với Người, thực tiễn bao giờcũng là điểm xuất phát, là nhân tố thúc đẩy hoạt động lý luận, nó vừa kiểmchứng, vừa điều chỉnh Cuộc đời và sự nghiệp Hồ Chí Minh là một tấm gươngsáng trong việc nói đi đôi với làm biến lời nói thành hoạt động thực tiễn điđúng quỹ đạo và đạt hiệu quả cao nhất

Đối với Việt Nam, trong thời gian Thực dân Pháp cai trị là một thực tiễnđau thương, nước Việt bị xoá tên trên bản đồ, nhân dân Việt bị đoạ đầy đaukhổ, Việt Nam bị chia là 3 xứ với những chế độ cai trị khác nhau như Nam Kỳ

là đất thuộc địa, Bắc Kỳ là xứ bảo hộ, Trung Kỳ là xứ lưỡng trị Thực dân Phápcòn áp dụng nhiều nguyên tắc, hình thức để cai trị trong cả lĩnh vực kinh tế và

xã hội Chúng dùng chính sách chia để trị nhằm phân tán, tách rời khối địađoàn kết của hết thảy mọi người Việt Nam yêu nước Mặc dù vậy những phongtrào đấu tranh chống lại Thực dân Pháp của nhân dân dưới nhiều hình thứckhác nhau đã nổ ra liên tiếp Những phong trào đó mặc dù hết sức anh dũng vàbất khuất nhưng nổ ra lẻ tẻ và đều bị Thực dân Pháp dìm trong bể máu Với

Trang 12

biết bao những chí sỹ, những nhà yêu nước như Phan Đình Phùng, Tống DuyTân, Ngô Đức Kế, Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh… họ đã hết mình xả thâncho nền độc lập dân tộc Trong phong trào ấy còn có cả những ông vua yêunước như Hàm Nghi, Thành Thái, Duy Tân… Nhưng điều bế tắc nhất đối vớiphong trào đấu tranh lúc này là không có đường lối cách mạng đúng đắn, đấutranh chỉ mang tính chất giải thoát, kháng cự nhằm chống lại sự áp bức của chế

độ thực dân và phong kiến tay sai

Thực tiễn hào hùng và bi thương của phong trào yêu nước chống Phápcuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX đã chứng minh rằng, tinh thần yêu nước, chốngngoại xâmcủa nhân dân ta đời nào cũng có, rằng sức mạnh đoàn kết đánh giặcluôn luôn tiềm ẩn trong mỗi người Việt Nam, song bước vào thời đại mới, đểđánh bại được các thế lực đế quốc chủ nghĩa xâm lược không chỉ dựa vào sứcmạnh đoàn kết tự phát Trong thời đại mới này, cuộc chiến đấu mới đòi hỏi sứcmạnh đoàn kết tự giác, có tổ chức của cả dân tộc Hồ Chí Minh luôn luôn nhậnthức được bi kịch của đất nước, của dân tộc ta lúc này là ở chỗ thiếu một giaicấp lãnh đạo Nhưng ở thời điểm đầu thế kỷ XX Người chưa có đủ khả năng để

lý giải thấu đáo nguyên nhân thất bại của phong trào yêu nước chống Pháp.Đây chính là điểm thực tế, điểm xuất phát, là động cơ để Người ra đi xem nướcPháp và các nước khác để tìm ra cách giải quyết cho đất nước thoát khỏi bế tắc

về đường lối cách mạng

II Thực tiễn phong trào cánh mạng thế giới và phong trào cách mạng của các nước thuộc địa.

Có thể nói thực tiễn của đất nước vào cuối thế kỷ XIX đầu thể kỷ XX với

sự hào hùng bi tráng của các phong trào cách mạng cùng với những bế tắc đượcđặt ra…đó chính là cơ sở quan trọng cho sự hình thành đại đoàn kết Hồ Chí Minh

Trong suốt hành trình đi tìm chân lý cứu nước cho dân tộc Hồ Chí Minh

đã tiến hành khảo sát tìm hiểu để thấy được bản chất một cách toàn diện cácnước tư bản chủ nghĩa với mặt trái của nó, đồng thời cũng nhìn nhận được sựthật của các nước thuộc địa ở các châu lục Từ vốn hiểu biết hết sức phong phú

Ngày đăng: 16/01/2023, 14:34

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w