MỞ ĐẦU Tổ quốc Việt Nam là một quốc gia hình thành từ rất sớm, điều đặc biệt là có đến 54 dân tộc anh em, trong đó dân tộc kinh chiếm khoảng 80% dân số. Phần lớn các dân tộc thiểu số như người Tày, người Thái, người Mường, người Nùng, người Dao, người Mông, người Ba Na, người Êđê, người Vân Kiều… Điều đáng tự hào là trải qua mấy ngàn năm lịch sử, trong đấu tranh khó khăn cũng như hòa bình thì tinh thần đoàn kết luôn trổi dậy trong lòng mỗi người con đất Việt, là niềm tự hào của cả dân tộc Việt Nam, là một trong những câu trả lời vì sao một nước nhỏ mà đánh thắng hai đế quốc to chính là nhờ vào đoàn kết Đoàn kết trong lao động và trong chiến đấu là truyền thống nổi bật của dân tộc Việt Nam. Truyền thuyết Phù Đổng Thiên Vương, Sơn Tinh – Thủy Tinh đã nói lên tinh thần đó. Tư tưởng đại đoàn kết của Hồ Chí Minh là sự kế thừa, phát triển tinh thần đoàn kết trong truyền thống, đồng thời là sự vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta. Hồ Chí Minh đã luôn gắn lý luận với thực tiễn, bởi vậy, những tinh hoa của truyền thống đã được Hồ Chí Minh vận dụng vào công cuộc giải phóng dân tộc và xây dựng đất nước, dẫn dắt cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Trong hệ thống tư tưởng của Người, chúng ta phải kể đến tư tưởng về đại đoàn kết dân tộc, tư tưởng này đang và sẽ là sợi chỉ đỏ xuyên suốt cho sự nghiệp cách mạng của nước ta. Chúng ta đều biết câu nói bất hủ của Người: “Nước Việt Nam là một. Dân tộc Việt Nam là một, song chân lý đó không bao giờ thay đổi” Năm 1961, nhân dịp về thăm Cao bằng, Bác đã nói với cán bộ: “Đồng bào tất cả các dân tộc, không phân biệt lớn nhỏ, phải thương yêu giúp đỡ lẫn nhau như anh em một nhà” Điếu Văn của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam đã viết tiễn biệt Người: “Dân tộc ta, nhân dân ta, non sông đất nước ta đã sinh ra Hồ Chủ tịch, Người anh hùng dân tộc vĩ đại, và chính Người đã là rạng rỡ dân tộc ta, nhân dân ta và non sông đất nước ta” Quan điểm tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc đã được rất nhiều nhà sử học, nhà nghiên cứu quan tâm từ trong thời kỳ đấu tranh giữ nước và dựng nước. Hiện nay, đất nước đã hoà bình thì việc tìm hiểu, nghiên cứu tư tưởng của Người về đại đoàn kết dân tộc càng được quan tâm hơn trước. Vì đất nước đang bước vào thời kỳ mới, thời kỷ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, hội nhập kinh tế quốc tế, với mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Đồng nghĩa chúng ta đang đứng trước thời cơ và vận hội mới, cũng đan xem với những khó khăn và thách thức mới, các thế lực thù địch trong và ngoài nước luôn luôn liên kết với nhau để hòng chống phá cách mạng nước ta, chúng đang thực hiện âm mưu “diễn biến hóa bình”, phá hoại tình đoàn kết giữa các dân tộc anh em ở nước ta. Chính vì vậy, việc nghiên cứu, nhận thức đúng đắn vấn đề đại đoàn kết dân tộc dưới ánh sáng tư tưởng Hồ Chí Minh là vấn đề rất cần thiết trong giai đoạn hiện nay. Vấn đề đại đoàn kết dân tộc là một vấn đề có ý nghĩa chiến lược quan trọng và to lớn trong toàn bộ sự nghiệp cách mạng nước ta, đã được Đảng và Nhà nước ta xác định: “Thực hiện chính sách bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp đỡ nhau giữa các dân tộc, tạo mọi điều kiện để các dân tộc cùng phát triển, gắn bó mật thiết với sự phát triển chung của cộng đồng dân tộc Việt Nam.”
Trang 1MỞ ĐẦU
Tổ quốc Việt Nam là một quốc gia hình thành từ rất sớm, điều đặc biệt
là có đến 54 dân tộc anh em, trong đó dân tộc kinh chiếm khoảng 80% dân
số Phần lớn các dân tộc thiểu số như người Tày, người Thái, người Mường,người Nùng, người Dao, người Mông, người Ba Na, người Êđê, người VânKiều… Điều đáng tự hào là trải qua mấy ngàn năm lịch sử, trong đấu tranhkhó khăn cũng như hòa bình thì tinh thần đoàn kết luôn trổi dậy trong lòngmỗi người con đất Việt, là niềm tự hào của cả dân tộc Việt Nam, là mộttrong những câu trả lời vì sao một nước nhỏ mà đánh thắng hai đế quốc tochính là nhờ vào đoàn kết! Đoàn kết trong lao động và trong chiến đấu làtruyền thống nổi bật của dân tộc Việt Nam Truyền thuyết Phù Đổng ThiênVương, Sơn Tinh – Thủy Tinh đã nói lên tinh thần đó
Tư tưởng đại đoàn kết của Hồ Chí Minh là sự kế thừa, phát triển tinhthần đoàn kết trong truyền thống, đồng thời là sự vận dụng sáng tạo chủnghĩa Mác – Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta Hồ Chí Minh đã luôngắn lý luận với thực tiễn, bởi vậy, những tinh hoa của truyền thống đã được
Hồ Chí Minh vận dụng vào công cuộc giải phóng dân tộc và xây dựng đấtnước, dẫn dắt cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác.Trong hệ thống tư tưởng của Người, chúng ta phải kể đến tư tưởng vềđại đoàn kết dân tộc, tư tưởng này đang và sẽ là sợi chỉ đỏ xuyên suốt cho sựnghiệp cách mạng của nước ta
Chúng ta đều biết câu nói bất hủ của Người:
“Nước Việt Nam là một Dân tộc Việt Nam là một, song chân lý đó
không bao giờ thay đổi” 1
Năm 1961, nhân dịp về thăm Cao bằng, Bác đã nói với cán bộ:
Trang 2“Đồng bào tất cả các dân tộc, không phân biệt lớn nhỏ, phải thương
yêu giúp đỡ lẫn nhau như anh em một nhà” 1
Điếu Văn của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam
đã viết tiễn biệt Người: “Dân tộc ta, nhân dân ta, non sông đất nước ta đã
sinh ra Hồ Chủ tịch, Người anh hùng dân tộc vĩ đại, và chính Người đã là rạng rỡ dân tộc ta, nhân dân ta và non sông đất nước ta”
Quan điểm tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc đã được rấtnhiều nhà sử học, nhà nghiên cứu quan tâm từ trong thời kỳ đấu tranh giữnước và dựng nước Hiện nay, đất nước đã hoà bình thì việc tìm hiểu,nghiên cứu tư tưởng của Người về đại đoàn kết dân tộc càng được quan tâmhơn trước Vì đất nước đang bước vào thời kỳ mới, thời kỷ đẩy mạnh côngnghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, hội nhập kinh tế quốc tế, với mục tiêudân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh Đồng nghĩachúng ta đang đứng trước thời cơ và vận hội mới, cũng đan xem với nhữngkhó khăn và thách thức mới, các thế lực thù địch trong và ngoài nước luônluôn liên kết với nhau để hòng chống phá cách mạng nước ta, chúng đang
thực hiện âm mưu “diễn biến hóa bình”, phá hoại tình đoàn kết giữa các dân
tộc anh em ở nước ta Chính vì vậy, việc nghiên cứu, nhận thức đúng đắnvấn đề đại đoàn kết dân tộc dưới ánh sáng tư tưởng Hồ Chí Minh là vấn đềrất cần thiết trong giai đoạn hiện nay
Vấn đề đại đoàn kết dân tộc là một vấn đề có ý nghĩa chiến lược quantrọng và to lớn trong toàn bộ sự nghiệp cách mạng nước ta, đã được Đảng và
Nhà nước ta xác định: “Thực hiện chính sách bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng
và giúp đỡ nhau giữa các dân tộc, tạo mọi điều kiện để các dân tộc cùng phát triển, gắn bó mật thiết với sự phát triển chung của cộng đồng dân tộc Việt Nam.” 2
NỘI DUNG
1 Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 10, Nxb CTQG, HN 1996, tr 282
Trang 3I Một vài khỏi niệm
“t tởng” trong cụm từ “t tởng Hồ Chí Minh” đợc sử dụng
theo nghĩa thứ hai này
Cũng giải thích thuật ngữ “t tởng” theo hớng tơng tự
nh nghĩa thứ hai nêu trên, Từ điển bách khoa Việt Nam cho rằng “t tởng” là hình thức phản ánh thế giới bên ngoài,
trong đó bao hàm sự ý thức về mục đích và triển vọng củaviệc tiếp tục nhận thức và cải tạo thế giới bên ngoài T tởng
là kết quả khái quát hoá kinh nghiệm của sự phát triển trithức trớc đó và đợc dùng làm nguyên tắc để giải thích cáchiện tợng 1
2 Tư tưởng Hồ Chớ Minh là gỡ?
Theo Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng, “Tư
tưởng Hồ Chớ Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sõu sắc về những vấn đề cơ bản của cỏch mạng Việt Nam, kết quả của sự vận dụng và phỏt triển sỏng tạo của chủ nghĩa Mỏc – Lờnin vào điều kiện cụ thể của nước ta, kế thừa và phỏt triển cỏc giỏ trị truyền thống tốt đẹp của dõn tộc, tiếp thu tinh hoa văn húa nhõn loại; là tài sản tinh thần vụ cựng to lớn và
Trang 4quý giá của Đảng và dân tộc ta, mãi mãi soi đường cho sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta giành thắng lợi”.
3 Đại đoàn kết theo quan điểm Hồ Chí Minh?
Khái niệm đại đoàn kết dân tộc trong tư tưởng Hồ Chí Minh: là một hệthống những luận điểm, nguyên tắc, phương pháp giáo dục Tập hợp và tổchức cách mạng và tiến bộ nhằm phát huy đến mức cao nhất sức mạnh dântộc và sức mạnh thời đại trong sự nghiệp đấu tranh vì độc lập dân tộc, dânchủ và chủ nghĩa xã hội Nói một cách khác, đó là tư tưởng xây dựng, củng
cố, mở rộng lực lượng cách mạng trong sự nghiệp giải phóng dân tộc, giảiphóng giai cấp, giải phóng con người
II Truyền thống đoàn kết trong lịch sử dân tộc Việt Nam
Trong lịch sử, đoàn kết đã thành truyền thống quý báu gắn liền vớicông cuộc dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam Do vị thế địa lýnước ta nên các thế lực bên ngoài luôn muốn thôn tính nước ta Một đấtnước nhỏ, người không đông, đất không rộng, muốn đánh thắng được độiquân xâm lược hùng mạnh nhất thế giới thì trước hết đòi hỏi phải có sự đoànkết
Ý thức cố kết, tinh thần đoàn kết của dân tộc Việt Nam đã được hìnhthành từ rất sớm, và trong quá trình phát triển của lịch sử, nó ngày càngđược phát triển, củng cố vững chắc, tạo nên truyền thống bền vững thắm sâuvào tình cảm, tâm hồm mỗi con người Việt Nam Tinh thần, ý thức ấy tạonên sức mạnh vô địch của dân tộc để chiến thắng mọi thiên tai địch họa.Điều này đã được đúc kết:
Một cây làm chẳng lên non Hai cây chụm lại nên hòn núi cao
Trang 5Cơ sở truyền thống đoàn kết trong chống giặc ngoại xâm là ở chỗ: nướcmất thì nhà cũng tan, bởi vậy, trước tiên là cả dân tộc phải đoàn kết lại đểbảo vệ đất nước, chống lại những cuộc xâm lăng của kẻ thù bên ngoài.
Ở Việt Nam, khi có giặc ngoại xâm thì tất cả các tầng lớp, giai cấp luônđoàn kết thống nhất với nhau vì một mục tiêu chung là đánh đuổi quân xâmlược, bảo vệ đất nước Các giai cấp, tầng lớp khác nhau, thậm chí dù có mâuthuẫn, nhưng khi có giặc ngoại xâm thì họ lại cấu kết lại với nhau, đặt mâuthuẫn này dưới lợi ích của Tổ quốc, của đất nước Như vậy, ngay từ thời xưa,trên mãnh đất này đã có một triết lý vì lợi ích chung mà tạm gác lợi ích riêng
Để bảo vệ đất nước, để đánh tan những cuộc xâm lăng của quân thù thìmột điều kiện không thể thiếu được là tòan dân phải đoàn kết Hồ Chí Minhnói rằng, lịch sử nước ta dạy cho ta bài học: lúc nào dân ta biết môn ngườinhư một thì nước ta độc lập, tự do; trái lại, dân ta không biết đoàn kết thì bịnước ngoài xâm lấn
Các cuộc khởi nghĩa chống ngoại xâm sau này thắng lợi hay không phầnlớn phụ thuộc vào mức độ tập hợp, đoàn kết của toàn dân Cuộc kháng Tốngcủa Lý Thường Kiệt, cuộc bình Nguyên của Trần Quốc Tuấn, cuộc khángchiến chống quân Minh của Lê Lợi, đặc biệt là cuộc đại phá quân Thanh củaQuang Trung đã nói lên điều đó Quân Nguyên Mông, đội quân thiện chiếnmạnh nhất thế giới thời đó, nhưng khi sang Đại Việt bị quân nhà Trần đánhcho tan tành, bởi lẽ quân dân ta biết đoàn kết, tướng sĩ một lòng phụ tử, quyếttâm giết giặc Cuộc khởi nghĩa của Lê Lợi cũng như cuộc hành quân thần tốccủa Quang Trung đi đến đâu đều được dân chúng ủng hộ tiền của, vật chất,tinh thần, các dân quân trai trán đều nhập vào lính Ông cha ta đã tổng kết:
muốn đánh giặc trước hết phải tập hợp được lực lượng, cái gọi là “tập hợp
bốn phương manh lệ”, “trên dưới đồng lòng, cả nước chung sức”.
1 Đoàn kết cộng đồng
Trang 6Nước ta ở khu vực địa lý có nhiều thuận lợi song điều kiện tự nhiêncũng rất khắc nghiệt Do nắng lắm mưa nhiều nên hàng năm thường bị hạnhán, lũ lụt Do yêu cầu tồn tại và phát triển ở một nước nông nghiệp, trồnglúa nước là chính, cư dân ở Việt Nam phải liên kết nhau lại, hợp sức để khaiphá đất hoang, chống thú dữ, xây dựng các hệ thống thuỷ lợi (mương, phai),
đê, đập, nhằm đảm bảo phát triển sản xuất Trải qua nhiều thế kỷ dựng nước
và giữ nước, sự gắn bó, giúp đỡ nhau trong lao động sản xuất của đồng bàocác dân tộc đã được coi như một tiêu chuẩn đạo đức
Nước ta là nước có nền văn hóa lúa nước Gia đình Việt Nam truyềnthống chủ yếu lấy kinh tế nông nghiệp trồng lúa nước làm nghề nghiệpchính Do nước ta thường xuyên phải chịu nhiều thiên tai Chính thiên taixảy ra thường xuyên là động lực tạo nên sự hợp tác lẫn nhau giữa các thànhviên trong làng xã và cả nước Rủi ro do thiên tai đem lại khiến cho một cánhân, một gia đình không thể đơn lập làm kinh tế mà phải có sự hợp tác,cùng nhau giải quyểt của cả cộng đồng đất nước.
Do yêu cầu của việc làm thuỷ lợi cũng là nguyên nhân quan trọng tạonên mối liên kết cộng đồng về mặt kinh tế Tóm lại chính yêu cầu của kinh
tế nông nghiệp trồng lúa nước dựa trên cơ sở hộ gia đình là nguyên nhânquan trọng, chính yếu tạo nên mối liên kết cộng đồng Mối liên kết này lạigóp phần rất lớn cho kinh tế tiểu nông có thể tồn tại và phát triển
Nhìn lại tiến trình hình thành và phát triển của dân tộc Việt Nam, điểmnổi bật chiếm vị trí hàng đầu và trở thành chuẩn mực đạo lý Việt Nam làtinh thần yêu nước, ý chí tự lập, tự cường, truyền thống đoàn kết vì đạinghĩa dân tộc Cuộc sống lao động gian khổ đã tạo ra truyền thống lao độngcần cù, sáng tạo và kiên nhẫn, yêu cầu phải liên kết lại để đấu tranh vớinhững khó khăn, thách thức đã tạo ra sự gắn bó giữa con người với thiênnhiên, giữa con người với nhau trong mối quan hệ gia đình, láng giềng, dòng
Trang 7họ của người Việt cũng như trong cộng đồng Nhà- Làng- Nước- Dân tộc.Đối với con người Việt Nam trong lịch sử cũng như hiện đại, mối quan hệgiữa cá nhân và xã hội hết sức khăng khít Điều này được biểu hiện rất rõ ởtính cộng đồng:
" Bầu ơi! Thương lấy bí cùngTuy rằng khác giống nhưng chung một giàn"
Tính cộng đồng bền chặt có ở con người Việt Nam cũng là điều dễhiểu, bởi vì họ là những công dân của một quốc gia có vị trí địa lý thuận lợi,luôn phải đối mặt với những thế lực nhòm người có mưu đồ xâm lăng và
đồng hoá, bởi vì họ là công dân của một đất nước có điều kiện khí hậu "mưa
chẳng thuận, gió chẳng hoà " Trong bối cảnh đó, vận mệnh của cá nhân
luôn gắn chặt vào vận mệnh cộng đồng và xã hội và cá nhân sẵn sàng hysinh những lợi ích riêng để bảo vệ lấy lợi ích chung, bảo vệ được cái chungcũng chính là sẽ giải quyết được cái riêng Vì thế sau hàng ngàn năm Bắcthuộc, dân tộc Việt Nam vẫn giành lại được độc lập, cốt cách của con ngườiViệt Nam vẫn được giữ vững và phát huy
Ngày nay, trước những biến đổi bất lợi về khí hậu, thời tiết có tính toàncầu, càng đòi hỏi nhân dân các dân tộc nước ta chung lòng hợp sức phòngtránh, giảm nhẹ thiên tai cũng như khắc phục hậu quả do bão lụt, hạn hángây ra Cuộc đấu tranh chinh phục thiên nhiên vẫn đòi hỏi tiếp tục phát huysức mạnh của khối đoàn kết dân tộc và thông qua cuộc đấu tranh đó, đại giađình các dân tộc Việt Nam càng thêm gắn bó chặt chẽ
2 Đoàn kết trong đấu tranh giữ nước và dựng nước
Cùng với lịch sử chinh phục thiên nhiên, nhân dân ta còn có lịch sửchống giặc ngoại xâm vô cùng oanh liệt Ðất nước ta ở vào nơi thuận tiện
Trang 8nguyên thiên nhiên phong phú và vị trí địa lý - chính trị có tính chiến lược.
Do đó, các thế lực bành trướng và xâm lược luôn nhòm ngó và tìm cáchthôn tính nước ta Ðặc điểm nổi bật của lịch sử Việt Nam là lịch sử chốngngoại xâm liên tục và nhiều lần, trong đó có nhiều cuộc đấu tranh chống lạinhững thế lực thù địch hùng mạnh, giàu có và hung bạo nhất thế giới Chính
vì vậy mà cộng đồng các dân tộc Việt Nam luôn sát cánh bên nhau, liên tụcđứng lên chống giặc ngoại xâm, đánh thắng quân xâm lược
Thực tiễn cách mạng Việt Nam cho thấy, về phương diện chốngxâm lược, hiếm có dân tộc nào trên thế giới như Việt Nam phải đươngđầu với các thế lực bành trướng, đế quốc hùng mạnh, có quân đội thiệnchiến và rất tàn bạo Giặc Nguyên-Mông chiếm nửa thế giới, chiếm cảnước Trung Hoa rồi mới tiến công nước Đại Việt năm Đinh Hợi 1257
và từ đó đến năm 1287, tiến công nước ta hai lần nữa nhưng đều thấtbại
Hơn 120 năm sau, nhà Trần sụp đổ Lợi dụng lúc đất nước tađang còn rối ren, giặc Minh đã xâm chiếm nước ta Giặc Minh quámạnh, lúc đầu Lê Lợi còn phải nhịn nhục, ngậm đắng nuốt cay để bímật chuẩn bị lực lượng, quy tụ nhân tài, Lê Lợi đã chịu đựng đến mứcnhư Lê Quý Đôn đã viết trong Đại Việt thông sử: "nhận thấy thế quânđịch đang mạnh nên ngài (Lê Lợi) càng ẩn trong bóng tối, không dámkhinh động, thường đem báu vật năn nỉ, hối lộ cho bọn Trương Phụ,Trần Trí, Sơn Thọ (bọn trùm sỏ giặc Minh chiếm đóng nước ta),những mong được khỏi nạn, để nuôi thêm sức lực và chờ thời cơ”.Cuộc kháng chiến Lam Sơn kéo dài 10 năm, đến năm 1427 đã giảiphóng hoàn toàn đất nước
Cuộc kháng chiến 30 năm thắng Pháp rồi thắng Mỹ đã gây chấn
Trang 9động địa cầu Một câu hỏi được nêu lên ở khắp nơi trên thế giới sauĐại thắng mùa Xuân 1975: "Tại sao Việt Nam là một nước nhỏ lại cóthể đánh thắng Mỹ? Tại sao Mỹ là cường quốc số 1 lại chịu thua ởViệt Nam? Hàng ngàn cuốn sách đủ mọi thứ tiếng đã viết về cuộcchiến tranh Việt Nam, không thể đếm được bao nhiêu cuộc hội thảo ở
Mỹ và nhiều nơi trên thế giới về những nguyên nhân Mỹ thua ở ViệtNam nhưng vẫn còn nhiều người chưa hết băn khoăn, trăn trở, chưatìm được lời giải đáp thấu đáo, cặn kẽ như mong muốn Chính vì vậy,cuốn hồi ký của cựu Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Mỹ Mac Namara, từngnổi tiếng trong phái "diều hâu” ở Mỹ "Nhìn lại quá khứ - Tấn thảmkịch và những bài học về Việt Nam”, năm 1995 mới xuất bản vẫnđược mọi người tìm đọc Cuốn hồi ký mở đầu bằng Lời nói đầu, trong
đó Mac Namara bộc lộ ngay là ông đã quyết định không viết cuốn hồi
ký này mặc dù gần một phần tư thế kỷ qua người ta đã liên tục thúc épông nói ra những quan điểm của ông về Việt Nam Thế nhưng cuốicùng ông đã viết dù chiến tranh đã kết thúc 20 năm
Cuốn sách có 11 chương, chương cuối cùng là "Những bài họcViệt Nam”, tác giả đã mở đầu như sau:
"Việc dính líu của tôi tới Việt Nam đã kết thúc sau khi tôi rờiPhòng họp phía Đông Còn cuộc chiến tranh còn kéo dài thêm bảynăm nữa Đến khi người lính Mỹ cuối cùng rút khỏi Nam Việt Namnăm 1973, chúng ta đã mất 58.000 người cả nam lẫn nữ, nền kinh tếcủa chúng ta đã bị tàn phá bởi những chi phí cao và bất hợp lý chocuộc chiến tranh trong nhiều năm liền và sự thống nhất chính trị của xãhội chúng ta bị tan nát và hàng thập kỷ sau vẫn không khôi phục được.Liệu những cái giá cao đó có được biện minh hay không” (trang 313)
Trang 10Những tổn thất lớn mang tính chiến lược do chiến tranh Việt Namgây ra cho Mỹ phải tầm cỡ Mac Namara mới nói rõ được như vậy.Một trong những nguyên nhân chính gây ra thảm họa của Mỹ ở ViệtNam, cũng là bài học thấm thía với Mỹ, được ông viết như sau:
"Chúng ta đánh giá thấp sức mạnh của chủ nghĩa dân tộc thúc đẩymột dân tộc (trong trường hợp này là Bắc Việt Nam và Việt cộng), đấutranh và hy sinh cho lý tưởng và các giá trị của nó và cho đến naychúng ta vẫn tiếp tục đánh giá thấp chủ nghĩa dân tộc ở nhiều nơi trênthế giới Sức mạnh sâu thẳm nhất của một dân tộc không nằm ở mũinhọn quân sự mà ở sự đoàn kết của dân tộc Chúng ta đã không duy trì
sự đoàn kết đó” (trang 316, 317)
Thắng lợi không chỉ do vũ khí (nếu do vũ khí thì phần thắng baogiờ cũng thuộc về Mỹ), thắng lợi trước hết thuộc về sức mạnh của khốiđoàn kết dân tộc Mac Namara thừa biết khi Mỹ phải rút quân khỏiViệt Nam, kho vũ khí của Mỹ vẫn chưa có nước nào sánh kịp, cònviện trợ cho hàng chục nước mỗi năm nhưng Mỹ vẫn phải rút, chấpnhận lần đầu tiên thất bại vì không thể đọ sức mãi với một cuộc chiếntranh nhân dân, trong đó mỗi người dân là một chiến sĩ Đoàn kếttrước hết là dân, trên hết là dân, triều đại nào coi dân là gốc đều phồnvinh, nếu có xâm lược đã có chỗ dựa vững chắc, cả một kho ngườikhông những biết cầm vũ khí còn đủ cả ngành nghề lớn, bé, già trẻ làm
ra mọi thứ xã hội cần, tiền tuyến cần Nghe tin giặc Nguyên-Mông sắpsửa kéo vào nước ta, vua Trần Nhân Tông rất lo, đánh hay hòa, Vuakhông dám quyết, cuối cùng đành hỏi dân, thông qua các bô lão họptại Hội nghị Diên Hồng Các bô lão đồng thanh xin đánh, vua và triềuđình coi ý dân là mệnh lệnh đã quyết kháng chiến Chống Nguyên-Mông đã để lại cho đời sau bài học sâu sắc về đoàn kết dân tộc Thoát
Trang 11Hoan rút chạy đã để rơi cái tráp đựng đơn của các quan lại hèn nháttrong vùng địch còn tạm chiếm, xin địch cho tiếp tục được làm quan.Sau đại thắng, bình công định tội, triều đình tin chắc các quan lại phảnbội sẽ chịu tội nặng Thượng hoàng Trần Nhân Tông đã làm cho cảtriều đình kinh ngạc, ông lệnh cho đốt ngay cái tráp và tất cả đều thoáttội Sau chiến tranh, hành hạ nhau, gây thù gây oán chỉ mắc mưu giặc,tốt nhất là để mọi người yên vui chiến thắng Giặc Nguyên-Mông, giặcMinh, giặc Thanh đều mạnh hơn ta gấp trăm lần nhưng cuối cùng vẫnchịu thảm bại, phải rút chạy vì không thể phá vỡ khối đại đoàn kếtmuôn người như một Bài học Lấy dân làm gốc, trong lòng dân tộckhông có hận thù, không có giai cấp này chống giai cấp kia, đã làngười Việt Nam tất cả dù chính kiến, dân tộc, tôn giáo giàu nghèokhác nhau đều thương yêu, đùm bọc, cưu mang nhau, đã mở đườngcho kháng chiến chống Pháp rồi chống Mỹ thành công Không phảingẫu nhiên mà sau hơn 30 năm ra đi tìm đường cứu nước, trở về nướcđầu tháng 2-1941, Bác Hồ đã viết ngay "Lịch sử nước ta” làm tài liệuhọc tập, đào tạo cán bộ Việt Minh, thực hiện đoàn kết dân tộc theoMặt trận Việt Minh, muôn người như một đúng như truyền thống củaông cha Từng sống lâu năm ở Mỹ, ở Anh, ở Pháp, ở Liên Xô, ở TrungQuốc, hoạt động cách mạng tại trung tâm văn hoá thế giới, cũng lànhững nơi diễn ra những cuộc cách mạng nổi tiếng, Bác Hồ đã có dịpđiều tra tại chỗ, nghiên cứu, so sánh và thấy đoàn kết dân tộc nhưtruyền thống của ông cha ta là đúng đắn nhất, phù hợp với hoàn cảnh
cụ thể ở Việt Nam Lúc này trong Đảng đoàn kết còn hẹp hòi (trí, phú,địa, hào đào tận gốc, trốc tận rễ) tất cả đều chuyển sang đoàn kết nhưViệt Minh, lực lượng ta đang phân tán đã tập trung về một hướng lấydân làm gốc, mạnh hơn hẳn, đông hơn hẳn vì không còn ai đứng ngoàiMặt trận Việt Minh Bác Hồ đã viết bài báo nổi tiếng "Nên học sử ta”
Trang 12đăng báo Việt Nam Độc lập ngày 1-2-1942, kêu gọi mọi người ghilòng tạc dạ bài học này của ông cha: Lúc nào dân ta đoàn kết muônngười như một thì nước ta độc lập tự do.
Đại hội toàn quốc thống nhất Việt Minh và Liên Việt -
biểu tượng của khối đại đoàn kết toàn dân tộc
Cuối bài báo này tác giả nhắc nhở mọi người tìm mua quyển
"Lịch sử nước nhà”, giá mỗi quyển 1 hào, ai muốn mua hỏi cán bộ địaphương Trong 5 năm, "Lịch sử nước nhà” được tái bản 3 lần, mỗi lầnđều có bổ sung để làm nổi bật những bài học ông cha để lại, trong đóquy tụ nhân tài, trọng dụng nhân tài là nội dung cốt lõi của khối đạiđoàn kết dân tộc vì khi những người có thực tài không được trọngdụng thì khối đại đoàn kết dân tộc sẽ thiếu đi những tinh hoa, trí tuệcủa những người như ông cha ta gọi là "những người biết lo”
Mỗi lần nước mất, nhà tan, ngoại xâm đã ở trong lòng, đoàn kếtđều muôn người như một nhưng khi đất nước đã hoàn toàn giải phóng,không còn bóng tên xâm lược, chỉ còn ta với ta, đoàn kết dân tộc cóthời điểm bị thu hẹp Ngay sau Đại thắng mùa xuân 1975, có một thờigian giai cấp tư sản, các doanh nhân không còn là thành viên Mặttrận, cho là thành phần "phi xã hội chủ nghĩa” Liên hiệp xã tiểu thủcông, một tổ chức quần chúng của những thợ thủ công thuộc cácngành nghề cả nước khi đó cũng không còn là thành viên Mặt trận nữa
vì đã bị quốc hữu hóa, trực thuộc Bộ Công nghiệp nhẹ do một thứtrưởng phụ trách Còn ngoại xâm trên đất nước ta thì đoàn kết muônngười như một và khi đất nước độc lập, thống nhất thì điều rất nhãntiền là đoàn kết không còn rộng rãi nữa, lãng phí nhân tài là tổn thấtlớn nhất kéo dài mấy chục năm qua
Trang 13Suốt thiên niên kỷ thứ hai, chống ngoại xâm đủ mọi màu da đềuthắng lợi rực rỡ nhờ sức mạnh vô địch của đoàn kết muôn người nhưmột
Tóm lại, đoàn kết trong lao động và trong chiến đấu là truyền thống nổibật nhất của các dân tộc Việt Nam được hun đúc qua mấy ngàn năm lịch sử.Trong sự nghiệp cách mạng do Ðảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, truyềnthống đoàn kết dân tộc được phát huy cao độ, là một trong những nhân tốquyết định mọi thắng lợi của cách mạng nước ta
Những thành tựu đạt được trong quá trình đổi mới rất to lớn và đáng tựhào cho thấy khối đại đoàn kết dân tộc ở nước ta đã có tầm cao mới và chiềusâu mới, là động lực to lớn thúc đẩy sự phát triển của đất nước, làm cho thế
và lực của cách mạng nước ta ngày càng được tăng cường
III Quan điểm cơ bản của Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc
Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định đoàn kết là một truyền thống cực kỳquý báu của Đảng và của dân tộc Chủ tịch Hồ Chí Minh có nhiều bài viếtbàn về truyền thống đoàn kết của dân tộc trong sự nghiệp dựng nước và giữnước Người chỉ rõ mục tiêu và kết quả của đoàn kết Đoàn kết của nhữngngười cộng sản khác về chất với đoàn kết theo kiểu phe nhóm, phường hội.Người từng căn dặn, sức mạnh của Đảng là ở sự đoàn kết nhất trí, nhữngngười cộng sản liên kết chặt chẽ với nhau để "một lòng, một dạ phục vụ giaicấp, phục vụ nhân dân, phục vụ Tổ quốc"
1 Đại đoàn kết dân tộc là vấn đề có ý nghĩa chiến lược, quyết định thành công của cách mạng Việt Nam
Tư tưởng đại đoàn kết dân tộc của Hồ Chí Minh có ý nghĩa chiến lược,
nó là tư tưởng cơ bản, nhất quán và xuyên suốt tiến trình cách mạng ViệtNam Do đó, chiến lược tập hợp mọi lực lượng có thể thực hiện được nhằm
Trang 14hình thành sức mạnh to lớn của toàn dân tộc trong cuộc đấu tranh với kẻ thù,dân tộc, giai cấp.
Trong từng thời kỳ, từng giai đoạn cách mạng, có thể và cần thiết phảiđiều chỉnh chính sách và phương pháp tập hợp phù hợp cho những đốitượng khác nhau, nhưng đại đoàn kết dân tộc phải luôn được nhận thức làvấn đề sống còn của cách mạng Hồ Chí Minh đã nêu ra những luận điểm cótính chân lý:
“Đoàn kết làm ra sức mạnh; đoàn kết là sức mạnh của chúng ta” 1
“Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết
Thành công, thành công, đại thành công” 2
2 Đại đoàn kết dân tộc là một mục tiêu, một nhiệm vụ hàng đầu của cách mạng
Tư tưởng đại đoàn kết dân tộc dân tộc phải được quá triệt trong mọiđường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, lực lượng lãnh đạo duy nhấtđối với cách mạng Việt Nam
Trong lời kết thúc buổi ra mắt của Đảng Lao động Việt Nam ngày
3-3-1951, Hồ Chí Minh đã thay mặt Đảng tuyên bố trước toàn thể dân tộc: “Mục
đích của Đảng Lao động Việt Nam có thể gồm trong tám chữ là: Đoàn kết toàn dân, phụng sự Tổ quốc” 3
Nói chuyện với cán bộ tuyên huấn miền núi về cách mạng xã hội chủ
nghĩa, Người chỉ rõ: “Trước Cách mạng Tháng Tám và trong kháng chiến,
thì nhiệm vụ tuyên huấn thì làm sao cho đồng bào các dân tộc hiểu được mấy việc Một là đoàn kết, Hai là làm cách mạng hay kháng chiến để đòi độc lập Chỉ đơn giản thế thôi Bây giờ mục đích tuyên truyền huấn luyện
1 Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb CTQG, t 7, tr 392.
2 Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb CTQG, t 10, tr 607.
Trang 15là: “Một là đoàn kết Hai là xây dựng chủ nghĩa xã hội Ba là đấu tranh thống nhất nước nhà”1.
Đại đoàn kết dân tộc dân tộc không phải chỉ là mục tiêu, mục đích,nhiệm vụ hàng đầu của Đảng mà còn là mục tiêu, mục đích, nhiệm vụ hàngđầu của cả dân tộc Như vậy đại đoàn kết dân tộc chính là đòi hỏi kháchquan của bản thân quần chúng nhân dân trong cuộc đấu tranh để tự giảiphóng, là sự nghiệp của quần chúng, vì quần chúng Đảng có sứ mệnh thứctỉnh, tập hợp, hướng dẫn, chuyển những đòi hỏi khách quan, tự phát củaquần chúng thành những đòi hỏi tự giác, thành hiện thực tổ chức, thành sứcmạnh vô địch của cuộc đấu tranh vì độc lập dân tộc, tự do cho nhân dân,hạnh phúc cho con người
3 Đại đoàn kết dân tộc là đại đoàn kết toàn dân
Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, các khái niệm Dân, Nhân dân, có nội
hàm rất rộng Người dùng các khái niệm này để chỉ “mọi con dân nước
Việt”, “mỗi một người con rồng cháu Tiên”, không phân biệt dân tộc thiểu
số với dân tộc đa số, người tín ngưỡng với người không tín ngưỡng, không
phân biệt “già, trẻ, gái trai, giàu nghèo, quý tiện” Như vậy, Dân, Nhân dân
vừa là một tập hợp đông đảo quần chúng, vừa được hiểu là mỗi con ngườiViệt Nam cụ thể, và cả hai đều là chủ thể của đại đoàn kết dân tộc Nói đếnđại đoàn kết dân tộc cũng có nghĩa phải tập hợp được mọi người dân vào một
khối trong cuộc đấu tranh chung Người đã nhiều lần nêu rõ: “Ta đoàn kết để
đấu tranh cho thống nhất và độc lập của Tổ quốc; ta còn phải đoàn kết để xây dựng nước nhà Ai có tài, có đức, có sức, có lòng phụng sự Tổ quốc và phục vụ nhân dân thì ta đoàn kết với họ”2 Ta ở đây vừa là Đảng, vừa là mọingười dân của Tổ quốc Việt Nam Với tinh thần đoàn kết rộng rãi, Người đã
1 Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb CTQG, t 11, tr 130.
Trang 16dùng khái niệm đại đoàn kết dân tộc để định hướng cho việc xây dựng khốiđại đoàn kết toàn dân trong suốt tiến trình cách mạng Việt Nam.
Muốn thực hiện được đại đoàn kết toàn dân thì phải kế thừa truyềnthống yêu nước – nhân nghĩa – đoàn kết dân tộc, phải có tấm lòng khoandung, độ lượng với con người Hồ Chí Minh cho rằng ngay đối với nhữngngười lầm đường lạc lối nhưng đã biết hối cải, chúng ta vẫn kéo họ về phíadân tộc, vẫn đoàn kết với họ, mà hoàn toàn không định kiến, khoét sâu cáchbiệt Người đã lấy hình tượng năm ngón tay có ngón dài, ngón ngắn, nhưng
cả năm ngón đều thuộc về một bàn tay, để nói lên sự cần thiết phải thực hiệnđại đoàn kết rộng rãi Thậm chí đối với những người trước đây đã chốngchúng ta, nhưng nay không chống nữa, khối đại đoàn kết dân tộc dân tộc vẫn
mở rộng cửa đón tiếp họ Người đã nhiều lần nhắc nhở:
bỏ hết thành kiến, cần phải thật thà đoàn kết với nhau, giúp đỡ nhau cùngtiến bộ để phục vụ nhân dân
Sở dĩ Hồ Chí Minh khẳng định quan điểm đại đoàn kết dân tộc mộtcách rộng rãi như trên là vì Người có lòng tin ở dân, tin rằng trong mỗi
người, “ai cũng có ít hay nhiều tấm lòng yêu nước” tiềm ẩn bên trong Tấm
lòng yêu nước ấy có khi bị bụi bậm che mờ, chỉ cần làm thức tỉnh lương tricon người thì lòng yêu nước lại bộc lộ Vì vậy mẫu số chung để quy tụ mọingười vào khối đại đoàn kết dân tộc chính là nền độc lập và thống nhất của
Trang 17Tổ quốc, là cuộc sống tự do và hạnh phúc của nhân dân cần phải xây dựng
từ hôm nay cho đến mãi mãi mai sau
Dân tộc, toàn dân là khối rất đông bao gồm nhiều chục triệu con người.Muốn xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc rộng lớn như vậy, thì phải xácđịnh rõ đâu là nền tảng của khối đại đoàn kết dân tộc dân tộc và những lựclượng nào tạo nên cái nền tảng đó Về điều này, Người đã chỉ rõ:
“Đại đoàn kết tức là trước hết phải đoàn kết đại đa số nhân dân, mà
đại đa số nhân dân là công nhân, nông dân và các tầng lớp nhân dân lao động khác Đó là nền gốc của đại đoàn kết Nó cũng như cái nền của nhà, gốc của cây Nhưng đã có nền vững, gốc tốt, còn phải đoàn kết các tầng lớp nhân dân khác” 1
Người còn phân tích sâu hơn, đâu là những lực lượng nòng cốt tạo nêncái nền tảng ấy, hay cũng có thể nói đâu là nền tảng của cái nền tảng ấy:
“Lực lượng chủ yếu trong khối đại đoàn kết dân tộc là công nông, cho
nên liên minh công nông là nền tảng của Mặt trận dân tộc thống nhất” 2
Về sau, Người nêu thêm: lấy liên minh công – nông – lao động trí óclàm nền tảng cho khối đại đoàn kết toàn dân Nền tảng càng được củng cốvững chắc thì khối đại đoàn kết dân tộc càng có thể mở rộng, không e ngạibất cứ thế lực nào có thể làm suy yếu khối đại đoàn kết dân tộc
4 Đại đoàn kết dân tộc không thể chỉ dừng lại những quan niệm, ở
tư tưởng, ở những lời kêu gọi mà phải trở thành một chiến lược cách mạng, trở thành khẩu hiệu hành động của toàn Đảng, toàn dân ta Nó phải biến thành sức mạnh vật chất có tổ chức Tổ chức thể hiện khối đại đoàn kết dân tộc chính là Mặt trận dân tộc thống nhất.
Cả dân tộc hay toàn dân chủ trở thành sức mạnh to lớn, trở thành sứcmạnh vô địch khi được giác ngộ về mục tiêu chiến đấu chung, được tổ chức
1 Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb CTQG, t 4, tr 438.
Trang 18lại thành một khối vững chắc và hoạt động theo một đường lối chính trịđúng đắn Nếu không như thế, quần chúng nhân dân dù cả hàng triệu, hàngtriệu con người cũng chỉ là một số đông có sức mạnh Thất bại của cácphong trào yêu nước trước kia đã chứng minh rõ vấn đề này.
Ngay từ khi tìm thấy con đường cứu nước, Hồ Chí Minh đã rất chú ýđến việc đưa quần chúng nhân dân vào những tổ chức yêu nước phù hợp với
từ giai tầng, từng giới, từng ngành nghề, từng lứa tuổi, từng tôn giáo; hơn nữacòn phù hợp từng bước phát triển của phong trào cách mạng Đó là các hộihữa ái hay tương trợ, công hội hay nông hội, đoàn thanh niên hay hội phụ nữ,đội thiếu niên nhi đồng hay hội phụ lão… và bao trùm nhất là Mặt trận dântộc thống nhất, nơi quy tụ mọi tổ chức và cá nhân yêu nước, tập hợp mọi condân nước Việt, không chỉ cả những trong nước mà còn bao gồm cả nhữngngười Việt Nam định cư nước ngoài, dù ở bất cứ phương trời nào, nếu tấmlòng vẫn hướng về quê hương đất nước, về Tổ quốc Việt Nam…
Tùy theo từng thời kỳ, từng giai đoạn cách mạng, Mặt trận dân tộcthống nhất có thể có những tên gọi khác nhau, nhưng thực chất chỉ là một,
đó là tổ chức chính trị rộng rãi, tập hợp đông đảo các giai cấp, tầng lớp, tôngiáo… và Mặt trận phải có cương lĩnh, điều lệ phù hợp với yêu cầu, nhiệm
vụ của từng thời kỳ, từng giai đọan cách mạng và phải được xây dựng theonhững nguyên tắc cụ thể
5 Đảng Cộng sản phải vừa là thành viên Mặt trận dân tộc thống nhất, lại vừa là lực lượng lãnh đạo Mặt trận, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân ngày càng vững chắc
Theo Hồ Chí Minh, Đảng Cộng sản Việt Nam không phải chỉ là sảnphẩm của sự kết hợp chủ nghĩa Mác – Lênin với phong trào công nhân, màcòn cả với phong trào yêu nước Việt Nam Bởi lẽ, Đảng ra đời trong bão tápcủa cuộc đấu tranh giai cấp công nhân gắn chặt với cuộc đấu tranh của cảdân tộc Những người tham gia Đảng Cộng sản Việt Nam không phải chỉ là
Trang 19những người tiên tiến thuộc giai cấp công nhân, mà số đông lại là nhữngngười tiên tiến thuộc giai cấp nông dân, tiểu tư sản, các tầng lớp lao độngchân tay và trí óc, kể cả những người vốn thuộc giai cấp bóc lột đã từng bỏ
hệ tư tưởng và lợi ích của giai cấp mình, giác ngộ lý tưởng độc lập dân tộc
và chủ nghĩa xã hội Vì vậy, Đảng vừa là Đảng của giai cấp công nhân, lạivừa là Đảng của nhân dân lao động và của cả dân tộc Luận điểm này của
Hồ Chí Minh hoàn toàn khác với luận điểm về “đảng toàn dân” của những
người theo chủ nghĩa xét lại đã nêu trong những năm 60 của thế kỷ XX.Theo Hồ Chí Minh, Đảng Cộng sản Việt Nam là Đảng của giai cấp côngnhân vì Đảng mang bản chất giai cấp công nhân và lấy chủ nghĩa Mác –Lênin làn cốt Là Đảng của nhân dân lao động và của cả dân tộc, vì Đảng rađời trong lòng giai cấp công nhân và nhân dân lao động, đại biểu cho lợi íchcủa cả dân tộc Hơn nữa, trong cách mạng giải phóng dân tộc, Đảng lại đặtlợi ích của dân tộc lên trên hết và trước hết, vì nếu không giành được độc lập
cho dân tộc thì lợi ích của giai cấp công nhân “ngàn vạn năm cũng không
thể giải quyết được”.
Cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân chống chủ nghĩa tư bản mangtính chất quốc tế, nhưng cuộc đấu tranh ấy lại diễn ra trước hết trong từngquốc gia dân tộc Vì vậy, giai cấp công nhân và Đảng của nó trước hết phảitrở thành dân tộc, như Mác và Ăngghen đã nêu ra trong Tuyên ngôn củaĐảng Cộng sản Ở Việt Nam, điều ấy đã là đương nhiên ngay từ khi ĐảngCộng sản Việt Nam ra đời, cũng như trong suốt quá trình lãnh đạo cáchmạng Việt Nam Đại đoàn kết dân tộc, tập hợp toàn dân trong cuộc đấutranh cách mạng đã trở thành vấn đề máu thịt của Đảng Đại bộ phận nhândân Việt Nam đã coi Đảng Cộng sản là Đảng của mình, đó cũng là điều dễhiểu Đây là đặc điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam, khác nhiều so với cácĐảng Cộng sản Tây Âu Vinh dự ấy rất to lớn, nhưng trách nhiệm của Đảngtrước dân tộc cũng rất nặng nề
Trang 20Như Hồ Chí Minh đã nói, muốn quy tụ được cả dân tộc, Đảng phải
“vừa đạo đức, vừa văn minh” Điều này hoàn toàn thống nhất với mệnh đề của Lênin mà Người thường nhắc lại “Đảng Cộng sản phải tiêu biểu cho trí
tuệ, danh dự, lương tâm của dân tộc và thời đại” Văn minh cũng có nghĩa
là trí tuệ; danh dự, lương tâm và đạo đức Tiên phong về trí tuệ, mẫu mực vềđạo đức, Đảng đã được nhân dân ủng hộ và đã trở thành hạt nhân của khốiđại đoàn kết dân tộc
6 Đại đoàn kết dân tộc phải gắn liền với đoàn kết quốc tế; chủ nghĩa yêu nước chân chính phải gắn liền với chủ nghĩa quốc tế trong sáng của giai cấp công nhân, đây là tư tưởng lớn của Hồ Chí Minh
Khi tìm thấy con đường cứu nước, Hồ Chí Minh đã sớm xác định cáchmạng Việt Nam là một bộ phận của cách mạng thế giới, cách mạng ViệtNam chỉ có thể giành được thắng lợi khi đoàn kết chặt chẽ với phong tràocách mạng thế giới
Trong những năm chuẩn bị cho việc thành lập Đảng Cộng sản ViệtNam, Người đã nêu rõ:
“Phải có đảng cách mệnh, để trong thì vận động và tổ chức dân chúng,
ngoài thì liên lạc với dân tộc bị áp bức và vô sản giai cấp mọi nơi” 1
Từ đó về sau, tư tưởng của Người về đoàn kết với phong trào cáchmạng thế giới càng được làm rõ hơn và đầy đủ hơn Đó là phong trào giảiphóng dân tộc, phong trào cách mạng của giai cấp công nhân và nhân dânlao động của chính quốc và ở các nước tư bản Đó là nước Nga Xô Viết, làLiên Xô và sau này mở rộng ra các nước xã hội chủ nghĩa khác Đó là phongtrào đấu tranh vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội củanhân dân thế giới Người đặc biệt coi trọng khối đoàn kết Việt – Miên –Lào, ba nước cùng cảnh ngộ thuộc địa trên bán đảo Đông Dương trong cuộcđấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc thực dân Trong kháng chiến chống chủ