1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

ÔN THI TRIẾT HỌC MÁC LÊNIN dành cho sinh viên ĐHCĐ

32 7 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Ôn Thi Triết Học Mác - Lênin Dành Cho Sinh Viên ĐHCĐ
Trường học Đại Học Công Đoàn
Chuyên ngành Triết Học Mác - Lênin
Thể loại Ôn Tập
Định dạng
Số trang 32
Dung lượng 76,21 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ÔN TẬP THI CUỐI KÌ MÔN TRIẾT HỌC MÁC LÊNIN 1 MỐI QUAN HỆ GIỮA VẬT CHẤT VÀ Ý THỨC Trong lịch sử, Chủ nghĩa duy tâm cho rằng ý thức có trước, vật chất có sau, ý thức quyết định vật chất Chủ nghĩa duy vật siêu hình cho rằng vật chất có trước, ý thức có sau, vật chất quyết định ý thức và sinh ra ý thức a Vai trò của vật chất đối với ý thức Chủ nghĩa duy vật biện chứng khẳng định Vật chất có trước, ý thức có sau, vật chất là nguồn gốc của ý thức, quyết định ý thức vì Ý thức là sản phẩm của 1 dạng v.

Trang 1

ÔN TẬP THI CUỐI KÌ MÔN TRIẾT HỌC MÁC- LÊNIN

1/ MỐI QUAN HỆ GIỮA VẬT CHẤT VÀ Ý THỨC

Trong lịch sử, Chủ nghĩa duy tâm cho rằng ý thức có trước, vật chất có sau, ý thức quyết định vật chất Chủ nghĩa duy vật siêu hình cho rằng vật chất có trước, ý thức có sau, vật chất quyết định ý thức và sinh ra ý thức.

a/ Vai trò của vật chất đối với ý thức:

Chủ nghĩa duy vật biện chứng khẳng định: Vật chất có trước, ý thức có sau, vật chất là nguồn gốc của ý thức, quyết định ý thức vì:

Ý thức là sản phẩm của 1 dạng vật chất có tổ chức cao là bộ óc người nên chỉ khi có con người mới có ý thức Trong mối quan hệ giữa con người với thế giới vật chất thì con người là kết quả

quá trình phát triển lâu dài của thế giới vật chất, là sản phẩm của thế giới vật chất.

Các yếu tố tạo thành nguồn gốc tự nhiên, nguồn gốc xã hội của ý thức, hoặc là chính bản thân thế giới vật chất ( thế giới khách quan), hoặc là những dạng tồn tại của vật chất đã khẳng định

vật chất là nguồn gốc của ý thức.

Ý thức là sự phản ánh thế giới vật chất, là hình ảnh chủ quan về thế giới vật chất nên nội dung của ý thức được quyết định bởi vật chất

b/ Vai trò của ý thức đối với vật chất:

Trong mối quan hệ với vật chất, ý thức có thể tác động trở lại vật chất thông qua hoạt động thực tiễn của con người vì:

Ý thức là ý thức của con người nên nói đến vai trò của ý thức là nói đến vai trò của con người Bản thân ý thức tự nó không trực tiếp thay đổi được gì trong hiện thực Muốn thay đổi hiện thực, con người phải tiến hành những hoạt động vật chất Song, mọi hoạt động của con người đều do ý thức chỉ đạo, nên vai trò của ý thức không phải trực tiếp tạo ra hay thay đổi thế giới vật chất mà nó trang bị cho con người tri thức về thực tại khách quan.

Trang 2

Sự tác động trở lại của ý thức đối với vật chất diễn ra theo hai hướng: tích cực hoặc tiêu cực Nếu con người nhận thức đúng, có tri thức khoa học, có tình cảm cách mạng, có nghị lực, có ý chí

thì hành động của con người phù hợp với các quy luật khách quan, con người có năng lực vượt qua

những thách thức trong quá trình thực hiện mục đích của mình, thế giới được cải tạo -> đó là sự tác động của ý thức Còn nếu ý thức của con người phản ánh không đúng hiện thực khách quan, bản

chất, quy luật khách quan thì ngay từ đầu, hướng hành động của con người đã đi ngược lại các quy

luật khách quan, hành động ấy sẽ có tác dụng tiêu cực đối với hoạt động thực tiễn, đối với hiện thực

khách quan.

Tìm hiểu về vật chất, về nguồn gốc, bản chất của ý thức, về vai trò của vật chất, ý thức có

thể thấy: vật chất là nguồn gốc của ý thức, quyết định nội dung và khả năng sáng tạo ý thức; là điều kiện tiên quyết để thực hiện ý thức; ý thức chỉ có khả năng tác động trở lại vật chất, sự tác động ấy không phải tự thân mà phải thông qua hoạt động thực tiễn ( hoạt động vật chất) của con người

Vật chất quyết định ý thức : Vật chất có trước, ý thức có sau Vật chất quyết

định nguồn gốc, bản chất nội dung sự biến đổi của ý thức.

VD: Trong đời sống xã hội có câu : Thực túc, binh cường, có thực mới vực được đạo

Chủ trương đổi mới cơ chế quan liêu bao cấp, cản trở phát triển con người- khủng hoảng kinh tế

xã hội, đông lực.

Tóm lại: Quan hệ VẬT CHẤT và Ý THỨC là quan hệ hai chiều, tác động biện chứng qua lại, trong

đó VẬT CHẤT quyết định Ý THỨC còn Ý THỨC tác động trở lại thực tiễn thông qua hoạt động nhận thức của con người.

2/ PHÉP BIỆN CHỨNG VÀ PHÉP BIỆN CHỨNG DUY VẬT:

Phép biện chứng là học thuyết nghiên cứu, khái quát biện chứng của thế giới thành hệ thống các nguyên lý, quy luật khoa học nhằm xây dựng hệ thống các nguyên tắc phương pháp luận của nhận thức và thực tiễn Với nghĩa như vậy, phép biện chứng thuộc về biện chứng

Trang 3

chủ quan, đồng thời nó cũng đối lập với phép siêu hình – phương pháp tư duy về sự vật, hiện tượng của thế giới trong trạng thái cô lập và bất biến.

Các hình thức cơ bản của phép biện chứng: Phép biện chứng đã phát triển qua ba hình thức,

ba trình độ cơ bản: phép biện chứng tự phát thời cổ đại, phép biện chứng duy tâm cổ điển Đức và

phép biện chứng duy vật của chủ nghĩa Mác- Lênin:

Phép biện chứng tự phát thời cổ đại: là hình thức đầu tiên của phép biện chứng trong

lịch sử triết học -> Nó là 1 nội dung cơ bản trong nhiều hệ thống triết học của Trung Quốc, Ấn Độ và Hy Lạp cổ đại.

Phép biện chứng duy tâm cổ điển Đức: được khởi đầu từ những quan điểm biện chứng

trong triết học của Kantơ và đạt tới đỉnh cao trong triết học của Ph Hêghen.

Phép biện chứng duy vật do Các Mác và Ph Ăngghen sáng lập: là hình thức phát

triển cao nhất của phép biện chứng Nó được xây dựng trên cơ sở kế thừa những giá trị hợp lý trong lịch sử phép biện chứng , đặc biệt là kế thừa những giá trị hợp lý và khắc phục những hạn chế trong phép biện chứng của Ph Hêghen Đồng thời phát triển phép biện chứng trên cơ sở thực tiễn mới, nhờ đó làm cho phép biện chứng đạt đến trình độ hoàn bị trên lập trường duy vật mới.

Phép biện chứng duy vật: là “ linh hồn sống”, là “ cái quyết định” của chủ nghĩa Mác, bởi

khi nghiên cứu các quy luật phát triển phổ biến của hiện thực khách quan và của nhận thức khoa học, phép biện chứng duy vật thực hiện chức năng phương pháp luận chung nhất của hoạt động nhận thức và thực tiễn, định nghĩa khái quát về phép biện chứng duy vật.

Những đặc trưng cơ bản và vai trò của phép biện chứng duy vật:

Một là, phép biện chứng duy vật của chủ nghĩa Mác-Lênin là phép biện chứng được xác lập trên nền tảng của thế giới quan duy vật khoa học.

Hai là, trong phép biện chứng duy vật của chủ nghĩa Mác- Lênin có sự thống nhất giữa nội dung thế giới quan duy vật biện chứng và phương pháp luận biện

Trang 4

chứng duy vật, do đó nó không dừng lại ở sự giải thích thế giới mà còn là công cụ để

nhận thức thế giới và cải tạo thế giới.

3/ NGUYÊN LÝ VỀ MỐI LIÊN HỆ PHỔ BIẾN

a/ Khái niệm mối liên hệ, mối liên hệ phổ biến:

Trong phép biện chứng, khái niệm mối liên hệ dùng để chỉ sự quy định, sự tác động chuyển hóa lẫn nhau giữa các sự vật, hiện tượng hay giữa các mặt, các yếu tố của mỗi sự vật, hiện tượng trong thế giới.

Khái niệm mối liên hệ phổ biến dùng để chỉ tính phổ biến của các mối liên hệ của các sự vật, hiện tượng của thế giới

b/ Tính chất của các mối liên hệ:

Tính khách quan.

Theo quan điểm biện chứng duy vật, các mối liên hệ của các sự vật, hiện tượng của thế giới là có tính khách quan Theo quan điểm đó, sự quy định, tác động và làm chuyển hóa lẫn nhau của các sự vật,

hiện tượng là cái vốn có của nó, tồn tại độc lập không phụ thuộc vào ý chí của con người; con người

chỉ có thể nhận thức và vận dụng các mối liên hệ đó trong hoạt động thực tiễn của mình Sở dĩ mối liên hệ có tính khách quan là do thế giới vật chất có tính khách quan.

VD : mối liên hệ giữa con gà và quả trứng Nhưng cũng có những mối liên hệ phải suy đến

cùng, qua nhiều khâu trung gian ta mới thấy được Gần đây, chúng ta hay được nghe về lý

thuyết “ hiệu ứng cánh bướm” Lý thuyết này xuất phát từ quan điểm cho rằng những sự vật,

hiện tượng ở rất xa nhau nhưng đều có liên quan đến nhau.

Tính phổ biến.

Theo quan điểm biện chứng thì không có bất cứ sự vật, hiện tượng hay quá trình nào tồn tại tuyệt đối biệt lập với các sự vật, hiện tượng hay quá trình khác Tính phổ biến của các mối liên hệ thể hiện

Trang 5

ở chỗ, bất kỳ nơi đâu, trong tự nhiên, trong xã hội và trong tư duy đều có vô vàn các mối liên hệ đa dạng, chúng giữ vai trò, vị trí khác nhau trong sự vận động, chuyển hóa của các sự vật, hiện tượng

Cuộc đời là một vở kịch dài, còn bạn và tôi thì đều diễn cả vai bi lẫn hài.

c/ Ý nghĩa phương pháp luận:

Nhận thức sự vật trong mối liên hệ giữa các yếu tố, các mặt của chính sự vật và trong sự tác động giữa sự vật đó với các sự vật khác.

Biết phân loại từng mối liên hệ, xem xét có trọng tâm, trọng điểm, làm nổi bật cái cơ bản nhất của sự vật hiện tượng.

Từ việc rút ra mối liên hệ bản chất của sự vật, ta lại đặt mối liên hệ bản chất đó trong tổng thể các mối liên hệ của sự vật, xem xét cụ thể trong từng giai đoạn lịch sử cụ thể.

4 NGUYÊN LÝ VỀ SỰ PHÁT TRIỂN

a/ Nội dung nguyên lý:

Vận động là mọi biến đổi nói chung, không tính đến xu hướng, kết quả của những biến đổi.

Phát triển không khái quát mọi vận động mà chỉ khái quát những sự vận động đi lên, làm xuất hiện cái mới, cái tiến bộ thay thế cái cũ, cái lạc hậu.

Phát triển là quá trình vận động từ thấp đến cao, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn, từ chất

cũ đến chất mới ở trình độ cao hơn.

Trang 6

Như vậy, phát triển là vận động nhưng không phải mọi vận động đều là phát triển, mà chỉ vận động nào theo khuynh hướng đi lên thì mới là phát triển Vận động diễn ra trong không gian, nếu thoát ly chúng thì không thể có phát triển.

Phép biện chứng duy vật khẳng định sự phát triển, đổi mới là quá trình diễn ra không ngừng trong tự nhiên, trong xã hội và trong tư duy của con người.

Phép biện chứng duy vật khẳng định phát triển là khuynh hướng chung của các sự vật, hiện

tượng nhưng không diễn ra một cách trực tiếp mà quanh co, phức tạp, theo hình xoắn

ốc, trong đó có thể có bước thụt lùi tương đối.

Phép siêu hình do tuyệt đối hóa trạng thái ổn định của sự vật đi đến phủ nhận sự phát triển.

Nếu có thừa nhận sự phát triển thì cũng chỉ là sự tăng, giảm về lượng, sự lặp lại tuần hoàn mà không có sự chuyển hóa về chất, không có sự phá hủy cái cũ và sự ra đời của cái mới.

b/ Về nguồn gốc của sự phát triển:

Theo quan điểm duy tâm: là từ những lực lượng siêu nhiên hay ở ý thức của con người.

Heghen cho rằng sự phát triển giới tự nhiên của xã hội đều được thiết định trước, từ sự vận động của “ ý niệm tuyệt đối”.

Theo quan điểm của duy vật biện chứng, nguồn gốc của sự phát triển nằm ngay trong bản

thân sự vật, từ cấu trúc của sự vật, do mâu thuẫn bên trong sự vật quy định Do đó, phát triển là

tự thân phát triển, là kết quả giải quyết mâu thuẫn bên trong của sự vật.

c/ Tính chất của sự phát triển:

Tính khách quan:

Được biểu hiện trong nguồn gốc của sự vận động và phát triển, bắt nguồn từ bản thân của sự vật,

hiện tượng, giải quyết những mâu thuẫn của sự vật, hiện tượng đó Vậy nến, phát triển là thuộc tính tất yếu, khách quan, không phải phụ thuộc vào ý thức của con người.

Tính phổ biến:

Trang 7

Được thể hiện ở quá trình phát triển diễn ra trong mọi lĩnh vực tự nhiên và xã hội và nó được thể hiện trong mọi sự vật, hiện tượng trong mọi giai đoạn của sự vật, hiện tượng đó.

Tính phong phú, đa dạng:

Được thể hiện ở chỗ phát triển là khuynh hướng chung của mọi sự vật, hiện tượng Nhưng mỗi 1 sự vật, hiện tượng, mỗi 1 lĩnh vực hiện thực lại có quá trình phát triển không giống nhau, tồn tại ở những không gian và thời gian khác nhau nên sự vật, hiện tượng phát triển sẽ khác nhau Đồng thời, trong quá trình phát triển của sự vật, hiện tượng còn chịu nhiều tác động của các sự vật, hiện tượng hay quá trình khác

d/ Ý nghĩa phương pháp luận:

Thứ nhất, khi nghiên cứu, cần đặt đối tượng vào sự vận động, phát hiện xu hướng biến đổi của

nó để không chỉ nhận thức nó ở trạng thái hiện tại, mà còn dự báo được khuynh hướng phát triển của nó trong tương lai.

Thứ hai, cần nhận thức được rằng, phát triển là quá trình trải qua nhiều giai đoạn, mỗi giai

đoạn có đặc điểm, tính chất, hình thức khác nhau nên cần tìm hình thức, phương pháp tác động phù hợp để thúc đẩy hoặc kìm hãm sự phát triển đó.

Thứ ba, phải sớm phát hiện và ủng hộ đối tượng mới hợp quy luật, tạo điều kiện cho nó phát

triển; chống lại quan điểm bảo thủ, trì trệ, định kiến.

Thứ tư, trong quá trình thay thế đối tượng cũ bằng đối tượng mới phải biết kế thừa các yếu tố

tích cực từ đối tượng cũ và phát triển sáng tạo chúng trong điều kiện mới.

5 QUY LUẬT TỪ NHỮNG THAY ĐỔI VỀ LƯỢNG DẪN ĐẾN NHỮNG

THAY ĐỔI VỀ CHẤT VÀ NGƯỢC LẠI

Quy luật này vạch ra cách thức của sự vận động và phát triển.

a Khái niệm “chất”:

Trang 8

Chất là phạm trù triết học dùng để chỉ tính quy định khách quan vốn có của sự vật và hiện tượng, là sự thống nhất hữu cơ các thuộc tính làm cho nó là nó mà không phải là cái khác.

Quan hệ giữa chất và thuộc tính: thuộc tính là đặc trưng ( khía cạnh) của chất được bộ lộ

ra trong các mối quan hệ với sự vật khác Mỗi sự vật có nhiều thuộc tính, mỗi thuộc tính lại là

sự tổng hợp của những đặc trưng và trở thành một chất => Điều đó có nghĩa sự vật có thể có nhiều chất.

b Khái niệm “ lượng”:

Lượng là phạm trù triết học để chỉ tính quy định vốn có của sự vật biểu thị số lượng, quy

mô, trình độ, nhịp điệu của sự vận động và phát triển của sự vật cũng như các thuộc tính của nó.

Lượng và chất thống nhất với nhau trong mỗi sự vật tồn tại khách quan, do đó lượng cũng mang tính khách quan, phong phú như chất Sự phân biệt giữa chất và lượng chỉ là tương đối.

Mối quan hệ biện chứng giữa chất và lượng:

a Lượng đổi dẫn đến chất đổi:

Bất kỳ sự vật, hiện tượng nào cũng đều là 1 thể thống nhất giữa chất và lượng Trong quá trình

tồn tại và phát triển của sự vật, chất và lượng cũng không ngừng biến đổi Sự thay đổi của lượng

và chất không diễn ra độc lập với nhau, mà chúng có quan hệ chặt chẽ với nhau Khi sự vật còn tồn tại trong 1 chất xác định, nghĩa là sự vật còn tồn tại trong khuôn khổ của 1 độ.

“ Độ”: là phạm trù triết học dùng để chỉ sự thống nhất giữa lượng và chất, là giới hạn

mà trong đó, sự thay đổi về lượng chưa làm thay đổi căn bản về chất của sự vật Độ biểu

hiện khuôn khổ ổn định tương đối của sự vật, độ của sự vật có thể thay đổi khi điều kiện thay đổi Trong khuôn khổ của độ, lượng biến đổi từ từ, tăng dần hoặc giảm dần, khi lượng biến đổi đạt tới

giới hạn, chất của sự vật sẽ thay đổi, giới hạn đó gọi là “ điểm nút”.

Trang 9

Điểm nút : là giới hạn mà tại đó sự thay đổi về lượng sẽ làm thay đổi về chất của sự vật

Bất kỳ độ nào cũng được giới hạn bởi hai điểm nút.

VD: trạng thái nước lỏng ( chất) 0 độ C và 100 độ C là những điểm nút.

Sự thay đổi về lượng khi đạt tới điểm nút sẽ dẫn đến sự ra đời của chất mới, sự chuyển

hóa từ chất cũ sang chất mới gọi là “ bước nhảy”.

Bước nhảy: là phạm trù triết học dùng để chỉ sự chuyển hóa về chất của các sự vật do sự thay đổi về lượng trước đó gây ra Các hình thức của bước nhảy diễn ra rất đa dạng: có bước

nhảy toàn bộ, bước nhảy cục bộ; bước nhảy đột biến, bước nhảy dần dần.

b Sự ảnh hưởng của chất mới đến lượng mới

Sự thay đổi về chất là kết quả của sự thay đổi về lượng khi đạt tới điểm nút Khi chất mới ra đời, chất mới tác động trở lại lượng, quy định lượng mới để tạo ra phù hợp giữa chất và lượng mới Chất mới

có thể làm thay đổi quy mô tồn tại của sự vật, làm thay đổi nhịp điệu của sự vận động và phát triển của sự vật.

Ý nghĩa phương pháp luận:

Nhận thức đúng mối quan hệ biện chứng giữa sự thay đổi về lượng và sự thay đổi về chất.

Để có được tri thức đúng về sự vật thì phải nhận thức cả mặt lượng và mặt chất của nó, đặc biệt

về sự thống nhất giữa chất và lượng của sự vật đó.

Sự thay đổi lượng và sự thay đổi chất có mối quan hệ với nhau Do vậy, trong hoạt động thực tiễn phải hiểu đúng vị trí, vai trò và ý nghĩa của mỗi loại thay đổi về lượng và chất

Xem xét tiến hóa và cách mạng trong quan hệ biện chứng là một trong những nguyên tắc phương pháp luận trong việc xây dựng chiến lược và sách lược cách mạng Hiểu đúng mối quan hệ

đó là cơ sở để chống lại chủ nghĩa cải lương.

Trang 10

Có tình yêu cũng như cơn mưa rào vậy, dù dữ dội nhưng vẫn tin sẽ có cầu vồng Tôi tin rằng, đến một ngày nào đó, sự độc thân của tôi sẽ kết thúc bởi

a/ Định nghĩa về các “ mặt đối lập”, “ mâu thuẫn biện chứng”, sự “ thống nhất”

và “đấu tranh” của các mặt đối lập:

Mặt đối lập:

Là những mặt có những đặc điểm, những thuộc tính, những quy định có khuynh hướng biến đổi trái ngược nhau, tồn tại một cách khách quan trong tự nhiên, xã hội và tư duy Sự tồn tại của các mặt đối lập là khách quan và phổ biến trong tất cả các sự vật.

VD: Trong mỗi con người, các mặt đối lập là hoạt động ăn và hoạt động bài tiết.

Trong một lớp học, các mặt đối lập là hoạt động đoàn kết để cả lớp cùng lớn mạnh và

hoạt động cạnh tranh để trở thành sinh viên giỏi nhất lớp.

Mâu thuẫn biện chứng:

Là trạng thái mà các mặt đối lập liên hệ, tác động qua lại lẫn nhau Cần phân biệt mâu thuẫn biện chứng với mâu thuẫn logic hình thức Mâu thuẫn logic hình thức chỉ tồn tại trong tư duy, xuất hiện do sai lầm trong tư duy.

Trang 11

Sự “đấu tranh” của các mặt đối lập:

Là sự tác động qua lại theo xu hướng bài trừ và phủ định lẫn nhau giữa các mặt đó

VD: Trong 1 lớp học, hoạt động đoàn kết và hoạt động cạnh tranh là các mặt đối lập Có

những lúc hoạt động đoàn kết nổi trội hơn, nhưng cũng có những lúc hoạt động cạnh tranh

lại nổi trội hơn Như thế, hoạt động đoàn kết và hoạt động cạnh tranh đang đấu tranh với

nhau.

b/ Mâu thuẫn là nguồn gốc của sự vận động và sự phát triển.

Sự thống nhất và sự đấu tranh của các mặt đối lập là hai xu hướng tác động khác nhau của các mặt đối lập:

Hai xu hướng này tạo thành một loại mâu thuẫn đặc biệt Như vậy, mâu thuẫn biện chứng cũng bao hàm cả “ sự thống nhất” lẫn “ sự đấu tranh” của các mặt đối lập.

Sự thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập không tách rời nhau trong quá trình vận động, phát triển của sự vật Sự thống nhất gắn liền với sự đứng im, ổn định tạm thời của sự vật Còn

sự đấu tranh gắn liền với tính tuyệt đối của sự vận động, phát triển.

Đấu tranh của các mặt đối lập quy định một cách tất yếu sự thay đổi của các mặt đang tác động và làm cho mâu thuẫn phát triển:

Lúc đầu mới xuất hiện, mâu thuẫn chỉ là sự khác nhau căn bản, nhưng theo khuynh hướng trái ngược nhau Sự khác nhau đó ngày càng lớn lên, rộng ra và đi đến trở thành đối lập Khi hai mặt đối lập xung đột gay gắt và đã hội đủ điều kiện, chúng sẽ chuyển hóa lẫn nhau, mâu

Trang 12

thuẫn được giải quyết, nhờ sự giải quyết này mà thể thống nhất cũ được thay thế bằng thể thống nhất mới; sự vật cũ mất đi, thay thế bằng sự vật mới.

VD: Trong hoàn cảnh sống của bạn Lan đang tồn tại mâu thuẫn Đó là mâu thuẫn

giữa việc có tiền ít và muốn đi du lịch nhiều Khi mâu thuẫn này phát triển đến mức

bạn Lan không đi du lịch nhiều thì không thấy hạnh phúc, nên Lan đã quyết tâm đi học

tiếng Anh để đi kiếm tiền nhiều hơn-> Kiếm được tiền nhiều nghĩa là mâu thuẫn đã

được giải quyết, cuộc sống cũ ít hạnh phúc của Lan được thay bằng cuộc sống mới

nhiều hạnh phúc hơn.

Như thế, sự phát triển là cuộc đấu tranh giữa các mặt đối lập

c/ Phân loại mâu thuẫn:

Căn cứ vào quan hệ đối với sự vật được xem xét: Gồm mâu thuẫn bên trong và mâu thuẫn bên

ngoài.

Mâu thuẫn bên trong: là sự tác động qua lại giữa các mặt, các khuynh hướng đối lập của cùng 1 sự vật.

VD: Mâu thuẫn giữa hoạt động ăn và hoạt động bài tiết là mâu thuẫn bên trong mỗi con người.

Mâu thuẫn bên ngoài: đối với 1 sự vật nhất định là mâu thuẫn diễn ra trong mối quan

hệ giữa sự vật đó với sự vật khác.

VD: Phòng A và phòng B đều đang phấn đấu để trở thành đơn vị kinh doanh xuất sắc

nhất của công ty X Ở đây, tồn tại mâu thuẫn giữa phòng A và phòng B, đây là mâu

thuẫn bên ngoài.

LƯU Ý: Việc phân chia thành mâu thuẫn chỉ mang tính tương đối, tùy theo phạm vi xem xét.

Cùng 1 mâu thuẫn nếu xét trong mối quan hệ này là mâu thuẫn bên trong, nhưng xét trong mối quan hệ khác lại là mâu thuẫn bên ngoài.

Trang 13

VD: Ở trên, ta đã đưa ra các vd về phòng A, phòng B của công ty X Nếu xét trong nội bộ

phòng A thì mâu thuẫn giữa phòng A và phòng B là mâu thuẫn bên ngoài Nhưng nếu

xét trong nội bộ công ty X thì mâu thuẫn giữa A và B là mâu thuẫn bên trong.

Mâu thuẫn bên trong có vai trò quyết định trực tiếp đối với quá trình vận động, phát triển của

sự vật Tuy nhiên, mâu thuẫn bên trong và mâu thuẫn bên ngoài không ngừng tác động qua lại lẫn nhau Việc giải quyết mâu thuẫn bên trong không thể tách rời việc giải quyết mâu thuẫn bên ngoài Việc giải quyết mâu thuẫn bên ngoài là điều kiện để giải quyết mâu thuẫn bên trong

Căn cứ vào ý nghĩa đối với sự tồn tại và phát triển của toàn bộ sự vật : gồm mâu thuẫn

cơ bản và mâu thuẫn không cơ bản.

Mâu thuẫn cơ bản: là mâu thuẫn quy định bản chất của sự vật, quy định sự phát triển ở tất cả các giai đoạn của sự vật, tồn tại trong suốt quá trình tồn tại của sự vật Mâu thuẫn này được giải quyết thì sự vật sẽ thay đổi căn bản về chất.

VD: Trong vd về bạn Lan đã nêu ở trên, mâu thuẫn giữa việc có tiền ít và muốn đi du

lịch nhiều là mâu thuẫn cơ bản vì nó liên quan đến giá trị sống của bạn Lan Khi mâu

thuẫn cơ bản này được giải quyết ( tức là kiếm được nhiều tiền để đi du lịch nhiều), cuộc

sống mới nhiều hạnh phúc của Lan thay thế cho cuộc sống cũ ít hạnh phúc Như thế, sự

vật đã thay đổi căn bản về chất.

Mâu thuẫn không cơ bản: là mâu thuẫn chỉ đặc trưng cho một phương diện nào đó của

sự vật, nó không quy định bản chất của sự vật Mâu thuẫn đó nảy sinh hay được giải quyết không làm cho sự vật thay đổi căn bản về chất.

VD: Mâu thuẫn giữa phòng A và phòng B trong nội bộ công ty X mà ta nêu ở trên là

mâu thuẫn không cơ bản.

Căn cứ vào vai trò của mâu thuẫn đối với sự tồn tại, phát triển của sự vật: gồm mâu thuẫn chủ

yếu và mâu thuẫn thứ yếu.

Trang 14

Mâu thuẫn chủ yếu:

Là mâu thuẫn nổi lên hàng đầu ở một giai đoạn phát triển nhất định của sự vật, nó chi phối các mâu thuẫn khác trong giai đoạn đó

Giải quyết được mâu thuẫn chủ yếu trong từng giai đoạn là điều kiện để sự vật chuyển sang giai đoạn phát triển mới.

Mâu thuẫn cơ bản và mâu thuẫn chủ yếu có quan hệ chặt chẽ với nhau Mâu thuẫn chủ yếu có thể là 1 hình thức biểu hiện nổi bật của mâu thuẫn cơ bản

Việc giải quyết mâu thuẫn chủ yếu tạo điều kiện giải quyết từng bước mâu thuẫn cơ bản.

Mâu thuẫn thứ yếu:

Là những mâu thuẫn ra đời và tồn tại trong 1 giai đoạn phát triển nào đó của sự vật, nhưng nó không đóng vai trò chi phối mà bị mâu thuẫn chủ yếu chi phối.

Giải quyết mâu thuẫn thứ yếu góp phần vào việc từng bước giải quyết mâu thuẫn chủ

VD: Mâu thuẫn giữa thành thị và nông thôn, giữa lao động trí óc với lao động chân tay.

d/ Ý nghĩa phương pháp luận.

Trang 15

Để nhận thức đúng bản chất của sự vật và tìm ra phương hướng, giải pháp đúng cho hoạt động thực tiễn, ta phải đi sâu nghiên cứu phát hiện ra mâu thuẫn của sự vật.

Phải xem xét quá trình phát sinh, phát triển của từng mâu thuẫn Để thúc đẩy sự vật phát triển,

ta phải tìm mọi cách để giải quyết mâu thuẫn, không được điều hòa mâu thuẫn.

7/ QUY LUẬT PHỦ ĐỊNH CỦA PHỦ ĐỊNH

Nội dung của quy luật: “ Là quy luật nói lên mối liên hệ, sự kế thừa giữa cái bị phủ định và cái phủ định Do sự kế thừa đó, phủ định biện chứng không phải là sự phủ định sạch trơn, bác bỏ tất cả sự phát triển trước đó, mà là điều kiện cho sự phát triển, nó duy trì và gìn giữ nội dung tích cực của các giai đoạn trước, lặp lại 1 số đặc điểm cơ bản của cái xuất phát nhưng trên cơ

sở mới cao hơn Do vậy, sự phát triển có tính chất tiến lên không phải theo đường thẳng mà theo đường xoáy ốc”.

a/ Định nghĩa về phủ định biện chứng:

Phủ định: là sự thay thế sự vật, hiện tượng này bằng sự vật, hiện tượng khác trong quá trình vận

động và phát triển Phủ định là tất yếu trong quá trình vận động và phát triển của sự vật, không có phủ định thì sự vật không phát triển được.

VD: Trong quá trình phát triển của các phương tiện giao thông, xe máy là sự phủ định

đối với xe đạp; xe ô tô là sự phủ định đối với xe máy.

Trong sự phát triển của gia đình, con giỏi hơn cha tức là con đã phủ định cha Ông cha ta

thường hay nói “ con hơn cha là nhà nhà có phúc” là ý như vậy.

Phủ định biện chứng: là quá trình tự thân phủ định, tự thân phát triển, là mắt khâu trên con đường

dẫn tới sự ra đời của cái mới, tiến bộ hơn so với cái bị phủ định.

VD: Trong ngành sản xuất điện thoại thông minh, iphone 11 là sự phủ định đối với

iphone X.

Trang 16

Khi gieo trồng, cây lúa là sự phủ định biện chứng đối với hạt thóc.

b/ Đặc điểm của phủ định biện chứng: có 2 đặc điểm cơ bản

Tính khách quan: phủ định biện chứng là sự tự thân phủ định, là kết quả giải quyết mâu thuẫn bên trong của sự vật tồn tại khách quan Phủ định biện chứng không phụ thuộc vào ý muốn,

ý chí chủ quan của con người Con người chỉ có thể tác động cho quá trình phủ định ấy diễn ra nhanh hay chậm trên cơ sở nắm vững quy luật phát triển của sự vật.

Dù có đau khổ, hụt hẫng hay thậm chí là rơi nước mắt đi chăng nữa, bạn vẫn phải chấp

nhận Bởi vì bạn đem lòng đi thích người ta mà

Tính kế thừa: phủ định biện chứng là quá trình cái mới ra đời phủ định cái cũ, đồng thời

kế thừa những giá trị của cái cũ Do đó phủ định biện chứng là sự phủ định nhưng đồng thời cũng

là sự khẳng định.

VD: Trong bất kì loài sinh vật nào, các thế hệ con cái đều kế thừa những yếu tố tích cực của

cha mẹ và bỏ qua những yếu tố lạc hậu.

c/ Phủ định của phủ định: Hình thức “ xoáy ốc” của sự phát triển:

Trong quá trình vận động của sự vật, hiện tượng những nhân tố mới xuất hiện sẽ thay thế những nhân tố cũ:

Sự vật ban đầu không còn nữa mà bị thay thế bằng sự vật mới, những nhân tố tích cực được giữ

lại=> Phủ định lần 1.

Sau 1 thời gian, sự vật mới ra đời ở trên lại bị phủ định bằng sự vật mới khác => Phủ định lần 2.

Cứ thế tiếp tục, tùy vào sự vật sẽ có phủ định lần 3, lần 4, lần n.

Sau 2 hoặc nhiều lần phủ định, sẽ có 1 sự vật mới dường như lặp lại ( rất giống) với sự vật ban

đầu, không phải là sự trùng lặp hoàn toàn mà ở nấc thang cao hơn, ta có 1 chu kỳ phát triển, đó là

sự phủ định của phủ định.

Ngày đăng: 09/06/2022, 13:50

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w