Xuất phát từ những lý do trên tôi chọn thực hiện đề tài: “Phát triển năng lực tự học cho học sinh Trung học phổ thông trong dạy học chủ đề Sinh học Vi sinh vật, Sinh học 10” nhằm góp ph
Trang 1ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KHOA SINH - MÔI TRƯỜNG
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Chuyên ngành: Sư phạm Sinh học
Đà Nẵng - 2021
Trang 2ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KHOA SINH - MÔI TRƯỜNG
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Giảng viên hướng dẫn: ThS Ngô Thị Hoàng Vân
Đà Nẵng - 2021
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan đề tài “Phát triển năng lực tự học cho học sinh Trung học phổ
thông trong dạy học chủ đề Sinh học Vi sinh vật, Sinh học 10” là công trình nghiên
cứu của riêng tôi Các dữ liệu trình bày trong khóa luận này là trung thực Đây là kết quả nghiên cứu của tác giả dưới sự hướng dẫn của ThS Ngô Thị Hoàng Vân – Khoa Sinh – Môi trường, Trường Đại học Sư phạm – Đại học Đà Nẵng và chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào khác trước đây Tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm nếu vi phạm bất kì quy định nào về đạo đức khoa học
Đà Nẵng, ngày 07 tháng 05 năm 2021
Tác giả
Nguyễn Thị Ngọc Mai
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Khóa luận tốt nghiệp chuyên ngành Sư phạm Sinh học với đề tài “Phát triển năng lực tự học cho học sinh Trung học phổ thông trong dạy học chủ đề Sinh học Vi sinh vật, Sinh học 10” là kết quả của quá trình cố gắng không ngừng nghỉ của bản thân và được sự giúp đỡ tận tình, động viên khích lệ của gia đình, thầy cô và bạn bè Em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến những người đã luôn sát cánh cùng em, tận tình hướng dẫn, giúp đỡ
em, đặc biệt là ThS Ngô Thị Hoàng Vân, giảng viên khoa Sinh – Môi trường, Trường Đại học Sư Phạm – Đại học Đà Nẵng
Em xin cảm ơn ban lãnh đạo, quý thầy cô giảng dạy tại khoa Sinh - Môi trường, trường Đại học Sư phạm – Đại học Đà Nẵng Nhờ có các thầy cô, em đã biết thêm rất nhiều kiến thức vô cùng to lớn và bổ ích, tạo một nền tảng vững chắc để em thực hiện khóa luận và tương lai sau này
Cuối cùng, em xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè đã luôn động viên và nhiệt tình giúp đỡ em trong quá trình thực hiện đề tài
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT v
DANH MỤC BẢNG BIỂU vi
DANH MỤC HÌNH ẢNH vii
MỞ ĐẦU 1
1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI 1
2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 2
3 NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU 2
4 GIẢ THIẾT KHOA HỌC 3
5 NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI CỦA ĐỀ TÀI 3
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
1.1 TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 4
1.1.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới 4
1.1.2 Tình hình nghiên cứu trong nước 5
1.2 CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI 5
1.2.1 Khái niệm năng lực tự học 5
1.2.2 Vai trò của năng lực tự học 6
1.2.3 Cấu trúc của năng lực nói chung và năng lực tự học nói riêng 7
1.2.4 Sự hình thành và phát triển của năng lực tự học 11
1.2.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến sự hình thành năng lực tự học của học sinh 13
1.2.6 Những biểu hiện năng lực tự học của học sinh Trung học phổ thông 15
1.3 CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 15
CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 17
2.1 ĐỐI TƯỢNG, KHÁCH THỂ NGHIÊN CỨU 17
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 17
Trang 62.1.2 Khách thể nghiên cứu 17
2.2 PHẠM VI NGHIÊN CỨU 17
2.3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 17
2.3.1 Phương pháp nghiên cứu lí luận 17
2.3.2 Phương pháp khảo sát thực tiễn 17
2.3.3 Phương pháp khảo nghiệm sư phạm 17
2.3.4 Phương pháp xử lý số liệu 18
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 19
3.1 CẤU TRÚC NỘI DUNG CHƯƠNG TRÌNH SINH HỌC 10 – THPT 19
3.1.1 Phân tích cấu trúc nội dung chương trình Sinh học 10 – THPT 19
3.1.2 Cấu trúc nội dung phần Sinh học Vi sinh vật, Sinh học 10 – THPT 19
3.2 QUY TRÌNH THIẾT KẾ VÀ TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG TỰ HỌC PHẦN SINH HỌC VI SINH VẬT, SINH HỌC 10 – THPT 22
3.3 THIẾT KẾ HOẠT ĐỘNG TỰ HỌC TRONG PHẦN SINH HỌC VI SINH VẬT, SINH HỌC 10 – THPT 23
3.4 KHẢO NGHIỆM SƯ PHẠM 39
3.4.1 Mục đích khảo nghiệm sư phạm 39
3.4.2 Nội dung khảo nghiệm 39
3.4.3 Kết quả khảo nghiệm 40
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 42
1 KẾT LUẬN 42
2 KIẾN NGHỊ 43
TÀI LIỆU THAM KHẢO 44
PHỤ LỤC 1: KẾ HOẠCH HOẠT ĐỘNG TỰ HỌC 46
HOẠT ĐỘNG 1 46
HOẠT ĐỘNG 2 52
HOẠT ĐỘNG 4 58
HOẠT ĐỘNG 5 64
PHỤ LỤC 2: PHIẾU KHẢO SÁT GIÁO VIÊN VÀ HỌC SINH 70
Trang 83.2 Nội dung kiến thức áp dụng hình thức tổ chức hoạt
động tự học trong phần Sinh học Vi sinh vật, Sinh học
Trang 9DANH MỤC HÌNH ẢNH
3.1 Sơ đồ thể hiện quy trình thiết kế và tổ chức hoạt động tự học
Trang 10MỞ ĐẦU
1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Hiện nay, một trong những nhiệm vụ quan trọng nhất của nước ta để trở thành nước công nghiệp, hiện đại và hội nhập quốc tế là phát triển nguồn nhân lực Nhân tố quan trọng cũng như điều kiện để phát triển nguồn nhân lực là giáo dục và đào tạo Nghị quyết Trung ương 8 khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện Giáo dục và đào tạo đã xác định:
“Tiếp tục đổi mới phương pháp dạy và học theo hướng hiện đại; phát huy tích cực, chủ động, sáng tạo và vận dụng kiến thức, kỹ năng của người học; khắc phục lối truyền thụ
áp đặt một chiều, ghi nhớ máy móc Tập trung dạy cách học, cách nghĩ, khuyến khích tự học, tạo cơ sở để người học tự học, tự cập nhật và đổi mới tri thức, kỹ năng, phát triển năng lực”; “Phải đổi mới phương pháp giáo dục, đào tạo, khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện thành nếp tư duy sáng tạo cho người học, đảm bảo điều kiện và thời gian tự học, tự nghiên cứu” (29-NQ-TW, 2013)
Chiến lược phát triển giáo dục giai đoạn 2011- 2020 ban hành kèm theo Quyết định
711/QĐ-TTg ngày 13/6/2012 của Thủ tướng Chính phủ chỉ rõ: “Tiếp tục đổi mới phương
pháp dạy học và đánh giá kết quả học tập, rèn luyện theo hướng phát huy tính tích cực,
tự giác, chủ động, sáng tạo và năng lực tự học của người học” Yêu cầu của đổi mới
phương pháp dạy học là phải sử dụng các PPDH phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động sáng tạo, bồi dưỡng phương pháp tự học của học sinh Việc tự học, tự đào tạo ngày càng
có vai trò quan trọng đối với giáo dục nói chung và nhu cầu nắm vững tri thức của mỗi cá nhân nói riêng Việc tìm ra các biện pháp hữu hiệu tổ chức có hiệu quả hoạt động tự học
để trang bị cho người học năng lực tự học là nhu cầu bức thiết và mang ý nghĩa chiến lược đối với lợi ích trước mắt và lâu dài của ngành Giáo dục nói riêng và quốc gia nói chung.(Đ.N Linh, 2015)
Môn Sinh học ở trường THPT là một trong những thành tố của chương trình phổ thông tổng thể được lựa chọn trong nhóm môn khoa học tự nhiên ở giai đoạn giáo dục định hướng nghề nghiệp Môn Sinh học hình thành, phát triển ở học sinh năng lực sinh học, đồng thời góp phần cùng các môn học, hoạt động giáo dục khác hình thành, phát triển ở học sinh các phẩm chất chủ yếu và năng lực chung Do đó, việc phát triển năng lực tự học nói chung và năng lực tự học Sinh học nói riêng có vai trò quan trọng trong dạy học ở trường THPT Chương trình giáo dục phổ thông cấp THPT quy định về PPDH phải: tăng cường rèn luyện năng lực làm việc với SGK, tài liệu tham khảo và rèn luyện NLTH Hoạt động học tập của học sinh ngày nay diễn ra trong những điều kiện mới mẻ,
sự hình thành xã hội thông tin trong nền kinh tế tri thức đang tạo cơ hội nhưng đồng thời
Trang 11cũng gây sức ép lên người học, đòi hỏi người học phải liên tục cập nhật thông tin, phải có
sự định hướng và lựa chọn thông tin cũng như phương pháp tiếp cận, xử lý và vận dụng thông tin Trong hoàn cảnh ấy, thời lượng học tập tại lớp ngày càng trở nên ít ỏi so với lượng kiến thức khổng lồ cần được tìm hiểu Vì vậy, việc phát triển NLTH là một giải pháp quan trọng góp phần thiết thực vào việc nâng cao chất lượng bộ môn và thực hiện đổi mới PPDH theo hướng tích cực hoạt động của HS.(P.T.T Hội & K.T.T Giang, 2016) Chủ đề Sinh học Vi sinh học là một phần nội dung của chương trình Sinh học lớp
10 nhằm cho HS được nghiên cứu, tìm hiểu sâu về đặc điểm, sinh trưởng và phát triển của các loài vi sinh vật, virut Chủ đề này mang lại cho HS nhiều sự mới lạ và thú vị về những loài sinh vật nhỏ li ti phải quan sát qua kính hiển vi, … Những kiến thức thu thập được từ việc thực hành, phân tích hình ảnh, video, …là động lực lớn thúc đẩy HS học tập một cách tự giác, tích cực và say mê tìm tòi Do vậy, cần thiết phải thiết kế các hoạt động dạy học tự học và sử dụng chúng một cách hiệu quả trong dạy học nhằm nâng cao chất lượng dạy học môn học, đồng thời góp phần phát triển NLTH cho HS
Xuất phát từ những lý do trên tôi chọn thực hiện đề tài: “Phát triển năng lực tự
học cho học sinh Trung học phổ thông trong dạy học chủ đề Sinh học Vi sinh vật, Sinh học 10” nhằm góp phần hình thành và phát triển năng lực tự học cho của HS THPT
2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
Thiết kế các hoạt động dạy học nhằm giúp học sinh phát triển năng lực tự học trong học chủ đề Sinh học Vi sinh vật, Sinh học 10
3 NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
- Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn về dạy học phát triển năng lực tự học cho học sinh THPT
- Điều tra thực trạng tự học cho học sinh trong môn Sinh học 10 ở trường THPT Thái Phiên, quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng
- Phân tích cấu trúc nội dung kiến thức phần Sinh học Vi sinh vật, Sinh học 10 – THPT để xác định các nội dung kiến thức có thể áp dụng năng lực tự học
- Xây dựng quy trình thiết kế và tổ chức hoạt động tự học cho phần Sinh học Vi sinh vật, Sinh học 10 – THPT
- Thiết kế một số kế hoạch bài dạy phần Sinh học Vi sinh vật, Sinh học 10 – THPT
có các hoạt động tự học để rèn luyện năng lực tự học cho học sinh
- Khảo nghiệm sư phạm để kiểm chứng giả thuyết hiệu quả của việc phát triển năng lực tự học cho học sinh trong dạy học phần Sinh học Vi sinh vật, Sinh học 10 – THPT
Trang 12- Đánh giá kết quả khảo nghiệm bằng phương pháp thống kê về mặt định tính và định lượng để khẳng định giả thuyết nêu ra
4 GIẢ THIẾT KHOA HỌC
Nếu thiết kế hợp lí các hoạt động dạy học thì sẽ góp phần hình thành và phát triển được năng lực tự học cho học sinh THPT trong chủ đề Sinh học Vi sinh vật – Sinh học lớp 10
5 NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI CỦA ĐỀ TÀI
- Xác định được nội dung, biểu hiện của Năng lực tự học Sinh học và các tiêu chí đánh giá Năng lực tự học môn Sinh học của học sinh một số trường THPT trên địa bàn
Đà Nẵng
- Xây dựng các hoạt động dạy học phát triển Năng lực tự học Sinh học cho học sinh trong quá trình dạy học ở trường THPT
Trang 13CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
1.1.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới
Trong lịch sử giáo dục đã xuất hiện nhiều tư tưởng lớn đề cao vai trò của tự học, những tư tưởng ấy đến nay vẫn giữ nguyên giá trị và tiếp tục được phát huy trong nền giáo dục hiện đại Ngay từ thời cổ đại, vấn đề phát huy tính tự học của người học đã được quan tâm
Đối với vấn đề tự học và phát triển năng lực tự học, từ xa xưa đến nay đã có nhiều nhà Tâm lý học - Giáo dục học đề cập đến Lịch sử Trung Hoa cổ đại đã xuất hiện các nhà giáo dục kiệt xuất, nổi bật là Khổng Tử (551- 479) Trong cuộc đời dạy học của mình, ông quan tâm và coi trọng mặt tích cực suy nghĩ, sáng tạo của HS Cách dạy của
ông là gợi mở để học trò tìm ra chân lý Ông nói với học trò của mình: “Không giận vì
không muốn biết thì không gợi mở cho, không bực vì không rõ thì không bày vẽ cho, một vật có 4 góc, bảo cho biết một góc mà không suy ra 3 góc kia thì không dạy nữa”
Công trình “Học tập một cách thông minh” (Learning Intelligence) của Michael
Shayer và Philip Adey, NXB viện Đại học mở Buckingham (2002) đã đưa ra nhiều biện pháp giúp học sinh học tập một cách thông minh Theo các tác giả, nên chú trọng vào việc tìm hiểu nhu cầu, mong muốn của học sinh từ đó đưa ra những gì mà học sinh cần giúp đỡ trong quá trình tự học Bên cạnh đó còn phải quan tâm đến những giao tiếp của học sinh khi hoạt động nhóm, thông qua những ghi chép về các đoạn hội thoại của các
em có thể kết luận được mức hiểu bài cũng như độ tập trung trong khi tự học
Tác giả James H Stronge với công trình “Những phẩm chất của người giáo viên
hiệu quả”, NXB Giáo dục 2011, người dịch Lê Văn Canh đã nhấn mạnh đến việc giáo
viên tạo lập một môi trường học tập hiệu quả cho học sinh, trong đó có việc khuyến khích và phát triển năng lực học đáp ứng những nhu cầu cá nhân của các nhóm học sinh chuyên biệt trong lớp học Ông chú trọng việc hỗ trợ các hoạt động tích cực của học sinh thông qua thủ thuật đặt câu hỏi và thảo luận.(Đ.N Linh, 2015)
Hiện nay quan điểm giáo dục định hướng phát triển năng lực người học ngày càng được quan tâm nghiên cứu áp dụng Trong đó năng lực tự học của HS là năng lực cốt lõi cần được hình thành và phát triển Vì vậy năng lực tự học là vấn đề thu hút sự quan tâm nghiên cứu của nhiều nhà giáo dục
Trang 141.1.2 Tình hình nghiên cứu trong nước
Vấn đề tự học ở Việt Nam cũng được chú ý từ lâu Ngay từ thời kỳ phong kiến, giáo dục chưa phát triển nhưng đất nước vẫn có nhiều nhân tài kiệt xuất Những nhân tài đó, bên cạnh yếu tố được những ông Đồ tài giỏi dạy dỗ thì yếu tố quyết định đều là tự học Cũng chính vì vậy mà người ta coi trọng việc tự học, nêu cao những tấm gương tự học thành tài (H.N Thăng & Đ.T Tâm, 1998)
Đến thời kỳ Thực dân Pháp đô hộ, mặc dù nền giáo dục Âu Mỹ rất phát triển nhưng nền giáo dục nước ta vẫn chậm đổi mới Vấn để tự học không được nghiên cứu và phổ biến, song thực tiễn lại xuất hiện nhu cầu tự học rất cao trong nhiều tầng lớp xã hội Vấn để tự học thực sự được phát động nghiên cứu nghiêm túc, rộng rãi từ khi nền giáo dục cách mạng ra đời (1945), mà chủ tịch Hồ Chí Minh vừa là người khởi xướng vừa nêu tấm gương về tinh thần và phương pháp học tập Những lời chỉ dẫn quý báu và những bài học kinh nghiệm sâu sắc rút ra từ chính tấm gương tự học bền bị và thành công của Người cho đến nay vẫn còn nguyên giá trị (N.C Toàn, 1995)
Các tác giả: Nguyễn Cảnh Toàn, Nguyễn Kỳ, Vũ Văn Tào, Bùi Tường đã khẳng định: “Năng lực tự học của học trò dù còn đang phát triển vẫn là nội lực quyết định sự phát triển của bản thân người học Thầy là ngoại lực, là tác nhân, hướng dẫn, tổ chức, đạo diễn cho trò tự học Nói cách khác quả trình tự học, tự nghiên cứu, cả nhân hóa việc học của trò phải kết hợp với việc dạy của thầy và quá trình hợp tác của các bạn trong cộng đồng lớp học, tức là quá trình xã hội hóa việc học”
Bước vào thời kỳ đổi mới hiện nay, việc tự học nói chung và vấn đề tự học của HS nói riêng ngày càng được quan tâm và nghiên cứu Ở nước ta, từ năm 2002 bắt đầu triển khai chương trình và SGK phổ thông mới, mà trọng tâm là đổi mới PPDH theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của người học Dần chuyển đổi từ chương trình giáo dục tiếp cận nội dung sang tiếp cận năng lực người học
1.2 CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI
1.2.1 Khái niệm năng lực tự học
Trong các giáo trình, tài liệu, các tác giả đã đưa ra các định nghĩa khác nhau về tự học, sau đây là một số định nghĩa cơ bản:
Tự học là quá trình lĩnh hội tri thức, kinh nghiệm xã hội, lịch sử trong thực tiễn hoạt động cá nhân bằng cách thiết lập các mối quan hệ cải tiến kinh nghiệm ban đầu, đối chiếu với các mô hình phản ánh hoàn cảnh thực tại, biến tri thức của loài người thành vốn tri thức, kinh nghiệm, kỹ năng, kỹ xảo của chủ thể (M Knowles, 1975)
Trang 15Theo GS Đặng Vũ Hoạt và PGS Hà Thị Đức trong cuốn “Lý luận dạy học đại học” thì “Tự học là một hình thức tổ chức dạy học cơ bản ở đại học Đó là một hình thức nhận thức của cá nhân, nhằm nắm vững hệ thống tri thức và kỹ năng do chính người học tự tiến hành ở trên lớp hoặc ở ngoài lớp, theo hoặc không theo chương trình và sách giáo khoa đã được quy định (T.S Luận, 2013)
Theo GS.TS Nguyễn Cảnh Toàn: “Tự học – là tự mình động não, suy nghĩ, sử dụng các năng lực trí tuệ (quan sát, so sánh, phân tích, tổng hợp ) và có khi cả cơ bắp (khi phải sử dụng công cụ) cùng các phẩm chất của mình, rồi cả động cơ, tình cảm, cả nhân sinh quan, thế giới quan (như tính trung thực, khách quan, có chỉ tiến thủ, không ngại khó, ngại khổ, kiên trì, nhẫn nại, lòng say mê khoa học, biến khó khăn thành thuận lợi )
để chiếm lĩnh một lĩnh vực hiểu biết nào đó của nhân loại, biến lĩnh vực đó thành sở hữu của mình”
Có rất nhiều quan điểm khác nhau về tự học Tuy nhiên, trong các nghiên cứu giáo dục định nghĩa về tự học của tác giả Malcolm Shepherd Knowles được sử dụng phổ biến hơn cả Trong nghiên cứu của mình chúng tôi cũng phân tích năng lực tự học dựa trên định nghĩa này: “Tự học là một quá trình mà người học tự thực hiện các hoạt động học tập, có thể cần hoặc không cần sự hỗ trợ của người khác, dự toán được nhu cầu học tập của bản thân, xác định được mục tiêu học tập, phát hiện ra nguồn tài liệu, con người giúp ích được cho quá trình học tập, biết lựa chọn và thực hiện chiến lược học tập và đánh giá được kết quả thực hiện”
1.2.2 Vai trò của năng lực tự học
Theo lí thuyết hoạt động thì tâm lí con người chỉ được hình thành, phát triển và bộc
lộ trong quá trình học tập của cá nhân, có nghĩa là HS phải trực tiếp tham gia vào hoạt động học tập Vì vậy, tự học có ý nghĩa quan trọng, quyết định trực tiếp đến sự phát triển tâm lí và nhân cách của HS
Tự học có ý nghĩa quan trọng, quyết định trực tiếp sự phát triển nhân cách cho người học Các nhà tâm lý học cho rằng bản chất của sự hình thành và phát triển tâm lý con người là quá trình tiếp thu và lĩnh hội hệ thống kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo mà loài người đã phát hiện, tích lũy và tồn tại dưới dạng hệ thống hóa tri thức khoa học Theo lý thuyết hoạt động thì tâm lý con người chỉ được hình thành, phát triển và bộc lộ trong quá trình học tập của cá nhân, có nghĩa là khi người học trực tiếp tham gia vào quá trình hoạt động
Tự học là một phương pháp hữu ích mà người học có thể sử dụng để nâng cao trải nghiệm học tập cho dù đang ở trong một khóa học hay chỉ là tìm hiểu một chủ đề vui Việc áp dụng phương pháp tự học có thể giúp người học đi xa hơn những kiến thức có ở
Trang 16trong sách giáo khoa hay sự truyền đạt của thầy cô Bằng cách tự học, học sinh được khuyến khích khám phá thêm các chủ đề khác mà họ quan tâm cũng như phát triển các kỹ năng nghiên cứu
Nhờ hoạt động tự học mà HS có thể hình thành được những năng lực cơ bản để có thể “học tập suốt đời”, đáp ứng yêu cầu đổi mới của xã hội Tự học giúp học sinh có thể kiểm soát được việc học tập của bản thân, từ đó càng trở nên thích học hơn Cùng với hình thức học tập truyền thống, tự học giúp người học tận dụng tối đa kinh nghiệm học tập, lưu giữ thông tin tốt hơn, giúp tăng cường sự hiểu biết, điểm số và động lực trong học tập Sự học trong nhà trường là cần thiết, nhưng để hoàn thiện bản thân, con người cần học tập suốt cuộc đời
1.2.3 Cấu trúc của năng lực nói chung và năng lực tự học nói riêng
1.2.3.1 Cấu trúc của năng lực nói chung
Để hình thành và phát triển năng lực cần xác định được thành phần và cấu trúc của chúng Có nhiều loại năng lực khác nhau do đó việc mô tả cấu trúc và thành phần của các năng lực cũng khác nhau Cấu trúc chung của năng lực hành động được mô tả là sự kết hợp của 4 năng lực thành phần: Năng lực chuyên môn, năng lực phương pháp, năng lực
xã hội, năng lực cá thể (N.V Cường & N.T.D Thảo, 2004)
(i) Năng lực chuyên môn (Professional competency): Là khả năng thực hiện các
nhiệm vụ chuyên môn cũng như khả năng đánh giá kết quả chuyên môn một cách độc lập, có phương pháp và chính xác về mặt chuyên môn Nó được tiếp nhận qua việc học nội dung - chuyên môn và chủ yếu gắn với khả năng nhận thức và tâm lý vận động
(ii) Năng lực phương pháp (Methodical competency): Là khả năng đối với những
hành động có kế hoạch, định hướng mục đích trong việc giải quyết các nhiệm vụ và vấn
đề Năng lực phương pháp bao gồm năng lực phương pháp chung và phương pháp chuyên môn Trung tâm của phương pháp nhận thức là những khả năng tiếp nhận, xử lý, đánh giá, truyền thụ và trình bày tri thức Nó được tiếp nhận qua việc học phương pháp luận – giải quyết vấn đề
(iii) Năng lực xã hội (Social competency): Là khả năng đạt được mục đích trong
những tình huống giao tiếp ứng xử xã hội cũng như trong những nhiệm vụ khác nhau trong sự phối hợp chặt chẽ với những thành viên khác Nó được tiếp nhận qua việc học giao tiếp
(iv) Năng lực cá thể (Individual competency): Là khả năng xác định, đánh giá được
những cơ hội phát triển cũng như những giới hạn của cá nhân, phát triển năng khiếu, xây dựng và thực hiện kế hoạch phát triển cá nhân, những quan điểm, chuẩn giá trị đạo đức
Trang 17và động cơ chi phối các thái độ và hành vi ứng xử Nó được tiếp nhận qua việc học cảm xúc - đạo đức và liên quan đến tư duy và hành động tự chịu trách nhiệm
Mô hình cấu trúc năng lực trên đây có thể cụ thể hoá trong từng lĩnh vực chuyên môn, nghề nghiệp khác nhau Mặt khác, trong mỗi lĩnh vực nghề nghiệp người ta cũng
mô tả các loại năng lực khác nhau Ví dụ năng lực của GV bao gồm những nhóm cơ bản sau: Năng lực dạy học, năng lực giáo dục, năng lực chẩn đoán và tư vấn, năng lực phát triển nghề nghiệp và phát triển trường học
Từ cấu trúc của khái niệm năng lực cho thấy giáo dục định hướng phát triển năng lực không chỉ nhằm mục tiêu phát triển năng lực chuyên môn bao gồm tri thức, kỹ năng chuyên môn mà còn phát triển năng lực phương pháp, năng lực xã hội và năng lực cá thể Những năng lực này không tách rời nhau mà có mối quan hệ chặt chẽ Năng lực hành động được hình thành trên cơ sở có sự kết hợp các năng lực này (N.V Cường & N.T.D Thảo, 2004)
1.2.3.2 Cấu trúc của năng lực tự học
Năng lực tự học được được cấu thành từ 3 yếu tố là nhận thức, thái độ, kỹ năng tự học được thể hiện bằng sơ đồ sau (N.L Bình và cộng sự, 2010):
Hình 1.1 Cấu trúc của Năng lực tự học
- Nhận thức về vai trò của tự học
Có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với HS vì đó là cơ sở để hình thành nên thái độ
và hành vi đối với việc tự học của chính bản thân HS ở hiện tại cũng như suốt đời
- Thái độ của HS đối với việc tự học
Trang 18Thái độ đối với việc tự học của HS được biểu hiện thông qua mục đích tự học và các hành vi về việc chủ động học tập Một HS có thái độ tự học tốt thì sẽ có một mục tiêu học tập đúng đắn Mục đích đó không chỉ để đối phó hay phục vụ cho những mục tiêu trước mắt (kiểm tra, thi, hay đạt được điểm cao) mà còn phải hướng đến mục tiêu lớn hơn
đó là chiếm lĩnh tri thức Thái độ tự học cũng biểu hiện việc xây dựng một kế hoạch tự học Việc tự học chỉ đạt hiệu quả khi được thực hiện theo kế hoạch và phải được tiến hành thường xuyên Nếu việc học chỉ diễn ra để phục vụ một mục đích cụ thể nào đó trong ngắn hạn như kì thi, hoặc một cách thụ động khi có người khác yêu cầu, hoặc học không có kế hoạch “khi nào thích thì học” thì đều không mang lại nhiều hiệu quả (N.L Bình và cộng sự, 2010)
- Các kĩ năng tự học
Kĩ năng tự học là yếu tố quan trọng nhất trong năng lực tự học của HS Để tự điểm phân học có hiệu quả thì ngoài nhận thức, kĩ năng, thái độ thì kĩ năng tự học là thành tố đảm bảo sự thành công trong quá trình tự học của HS Có nhiều quan nhóm các kĩ năng
tự học Theo nhóm nghiên cứu ở Khoa Tâm lý - Giáo dục trường Đại học sư phạm Hà Nội, kỹ năng tự học có thể được phân thành 4 nhóm, đó là nhóm kỹ năng định hướng, nhóm kỹ năng thiết kế (lập kế hoạch), nhóm kỹ năng thực hiện kế hoạch và nhóm kỹ năng kiểm tra, đánh giá, rút kinh nghiệm
Trường ĐHSP Hà Nội I, 1992 Tác giả Vũ Trọng Rỹ thì cho rằng kỹ năng tự học của học sinh nói chung và sinh viên nói riêng gồm 4 nhóm: kỹ năng nhận thức, kỹ năng thực hành, kỹ năng tổ chức, kỹ năng kiểm tra đánh giá.(N.C Viên, 2013)
Tiếp thu những quan điểm trên, chúng tôi phân chia hoạt động tự học bao gồm các nhóm kỹ năng cơ bản sau:
+ Học nhằm mục đích gì? Học vì yêu thích môn học, vì trách nhiệm với gia đình và
xã hội, hay vì để được khen, được đánh giá cao
+ Thái độ học tập ra sao? Học với tinh thần, thái độ qua loa nghiêm túc hay hời hợt + Học như thế nào? Người học nên chọn phương pháp nào là phù hợp với bản thân
- Kỹ năng lập kế hoạch học tập
Trang 19Mọi việc sẽ dễ dàng hơn nếu người học xác định được mục tiêu, nội dung và phương pháp học Muốn vậy, người học phải xây dựng được kế hoạch học tập Trên cơ
sở bộ khung đã được thiết lập đó, người học có thể tiếp cận và chiếm lĩnh tri thức một cách dễ dàng Trong quá trình lập kế hoạch người học phải chú ý một số điểm sau (N.L Bình và cộng sự, 2010):
+ Thứ nhất, người học phải xác định tính hướng đích của kế hoạch Đó có thể là kế hoạch ngắn hạn, dài hạn, thậm chí kế hoạch cho từng môn, từng phần Kế hoạch phải được tạo lập thật rõ ràng, nhất quán cho từng thời điểm, từng giai đoạn cụ thể sao cho phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh của mình
+ Thứ hai, khi lập kế hoạch, người học phải chọn đúng trọng tâm, cần xác định được cái gì là quan trọng để ưu tiên tác động trực tiếp và dành thời gian công sức cho nó
- Kỹ năng thực hiện kế hoạch
Muốn thực hiện thành công kế hoạch mình đã tạo lập, người học cần có một số kỹ năng sau:
+ Tiếp cận thông tin: lựa chọn và chủ động tiếp nhận thông tin từ nhiều nguồn khác nhau và từ những hoạt động đã được xác định như đọc sách, nghe giảng, xem truyền hình, tra cứu từ Internet, làm thí nghiệm Trong hoạt động này rất cần có sự tỉnh táo để chọn lọc thông tin một cách thông minh và linh hoạt
+ Xử lí thông tin: việc xử lí thông tin trong quá trình tự học không bao giờ diễn ra trong vô thức mà cần có sự gia công, xử lí mới có thể sử dụng được Quá trình này có thể được tiến hành thông qua các kỹ năng ghi chép, phân tích, đánh giá, tóm lược, tổng hợp,
so sánh
+ Vận dụng tri thức, thông tin thể hiện qua việc vận dụng thông tin tri thức khoa học để giải quyết các vấn đề liên quan như thực hành bài tập, thảo luận, xử lí các tình huống, viết bài thu hoạch
+ Trao đổi, phổ biến thông tin: việc trao đổi kinh nghiệm, chia sẻ thông tin tri thức thông qua các hình thức: thảo luận, thuyết trình, tranh luận là công việc cuối cùng của quá trình tiếp nhận tri thức
- Kỹ năng tự kiểm tra, đánh giá, rút kinh nghiệm
Khi người học tự đánh giá được kết quả học tập của mình, người học sẽ tự đánh giá được năng lực học tập của bản thân, hiểu được cái gì mình làm được, cái gì mình chưa làm được để từ đó có hướng phát huy hoặc khắc phục Để có kỹ năng tự kiểm tra, đánh giá, học sinh cần:
Trang 20+ Tự trả lời câu hỏi trong sách giáo khoa bằng cách xác định yêu cầu của câu hỏi,
dự kiến câu trả lời, tái hiện các kiến thức liên quan, tập trình bày câu trả lời trước nhóm hoặc trước lớp để tìm ra chỗ sai từ đó khắc phục
+ Tự đặt câu hỏi để tự mình giải quyết hoặc thảo luận cùng bạn bè
+ Làm các bài tập của thầy cô giao cho, hoặc các bài tập bản thân tự tìm kiếm sau
đó tự mình kiểm tra đáp án để rút kinh nghiệm
1.2.4 Sự hình thành và phát triển của năng lực tự học
1.2.4.1 Động cơ tự học
Từ điển tiếng việt đưa ra định nghĩa “động cơ tự học là những gì thôi thúc con người có những ứng xử nhất định một cách vô thức hay hữu ý và thường gắn liền với những nhu cầu Động cơ tự học cũng có nhiều cấp độ khác nhau, bắt đầu từ sự thỏa mãn nhu cầu phải hoàn thành nhiệm vụ học tập, tự khẳng định vị trí của mình, mong muốn thành thạo nghề nghiệp cho tới cấp độ cao là thỏa mãn nhu cầu hiểu biết lòng khao khát tri thức và được nảy sinh trong mối quan hệ với đối tượng tự học.(N.C Toàn và cộng sự, 2001)
Động cơ có thể có nguồn gốc từ bên ngoài và được cá nhân hóa thành hứng thú, tâm thế, niềm tin của mình Hình thành động cơ hoạt động cho cá nhân phải bắt đầu xây dựng các điều kiện bên ngoài cho phù hợp với nhận thức, tình cảm của cá nhân Đó chính
là quá trình “chuyển vào trong” của những điều kiện, những yêu cầu có nguồn gốc từ bên ngoài thành động cơ cá nhân, từ những động cơ có thứ bậc thấp tới những động cơ có thứ bậc cao hơn như: danh vọng trong cộng đồng, tương lại cá nhân, lí tưởng xây dựng đất nước giàu đẹp Sự này sinh động cơ tự học lúc đầu xuất phát từ ý thức trách nhiệm buộc phải hoàn thành các nhiệm vụ học tập đã thúc đẩy hoạt động tự học của HS (N.L Bình và cộng sự, 2010) (T.B Hoành, 2006)
Động cơ có nguồn gốc bên trong: xuất phát từ logic chính nội dung tri thức khoa học làm nảy sinh trong HS lòng khao khát chiếm lĩnh tri thức, thỏa mãn sự tò mò, thử thách năng lực trí tuệ của chính mình
Động cơ tự học không có sẵn, không thể áp đặt từ bên ngoài mà phải được hình thành dần chính trong quá trình HS ngày càng đi sâu chiếm lĩnh đối tượng học tập Động
cơ tự học của HS được hình thành bởi sự tác động của các yếu tố bên ngoài như: sự bất cập giữa trình độ bản thân với yêu cầu công việc, nhu cầu thăng tiến, do tự ái bạn bè, đồng nghiệp, thỏa mãn nhu cầu hiểu biết Chính những mâu thuẫn giữa yêu cầu của công việc, cuộc sống với khả năng của HS làm xuất hiện nhu cầu tự học để nâng cao trình độ học vấn của họ
Trang 21Những động cơ tự học xuất phát từ sự nhận thức, yêu cầu nâng cao trình độ, từ sự thúc bách của nhu cầu thực tiễn nên động cơ tự học bền vững và hoạt động tự học được thực hiện một cách tích cực, tự giác hướng tới sự tự giáo dục, đào tạo bản thân (N.L Bình và cộng sự, 2010)
Khi động cơ đủ mạnh, tùy vào điều kiện của bản thân để lựa chọn hình thức, nội dung và xây dựng kế hoạch tự học thích hợp cho mình Trong quá trình tiến hành tự học, làm tăng khả năng thích ứng với công việc và cuộc sống, do đó làm nảy sinh tiếp ham muốn nâng cao hiểu biết, động cơ học tập được củng cố và nâng lên mức cao hơn
Như vậy, động cơ tự học hoàn toàn không xuất hiện một cách ngẫu nhiên hay do người khác mang đến mà chỉ có thể này sinh một cách có ý thức trong từng cá nhân nhờ các tác động phù hợp từ bên ngoài và chỉ có thể được nâng cao khi quá trình tự học có hiệu quả
Giai đoạn 2: Tự thể hiện: Người học tự thể hiện mình bằng văn bản, lời nói, tự trình bày, bảo vệ kiến thức hay sản phẩm của cá nhân tự thể hiện qua sự đổi thoại, giao tiếp với các bạn và thầy
Giai đoạn 3: Tự kiểm tra, tự điều chỉnh: Sau khi tự thể hiện mình qua sự hợp tác trao đổi với các bạn và thầy, sau khi thầy kết luận, người học tự kiểm tra đánh giá sản phẩm của mình, tự sửa sai, tự điều chỉnh hình thành sản phẩm khoa học
Trang 22- Tự học qua phương tiện truyền thông (học từ xa): HS được nghe GV giảng giải minh họa nhưng không được giải đáp các thắc mắc, không nhận được sự giúp đỡ khi gặp khó khăn với hình thức này HS cũng không tự đánh giá được kết quả học tập của mình
- Tự học qua tài liệu hướng dẫn: trong tài liệu trình bày cả nội dung, cách xây dựng kiến thức, cách kiểm tra kết quả sang mỗi phần, nếu chưa đạt thì chỉ dẫn tra cứu, bổ sung làm lại cho đến khi đạt được Song nếu chỉ dùng tài liệu HS cũng có thể gặp khó khăn không được giải đáp, giúp đỡ
- Tự lực thực hiện một số hoạt động dưới sự hướng dẫn chặt chẽ của GV ở lớp với hình thức này cũng đem lại kết quả nhất định, song HS vẫn có thể gặp khó khăn vì thiếu
sự hướng dẫn về phương pháp học
1.2.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến sự hình thành năng lực tự học của học sinh
Qua việc phân tích tìm hiểu cấu trúc của năng lực tự học, quá trình hình thành, phát triển năng lực tự học chúng tôi cho rằng năng lực tự học của HS chịu sự ảnh hưởng của một số nhân tố sau:
1.2.5.1 Các nhân tố bên trong:
- Khả năng tự học của người học
Trong các nhân tố bên trong có ảnh hưởng đến quá trình tự học, khả năng tự học của bản thân người học là rất quan trọng Vì người học là chủ thể chiếm lĩnh tri thức, chân lí bằng hành động của chính mình (N.L Bình và cộng sự, 2010)
- Động cơ, mục đích, hứng thú học tập
Động cơ mục đích học tập có vai trò thúc đẩy hoạt động nhận thức, tư duy của người học Động cơ nhận thức là nhân tố kích thích trực tiếp của các hoạt động nhận thức Đây là động lực bên trong quyết định sự tiến bộ và chất lượng của hoạt động Phương pháp tự học
Để tự học mang lại hiệu quả cao đòi hỏi người học phải có phương pháp tự học, tự nghiên cứu Mỗi người có năng lực khác nhau nên việc lựa chọn, sử dụng phương pháp
tự học cũng khác nhau
1.2.5.2 Các nhân tố bên ngoài
Các nhân tố bên ngoài có ảnh hưởng rất lớn đến quá trình tự học Trong đó cần kể đến các nhân tố sau:
- Phương pháp giảng dạy của GV
Phương pháp giảng dạy của GV có ảnh hưởng lớn đến sự hình thành và phát triển năng lực tự học của HS Phương pháp giảng dạy của GV là con đường mà GV dùng để
Trang 23tác động nhằm biến đổi HS theo mục đích đã định Theo từ điển Giáo dục học “phương pháp dạy học, cách thầy cô tiến hành dạy nội dung đi đôi với việc dạy cách học cho học trò giúp học trò trau dồi phương pháp tự học để nắm vững nội dung đang học, đồng thời rèn luyện cách tự học suốt đời” (Hoàng Phê, 2003), (V.T Rỹ, 1994)
Như vậy, có thể thấy rằng phương pháp dạy học của GV có ảnh hưởng cực kỉ quan trọng đến sự hình thành và phát triển năng lực tự học của HS Cụ thể:
Trong dạy học người GV không chỉ là người nêu rõ mục đích mà quan trọng hơn là thúc đẩy động cơ học tập cho HS Điều này làm cho HS ý thức được những mục đích đặt
ra và tạo động lực bên trong giúp HS tự giác, tích cực, chủ động, sáng tạo trong học tập (Hoàng Phê, 2003) Thông qua việc dạy học của GV, HS nắm vững tri thức, kĩ năng, kỹ xảo, hình thành năng lực và thế giới quan Từ đó mà phương pháp tự học của HS được hình thành kéo theo đó là sự hình thành và phát triển năng lực tự học của HS
Hoạt động kiểm tra đánh giá của GV cũng ảnh hưởng đến hoạt động tự kiểm tra, đánh giá của HS Thật vậy, trong quá trình tự tìm ra kiến thức, HS tự tạo ra một sản phẩm ban đầu có thể chưa chính xác, chưa khoa học Nhưng thông qua trao đổi với bạn bè và kết luận đánh giá của GV, HS tự kiểm tra để sửa sai hoặc hoàn thiện sản phẩm của mình Nếu quá trình này diễn ra thường xuyên sẽ hình thành năng lực tự kiểm tra đánh giá của
HS, làm cho năng lực tự học ngày càng phát triển (V.T Rỹ, 1994)
Qua hoạt động dạy học, GV hướng dẫn HS tìm kiếm, đọc tài liệu giúp cho năng lực
tự học, tự nghiên cứu của HS được hình thành và phát triển Đây cũng là con đường quan trọng để người học tiếp thu tri thức, để HS có thể tự học suốt đời
Hai nhóm nhân tố thời gian tự học và điều kiện cơ sở vật chất có quan hệ tác động qua lại lẫn nhau, hỗ trợ, bổ sung cho nhau giúp nâng cao chất lượng của các hoạt động tự học (N.L Bình và cộng sự, 2010)
Trang 241.2.6 Những biểu hiện năng lực tự học của học sinh Trung học phổ thông
Theo cuốn “Tài liệu tập huấn kiểm tra, đánh giá trong quá trình dạy học theo định
hướng phát triển năng lực học sinh trong trường Trung học phổ thông” của Bộ giáo dục
và Đào tạo và Dự án Việt Bi, “Dạy và học tích cực một số phương pháp, kĩ thuật dạy
học” Năng lực tự học của HS trung học phổ thông được biểu hiện thông qua kết quả học
tập cá nhân và các hoạt động sau (Đ.V Hoạt & H.T Đức, 2003)(N.V Cường & N.T.D
Thảo, 2004)(Chiến Lược Phát Triển Giáo Dục 2001-2010, 2001):
1) Xây dựng được kế hoạch học tập có tính đến kết quả học tập trước đây và định hướng phấn đấu tiếp, mục tiêu học được đặt ra chi tiết, cụ thể, đặc biệt tập trung nâng cao những khía cạnh còn yếu kém
2) Biết đặt vấn đề, khai thác tìm hiểu sâu, có thông tin phản hồi với GV về những vấn đề được giao
3) Biết sử dụng thành thạo, khai thác thông tin một cách hiệu quả các kênh tìm kiếm thông tin khác ngoài SGK, sách tham khảo như: tìm kiếm thông tin trên internet, hỏi ý kiến, kinh nghiệm của những người đi trước, quan sát học hỏi từ thực tế cuộc sống xã hội
4) Đánh giá và điều chỉnh được kế hoạch học tập, hình thành cách học tập riêng của bản thân, tìm được nguồn tài liệu phù hợp với các mục đích, nhiệm vụ học tập khác nhau Thành thạo sử dụng thư viện, chọn các tài liệu và làm thư mục phù hợp với từng chủ đề học tập khác nhau Ghi chép thông tin đọc được bằng các hình thức phù hợp, thuận lợi cho việc ghi nhớ, sử dụng, bổ sung khi cần thiết
5) Biết cách đánh giá 1 vấn đề và điều chỉnh những sai sót, hạn chế của bản thân trong quá trình học tập, suy ngẫm cách học của mình, đúc kết kinh nghiệm trên cơ sở tiếp nhận các thông tin phản hồi từ phía GV, từ các bạn để điều chỉnh các học hiệu quả
6) Chủ động trong giao tiếp, biết cách đề xuất, biểu đạt tốt ý kiến của bản thân 7) Đề xuất những ý tưởng mới, cách nhìn nhận mới trong học tập
1.3 CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
Để tìm hiểu thực trạng tổ chức hoạt động dạy học phát triển NLTH trong dạy học Sinh học THPT Chúng tôi sử dụng phiếu điều tra “Thực trạng tổ chức hoạt động dạy học phát triển NLTH trong dạy học Sinh học THPT” để tiến hành điều tra Qua điều tra cơ bản các giáo viên hiện đang giảng dạy bộ môn Sinh học tại một số trường THPT trên địa bàn thành phố Đà Nẵng bao gồm trường THPT Thái Phiên, THPT Thanh Khê, THPT Nguyễn Thượng Hiền tôi nhận thấy 100% GV biết đến dạy học phát triển NLTH từ các nguồn khác nhau, đa số thầy cô nắm được biểu hiện của phương pháp dạy học phát triển
Trang 25NLTH Có 65.48% GV đã vận dụng dạy học phát triển NLTH ở mức thường xuyên Các
GV này đều xác nhận tính hiệu quả của dạy học phát triển NLTH về thái độ, hứng thú của HS với môn học và hiệu quả trong việc rèn luyện, phát triển năng lực tự học cho HS qua quan sát của GV
Mặt khác, để điều tra tình hình, mức độ tự học của HS, chúng tôi tiến hành điều tra thông qua phiếu điều tra (phụ lục số 2) Việc điều tra được tiến hành với học sinh thuộc một số trường THPT ở thành phố Đà Nẵng Chúng tôi nhận thấy động lực khiến học sinh
nỗ lực chủ yếu là muốn tìm hiểu, khám phá những kiến thức mới và để thỏa mãn kì vọng của phụ huynh Bên cạnh đó, vấn đề xây dựng thời gian biểu tự học hàng tuần, hàng ngày còn ở mức hiếm khi và thỉnh thoảng chứ chưa được thực hiện thường xuyên Khảo sát về mong muốn của các em học sinh, có 81,3% HS muốn GV hướng dẫn cách tự học, cho thêm tài liệu để tìm hiểu Từ đó cho thấy cần tiếp tục phổ biến một cách rộng rãi hoạt động dạy học phát triển NLTH cho GV và HS
Chính vì vậy, việc đề xuất thiết kế hoạt động dạy học phát triển NLTH cho học sinh THPT là vô cùng cần thiết cho định hướng đổi mới giáo dục hiện nay
Trang 26CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 ĐỐI TƯỢNG, KHÁCH THỂ NGHIÊN CỨU
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu
Năng lực tự học của học sinh Trung học phổ thông trong dạy học chủ đề Sinh học
- Về địa bàn: Một số trường THPT trên địa bàn Thành phố Đà Nẵng
2.3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.3.1 Phương pháp nghiên cứu lí luận
- Nghiên cứu tổng quan các tài liệu về chủ trương, nghị quyết của Đảng và Nhà nước trong công tác giáo dục và đổi mới PPDH, các tài liệu về lí luận dạy học, các bài báo, công trình nghiên cứu, luận án, các tài liệu về xây dựng chương trình giáo dục theo định hướng phát triển năng lực giúp tạo cơ sở cho việc xác định và xây dựng nội dung kiến thức
- Nghiên cứu SGK về nội dung kiến thức phần Sinh học Vi sinh vật, Sinh học 10 – THPT, cùng các tài liệu khác có liên quan
2.3.2 Phương pháp khảo sát thực tiễn
Thông qua khảo sát GV và HS ở các trường THPT, dự giờ thăm lớp để có kết luận chính xác về thực trạng dạy học Sinh học ở trường THPT nói chung, thực trạng NLTH và việc phát triển NLTH môn Sinh học ở học sinh THPT nói riêng, làm cơ sở cho việc đề xuất các biện pháp sư phạm phù hợp
2.3.3 Phương pháp khảo nghiệm sư phạm
- Tổ chức khảo nghiệm sư phạm theo quy trình thiết kế và tổ chức hoạt động tự học
đã xây dựng để đánh giá, phân tích kết quả dạy học bằng hoạt động tự học Từ đó đưa ra các biện pháp để điều chỉnh, cải tiến lại kế hoạch bài dạy tương ứng với từng nội dung
Trang 27- Dựa vào số liệu điều tra, kết quả khảo nghiệm từ đó sẽ tiến hành phân tích, tổng hợp để rút ra kết luận nhằm báo cáo và kiểm chứng giả thuyết khoa học của đề tài
Trang 28CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
3.1 CẤU TRÚC NỘI DUNG CHƯƠNG TRÌNH SINH HỌC 10 – THPT
3.1.1 Phân tích cấu trúc nội dung chương trình Sinh học 10 – THPT
Nội dung chương trình môn Sinh học 10 – THPT hiện nay được chia thành ba phần, bảy chương và 33 bài Trong đó đối tượng nghiên cứu của Sinh học 10 đó là tế bào – đơn
vị cấu tạo cơ bản nên mọi cơ thể sinh vật, là đơn vị nhỏ nhất trong các cấp độ tổ chức cơ bản của thế giới sống, gồm ba phần:
Phần một: Giới thiệu chung về thế giới sống
Gồm hai bài, giới thiệu về các cấp độ của thế giới sống, từ đơn giản đến phức tạp Qua đó cung cấp cho học sinh kiến thức khái quát về các cấp độ tổ chức của thế giới sống hệ thống phân loại sinh giới Đây chính là nền tảng kiến thức cơ bản để học sinh học tập những nội dung tiếp theo trong chương trình Sinh học THPT
Phần hai: Sinh học tế bào
Gồm bốn chương, 19 bài, trong đó có ba bài thực hành và một bài ôn tập Nội dung phần này cung cấp cho học sinh những kiến thức cơ bản về tế bào, đơn vị cấu trúc và chức năng cơ bản của thế giới sống, bao gồm: thành phần hóa học, cấu trúc, các quá trình trao đổi chất và sinh sản của tế bào
Phần ba: Sinh học Vi sinh vật
Gồm ba chương, 12 bài, được thiết kế theo hai mạch nội dung: vi sinh vật và virut Trong đó mạch nội dung vi sinh vật gồm hai chương với bảy bài, tập trung vào các vi khuẩn (sinh vật nhân sơ), kế thừa kiến thức của phần sinh học tế bào trước đó, đồng thời phát triển thêm một số quá trình sinh lí đặc trưng của đối tượng này và ứng dụng thực tiễn Mạch nội dung virut được tách thành một chương gồm năm bài, giúp học sinh tìm hiểu về các đặc điểm cơ bản của virut, thực thể chưa có cấu tạo tế bào, bao gồm: cấu tạo,
sự nhân lên, tác hại và ứng dụng của vinut trong thực tiễn
3.1.2 Cấu trúc nội dung phần Sinh học Vi sinh vật, Sinh học 10 – THPT
Thông qua phân tích nội dung cụ thể của phần Sinh học Vi sinh vật, Sinh học 10 – THPT, thành phần kiến thức cơ bản được tóm tắt trong bảng 3.1
Trang 29Bảng 3.1 Các loại kiến thức cơ bản của phần Sinh học Vi sinh vật, Sinh học 10 – THPT
Chương Kiến thức khái
niệm
Kiến thức quá trình
Kiến thức quy luật
Kiến thức ứng dụng thực tiễn
- Các kiểu dinh dưỡng ở vsv
- Hô hấp hiếu khí, hô hấp kị khí
- Lên men, lên men lactic, lên men rượu
- Quá trình
phân giải các chất ở vsv
- Quá trình lên men, hô hấp của vsv
- Ứng dụng của sự tổng hợp ở vsv: sản xuất sinh khối, sản xuất axit amin, sản xuất chất xúc tác sinh học…
- Ứng dụng của quá trình phân giải các chất ở vsv: sản xuất thực phẩm cho người và gia súc, cung cấp chất dinh dưỡng cho cây trồng, phân giải các chất độc hại…
- Lên men lactic:
dấm, muối chua rau quả…
- Lên men rượu: lên men rượu từ tinh bột, từ hoa quả…
trường nuôi cấy liên tục, không liên tục
- Quá trình
của quần thể vsv trong môi
- Chủ động tạo điều kiện thích hợp để kích thích
sự sinh trưởng của vsv có lợi hoặc sử dụng các chất ức chế sinh trưởng
Trang 30- Sinh sản, phân đôi, nảy chồi, bào tử, bào tử túi, bảo tử tiếp hợp…
- Yếu tố sinh trưởng, các chất
chất ức chế sinh trưởng
không liên tục
- Quá trình sinh sản: Phân đôi, Nảy chồi, sinh sản bằng bào tử …
ở quần thể ban đầu
n là số lần phân đôi
N là số lượng tế bào vsv sau n lần phân đôi
- Quy luật sinh trưởng của quần
của vsv có hại
- Ứng dụng các chất ức chế sinh trưởng vsv trong y
trùng, sát trùng, chữa bệnh…
- Quá trình nhân lên của virut trong tế bào chủ
- Quá trình phát triển của
AIDS
- Quy luật thống nhất về cấu tạo của virut: các loại virut đều có hai thành phần
cơ bản: lõi axit nucleic và vỏ capsit
- Quy luật phù hợp giữa cấu tạo
và chức năng của các thành phần cấu tạo vsv
- Ứng dụng trong sản xuất thực tiễn: sản xuất vacxin, thuốc trừ sâu, các sản phẩm sinh học
có giá trị, bảo vệ môi trường…
Trang 313.2 QUY TRÌNH THIẾT KẾ & TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG TỰ HỌC PHẦN SINH HỌC VI SINH VẬT, SINH HỌC 10 – THPT
Qua nghiên cứu, tham khảo quy trình thiết kế và tổ chức hoạt động tự học trong các luận văn, luận án của nhiều tác giả (P.T.H Tú & N.T Cảnh, 2016), (N.T.H Sương, 2018) Chúng tôi xin đề xuất quy trình thiết kế và tổ chức hoạt động tự học phần Sinh học
Vi sinh vật, Sinh học 10 - THPT bao gồm 5 bước được tóm tắt trong sơ đồ sau:
Hình 3.1 Sơ đồ thể hiện quy trình thiết kế và tổ chức hoạt động tự học phần Sinh
Bước 2: GV thiết kế, lựa chọn phương pháp phát triển NLTH phù hợp
Việc thiết kế hoạt động và lựa chọn phương pháp, biện pháp dạy học phù hợp giúp HS chủ động, tích cực trong việc chiếm lĩnh tri thức hình thành kỹ năng
Trang 32Bước 3: GV giao nhiệm vụ - Tổ chức cho HS thực hiện nhiệm vụ học tập
GV giao nhiệm vụ học tập, những yêu cầu cụ thể về sản phẩm mà HS phải hoàn thành và tổ chức cho HS thực hiện nhiệm vụ Trong quá trình này, GV cần chú ý quan sát, phát hiện khó khăn, định hướng hỗ trợ HS thực hiện GV cần quan sát được một cách chi tiết quá trình thực hiện nhiệm vụ đến từng HS; chủ động phát hiện được khó khăn cụ thể và nguyên nhân mà HS đang gặp phải trong quá trình thực hiện nhiệm vụ Từ những phát hiện, GV đưa ra được định hướng khái quát, khuyến khích được HS hợp tác, hỗ trợ lẫn nhau để hoàn thành nhiệm vụ học tập được giao
Bước 4: HS trình bày kết quả và cùng thảo luận tập thể
GV tổ chức cho HS báo cáo, thảo luận kết quả hoạt động học tập Từ những sản phẩm đã được báo cáo, GV cho cả lớp thảo luận đánh giá những điều đã làm được, những điều cần bổ sung và đề xuất hướng giải quyết
Bước 5: GV tổng kết quá trình thực hiện nhiệm vụ của HS, đánh giá và rút kinh nghiệm
Sau hoạt động, GV cần phân tích cho HS biết mình đã đạt được mục tiêu đề
ra chưa và đạt ở mức độ nào, cùng HS tự đánh giá kiến thức, kĩ năng và năng lực
mà HS thu được GV hướng dẫn học sinh tự nhận ra những điểm mạnh và hạn chế của bản thân, rút kinh nghiệm cho những nhiệm vụ học tập tiếp theo
3.3 THIẾT KẾ HOẠT ĐỘNG TỰ HỌC TRONG PHẦN SINH HỌC VI SINH VẬT, SINH HỌC 10 – THPT
Dựa vào mục tiêu, nội dung và khung chương trình của phần Sinh học Vi sinh vật, Sinh học 10 – THPT, chúng tôi đề xuất một số nội dung kiến thức có thể áp dụng hình thức tổ chức hoạt động tự học cho học sinh để giảng dạy Các nội dung kiến thức được tổng hợp trong bảng 3.2
Bảng 3.2 Nội dung kiến thức áp dụng hình thức tổ chức hoạt động tự học trong phần
Sinh học Vi sinh vật, Sinh học 10 – THPT
Chương Bài Nội dung áp dụng hình thức tổ chức hoạt động tự học
Trang 33Trong đề tài này, chúng tôi đề xuất thiết kế hoạt động dạy học nhằm giúp học sinh phát triển năng lực tự học trong học chủ đề Sinh học Vi sinh vật, Sinh học 10 – THPT gồm năm nội dung kiến thức sau:
- Chương I, bài 23, mục II: Quá trình phân giải ở Vi sinh vật
- Chương II, bài 25, mục II: Sự sinh trưởng của quần thể Vi sinh vật
Trang 34- Chương II, bài 27, mục II: Các yếu tố lí học
- Chương III, bài 29, mục I: Cấu tạo
- Chương III, bài 31, mục I: Các virut kí sinh ở vi sinh vật, thực vật và côn trùng Với những nội dung trên, chúng tôi vận dụng hai hình thức tự học là: (1) Tự học dưới sự tổ chức, hướng dẫn trực tiếp của GV; (2) Tự học có sự điều khiển, hướng dẫn gián tiếp của GV
Mục đích của việc tổ chức hoạt động tự học cho học sinh không chỉ tập trung vào kiến thức và kĩ năng mà học sinh cần phải đạt được sau khi hoàn thành nhiệm vụ mà còn hướng đến xây dựng động lực học tập, rèn luyện các kĩ năng tự học và tự đánh giá hiệu quả thực hiện nhiệm vụ tự học Để giúp GV thuận lợi trong việc tổ chức hoạt động tự học, trong mỗi hoạt động mẫu, chúng tôi thiết kế bao gồm: mục tiêu (kiến thức, năng lực, phẩm chất), nội dung (đặt vấn đề, tài liệu tham khảo, nội dung nhiệm vụ, kế hoạch thực hiện, tiêu chí đánh giá) và kết quả dự kiến (kết quả, dự kiến câu hỏi thảo luận, dự kiến một số vấn đề phát sinh) Trong đó, phần tiến trình tổ chức được đa dạng hóa bằng những cách thức tổ chức khác nhau để GV có thể lựa chọn hình thức tổ chức phù hợp với điều kiện giảng dạy thực tế như:
- Giao nhiệm vụ ở tiết trước, học sinh thực hiện theo hướng dẫn tại nhà và báo cáo kết quả, thảo luận tại lớp vào tiết học tiếp theo
- Giao nhiệm vụ, thực hiện và báo cáo kết quả, thảo luận tại lớp trong cùng một tiết học
Đồng thời khi giao nhiệm vụ, GV có thể lựa chọn cung cấp thông tin kiến thức đầy
đủ về nội dung học tập để học sinh có thể rèn luyện kĩ năng đọc tài liệu và khái quát hóa hoặc chỉ gợi ý bằng những từ khóa và hệ thống câu hỏi, nhiệm vụ để học sinh rèn luyện
kĩ năng tìm kiếm tài liệu, đọc tài liệu, khái quát hóa
Ví dụ hướng dẫn tổ chức hoạt động tự học nội dung:
Mục II – Các yếu tố lí học (Bài 27: Các yếu tố ảnh hướng đến sinh trưởng của Vi sinh vật)
Trang 35- Nêu được một số ứng dụng mà con người đã sử dụng các yếu tố vật lí để ức chế vi sinh vật có hại
HS vận dụng kiến thức đã học để trả lời câu hỏi
GV nhận xét và dẫn vào mục II, Các yếu tố lí học
2 Tài liệu tham khảo
Sách giáo khoa Sinh học 10
3 Nội dung nhiệm vụ
GV cho HS nghiên cứu nội dung mục II, Các yếu tố lí học, hoàn thành phiếu học tập sau:
Trang 364 Kế hoạch thực hiện
Hoạt động 1: Giao nhiệm vụ cho học sinh vào tiết học bài 27: Các yếu tố ảnh hưởng
đến sinh trưởng của Vi sinh vật
Đặt vấn đề và giao nhiệm vụ
GV cho HS quan sát 03 hình ảnh: Thịt bảo
quản đông lạnh (-18ºC), Thịt bảo quản
ngăn mát, Thịt để ở môi trường ngoài và
trả lời câu hỏi: “Trong trường hợp nào, thịt
bảo quản được lâu nhất? Tại sao?”
GV nhận xét và dẫn vào mục II, Các yếu tố
lí học
GV chia lớp thành các nhóm, yêu cầu các
nhóm nghiên cứu nội dung mục II, thảo
luận nhóm hoàn thành nội dung phiếu học
tập số 2 (trong 5’) Mỗi nhóm thực hiên 1
HS nhận nhiệm vụ và tiến hành nghiên cứu nội dung mục II, thảo luận nhóm hoàn thành phiếu học tập số 2 theo đúng nội dung được phân công
Trang 37Hoạt động 2: Thực hiện báo cáo, đánh nhiệm vụ học tập vào tiết học bài 27: Các yếu
tố ảnh hưởng đến sinh trưởng của Vi sinh vật
Hết thời gian thảo luận, GV cho các nhóm
lần lượt lên báo cáo kết quả và đặt câu hỏi
cho các nhóm
(?) Nhiệt độ nào thích hợp cho sự sinh
trưởng của vsv kí sinh trên động vật?
(?) Vì sao thức ăn chưa nhiều nước lại rất
(?) Tại sao quả sấu, mơ… nếu ngâm muối,
đường để được lâu không bị hỏng?
- Nhận xét lại toàn bộ quá trình thực hiện
- Trả lời câu hỏi giáo viên đưa ra
- Căn cứ vào nhiệt độ chia vi sinh vật thành 4 nhóm:
+ Vi sinh vật ưa lạnh < 15 o C
+ Vi sinh vật ưa ấm 20 – 40 o C
+ Vi sinh vật ưa nhiệt 55 – 65 o C
+ Vi sinh vật siêu nhiệt 75 – 100 o C
Trang 38- Ứng dụng: dùng nhiệt độ cao để thanh trùng, nhiệt độ thấp để kìm hãm sinh trưởng của vi sinh vật
+ Tham gia thủy phân các chất
- Ứng dụng: Làm khô để bảo quản lương thực, thực phẩm…
3 pH
- Ảnh hưởng đến tính thấm qua màng, sự chuyển hóa các chất trong tế bào, hoạt hóa enzim, sự hình thành ATP
- Ứng dụng: Muối chua rau quả để ức chế vi khuẩn thối…
4 Ánh sáng
- Tác động đến sự hình thành bào tử sinh sản, tổng hợp sắc tố, chuyển động hướng sáng
Trang 395 Tiêu chí đánh giá
Mức 1 (0 - 2,5 điểm)
Mức 2 (2,5 – 5 điểm)
Mức 3 (5 – 7,5 điểm)
Mức 4 (7,5 – 10 điểm)
cụ thể, hợp lí
Có kế hoạch hoạt động rõ ràng, hợp
lí
Kế hoạch hoạt động cụ thể, khoa học và hợp lí
Nội
dung
kiến
thức
Thông tin đưa ra
hoàn toàn không
liên quan đến vấn
đề
dung không rõ ràng, không liên quan đến chủ đề
- Nội dung đầy
đủ, liên quan đến chủ đề
- Có một vài điểm thiếu tính nhất quán
phong phú, liên quan đến chủ
đề
- Các nội dung đưa ra đầy đủ,
Bài làm có nội dung phù hợp
Bài làm đầy đủ, nội dung chính xác, biết mở rộng, trình bày sạch đẹp
III Kết quả dự kiến
1 Kết quả
Nhiệt độ - Ảnh hưởng lớn đến tốc độ phản ứng sinh
hóa trong tế bào, làm vi sinh vật sinh sản nhanh hay chậm
- Căn cứ vào nhiệt độ chia vi sinh vật thành 4 nhóm:
+ Vi sinh vật ưa lạnh < 15oC
+ Vi sinh vật ưa ấm 20 – 40oC
Dùng nhiệt độ cao để thanh trùng, nhiệt độ thấp
để kìm hãm sinh trưởng của vi sinh vật
Trang 40+ Vi sinh vật ưa nhiệt 55 – 65oC
+ Vi sinh vật siêu nhiệt 75 – 100oC
định độ ẩm
+ Nước là dung môi hòa tan các chất dinh dưỡng
+ Tham gia thủy phân các chất
Làm khô để bảo quản lương thực, thực phẩm…
2 Dự kiến câu hỏi thảo luận
(?) Nhiệt độ nào thích hợp cho sự sinh trưởng của vsv kí sinh trên động vật?
(?) Vì sao thức ăn chưa nhiều nước lại rất dễ bị nhiễm khuẩn?
(?) Vì sao trong sữa chua hầu như không có VSV gây bệnh?
(?) Tại sao quần áo được phơi nắng thường không bị hôi?
(?) Tại sao quả sấu, mơ… nếu ngâm muối, đường để được lâu không bị hỏng?
3 Dự kiến một số vấn đề phát sinh
Giáo viên dự trù thêm câu hỏi, các tình huống sư phạm có thể xảy ra
Với ví dụ hướng dẫn hoạt động tự học này, có thể áp dụng trong kế hoạch bài dạy Bài 27: Các yếu tô ảnh hưởng đến sinh trưởng của Vi sinh vật
Cụ thể như sau: