Cùng với xu hướng quốc tế hóa, Đảng và Nhà nước ta đã coi phát triển năng lực NL là nhiệm vụ hàng đầu trong đổi mới giáo dục những năm học sắp tới, cụ thể là trong kế hoạch hành động của
Trang 1
ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
Trang 2ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Khóa luận là công trình nghiên cứu khoa học có ý nghĩa lớn đối với tôi Đây
là minh chứng cơ bản nhất cho kết quả của 4 năm Đai học Nó đánh dấu cho sự kết thúc của quãng đời sinh viên, cho sự trưởng thành hơn về mặt kiến thức cùng với kĩ năng sư phạm của tôi Đồng thời cũng đánh dấu cho những bước khởi đầu mới sau này
Để có thể hoàn thành được Khóa luận tốt nghiệp của mình, tôi đã nhận được
sự giúp đỡ lớn từ phía thầy cô, HS và bạn bè
Lời đầu tiên, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất tới TS Trần Đức Mạnh, thầy đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ, chỉ bảo tôi trong suốt quá trình lựa chọn, triển khai và hoàn thiện đề tài khóa luận
Tôi cũng xin chân thành cảm ơn đến các thầy/cô trong khoa Hóa học, trường Đại học Sư phạm Đà Nẵng, các thầy/ cô trong tổ Hóa học và ban lãnh đạo trường THPT Phạm Phú Thứ, Đà Nẵng, những người đã tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất về mặt kiến thức, kinh nghiệm, kĩ năng, cơ sở vật chất, … để tôi có thể hoàn thành khóa luận của mình
Đặc biệt, thầy xin gửi lời cảm ơn tới các em! Những HS tích cực, thân thiện
và sáng tạo của trường THPT Phạm Phú Thứ, Đà Nẵng Cảm ơn sự hợp tác và giúp
đỡ của các em đối với Khóa luận của thầy trong suốt quá trình thực nghiệm!
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Đà Nẵng, ngày 18 tháng 05 năm 2022
Sinh viên
Ngô Tấn Khoa
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các kết quả khóa luận
là trung thực và chưa từng được công bố trong bất kì công trình nào khác
Đà Nẵng, ngày 18 tháng 05 năm 2022
Sinh viên
Ngô Tấn Khoa
Trang 5DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT TRONG KHÓA LUẬN
Trang 6DANH MỤC BẢNG
1.1 Mức độ sử dụng các phương pháp và kỉ thuật dạy học định hướng
phát triển NLTH trong dạy học hóa học
18
1.2 Mức độ thường xuyên sử dụng 1 số công cụ ĐG trong dạy học hóa
học
19
đánh giá
63
Trang 73.2 Đồ thị biểu diễn đường lũy tích bài kiểm tra 11/6 và
Trang 8MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN i
LỜI CAM ĐOAN ii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT TRONG KHÓA LUẬN iii
DANH MỤC BẢNG iv
DANH MỤC HÌNH ẢNH v
MỤC LỤC vi
Mở đầu 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 2
3 Khách thể, đối tượng, phạm vi nghiên cứu 2
4 Giải thuyết khoa học 3
5 Nhiệm vụ nghiêm cứu 3
6 Phạm vi nghiên cứu 3
7 Phương pháp nghiên cứu 3
7.1 Nhóm các phương pháp nghiên cứu lí thuyết 3
7.2 Nhóm các phương pháp nghiên cứu thực tiễn 4
7.3 Phương pháp toán thống kê 4
8 Đóng góp của khóa luận 4
9 Cấu trúc của khóa luận 4
Chương 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ VIỆC PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC TỰ HỌC CHO HỌC SINH Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 5
1.1 Tình hình nghiên cứu về phát triển năng lực tự học cho học sinh phổ thông ở Việt Nam 5
1.2 Tổng quan về tự học 8
1.2.1 Khái niệm về tự học 8
1.2.2 Các hình thức tự học hiện nay 9
1.3 Tổng quan về năng lực 10
1.3.1 Khái niệm về năng lực 10
1.3.2 Các dạng năng lực 10
1.4 Năng lực tự học 11
Trang 91.4.1 Khái niệm 11
1.4.2 Biểu hiện của năng lực tự học 12
1.5 Mô hình dạy học sử dụng tài liệu tự học để phát triển năng lực tự học 13
1.5.1 Sử dụng tài liệu hướng dẫn tự học 13
1.5.1.1 Định nghĩa tài liệu hướng dẫn tự học 13
1.5.1.2 Sử dụng tài liệu hướng dẫn tự học 13
1.6 Thực trạng về tự học và phát triển năng lực tự học cho học sinh trong dạy học hóa học ở trường trung học phổ thông 17
1.6.1 Mục đích điều tra 17
1.6.2 Đối tượng điều tra 17
1.6.3 Nội dung và phương pháp điều tra 17
1.4.3.1 Nội dung điều tra 17
1.6.3.2 Phương pháp điều tra 17
1.6.4 Kết quả điều tra 18
1.6.4.1 Các kết quả điều tra đối với giáo viên 18
1.6.5 Nhận xét chung 24
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 24
CHƯƠNG 2: BIỆN PHÁP PHÁP TRIỂN NĂNG LỰC TỰ HỌC CHO HS THÔNG QUA DẠY HỌC CHỦ ĐỀ PHOTPHO Ở TRƯỜNG TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 25
2.1 Phân tích chủ đề 25
2.1.1 Vị trí 25
2.1.2.Mục tiêu 25
2.1.3 Phương pháp dạy học 26
2.2 Cấu trúc năng lực tự học trong dạy học hóa học 26
2.2.1 Cấu trúc năng lực của học sinh trung học phổ thông 26
2.2.2 Các tiêu chí đánh giá năng lực tự học của học sinh phổ thông 27
2.2.3 Các mức độ biểu hiện năng lực tự học của học sinh trường trung học phổ thông 28
2.3 Thiết kế tài liệu tự học trong dạy học chủ đề Photpho nhằm phát triển năng lực tự học cho học sinh 30
2.3.1 Định hướng thiết kế tài liệu hướng dẫn tự học 30
2.3.2 Quy trình xây dựng tài liệu hướng dẫn tự học 31
2.3.3 Tiến trình tổ chức các hoạt động tự học theo tài liệu hướng dẫn 32
2.3.4 Nội dung tài liệu hướng dẫn tự học và kế hoạch dạy học theo tài liệu 35
Trang 10 2.4 Đánh giá năng lực tự học của học sinh trong dạy học hóa phần
photpho lớp 11 trường trung học phổ thông 48
2.4.1 Mục tiêu đánh giá năng lực tự học 48
2.4.2 Sử dụng phiếu đánh giá năng lực 48
2.4.2.1 Phiếu đánh giá năng lực tự học của học sinh dành cho giáo viên 49
2.4.2.2 Phiếu tự đánh giá của học sinh 50
TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 52
CHƯƠNG 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 53
3.1.Mục đích và nhiệm vụ thực nghiệm 53
3.1.1 Mục đích thực nghiệm 53
3.1.2.Nhiệm vụ thực nghiệm 53
3.2 Địa bàn, đối tượng tượng và nội dung thực nghiệm sư phạm 53
3.2.1 Chọn địa bàn thực hiện 53
3.2.2 Chọn đối tượng thực hiện 53
3.2.3 Nội dung TN sư phạm 53
3.3 Phương pháp thực nghiệm sư phạm và thu thập xử lí số liệu thực nghiệm sư phạm 54
3.3.1 Phương pháp thực nghiệm sư phạm 54
3.3.2 Thu thập xử lí số liệu thực nghiệm sư phạm 54
3.3.2.1 Thu thập và đánh giá kết quả định tính 54
3.3.2.2 Thu thập và đánh giá kết quả định lượng 55
3.4 Kế hoạch thực nghiệm sư phạm 55
3.5 Kết quả thực nghiệm sư phạm 56
3.4.2 Kết qua bài kiểm tra 58
3.5 Giáo viên và học sinh tự đánh giá sau thực nghiệm 63
3.5.1 Giáo viên đánh giá 63
3.5.2 Học sinh tự đánh giá 64
3.6 Phân tích kết quả thực nghiệm sư phạm 65
TIỂU KẾT CHƯƠNG 3 65
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 66
1 Kết luận 66
2 Khuyến nghị 67
TÀI LIỆU THAM KHẢO 68
PHỤ LỤC 71
Trang 11Phụ lục 1 71
Phụ lục 2 76
Phụ lục 3 86
Phụ lục 4 96
Trang 12Mở đầu
1 Lí do chọn đề tài
Giáo dục - đào tạo giữ vai trò hết sức quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển của mỗi quốc gia cũng như của toàn nhân loại Trong bối cảnh hiện nay, sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ, cùng với quá trình toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế sâu rộng, đặc biệt là xu thế tất yếu của nền kinh tế tri thức đã tác động mạnh đến mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, trong đó có giáo dục Nhu cầu phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao đặt ra yêu cầu cho mỗi quốc gia phải không ngừng đổi mới, cải cách Hệ thống giáo dục quốc dân để nâng cao hơn nữa chất lượng và hiệu quả giáo dục
Cùng với xu hướng quốc tế hóa, Đảng và Nhà nước ta đã coi phát triển năng lực (NL) là nhiệm vụ hàng đầu trong đổi mới giáo dục những năm học sắp tới, cụ thể
là trong kế hoạch hành động của ngành giáo dục triển khai Chương trình hành động
của Chính phủ thực hiện Nghị quyết 29- NQ/TW cũng đã chỉ đạo: “Các cơ sở giáo dục và đào tạo đẩy mạnh đổi mới phương pháp dạy học theo hướng phát triển năng
lực cá nhân của người học, áp dụng các phương pháp, kỹ thuật dạy học tích cực, chú trọng rèn luyện phương pháp tự học”[8] Do đó, nhiệm vụ cơ bản của dạy học ở nhà
trường phổ thông hiện nay là không chỉ dừng lại ở việc cung cấp cho học sinh (HS)
một hệ thống kiến thức, mà quan trọng hơn là: “Tiếp tục đổi mới phương pháp giáo dục theo hướng: phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học; phát huy
tính tích cực, chủ động, sáng tạo, bồi dưỡng phương pháp tự học, hứng thú học tập,
kĩ năng hợp tác,…[20]
Như vậy, có thể thấy rằng năng lực tự học (NLTH) là năng lực quan trọng cần được phát triển để HS có thể thích ứng trước những chuyển biến không ngừng của cuộc sống, hòa nhập với thế giới công nghệ và không ngừng học tập để nâng cao trình độ Bên cạnh đó, Chương trình giáo dục phổ thông tổng thể cũng xác định NLTH là một trong ba NL chung cần hình thành và phát triển cho HS và đưa ra mục
tiêu “Chương trình giáo dục trung học phổ thông giúp HS tiếp tục phát triển những phẩm chất, năng lực cần thiết đối với người lao động, ý thức và nhân cách công dân;
khả năng tự học và ý thức học tập suốt đời; khả năng lựa chọn nghề nghiệp phù
hợp với năng lực và sở thích”[9] Trên cơ sở đó, chương trình môn Hóa học[10] cũng xác định các NL cần phát triển trong dạy học hóa học phổ thông là “NL nhận thức
Trang 13hóa học, NL tìm hiểu thế giới tự nhiên dưới góc độ hóa học, NL vận dụng kiến thức
kĩ năng đã học” Để đạt được mục tiêu trên, đòi hỏi người học phải có khả năng tự
tìm hiểu kiến thức hóa học một cách toàn diện, đầy đủ qua các phương tiện dạy học khác nhau Nói cách khác, người học là chủ thể độc lập trong các hoạt động học tập môn Hóa học Vì vậy, phát triển NLTH cho HS phổ thông là một nhiệm vụ quan trọng, cấp thiết, có tầm quan trọng chiến lược lâu dài
Trong bối cảnh dịch bệnh covid – 19 đang tàn phá nặng nề về kinh tế và vĩnh vực giáo dục phải chịu ảnh hưởng không hề nhỏ Hoạt động dạy và học phải chuyển đổi qua hình hoàn toàn trực tuyến, GV(GV) và HS tương tác với nhau qua một màn hình khiến việc tiếp thu kiến thức trên lớp của HS trở nên khó khăn hơn rất nhiều,
GV khó khăn trong việc quản lý HS cũng như tiến độ hoàn thành bài tập Thế nên việc thiết kế tài liệu tự học(TLTH) ở nhà cho HS có vai trò quan trọng hỗ trợ cho các
em tiếp thu bài trên lớp dễ dàng hơn Các em được tiếp cận trước các kiến thức dựa vào TLTH
Theo công văn 4040 của Bộ GD&ĐT thì có các chủ đề HS tự học(TH) có hướng dẫn [1] Qua tìm hiểu thực tế thì chủ đề này GV thường chỉ yêu cầu HS tự học với SGK và ít có hướng dẫn cụ thể Với cách để HS tự học như vậy sẽ xảy ra tình trạng
HS không hiểu nội dung, kiến thức thực tế cũng như bài tập liên quan đến chủ đề Trong đó chủ đề Photpho là chủ đề mà HS lần đầu tiếp cần với photpho và các hợp chất của photpho
Xuất phát từ những lý do trên, tác giả chọn đề tài “Phát triển năng lực tự học cho HS thông qua sử dụng tài liệu tự học chủ đề Photpho lớp 11” làm đề tài nghiên
cứu của mình
2 Mục đích nghiên cứu
Xây dựng cấu trúc NLTH và đề xuất một số biện pháp phát triển NLTH cho
HS phổ thông, góp phần nâng cao chất lượng dạy học một số chủ đề hóa học lớp 11
ở trường trung học phổ thông (THPT)
3 Khách thể, đối tượng, phạm vi nghiên cứu
- Khách thể nghiên cứu: Quá trình dạy học chủ đề photpho lớp 11 ở trường THPT
- Đối tượng nghiên cứu: NLTH và các biện pháp phát triển NLTH cho HS phổ thông trong dạy học chủ đề photpho ở trường THPT
Trang 14- Phạm vi nghiên cứu:
+ Nội dung nghiên cứu: phần kiến thức photpho của chương trình hóa học lớp 11 + Thời gian nghiên cứu: 07/2021 – 12/2021
+ Địa bàn nghiên cứu: Trường THPT Phạm Phú Thứ ở Đà Nẵng
4 Giải thuyết khoa học
Nếu đề xuất và áp dụng các biện pháp: Thiết kế và sử dụng tài liệu hướng dẫn
tự học cho HS lớp 11 trường THPT một cách hợp lý, phù hợp với đối tượng HS thì
sẽ phát triển được NLTH của HS, góp phần nâng cao chất lượng dạy học hóa học ở trường THPT
5 Nhiệm vụ nghiêm cứu
- Nghiên cứu cơ sở lí luận liên quan đến đề tài: Năng lực, năng lực tự học, những biểu hiện của NLTH, phát triển NLTH
- Nghiên cứu thực tiễn: Một số vấn đề thực tiễn liên quan đến phát triển NLTH trong dạy học hóa học ở trường THPT; điều tra thực trạng dạy học và học hóa học ở trường THPT
- Thiết kế TLTH ở nhà
- Thiết kế kế hoạch bài dạy phù hợp với phát triển năng lực tự học cho HS
- Thiết kế bộ công cụ đánh giá năng lực tự học cho HS
- Thực nghiệm(TN) sư phạm đánh giá tính khả thi và hiệu quả của các đề xuất trong đề tài
7 Phương pháp nghiên cứu
7.1 Nhóm các phương pháp nghiên cứu lí thuyết
Phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa, khái quát các văn bản, tài liệu về phát triển
và đánh giá NL, NLTH; về luật giáo dục, các chủ trương của Đảng và Nhà nước về đổi mới giáo dục phổ thông; một số phương pháp dạy học (PPDH) góp phần phát triển NLTH như: Sử dụng tài liệu hướng dẫn TH
Trang 157.2 Nhóm các phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Phương pháp điều tra: Khảo sát thực tiễn về NL tự học và vấn đề về phát triển NLTH cho HS ở một số trường THPT
- Phương pháp TNSP: Tiến hành TNSP ở trường THPT
7.3 Phương pháp toán thống kê
Phân tích kết quả TNSP nhằm xác định các tham số thống kê có liên quan từ đó phân tích, khẳng định tính hiệu quả và khả thi của các biện pháp đề xuất
8 Đóng góp của khóa luận
- Xác định được các tiêu chí và bộ công cụ đánh giá sự phát triển NL tự học cho HS THPT
- Thiết kế được kế hoạch bài dạy và đưa ra quy trình tổ chức dạy học phù hợp cho HS nhằm phát triển NL tự học
- Đánh giá được NLTH của HS thông qua các tiêu chí và bộ công cụ đã xác định ở trên
9 Cấu trúc của khóa luận
Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung khóa luận bao gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn về việc phát triển năng lực tự học cho
HS ở trường THPT
Chương 2: Biện pháp phát triển năng lực tự học cho HS thông qua dạy học
một số chủ đề hóa học lớp 11 ở trường THPT
Chương 3: TN sư phạm
Trang 16Chương 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ VIỆC PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC TỰ HỌC CHO HỌC SINH Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ
là TH của bản thân Cũng chính vì vậy mà người ta coi trọng việc TH, nêu cao những tấm gương TH thành tài Nhưng nhìn chung, lối giáo dục còn rất hạn chế `Đến thời
kỳ thực dân Pháp đô hộ, mặc dù nền giáo dục Âu Mỹ rất phát triển nhưng nền giáo dục nước ta vẫn chậm đổi mới Vấn đề TH không được nghiên cứu và phổ biến, song thực tiễn lại xuất hiện nhu cầu TH rất cao trong nhiều tầng lớp xã hội Vấn đề TH thực sự được phát động nghiên cứu nghiêm túc, rộng rãi từ khi nền giáo dục cách mạng ra đời (1945), mà Chủ tịch Hồ Chí Minh [7] vừa là người khởi xướng, vừa nêu
tấm gương về tinh thần và PPDH Người từng nói: “còn sống thì còn phải học”, và cho rằng: “về cách học phải lấy tự học làm cốt” Có thể nói TH là một tư tưởng lớn
của Hồ Chí Minh về phương pháp học tập Những lời chỉ dẫn quý báu và những bài học kinh nghiệm sâu sắc rút ra từ chính tấm gương tự học bền bỉ và thành công của Người cho đến nay vẫn còn nguyên giá trị
Từ năm 1954 đến 1975, nền Giáo dục Việt Nam Cộng hòa cũng có nhiều thành tựu đáng kể khi chuyển tử nền giáo Pháp sang giáo dục Việt Mục tiêu chương trình THPT thể hiện phát triển NL HS: Hun đúc tâm hồn và tinh khí; Rèn luyện phương pháp suy tưởng và hành động để chuẩn bị HS có đủ khả năng ra đời hay chuyển sang các ngành Kỹ thuật chuyên nghiệp hoặc tiến lên bậc đại học [17] Như vậy vấn đề
TH đối với HS thời kỳ này đã được chú ý để rèn luyện và phát triển NL Khơi nguồn cho quá trình nghiên cứu về TH phải kể đến Nguyễn Hiến Lê, Nguyễn Duy Cần,
… Qua kết quả nghiên cứu về TH, các tác giả đã chỉ rõ vai trò của TH và đưa ra những lời khuyên về TH cho mọi người Tuy vậy, các nghiên cứu mới chỉ nêu lên một số kinh nghiệm TH của bản thân các tác giả để mọi người tham khảo, chưa chỉ ra được cơ sở lý luận, phương pháp luận và quy trình TH [30]
Từ năm 1975 đến nay đã có nhiều công trình nghiên cứu về TH được công bố
Trang 17Đi đầu trong lĩnh vực này phải kể đến các công trình nghiên cứu của: Nguyễn Cảnh Toàn, Trịnh Quốc Lập, Thái Duy Tuyên, Hà Thế Ngữ, Lê Khánh Bằng, Trịnh Quang Từ, Hà Thị Đức, Đặng Bá Lãm, Cao Xuân Hạo, Trần Bá Hoành, Đinh Quang Báo, Trần Sĩ Luận, Lương Việt Thái, … Các tác giả đã nghiên cứu, đề xuất các biện pháp sư phạm của người dạy tác động đến người học nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả của TH; các biện pháp hình thành ý thức TH, tự bồi dưỡng cho sinh viên sư
phạm…[15], [27], [29] Kết quả nghiên cứu của các tác giả đã đều đi đến kết luận: “Tự học có vai trò rất quan trọng trong quá trình đào tạo giáo viên, đó là phương pháp
cơ bản giúp người học phát huy tính độc lập, sáng tạo để chiếm lĩnh tri thức khoa học Vì vậy, muốn nâng cao chất lượng đào tạo ở các trường sư phạm thì phải đổi mới mục tiêu, nội dung, phương pháp giảng dạy theo hướng phát huy NLTH cho sinh viên”[13]
GS TSKH Nguyễn Cảnh Toàn trong cuốn “Quá trình dạy – tự học” (1997) và
“Học và dạy cách học” (2002) đã dày công nghiên cứu về TH, ông định nghĩa: TH là tự mình động não, tự mình sử dụng các năng lực trí tuệ (như giám sát, so sánh,phân tích, tổng hợp, …) và có khi cả năng lực cơ bắp (như khi phải sử dụng công cụ, …) cùng các phẩm chất cá nhân của mình, rồi cả động cơ, tình cảm, cả nhân sinh quan, thế giới quan (như trung thực, khách quan, cầu tiến, …) để chiếm lĩnh một lĩnh vực, hiểu biết nào đó của nhân loại, biến nó thành sở hữu của mình”[23], [24]
Theo chương trình giáo dục phổ thông tổng thể [3], các năng lực chung cần phát triển cho HS: Năng lực tự chủ và tự học, năng lực giao tiếp và hợp tác, năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo Như vậy NLTH là một trong những năng lực cần thiết
và quan trọng nhất trong nhóm năng lực chung cần phát triển cho HS
Ngoài các tài liệu trên, vấn đề rèn luyện nâng cao kỹ năng TH, NLTH cũng được nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu, khai thác vận dụng ở nhiều môn học Một
số hướng nghiên cứu cụ thể được công bố:
1 Nghiên cứu thực trạng nhận thức về TH, NLTH của HS, SV
2 Nghiên cứu biện pháp hình thành, rèn luyện và phát triển kĩ năng TH, NLTH thông qua dạy các môn học cụ thể ở từng cấp học
3 Nghiên cứu các biện pháp tổ chức, quản lí hoạt động TH
Trong những năm gần đây có thể kể đến một số sách của tác giả Hoàng Thanh Thúy, Phan Thị Hồng Vinh [31], Trần Minh Hằng [12] và Luận án Tiến sĩ của các tác
Trang 18giả Đoàn Nguyệt Linh, Nguyễn Trọng Tuấn, Đào Thị Hoa, Cao Xuân Phan Các tác giả
đã xây dựng được cơ sở lí luận và thực tiễn cho việc TH, NLTH trong đó làm rõ cấu trúc, nội dung hướng dẫn TH, đã đề xuất các biện pháp hình thành và phát triển NLTH của HS, SV như: Sử dụng thí nghiệm, phiếu học tập, học nhóm, thiết kế bài học theo chủ
2 Vấn đề lí luận về TH đã được nghiên cứu khá nhiều và toàn diện, trong đó có nhiều quan niệm về TH thống nhất như: bản chất, vai trò, những kỹ năng TH cơ bản
3 Quan niệm về NLTH đã được một số tác giả đưa ra Tuy nhiên quan niệm này được tiếp cận và thể hiện theo các hướng khác nhau Xu hướng thứ nhất cho rằng, NLTH là khả năng tìm tòi, nhận thức và vận dụng kiến thức vào tình huống mới hoặc tương tự với chất lượng cao Xu hướng này cho rằng NLTH gồm 5 nhóm năng lực (năng lực nhận biết, tìm tòi và phát hiện vấn đề, năng lực giải quyết vấn đề, năng lực vận dụng kiến thức vào thực tiễn, năng lực đánh giá và tự đánh giá) Xu hướng thứ hai xem NLTH là một dạng đặc biệt của năng lực hành động để tự chiếm lĩnh tri thức của nhân loại và đưa ra bốn thành phần cấu trúc NLTH (năng lực cá thể, năng lực chuyên môn, năng lực phương pháp học, năng lực xã hội) Xu hướng thứ ba cho rằng NLTH bao gồm một số năng lực: năng lực sáng tạo (có khả năng thích ứng với những thay đổi), năng lực hợp tác và năng lực tự khẳng định mình, tự lập trong TH
4 Về các biện pháp rèn luyện NLTH mà các tác giả đề xuất đều là những biện pháp rèn luyện thói quen, kỹ năng, và NLTH ở mỗi môn học, hình thức, hoạt động dạy học khác nhau Các biện pháp hầu hết tập trung tác động đến các kỹ năng TH cơ bản (kỹ năng làm việc với SGK, kỹ năng ghi chép, kỹ năng đọc, kỹ năng phát hiện vấn đề, …) thông qua việc biên soạn tài liệu hướng dẫn, sử dụng công nghệ thông tin,
tổ chức thảo luận, nghiên cứu khoa học…
Như vậy, vấn đề TH, phát triển NLTH cho HS đã được đề cập đến ở một số sách, công trình nghiên cứu, luận văn và luận án Hầu hết các tác giả đều khẳng định vai trò ý nghĩa quan trọng của việc TH nói chung và việc phát triển NLTH cho HS
Trang 19nói riêng trong việc nâng cao chất lượng học tập, rèn luyện khả năng tư duy độc lập, sáng tạo cho người học Đồng thời các tác giả đều đề xuất những biện pháp để nâng cao chất lượng TH Đây là nguồn tài liệu quí giá để tôi tiếp tục đi sâu nghiên cứu và tìm ra những giải pháp phát triển NLTH cho HS trong quá trình dạy học bộ môn Hóa học ở trường THPT
1.2 Tổng quan về tự học
1.2.1 Khái niệm về tự học
Hiện nay có nhiều định nghĩa khác nhau về TH:
Theo từ điển Tiếng Việt: “Tự học có nghĩa là học lấy một mình trong sách chứ không có người dạy”[22]
Theo Từ điển Giáo dục học: “Tự học là quá trình tự mình hoạt động lĩnh hội tri thức khoa học và rèn luyện kỹ năng thực hành” [28]
Đã có nhiều nghiên cứu về TH theo các góc độ khác nhau Có thể khái lược một số quan điểm của các nhà nghiên cứu về TH:
Theo quan niệm của các nhà Tâm lý học ở nước ngoài, N.A Rubakin cho rằng:
“Tự học là quá trình lĩnh hội tri thức, kinh nghiệm xã hội lịch sử trong thực tiễn hoạt động cá nhân bằng cách thiết lập các mối quan hệ cải tiến kinh nghiệm ban đầu, đối chiếu với các mô hình phản ánh hoàn cảnh thực tại, biến tri thức của loài người thành vốn tri thức, kinh nghiệm, kĩ năng, kĩ xảo của bản thân chủ thể” [21]
Theo quan điểm của các nhà giáo dục học, Nguyễn Cảnh Toàn cho rằng: “Tự học
là tự mình động não, suy nghĩ, sử dụng các năng lực trí tuệ (quan sát, so sánh, phân tích, tổng hợp,…) và có khi cả cơ bắp (khi phải sử dụng các công cụ), cùng các phẩm chất của mình, cả động cơ, tình cảm, nhân sinh quan, thế giới quan (như tính trung thực, khách quan, có chí tiến thủ, không ngại khó, ) để chiếm lĩnh một lĩnh vực hiểu biết nào
đó của nhân loại, biến lĩnh vực đó thành sở hữu của mình” [24]
Thái Duy Tuyên khẳng định: “Tự học là một hoạt động độc lập chiếm lĩnh tri thức, kĩ năng, kĩ xảo, là tự mình động não, suy nghĩ, sử dụng các năng lực trí tuệ (quan sát, so sánh, phân tích, tổng hợp…) cùng các phẩm chất động cơ, tình cảm để chiếm lĩnh tri thức một lĩnh vực hiểu biết nào đó hay những kinh nghiệm lịch sử xã hội của nhân loại, biến nó thành sở hữu của chính bản thân người học” [26]
Những quan điểm trên cho thấy các tác giả quan niệm TH là một hình thức học có tính cá nhân do bản thân người học nỗ lực thực hiện Để tiến hành được công
Trang 20việc này, cá nhân phải tự giác, tích cực, huy động các năng lực trí tuệ để lĩnh hội những vấn đề đặt ra bằng hành động của chính mình để đạt được mục đích
Tóm lại, tổng hợp các quan niệm về TH của các tác giả và để phù hợp với hướng nghiên cứu của luận án, tôi đưa ra định nghĩa về TH:
Tự học là tự mình chủ động suy nghĩ, hoạt động một cách tự giác để chiếm lĩnh kiến thức, hình thành kỹ năng và thái độ học tập
1.2.2 Các hình thức tự học hiện nay
Tự học hoàn toàn, không có người hướng dẫn:
Hình thức tự học này, người học sẽ tự thông qua tài liệu, qua tìm hiểu thực tế, học kinh nghiệm của người khác để tiếp thu kiến thức cho mình Hình thức tự học này sẽ khiến HS gặp phải nhiều khó khăn do có nhiều lỗ hổng kiến thức, HS khó thu xếp tiến độ, kế hoạch tự học, không tự đánh giá được kết quả tự học của mình… Vì vậy mà nói đối với HS đặc biệt là bậc tiểu học, tính tự giác chưa cao thì việc áp dụng hình thức dạy học này còn khá nhiều nhược điểm
Tự học trong một giai đoạn:
Ví dụ như học bài hay làm bài tập ở nhà, HS, sinh viên sẽ phải vận dụng kiến thức mà GV đã giảng trên lớp, là công việc thường xuyên của HS tiểu học và THPT
Để giúp HS có thể tự học ở nhà, GV cần phải tăng cường kiểm tra, đánh giá kết quả học bài, làm bài tập ở nhà của HS Những HS tự giác sẽ chủ động làm bài tập ở nhà
để củng cố lại kiến thức và đây cũng đánh giá là hình thức tự học rất hiệu quả đối với
HS
Tự học qua phương tiện truyền thông:
Trong bối cảnh hiện nay, công nghệ số phát triển rất mạnh mẽ, khái niệm tự học không còn chỉ bó hẹp ở việc học một mình Nghĩa là, bạn có thể tự học với sự hướng dẫn gián tiếp Ví dụ hình thức học online cực kì phổ biến hiện nay Cụ thể:
Khi tham gia một nhóm học tập hoặc chia sẻ kinh nghiệm trên mạng xã hội cũng là một hình thức tự học Bạn có thể đặt câu hỏi cho người khác, hoặc trả lời câu hỏi của người khác bằng việc bình luận Như vậy vấn đề ở đây chỉ là thời gian, và trên thực
tế bạn vẫn có sự trao đổi thông tin và kiến thức với mọi người
Hay ví dụ khác, đó là bạn học qua video trên youtube Đây cũng là tự học nhưng vẫn
có sự hướng dẫn một cách không trực tiếp của người khác Việc bạn học theo một
Trang 21chương trình có sẵn online, bạn vẫn phải chủ động tìm hiểu kiến thức bởi nó không hoàn toàn là tương tác trực tiếp
Tự học qua tài liệu hướng dẫn:
Hình thức này HS và sinh viên sẽ có tài liệu, giáo trình có trình bày cả nội dung, cách xây dựng kiến thức, cách kiểm tra kết quả sau mỗi phần, nếu chưa đạt yêu cầu thì có hướng dẫn cách tra cứu, bổ sung, làm lại cho đến khi đạt được yêu cầu Hình thức tự học này người học có thể học cùng với bạn bè để trao đổi thông tin, như vậy sẽ hiệu quả hơn rất nhiều
1.3 Tổng quan về năng lực
1.3.1 Khái niệm về năng lực
Qua nghiên cứu, tham khảo kinh nghiệm các nước phát triển, đối chiếu với yêu cầu và điều kiện giáo dục trong nước những năm sắp tới, các nhà khoa học giáo dục Việt Nam đã đề xuất định hướng chuẩn đầu ra về năng lực của chương trình giáo dục trung học phổ thông những năm sắp tới
Theo chương trình giáo dục phổ thông tổng thể, NLTH được xác định là một trong 3 năng lực chung cốt lõi cần được hình thành và phát triển cho HS trong mọi môn học và ở các cấp học Khái niệm về NLTH được các tác giả đưa ra:
NLTH là một năng lực thể hiện ở tính tự lực, sự tự làm lấy, tự giải quyết lấy vấn đề của một chủ thể HĐ [27]
NLTH là khả năng tự mình sử dụng các năng lực trí tuệ và có khi cả năng lực cơ bắp cùng các động cơ, tình cảm, nhân sinh quan, thế giới quan để chiếm lĩnh một lĩnh vực hiểu biết nào đó của nhân loại, biến lĩnh vực đó thành sở hữu của mình [34]
Thông qua việc tìm hiểu về các khái niệm năng lực, TH, NLTH của các tác giả trong nước: Nguyễn Cảnh Toàn [24], Thái Duy Tuyên [27], Trần Bá Hoành [15], Trần Đào Thị Hoa [14], Cao Xuân Phan[18]
Trong phạm vi luận án của mình, tôi định nghĩa NLTH mang tính chất định hướng nghiên cứu cho luận án:
NLTH của HS phổ thông là khả năng HS lập được kế hoạch tự học một cách khoa học, thực hiện có hiệu quả kế hoạch tự học đã lập, tự đánh giá kết quả đạt được và điều chỉnh quá trình tự học có sự hỗ trợ của GV
1.3.2 Các dạng năng lực
Trang 22Năng lực chung: là năng lực mà có thể hỗ trợ trong nhiều ngành, lĩnh vực khác nhau, trong đó có thể là năng lực tư tưởng, năng lực về khái quát hóa, năng lực nhận xét về tư duy lao động,…
Năng lực chuyên môn: là một loại năng lực đặc trưng cần thiết trong một lĩnh vực nhất định ví dụ như năng lực toán học, năng lực hội họa, năng lực kinh doanh,…
Trong đó năng lực chuyên môn và năng lực chung có mối quan hệ qua lại lẫn nhau, năng lực chung chính là cơ sở hỗ trợ để đạt năng lực chuyên môn Theo đó, năng lực chuyên môn ở một điều kiện thuận lợi nhất định lại tác động tới sự hình thành phát triển năng lực chung
1.4 Năng lực tự học
1.4.1 Khái niệm
Theo quan điểm dạy học tích cực, bản chất của học là TH, nghĩa là chủ thể tác động vào nội dung học một cách tích cực, tự lực, chủ động và sáng tạo để đạt được mục tiêu học tập Quá trình hình thành kiến thức, kĩ năng, thái độ, chủ yếu là do HS
tự thực hiện, còn môi trường học chỉ đóng vai trò trợ giúp Học tập chỉ có hiệu quả khi người học ý thức được việc học (có nhu cầu học tập) từ đó có động cơ, ý chí và quyết tâm để vượt qua những khó khăn, trở ngại trong quá trình học tập
Cho đến nay có rất nhiều quan điểm về TH đã được các tác giả trong và ngoài nước đề cập dưới nhiều góc độ và hình thức khác nhau:
- Theo từ điển Giáo dục học [4], TH là quá trình tự mình hoạt động lĩnh hội tri thức khoa học và rèn luyện kĩ năng thực hành không có sự hướng dẫn trực tiếp của
GV và sự quản lý trực tiếp của cơ sở giáo dục đào tạo
- Theo Nguyễn Hiến Lê: “Tự học là không ai bắt buộc mà tự mình tìm tòi, học hỏi để hiểu biết thêm Có thầy hay không, ta không cần biết Người tự học hoàn toàn làm chủ mình, muốn học môn nào tuỳ ý, muốn học lúc nào cũng được: đó mới là điều kiện quan trọng” [5]
- Theo Lê Khánh Bằng: “TH là tự mình suy nghĩ, sử dụng các năng lực trí tuệ
và phẩm chất tâm lý để chiếm lĩnh một số lĩnh vực khoa học nhất định” [2]
- Theo Nguyễn Cảnh Toàn: “TH là tự mình động não, suy nghĩ, sử dụng các năng lực trí tuệ (so sánh, quan sát, phân tích, tổng hợp,…) và có khi cả cơ bắp cùng các phẩm chất của mình, cả động cơ, tình cảm, nhân sinh quan, thế giới quan (trung
Trang 23thực, khách quan, có chí tiến thủ, không ngại khó…) để chiếm lĩnh một lĩnh vực hiểu biết nào đó của nhân loại, biến lĩnh vực đó thành sở hữu của mình” [6]
- Theo chương trình giáo dục phổ thông tổng thể 2018 [3], NLTH được xác định là một trong 3 năng lực chung cốt lõi cần được hình thành và phát triển cho HS trong mọi môn học và ở các cấp học Khái niệm về NLTH được các tác giả đưa ra:
NLTH là một năng lực thể hiện ở tính tự lực, sự tự làm lấy, tự giải quyết lấy vấn đề của một chủ thể hoạt động
Về bản chất, các quan điểm TH ở trên đều có các điểm chung: TH là hoạt động độc lập của người học nhằm chiếm lĩnh tri thức, KN, kỹ xảo, những kinh nghiệm lịch
sử xã hội để hoàn thiện nhân cách của bản thân; TH do bản thân ý thức được nhiệm
vụ học tập, tự đưa ra kế hoạch học tập và làm chủ trong việc xác định mục đích, nội dung, cách thức học; TH có thể diễn ra cả ở trên lớp và ngoài lớp Tùy thuộc vào đối tượng người học mà TH có các cấp độ khác nhau từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp
Từ các nhận định trên: TH là hình thức học tập mang đậm màu sắc cá nhân, là quá trình mà người học tự ý thức nhiệm vụ học tập, tự đưa ra kế hoạch và làm chủ trong việc xác định mục đích, nội dung, cách thức học, tác động một cách tích cực, chủ động vào đối tượng học nhằm chuyển hóa chúng thành tri thức riêng của mình, vận dụng tri thức vào giải quyết các nhiệm vụ học tập; rèn luyện và phát triển KN, làm cho người học thay đổi và ngày càng phát triển.[5]
Với cách hiểu như trên về quá trình TH, trong luận văn này tôi sử dụng khái niệm năng lực tự học với nội hàm: NLTH là khả năng huy động tri thức, kĩ năng sẵn
có, kinh nghiệm bản thân, động cơ, hứng thú để tự lực chiếm lĩnh tri thức mới, rèn luyện kĩ năng mới và hoàn thiện phẩm chất của mỗi cá nhân
1.4.2 Biểu hiện của năng lực tự học
Theo chương trình giáo dục phổ thông tổng thể 2018 [3], NLTH của HS THPT
có các biểu hiện sau: xác định được nhiệm vụ học tập dựa trên kết quả đã đạt được; biết đặt mục tiêu học tập chi tiết, cụ thể, khắc phục những hạn chế; đánh giá và điều chỉnh được kế hoạch học tập; hình thành cách học riêng của bản thân; tìm kiếm, đánh giá và lựa chọn được nguồn tài liệu phù hợp với mục đích, nhiệm vụ học tập khác nhau; ghi chép thông tin bằng các hình thức phù hợp, thuận lợi cho việc ghi nhớ, sử dụng, bổ sung khi cần thiết; tự nhận ra và điều chỉnh được những sai sót, hạn chế của
Trang 24bản thân trong quá trình học tập; suy ngẫm cách học của mình, rút kinh nghiệm để có thể vận dụng vào các tình huống khác; biết tự điều chỉnh cách học; biết thường xuyên
tu dưỡng theo mục tiêu phấn đấu cá nhân và các giá trị công dân
Những biểu hiện của NLTH của HS THPT là cơ sở để tôi xây dựng những tiêu chí đánh giá NLTH của HS THPT
1.5 Mô hình dạy học sử dụng tài liệu tự học để phát triển năng lực tự học
1.5.1 Sử dụng tài liệu hướng dẫn tự học
1.5.1.1 Định nghĩa tài liệu hướng dẫn tự học
Theo Từ điển Oxford: “Tài liệu là những giấy tờ, đơn từ, sổ sách đem lại thông tin về cái gì, bằng chứng hoặc chứng cớ về cái gì đó” [33]
Theo Từ điển Tiếng Việt: “Tài liệu là văn bản giúp cho việc tìm hiểu một vấn
đề gì đó” [19]
Nói cách khác là HS sẽ làm việc độc lập với tài liệu đó thông qua các hoạt động đọc thông tin, trả lời câu hỏi, làm bài tập hay các hoạt động quan sát hình ảnh, sơ đồ bảng biểu, video hay tương tác với các phương tiện trực quan khác, mà hình thành kiến thức
kĩ năng cho bản thân
1.5.1.2 Sử dụng tài liệu hướng dẫn tự học
Hiện nay, tình hình TH của HS còn rất hạn chế, đa số HS TH qua SGK một cách thụ động hoặc chỉ chú tâm vào một vài kiến thức mà HS thích còn phần lớn HS
sẽ bỏ qua chờ nghe GV giảng trên lớp Tiếp theo đó sau khi học xong bài trên lớp nhiều HS cũng không nắm vững kiến thức trọng tâm của bài học và không thể tự vận dụng kiến thức đó để làm bài tập hoặc HS có thể hiểu bài và vận dụng kiến thức ngay khi vừa học xong nhưng HS sẽ nhanh quên vì không TH nên không đảm bảo độ bền kiến thức Vì vậy để việc TH được hiệu quả, trong tài liệu GV giúp HS xác định được nội dung TH bằng cách chỉ cho HS thấy rõ những kiến thức kĩ năng trọng tâm của bài học và những câu hỏi hướng dẫn HS hình thành kiến thức mới
Tài liệu hướng dẫn cũng cần phải có bài tập vận dụng để HS rèn luyện và khắc sâu kiến thức Vì sau khi HS hiểu được các kiến thức trọng tâm HS có thể vận dụng kiến thức đó qua việc giải quyết các bài tập cơ bản để củng cố, khắc sâu kiến thức
Trang 25Các kiểu hoạt động hướng dẫn HS TH thường gồm: Đọc tài liệu, SGK; Quan sát hoặc tương tác với phương tiện trực quan; Làm bài tập
a Sử dụng tài liệu, sách giáo khoa
- Sử dụng tài liệu, SGK để HS nghiên cứu bài mới là một hình thức để HS làm việc một cách độc lập, giúp HS rèn luyện các kĩ năng đọc hiểu, các kĩ năng phân tích, tổng hợp, so sánh, hệ thống hóa, đánh giá, và tăng hứng thú học tập Những công trình nghiên cứu và kinh nghiệm của các GV tiên tiến đã cho phép kết luận sơ bộ rằng: Khi tìm hiểu những phần có tính chất mô tả, các sự kiện hoặc những đoạn khái quát hóa một phần nhỏ của sách hay giáo trình thì dùng phương pháp cho HS nghiên cứu SGK hay tài liệu là tốt hơn phương pháp trần thuật
- Theo tôi khi xây dựng tài liệu TH có thể sử dụng phương pháp đọc tài liệu hay SGK để HS lĩnh hội những kiến thức mới ở dạng mô tả thông tin hay các sự kiện, các nội dung khái quát hóa hoặc để làm phương tiện để HS kiểm tra các suy đoán của mình
b Sử dụng phương tiện trực quan
Trong dạy học GV dùng các phương tiện trực quan hướng dẫn HS khai thác
để tìm ra kiến thức [11] GV có thể hướng dẫn cho HS quan sát bằng hệ thống các chỉ dẫn và câu hỏi do đó đây cũng là các phương pháp có thể sử dụng để thiết kế các
HĐ TH cho HS trong tài liệu hướng dẫn TH Các phương tiện trực quan sử dụng có thể là các hình ảnh, sơ đồ, bảng biểu, hoặc cũng có thể sử dụng các video bằng cách đưa ra các đường dẫn đến các tài liệu trên mạng internet
Các phương pháp khai thác phương tiện trực quan có thể sử dụng thiết kế hoạt động tìm tòi, lĩnh hội kiến thức trong tài liệu hướng dẫn tự học bài mới cho HS:
+ Sử dụng phương tiện trực quan theo phương pháp kiểm chứng
Tiến trình dạy học: Nêu vấn đề HS dự đoán kiến thức mới, hiện tượng thí nghiệm Quan sát phương tiện trực quan, nêu hiện tượng, so sánh với dự đoán ban đầu Kết luận Vận dụng [3]
Theo PP này, dựa vào những kiến thức đã có HS cần đưa ra các suy đoán lí thuyết và dự đoán được hiện tượng thí nghiệm sau đó tiến hành làm thí nghiệm để khẳng định suy đoán đưa ra là đúng PP này thường sử dụng khi vận dụng lí thuyết, quy tắc, định luật vào những trường hợp cụ thể (không phải trường hợp đặc biệt) hoặc nghiên cứu một đối tượng mới tương tự đối tượng đã biết
Trang 26+ Sử dụng phương tiện trực quan theo phương pháp nghiên cứu
Tiến trình dạy học: Nêu vấn đề nghiên cứu Đưa ra các giả thuyết, đề xuất cách giải quyết (đề xuất thí nghiệm, tìm hiểu phương tiện trực quan) Quan sát phương tiện trực quan Phân tích và giải thích hiện tượng từ đó khẳng định giả thuyết đúng Kết luận Vận dụng [3]
Hoặc: GV nêu vấn đề nghiên cứu Làm thí nghiệm Phân tích hiện tượng
Kết luận Vận dụng [3]
PP này thường sử dụng với những phương tiện trực quan thông qua đó hình thành kiến thức mới đối với HS; phương tiện trực quan được sử dụng làm nguồn cung cấp kiến thức, HS sẽ quan sát và phân tích để trả lời các câu hỏi từ đó hình thành kiến thức
c Sử dụng bài tập hóa học
(1) Khái niệm bài tập hóa học
Theo các tài liệu [32] thuật ngữ “bài tập” dùng để chỉ một hoạt động nhằm rèn luyện thể chất và tinh thần
Theo từ điển Tiếng Việt [19], bài tập là những bài ra cho HS để vận dụng những điều đã học
Bài tập hóa học (BTHH) bao gồm câu hỏi và bài toán liên quan đến nội dung nào đó về kiến thức hóa học mà sau khi làm xong bài tập học sinh nắm được kiến thức, hoàn thiện kiến thức hay kĩ năng nhất định [32]
Như vậy, bài tập hóa học không những cung cấp kiến thức mà còn giúp người học tìm ra con đường “chiếm lĩnh” kiến thức từ đó mang đến cho người học sự hứng thú, niềm vui, sự động viên khích lệ đam mê học tập Vì vậy, bài tập hóa học vừa là mục đích vừa là nội dung kiến thức và cũng là PPDH hiệu quả
(2) Tác dụng của bài tập hóa học
+ Tác dụng trí dục
- Giúp học sinh hiểu và biết vận dụng kiến thức từ các nội dung đã được học
- Qua việc giải bài tập giúp mở rộng sự hiểu biết của học sinh về kiến thức đã được học trên nền tảng nội dung chương trình
- Thúc đẩy sự rèn luyện kĩ năng cần thiết về hóa học của học sinh
- Củng cố kiến thức, xây dựng mối liên hệ giữa các đơn vị kiến thức và hệ thống hóa nội dung kiến thức hóa học được học trong chương trình
Trang 27- Giải bài tập hóa học giúp học sinh phát triển tư duy: phân tích, tổng hợp, diễn dịch, quy nạp, so sánh
+ Tác dụng đức dục
Giải bài tập hóa học giúp học sinh rèn luyện các đức tính như: tính kiên nhẫn, cần cù, cẩn thận, chịu khó, trung thực, sáng tạo, lòng yêu thích khoa học Đây là các đức tính tốt cần thiết của mỗi con người
+ Tác dụng giáo dục kỹ thuật tổng hợp
Những bài tập hóa học có nội dung liên quan đến quy trình sản xuất, trang thiết
bị, nguyên vật liệu giúp cho học sinh hiểu rõ hơn các nguyên tắc kỹ thuật được vận dụng trong nhà máy hóa chất nhằm tiết kiệm năng lượng, tiết kiệm nguyên liệu, qua
đó giảm giá thành sản phẩm, bảo vệ môi trường hoặc có biện pháp xử lí chất gây ô nhiễm môi trường…
(3) Sử dụng bài tập hóa học trong dạy học
Trong dạy học tích cực ta có thể sử dụng BTHH theo các cách: Bài tập giúp
HS hình thành kiến thức mới, bài tập ôn tập, củng cố kiến thức và bài tập kiểm tra, đánh giá
(4) Xu hướng phát triển của bài tập hóa học hiện nay
Trong những năm học trước đặc điểm của BTHH là nặng về giải toán ít gắn với thí nghiệm hóa học, hiện tượng hóa học và liên hệ thực tiễn Các năm học gần đây để phù hợp với hình thức thi trắc nghiệm và đổi mới kiểm tra đánh giá kết quả học tập BTHH được định hướng:
- Nội dung BTHH phải gắn liền với thực tiễn, đời sống
- Nội dung bài tập hóa học gắn với hiện tượng hóa học, gắn với thực hành thí nghiệm
Trang 281.6 Thực trạng về tự học và phát triển năng lực tự học cho học sinh trong dạy học hóa học ở trường trung học phổ thông
1.6.1 Mục đích điều tra
Tìm hiểu, đánh giá thực trạng việc phát triển NLTH và điều tra về tình hình
TH của HS trong dạy học hóa học ở các trường THPT hiện nay Đây là cơ sở cho việc định hướng nghiên cứu, đề xuất các biện pháp phát triển NLTH trong dạy học góp phần nâng cao chất lượng dạy học
1.6.2 Đối tượng điều tra
- 33 GV THPT đã dạy Hóa học thuộc chương trình hóa học phổ thông ở các trường THPT trong địa bàn Đà Nẵng
- 71 HS lớp 11 ở THPT Phạm Phú Thứ
1.6.3 Nội dung và phương pháp điều tra
1.4.3.1 Nội dung điều tra
Câu 1: Tìm hiểu mức độ thường xuyên sử dụng phương pháp và kĩ thuật dạy
học định hướng phát triển NLTH của HS trong dạy học hóa học ở trường THPT Câu hỏi được thiết kế theo 5 mức độ để GV tự đánh giá: không bao giờ, hiếm khi, khi thao
Trang 29giảng, thỉnh thoảng, thường xuyên tương ứng với các số từ 1 đến 5
Câu 2: Tìm hiểu mức độ thường xuyên sử dụng các công cụ đánh giá HS trong
dạy học hóa học ở trường THPT Câu hỏi được thiết kế theo 5 mức độ để GV tự đánh giá: không bao giờ, hiếm khi, thỉnh thoảng, thường xuyên, luôn luôn tương ứng với các số từ 1 đến 5
Câu 3 Tìm hiểu thực trạng NLTH của HS do GV đánh giá Câu hỏi được thiết
kế theo 4 mức độ đánh giá NLTH của HS: Yếu, Trung bình, Khá, Tốt
b Đối với HS
Để tìm hiểu thực trạng tình hình TH của HS trong học tập môn Hóa học, tôi
sử dụng phương pháp điều tra bằng bảng hỏi gồm 3 câu hỏi với các nội dung và hình thức hỏi:
Câu 1: Tìm hiểu HS đã bao giờ nghe về thuật ngữ “tự học” bao giờ chưa Câu 2: Tìm hiểu quan điểm HS về năng lực tự học Câu hỏi được thiết kế theo
3 mực độ để HS đánh giá: Đúng; phân vân; không đúng
Câu 3 Tìm hiểu những khó khăn HS thường gặp trong quá trình TH môn Hóa
học Câu hỏi được thiết kế theo kiểu 2 lựa chọn đồng ý hoặc không đồng ý về những khó khăn HS thường gặp trong quá trình TH môn Hóa học
1.6.4 Kết quả điều tra
1.6.4.1 Các kết quả điều tra đối với giáo viên
Bảng 1.1 Mức độ thường xuyên sử dụng các phương pháp và kĩ thuật dạy học định hướng phát triển NLTH trong dạy học hóa học
(Trong đó 1: không bao giờ; 2: hiếm khi; 3: khi thao giảng; 4: thỉnh thoảng; 5: thường xuyên)
Thỉnh thoảng
Thường xuyên
Trang 30sử dụng bài tập cho HS TH (42,43%) và phương pháp thảo luận nhóm (69,7%) cho thấy rằng GV cũng có phần quan tâm tới hoạt động TH của HS nhưng chưa có những biện pháp cụ thể để phát triển NLTH Chính cách dạy này là một trong những nguyên nhân làm cho HS chưa có thói quen TH cũng như chưa có phương pháp TH hiệu quả, thiếu
sự hướng dẫn của GV và tài liệu TH
Bảng 1.2 Mức độ thường xuyên sử dụng 1 số công cụ ĐG trong dạy học
Thường xuyên
Luôn luôn
Trang 31Phần lớn GV thường xuyên và luôn luôn sử dụng bài kiểm tra dưới hình thức trắc nghiệm khách quan và tự luận (87,88%), trắc nghiệm khách quan (51,52%) hoặc phối hợp trắc nghiệm khách quan và tự luận (87,88%) để đánh giá mức độ lĩnh hội, vận dụng kiến thức hóa học vào giải quyết nhiệm vụ học tập cụ thể chứ họ chưa bao giờ hoặc hiếm khi sử dụng các công cụ đánh như: Phiếu tự đánh giá của HS (72,72%), phiếu đánh giá của GV (75,75%), vở TH (57,58%) và GV thỉnh thoảng dùng phiếu học tập và phương pháp vấn đáp để đánh giá HS trong quá trình dạy học Kết quả này được giải thích bởi chương trình và SGK hóa học hiện hành còn theo định hướng nội dung cùng với đó là hình thức kiểm tra đánh giá HS chủ yếu sử dụng hình thức trắc nghiệm tự luận và trắc nghiệm khách quan để kiểm tra, đánh giá kiến thức và kĩ năng hóa học nhiều hơn là năng lực
Tôi đã sử dụng phương pháp điều tra đối với các GV có sử dụng một trong các PPDH định hướng phát triển NLTH cho HS: Sử dụng tài liệu hướng dẫn TH, bài tập hướng dẫn HS TH Trong số 33 GV điều tra thì tất cả GV đã sử dụng một trong các PPDH trên Kết quả điều tra về biểu hiện của NLTH để GV xác định Kết quả thu được GV sử dụng PPDH phát triển NLTH:
Trang 32Hình 1.1 Nhận thức của GV về các biểu hiện của HS THPT
(Dành cho GV có sử dụng PPDH phát triển NLTH) Kết quả GV đánh giá NLTH của HS qua hình 1.2:
Hình 1.2 GV đánh giá NLTH của HS THPT
Qua hình 1.3 cho kết quả đa số GV đồng ý với 5 biểu hiện đầu tiên của NLTH của HS THPT là: xác định được nội dung, phương pháp, phương tiện, thời gian và dự kiến kết quả TH, biết thu thập, phân tích và xử lí thông tin tìm kiếm (trên 80% GV đồng ý) điều đó cho thấy GV đã nhận thức đúng được một số biểu hiện của NLTH Tuy nhiên, còn khoảng hơn 15% GV chưa thật sự hiểu đầy đủ và toàn diện về NLTH
96.96 93.93 90.9 100 90.9 15.15
93.93 93.93
HS xác định nội dung về kiến thức, kĩ năng và
mức độ cần đạt được của từng nội dung.
HS xác định các biện pháp cụ thể để hoàn thành
nhiệm vụ TH trong đó đề xuất phương tiện và …
Xác định thời gian TH và dự kiến kết quả
Thu thập/Tìm kiếm nguồn thông tin TH thông qua việc
HS nghe, đọc, ghi chép, quan sát để lấy thông tin và …
Phân tích và xử lí thông tin đã tìm kiếm thông
Vận dụng kiến thức, kĩ năng để giải quyết tình huống/
nhiệm vụ học tập
Đánh giá kết quả TH theo thang đánh giá NLTH và
chuẩn kiến thức, kĩ năng
Điều chỉnh và rút ra bài học kinh nghiệm cho nhiệm vụ
TH tiếp theo
% đồng ý
Yếu 24%
Trung bình 41%
Khá 23%
Tốt 12%
Trang 33Họ cho rằng khả năng vận dụng kiến thức, kĩ năng, đánh giá và điều chỉnh quá trình
TH không phải là biểu hiện của NLTH Do vậy việc sử dụng PPDH phát triển NLTH của HS chưa đạt hiệu quả Kết quả này cũng phù hợp với việc GV đánh giá NLTH của
HS lớp mình dạy là chỉ đạt 23% ở mức khá, tốt còn 12% đạt mức TB và yếu
Tóm lại, chương trình hóa học phổ thông hiện hành còn nặng về nội dung kiến thức
mà chưa thực sự chú trọng đến việc phát triển năng lực Do vậy mà GV thường ít chú
ý đến vấn đề phát triển năng lực nói chung và NLTH nói riêng, bởi lẽ đa phần GV đều cố gắng giúp HS có đầy đủ kiến thức hóa học để đảm bảo thời lượng giảng dạy theo phân phối chương trình Bên cạnh đó, việc vận dụng PPDH tích cực của GV mới chỉ dừng ở mục đích tích cực hóa hoạt động người học mà chưa nhằm phát triển NLTH cho HS
1.5.4.2 Các kết quả điều tra đối với HS
- Tôi đã khảo sát 71 HS từ trường THPT Phạm Phú Thứ về thực trạng năng lực tự học của HS và những khó khăn thường gặp của HS trong quá trình TH, cụ thể:
Hình 1.3 HS biết về thuật ngữ tự học Bảng 1.3 Quan điểm HS biết về năng lực tự học(đã làm tròn)
vân
Không đúng
1 Tự đọc sách (SGK, tài liệu tham khảo,…)
69%
31%
Trang 342 Tự tìm tòi kiến thức từ các nguồn kiến thức
3 Tự lập ra một kế hoạch học tập ngắn hạn
(ngày, tuần) hoặc dài hạn (tháng, kì) 0% 17% 83%
4 Tự hoàn thành những yêu cầu học tập do GV
5 Tự học là việc học của bản thân, không cần
Hình 1.4 Các khó khăn HS thường gặp phải trong quá trình tự học
Dựa vào kết quả hình 1.5 cho thấy hầu hết HS đã được nghe về năng lực tự học (93%) Kết quả bảng 1.6 cho thấy có khoảng 87% số HS tự học bài cũ và chuẩn
bị bài mới khi GV yêu cầu nhưng hầu như HS không tự giác tìm tòi kiến thức nếu không có sự hướng dẫn và nhắc nhở của GV, do vậy mà HS không bao giờ tự xây dựng và thực hiện kế hoạch TH (trên 80%) cũng như hiếm khi tự hoàn thành những yêu cầu bài tập do GV đề ra (88%) Điều này cũng phù hợp với kết quả tự đánh giá NLTH của HS trước tác động là đa số HS nhận định NLTH còn rất hạn chế ở mức yếu hoặc TB Bên cạnh đó, điều tra về các biện pháp phát triển NLTH của GV là GV hiếm khi tổ chức cho HS tự xây dựng, thực hiện kế hoạch TH và đánh giá quá trình
TH (ở bảng 1.2) dẫn đến hệ quả là HS chưa có phương pháp TH và cảm thấy kiến thức hóa học rộng và khó cho việc TH Khoảng 18,4% HS cho rằng không có đủ thời gian cho TH điều này cũng chứng tỏ là 81,6% HS còn lại nhận thấy việc TH là có thể sắp xếp được nhưng cần phải có sự hướng dẫn của GV và tài liệu học tập
Trang 351.6.5 Nhận xét chung
Đa số GV đều nhận thấy rằng việc phát triển NLTH cho HS là rất cần thiết và quan trọng nhưng việc sử dụng các PPDH tích cực nhằm phát triển NLTH cho HS hiện nay vẫn còn hạn chế Kết quả thực trạng xuất phát từ những nguyên nhân sau:
- Khối lượng kiến thức hóa học là khá lớn cộng với nhiều nội dung kiến thức mới và khó mà thời lượng dạy trên lớp lại quá ít nên dẫn đến việc HS gặp rất nhiều khó khăn trong việc học môn Hóa học
- GV còn hạn chế sử dụng các PPDH tích cực trong quá trình dạy học
- HS chưa có thói quen TH cũng như chưa có phương pháp TH hiệu quả, thiếu
sự hướng dẫn của GV và tài liệu TH do vậy HS thường gặp khó khăn khi TH
Như vậy, để khắc phục hiện trạng trên GV cần có những biện pháp phát triển NLTH cho HS hiệu quả để HS không cảm thấy khó khăn trong quá trình TH đồng thời hình thành và rèn luyện phương pháp TH cho HS góp phần nâng cao chất lượng dạy học
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1
Từ việc tổng quan tình hình nghiên cứu trên thế giới và trong nước tôi nhận thấy rằng việc phát triển NLTH trong dạy học hoá học cho HS THPT là một vấn đề quan trọng, cấp thiết nhằm đáp ứng yêu cầu đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo
Theo định hướng đó trong chương 1 tôi đã nghiên cứu cơ sở lí luận của việc phát triển NLTH cho HS trường THPT và hệ thống hóa một số vấn đề lí luận về: TH,
NL, NLTH của HS THPT, đánh giá NL và một số PPDH, mô hình dạy học góp phần phát triển NLTH cho HS Tôi cũng đã tiến hành điều tra thực trạng đối với 33 GV, 71
HS lớp 11, trường THPT Phạm Phú Thứ cho thấy việc sử dụng các PPDH tích cực nhằm phát triển NLTH cho HS hiện nay vẫn còn hạn chế và HS gặp nhiều khó khăn trong quá trình TH môn Hóa học Đây là những cơ sở lí luận và thực tiễn quan trọng
để tôi đề xuất được cấu trúc NLTH cũng như các biện pháp để phát triển NLTH cho
HS trường THPT
Trang 36CHƯƠNG 2: BIỆN PHÁP PHÁP TRIỂN NĂNG LỰC TỰ HỌC CHO HS THÔNG QUA DẠY HỌC CHỦ ĐỀ PHOTPHO Ở TRƯỜNG TRƯỜNG
2.1.2.Mục tiêu
- Về kiến thức: Hệ thống kiến thức Hóa học phổ thông tương đối hoàn thiện, hiện đại từ đơn giản đến phức tạp
- Về kĩ năng: Rèn luyện cho HS các kĩ năng cơ bản của hoá học đó là kĩ năng
tự học hóa học; kĩ năng thực hành thí nghiệm hóa học và kĩ năng vận dụng kiến thức hóa học để giải quyết một số vấn đề trong học tập và thực tiễn đời sống Trên cơ sở
đó giúp HS phát triển tư duy hóa học, năng lực sáng tạo để tiếp tục tự học, tự nghiên cứu chuyên sâu về hóa học và khoa học tự nhiên
- Về thái độ: Giáo dục cho HS tầm quan trọng và sự gắn bó của photpho đối với đời sống thực tiễn, từ đó HS biết vận dụng các kiến thức đã học vào cuộc sống, yêu thích khoa học và tăng ý thức bảo vệ môi trường, bảo vệ sức khỏe và phục vụ đời sống con người
- Về phát triển năng lực:
Định hướng phát triển các năng lực sau: Năng lực tự học và tự chủ, năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo, năng lực giao tiếp và hợp tác, năng lực sử dụng ngôn ngữ hóa học, năng lực tính toán hóa học, năng lực thực hành hóa học, năng lực nhận thức kiến thức hoá học, năng lực tìm tòi, khám phá thế giới tự nhiên dưới góc độ hoá học, năng lực vận dụng kiến thức hoá học vào thực tiễn
Trang 372.1.3 Phương pháp dạy học
Với đặc điểm về nội dung và cấu trúc phần photpho như đã phân tích đòi hỏi
GV sử dụng đa dạng, phối hợp các PPDH và kĩ thuật dạy học một cách phù hợp để tận dụng được những ưu điểm của chương trình Các chất nghiên cứu sau có tính chất khác nhau hoặc có một số tính chất giống chất nghiên cứu trước đó nên có thể so sánh, phân tích cấu tạo chất để suy luận ra tính chất, đây là điều kiện thuận lợi để HS có thể hình thành phương pháp tự học Do vậy, trong dạy học để HS hình thành và phát triển NLTH, GV có thể sử dụng các phương pháp, phương tiện và hình thức tổ chức dạy học định hướng phát triển NLTH cho HS như: PPDH hợp tác, PPDH theo hợp đồng, phương pháp trực quan, tài liệu hướng dẫn TH, Hóa học là môn khoa học TN do đó trong dạy học cần coi trọng thực hành thí nghiệm và đổi mới PPDH hoá học nhằm phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động của người học, hình thành và phát triển NLTH, tự giải quyết vấn đề dưới sự hướng dẫn của GV
2.2 Cấu trúc năng lực tự học trong dạy học hóa học
2.2.1 Cấu trúc năng lực của học sinh trung học phổ thông
- NL xây dựng kế hoạch TH là khả năng xác định được nội dung cần TH, phương
pháp, phương tiện TH, xác định được thời gian TH và dự kiến kết quả đạt được
- NL thực hiện kế hoạch TH là khả năng tìm kiếm nguồn thông tin TH, phân
tích, xử lí thông tin và vận dụng kiến thức, kĩ năng để giải quyết tình huống/nhiệm
vụ học tập
- NL đánh giá kết quả TH và điều chỉnh quá trình TH là khả năng phân tích,
so sánh, đối chiếu kết quả TH với yêu cầu cần đạt được về chuẩn kiến thức, kĩ năng
và NLTH để tự nhận xét và điều chỉnh quá trình TH giúp cho hoạt động TH ngày càng hiệu quả hơn
Cấu trúc NLTH của HS được mô tả ở bảng 2.1:
Bảng 2.1 Cấu trúc NLTH của HS trường THPT
1 NL xây dựng kế hoạch TH
1 Xác định mục tiêu và nội dung cần TH
2 Xác định phương pháp và phương tiện TH
3 Xác định thời gian TH và dự kiến kết quả
2 NL thực hiện kế hoạch TH 4 Thu thập/Tìm kiếm nguồn thông tin TH
Trang 385 Phân tích và xử lí thông tin đã tìm kiếm
6 Vận dụng kiến thức, kĩ năng để giải quyết tình huống/ nhiệm vụ học tập
2.2.2 Các tiêu chí đánh giá năng lực tự học của học sinh phổ thông
Trên cơ sở xác định cấu trúc NLTH (bảng 2.1), tôi đã nghiên cứu và cụ thể hóa các tiêu chí đánh giá NLTH của HS trường THPT:
NL xây dựng kế hoạch TH gồm các tiêu chí sau:
- Tiêu chí 1: Xác định mục tiêu và nội dung cần TH là khả năng HS xác định kiến thức, kĩ năng và mức độ cần đạt được của từng nội dung
- Tiêu chí 2: Xác định phương pháp và phương tiện TH là khả năng HS xác định các biện pháp cụ thể để hoàn thành nhiệm vụ TH trong đó đề xuất phương tiện
và cách thức khai thác để lĩnh hội những nội dung TH đã xác định
- Tiêu chí 3: Xác định thời gian TH và dự kiến kết quả là khả năng HS xác định được quỹ thời gian cho mỗi hoạt động TH và đưa ra dự kiến sản phẩm đạt được sau TH
NL thực hiện kế hoạch TH gồm các tiêu chí sau:
- Tiêu chí 4: Thu thập/Tìm kiếm nguồn thông tin TH là khả năng HS nghe, đọc, ghi chép, quan sát để lấy thông tin và chọn lọc nguồn thông tin qua sách giáo khoa, sách tham khảo, internet, website, khảo sát thực tiễn, TN, giáo trình điện tử,
- Tiêu chí 5: Phân tích và xử lí thông tin đã tìm kiếm là khả năng HS so sánh, đối chiếu, phân tích, giải thích, chứng minh các thông tin thu thập được và rút ra kết luận
- Tiêu chí 6: Vận dụng kiến thức, kĩ năng để giải quyết tình huống/ nhiệm vụ học tập là khả năng vận dụng kiến thức đã lựa chọn để giải quyết thành công các nhiệm vụ TH đã đề ra trong kế hoạch TH
NL đánh giá kết quả TH và điều chỉnh quá trình TH gồm các tiêu chí sau:
- Tiêu chí 7: Đánh giá kết quả TH theo thang đánh giá NLTH và chuẩn kiến thức, kĩ năng là khả năng phân tích, so sánh, đối chiếu kết quả TH với thang đánh giá NLTH và chuẩn kiến thức, kĩ năng để đưa ra nhận xét, kết luận về mức độ NLTH và
Trang 39điểm số đạt được
- Tiêu chí 8: Điều chỉnh và rút ra bài học kinh nghiệm cho nhiệm vụ TH tiếp theo là khả năng nhận ra và điều chỉnh được những sai sót, hạn chế của bản thân trong quá trình TH, rút kinh nghiệm để có thể vận dụng vào các tình huống/nhiệm vụ học tập khác
2.2.3 Các mức độ biểu hiện năng lực tự học của học sinh trường trung học phổ thông
Căn cứ vào cấu trúc NLTH và các biểu hiện NLTH tôi xây dựng bảng mô tả mức độ biểu hiện NLTH của HS:
Bảng 2.2 Biểu biểu hiện mức độ NLTH của HS
Xác định được mục tiêu,
nội dung và mức độ cần đạt của từng nội dung một cách rõ ràng, chi tiết
Xác định được phương pháp và phương tiện TH phù hợp với nội dung TH
3
Xác định được thời gian
cho mỗi hoạt động TH
nhưng chưa phân phối
thời gian hợp lý và chưa
dự kiến được kết quả đạt
được
Xác định được thời gian cho mỗi hoạt động TH
và dự kiến kết quả đạt được nhưng chưa phân phối thời gian hợp lý
Xác định được thời gian cho mỗi hoạt động TH một cách rõ ràng, hợp lý
và dự kiến kết quả đạt được
NL thực hiện kế hoạch TH
4 Thu thập/Tìm kiếm
được nguồn thông tin
Thu thập/Tìm kiếm được nguồn thông tin TH phù
Thu thập/Tìm kiếm được nguồn thông tin TH phù
Trang 40hợp và biết lựa chọn, sắp xếp các thông tin thu thập được theo từng nội dung
Phân tích và xử lí thông tin đã tìm kiếm được chính xác và rút ra kết luận
vụ học tập nhưng chưa rõ ràng, đầy đủ
Vận dụng được kiến thức,
kĩ năng để giải quyết tình huống/ nhiệm vụ học tập một cách rõ ràng, đầy đủ
NL đánh giá kết quả TH và điều chỉnh quá trình TH
Đánh giá kết quả TH theo thang đánh giá NLTH và chuẩn kiến thức, kĩ năng một cách rõ ràng, chính xác
8
Điều chỉnh sai sót
nhưng chưa phù hợp và
chưa rút ra bài học kinh
nghiệm cho nhiệm vụ
TH tiếp theo
Điều chỉnh sai sót nhưng chưa rút ra bài học kinh nghiệm cho nhiệm vụ
TH tiếp theo
Điều chỉnh sai sót và rút ra được bài học kinh nghiệm cho nhiệm vụ TH tiếp theo
Trong đó:
Mức 1 NLTH ở mức độ trung bình Mức này phản ánh HS có biểu hiện
NLTH nhưng chưa thường xuyên Xây dựng được kế hoạch TH nhưng thực hiện kế hoạch còn sơ sài và chưa chính xác Khả năng đánh giá và điều chỉnh quá trình TH còn rất hạn chế
Mức 2 NLTH ở mức độ khá Mức này phản ánh HS có biểu hiện NLTH khá
thường xuyên và tích cực Xây dựng được kế hoạch TH và thực hiện kế hoạch TH