- Ngoài ra với sự hổ trợ của mô hình lớp học đảo ngược Flipped Classroom còn giúp học sinh thích ứng và hòa nhập với xã hội hiện đại, hình thành và phát triển cho học sinh năng lực tin
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM – ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
KHOA TIN HỌC
BÁO CÁO KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên em xin chân thành cảm ơn quý thầy cô giáo đã tận tình hướng dẫn, giảng dạy em trong suốt quá trình học tập rèn luyện tại trường Đại học Sư phạm – Đại học Đà Nẵng Đặc biệt em xin chân thành cảm ơn quý thầy cô giáo trong khoa Tin học – Trường Đại học Sư phạm – Đại học Đà Nẵng đã tận tâm chỉ bảo, giúp đỡ em, trang bị cho em những kiến thức, kĩ năng cần thiết trong suốt quá trình học để thực hiện đề tài
Em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến thầy THS Trần Văn Hưng – giảng viên khoa Tin học – người đã dìu dắt em trong công tác chuyên môn và hướng dẫn, hỗ trợ tôi rất nhiều trong suốt thời gian thực hiện khóa luận
Cuối cùng, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn đối với gia đình, với bạn bè trong lớp 17SPT luôn kề vai sát cánh cùng tôi trong bốn năm học cũng như trong quá trình làm khó luận
Mặc dù đã có nhiều cố gắng để thực hiện đề tài một cách hoàn chỉnh nhất Song do buổi đầu mới làm quen với công tác nghiên cứu khoa học nên không thể tránh khỏi những thiếu sót nhất định Em rất mong nhận được sự góp ý, bổ sung của quý thầy cô và các bạn sinh viên để khóa luận hoàn chỉnh hơn
Em xin chân thành cảm ơn!
Đà Nẵng, tháng 04 năm 2021 Sinh viên
Trang 3
MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN 1
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT 4
DANH MỤC CÁC BẢNG 5
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ 6
MỞ ĐẦU 7
1 Lý do chọn đề tài 7
2 Mục tiêu đề tài 8
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 8
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỄN NĂNG LỰC TỰ HỌC CHO HỌC SINH LỚP 10 TRÊN MÔ HÌNH LỚP HỌC ĐẢO NGƯỢC 11
1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 11
1.1.1 Nước ngoài 11
1.1.2 Trong nước 12
1.2 Về lý luận 13
1.2.1 Các khái niệm 13
1.2.2 Đặc điểm của mô hình lớp học đảo ngược 15
1.2.3 Phát triển năng lực tự chủ - tự học 18
1.2.4 Phát triển năng lực tự học trên mô hình lớp học đảo ngược 26
1.3 Thực trạng sử dụng mô hình lớp học đảo ngược phát triễn năng lực tự học Tin học ở trường THPT 27
1.3.1 Thực trạng 27
1.3.2 Kết quả điểu tra 28
1.4 Tiểu kết chương 1 28
CHƯƠNG 2: PHÁT TRIỂN WEBSITE HỖ TRỢ CHO HỌC SINH LỚP 10 MÔN TIN HỌC ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC TỰ HỌC THEO MÔ HÌNH LỚP HỌC ĐẢO NGƯỢC 29
2.1 Phân tích chương trình giáo dục phổ thông tổng thể năm 2018 môn Tin học 10 29
2.1.1 Mục tiêu của chương trình giáo dục phổ thông 2018 29
2.1.2 Đặc điểm môn học 30
2.1.3 Yêu cầu cần đạt 31
2.1.4 Các năng lực chuyên biệt trong dạy học Môn Tin học THPT 32
2.1.5 Phân tích nội dung giáo dục của chương trình giáo dục phổ thông môn tin học 10 32
Trang 42.2 Phân tích nội dung chương IV môn Tin học 10 33
2.3 Thiết kế website hỗ trợ tự học chương IV tin học 10 34
2.3.1 Xác định mục tiêu 34
2.3.2 Xác định công cụ xây dựng Website 34
2.3.3 Xây dựng cấu trúc Website 34
2.3.4 Xây dựng nội dung website 37
2.3.5 Xây dựng nguồn học liệu 42
2.4 Tiểu kết chương 2 51
CHƯƠNG 3: KIỂM NGHIỆM VÀ ĐÁNH GIÁ 52
3.1 Mục đích kiểm nghiệm và đánh giá 52
3.2 Phương pháp kiểm nghiệm sư phạm 52
3.2.1 Nội dung, đối tượng, phương pháp tiến hành kiểm nghiệm sư phạm 52
3.2.2 Tiêu chí và công cụ đánh giá kết quả kiểm nghiệm 53
3.3 Nghiên cứu tác động của dạy học trên mô hình lớp học đảo ngược đến hiệu quả học tập của HS qua bảng thống kê và đồ thị so sánh kết quả học tập giứa lớp thực nghiệm và lớp đối chứng 53
3.3.1 Kết quả đánh giá các bài thi trắc nghiệm: 53
3.3.2 Kết quả đánh giá các bài thi lý thuyết và thực hành: 56
3.4 Đánh giá kết quả thực nghiệm 59
3.5 Tiểu kết chương 3 59
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 61
TÀI LIỆU THAM KHẢO 63
Ý KIẾN CỦA CÁN BỘ HƯỚNG DẪN
Ý KIẾN CỦA HỘI ĐỒNG PHẢN BIỆN
Trang 5DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
4 ICT Công nghệ Thông tin và Truyền thông
Trang 6DANH MỤC CÁC BẢNG
Số hiệu bảng biểu Tên bảng Trang
Bảng 1.1 Khung năng lực tự chủ - tự học 19 Bảng 1.2 Kế hoạch TCDH theo chủ đề 20 Bảng 2.1 Định hướng tin học ứng dụng 33 Bảng 2.2 Định hướng khoa học máy tính 33 Bảng 2.3 Phân tích nội dung chương 4_Tin học 10 34
Bảng 2.4 Xây dựng hệ thống moodle website 37
Trang 7DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ
Hình 1.1 Mô hình lớp học đảo ngược và lớp học truyền thống 15
Hình 1.2 Hệ thống e-Learning hỗ trợ GV trước khi đến lớp 22
Hình 1.3 Hệ thống e-Learning hỗ trợ HS trước khi đến lớp 24
Hình 1.4 Sơ đồ TCDH trên lớp với sự hỗ trợ của e-Learning 25
Hình 2.1 Nội dung website bài 20_Tin học 10 37
Hình 2.2 Nội dung website bài 21_Tin học 10 38
Hình 2.3 Nội dung website bài 22_Tin học 10 39
Hình 2.4 Nội dung website bài tập và thực hành 10_Tin học 10 40
Hình 2.5 Nội dung website bài tập và thực hành 11_Tin học 10 41
Hình 2.6 Chức năng tạo Quiz – các bài tập củng cố nhanh 42
Hình 2.7 Hệ thống câu hỏi hình thành kiến thức trước phiên giáp mặt 43
Hình 2.8 Nội dung trọng tâm của bài học 44
Hình 2.9 Bài giảng powerpoint 45
Hình 2.10 Bài giảng powerpoint thông qua video 46
Hình 2.11 Hoạt động khởi động bằng câu hỏi trắc nghiệm 47
Hình 2.12 Hê thống hóa kiến thức bằng sơ đồ tư duy 48
Hình 2.13 Hoạt động luyện tập hình thành kiến thức 49
Hình 2.14 Hệ thống câu hỏi trắc nghiệm phiên sau giáp mặt trên lớp 50
Hình 2.1 Bài giảng Powerpoint hệ thống hóa kiến thức 51
Hình 3.1 Kết quả đánh giá bài thi trắc nghiệm 1 53
Hình 3.2 Kết quả đánh giá bài thi trắc nghiệm 2 54
Hình 3.3 Kết quả đánh giá bài thi trắc nghiệm 3 54
Hình 3.4 Kết quả đánh giá bài thi trắc nghiệm 4 55
Hình 3.5 Kết quả đánh giá bài thi trắc nghiệm 5 55
Hình 3.6 Kết quả đánh giá bài thi lý thuyết và thực hành 1 56
Hình 3.7 Kết quả đánh giá bài thi lý thuyết và thực hành 2 57
Hình 3.8 Kết quả đánh giá bài thi lý thuyết và thực hành 3 57
Hình 3.9 Kết quả đánh giá bài thi lý thuyết và thực hành 4 58
Hình 3.10 Kết quả đánh giá bài thi lý thuyết và thực hành 5 58
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
- Trong công cuộc đổi mới toàn diện ngành giáo dục, đổi mới phương pháp dạy học có ý nghĩa quyết định cần được triển khai ở các môn học và cấp học Một trong những định hướng đổi mới phương pháp dạy học hiện nay là áp dụng các phương pháp dạy học tích cực đã được các nền giáo dục tiên tiến trên thế giới áp dụng vào thực tiễn dạy học các môn học hiệu quả Các phương pháp dạy học hiện đại đều có mục tiêu trung tâm là người học, phát huy năng lực nhận thức, năng lực độc lập, sáng tạo, phát hiện và giải quyết vấn đề của người học Dạy học theo mô hình lớp học đảo ngược ( Flipped Classroom) là một trong những phương pháp dạy học hiện đại và đáp ứng được những yêu cầu nêu trên Thay vì giảng bài như thường lệ, với mô hình này, giáo viên lại là một người hướng dẫn, còn người học thay vì tiếp thu kiến thức một cách thụ động từ giáo viên, các em sẽ phải tự tiếp cận kiến thức ở nhà, tự mình trải nghiệm, khám phá, tìm tòi các thông tin liên quan về bài học
- Dạy học theo mô hình đảo ngược (Flipped Classroom) là một trong những phương pháp hiện đại và đáp ứng được những yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học Đây là mô hình dạy học được nhiều giảng viên tại các trường ở Mỹ Australia và nhiều nước trên thế giới nghiên cứu và áp dụng rất hiệu quả, từ đó
đề xuất vận dụng mô hình tại các cơ sở giáo dục đại học, sau đại học và hơn nữa
là tại các cấp THPT, THCS ở Việt Nam
- Tổ chức dạy học Tin học 10 theo mô hình lớp học đảo ngược nhằm bồi dưỡng năng lực tự học, năng lực hợp tác, năng lực tư duy của học sinh
- Ngoài ra với sự hổ trợ của mô hình lớp học đảo ngược ( Flipped Classroom) còn giúp học sinh thích ứng và hòa nhập với xã hội hiện đại, hình thành và phát triển cho học sinh năng lực tin học để học tập, làm việc và nâng cao chất lượng cuộc sống, đóng góp vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
- Xuất phát từ những lí do nêu trên, tôi chọn đề tài:
Trang 9“Phát triển năng lực tự học Tin học THPT cho học sinh lớp 10 trên mô hình lớp học đảo ngược – Flipped classroom ”
2 Mục tiêu đề tài
- Ứng dụng mô hình lớp học đảo ngược (LHĐN) vào dạy học môn Tin học cho học sinh phổ thông theo định hướng phát triển năng lực tự học nhằm giúp học sinh học tập tự chủ, tự học và chủ động, sáng tạo, trải nghiệm, tích cực khám phá kiến thức đáp ứng chương trình giáo dục phổ thông mới
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Năng lực tự chủ- tự học môn Tin học trên mô hình lớp học đảo ngược
- Khách thể nghiên cứu: HS lớp 10 trên địa bàn Tp Đà Nẵng
3.2 Phạm vi nghiên cứu
- Học sinh lớp 10 thuộc các trường THPT trên đại bàn TP Đà Nẵng
- Nghiên cứu một số tài liệu về đổi mới phương pháp, về mô hình lớp học đảo ngược và một số sách tham khảo liên quan đến đề tài
- Nghiên cứu một số tài liệu về đổi mới phương pháp giáo dục, tạp chí giáo dục, tài liệu tập huấn dạy học và kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của HS theo định hướng năng lực…
- Nghiên cứu giải pháp và xây dựng hệ thống website trên mô hình lớp học đảo ngược
- Thực nghiệm sư phạm
3.3 Giả thuyết khoa học
- Nếu thiết kế website, kế hoạch bài dạy, quy trình và chiến lược dạy học theo hướng phát triển năng lực môn Tin học THPT thông sẽ góp phần nâng cao được năng
lực tự chủ tự học của HS, hỗ trợ GV trong tiết dạy
3.4 Nhiệm vụ và nội dung nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triễn năng lực tự học cho học sinh lớp 10 trên mô hình lớp học đảo ngược
Trang 10- Nghiên cứu cơ sở lý luận của việc thiết kế giáo án theo chương trình giáo dục phổ thông mới hỗ trợ dạy học môn Tin học
- Nghiên cứu chương trình sách giáo khoa, sách giáo viên, sách tham khảo, sách bài tập để xác định nội dung và cấu trúc kiến thức mà học sinh cần nắm vững
- Tiến hành thực nghiệm sư phạm tại trường THPT nhằm xác định mức phù hợp, tính khả thi, hiệu quả sư phạm của việc dạy học theo hướng phát triển năng lực tự học co học sinh lớp 10 trên mô hình lớp học đảo ngược
- Phân tích kết quả đánh giá học sinh
- Đưa ra nhận xét sau khi thực nghiệm sư phạm, đánh giá tính khả thi của
đề tài
- Phân tích ưu nhược điểm để điều chỉnh cho phù hợp nếu cần
3.5 Phương pháp luận và các phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu lí thuyết
+ Nghiên cứu sách giáo khoa, sách GV
+ Nghiên cứu các công văn, chỉ thị và các văn kiện của Đảng và Nhà nước, văn kiện của Bộ Giáo dục và Đào tạo về vấn đề yêu cầu chất lượng giáo dục trong thời kì đổi mới
+ Nghiên cứu các tài liệu có liên quan đến đề tài
- Phương pháp phân tích, tổng hợp, khái quát các quan điểm, công trình
nghiên cứu đã có về lí luận và thực tiễn ở trong nước và nước ngoài về mô hình LHĐN phát triển năng lực và phẩm chất học sinh, làm cơ sở xây dựng khung lí
thuyết của đề tài, định hướng cho triển khai nghiên cứu thực tiễn
- Phương pháp thống kê toán học thông thường để xử lí số liệu
Trang 11- Phương pháp thực nghiệm: Lựa chọn và phối hợp với trường THPT Nguyễn Thượng Hiền thành phố Đà Nẵng để triển khai thử nghiệm một số nội dung trong chương trình GDPT mới phát triển phẩm chất, năng lực học sinh Kết quả của thực nghiệm sẽ khẳng định tính khả thi của mô hình LHĐN chương
trình đề xuất
- Phương pháp xử lý số liệu bằng thống kê toán học được sử dụng trong đề
tài này để xử lí, phân tích, đánh giá định lượng và định tính các kết quả nghiên cứu, đảm bảo độ tin cậy và tính khách quan trong sai số cho phép, phần mềm được dùng là SPSS hoặc Excell
- Phương pháp đo về cách đánh giá năng lực tự học: Đề tài đề xuất cách đo
năng lực tự học bằng các chỉ báo trong bộ các chỉ báo được lấy ra từ chương trình GDPT 2018 Qua bộ tiêu chí đánh giá năng lực HS trước khi thực nghiệm
và sau khi thực nghiệm sẽ so sánh đánh giá kết quả và làm rõ sự khác nhau của năng lực tự học của HS
Trang 12CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỄN NĂNG LỰC TỰ HỌC CHO HỌC SINH LỚP 10 TRÊN MÔ HÌNH
LỚP HỌC ĐẢO NGƯỢC 1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
1.1.1 Nước ngoài
Lớp học đảo ngược đã, đang và là một mô hình được nhiều nhà giáo dục, nhiều giáo viên trên thế giới áp dụng vào tổ chức dạy học nhằm thay đổi hình thức tổ chức dạy học so với hình thức truyền thống Nếu ở lớp học truyền thống mô hình giảng dạy trực tiếp, không cá nhân hóa được việc học về khả năng, thời gian, thái độ, hành vi học tập và sở thích học tập của môi cá nhân người học và mang lại ít những hoạt động giàu trải nghiệm, thì ở lớp học đảo ngược học sinh (HS) được linh hoạt về việc học, có nhiều thời gian để nghiên cứu bài học qua các đoạn video, bài giảng của giáo viên (GV) được đưa lên internet, HS có thể học nhiều lần những nội dung bài giảng do giáo viên cung cấp trên hệ thống học tập trực tuyến hay các đoạn video, khả năng tương tác giữa HS và giáo viên nhiều hơn, những HS vắng mặt vẫn có thể được học bài học mà chính giáo viên giảng dạy họ ở trên lớp Tuy nhiên, để tổ chức dạy học với lớp học đảo ngược cho mỗi đối tượng, mỗi HS/nhóm HS ở những trường PT ở Việt Nam đòi hỏi nhiều vấn đề đặt ra như: hệ thống hỗ trợ học trực tuyến, nguồn học liệu, nội dung dạy học, mô hình dạy học, lịch trình dạy học, bài giảng (PowerPoint, word, scrom, video, audio) là một vấn đề rất khó khăn và tốn nhiều thời gian
Nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng với hình thức dạy học này đòi hỏi giáo viên (GV) phải là những nhà sư phạm chuyên nghiệp Vai trò một nhà sư phạm chuyên nghiệp với các lớp flipped classroom thậm chí còn khắt khe hơn trong các lớp học truyền thống Giáo viên khó áp dụng các mô hình để các HS được học tập chủ động, sáng tạo, trải nghiệm, tích cực khám phá kiến thức, người học thường tiếp thu kiến thức một cách thụ động nên kiến thức tiếp thu được không bền vững và khó hình thành các năng lực cốt lõi để đáp ứng với thời đại trong thế kỉ XXI Lớp học đảo ngược ra đời là một cải tiến trong mô hình dạy học và hình thức tổ chức dạy học
Một số công bố về PP LHĐN được công bố ở nước ngoài:
- Clyde Freeman Herreid, Nancy A Schiller, Case Studies and the Flipped
Classroom, Journal of College Science Teaching, Vol 42, No 5, 2013 đưa ra mối
Trang 13quan tâm làm sao dạy cho HS phát triển kỹ năng tư duy phê phán; thời gian chuẩn bị cho việc triển khai lớp học như thế nào? và sự hợp tác của sinh viên cũng như việc đảm bảo nội dung học tập cũng được đưa ra thảo luận
- Oyeleke Oluniyi, Olagunju Oluwayemisi Elizabeth, Ayamolowo Sunday Joseph, Aribaba Foluso Oluwagbemiga, Pedagogical and Technical Implication of Conversion from Face- to-Face to Blended Learning, Journal of Education and Practice, Vol.5, No.30, 2014
- Eun Man Choi, Applying Inverted Classroom to Software Engineering Education, International Journal of e-Education, e-Business, e-Management and e-Learning, Vol 3, No 2, April 2013 đã triển khai ứng dụng lớp học đảo ngược vào đào tạo công nghệ phần mềm, nghiên cứu cũng cho thấy thu được kết quả khả quan về kết quả học tập cũng như thái độ tích cực của người học so với mô hình dạy truyền thống, đồng thời tác giả cũng đưa ra các thách thức cho việc xây dựng các bài giảng được ghi hình sao cho HS có thể tăng cường hơn nữa các hoạt động học ở lớp.x
- Flipped Classroom thành công ở Mỹ
Theo một cuộc khảo sát do Sophia Learning và Flipped Learning Network tiến hành hồi tháng 5, số lượng giáo viên áp dụng mô hình Flipped Classroom trong giảng dạy ở Mỹ tăng lên 78% trong năm 2014, so với chỉ 48% vào năm 2012 Trong đó, các giáo viên tham gia khảo sát đều đồng ý rằng mô hình này giúp thái độ học tập trong lớp được cải thiện rất nhiều và điểm số của học sinh tăng lên 67% so với cách học truyền thống Ngoài ra, 3/4 trong tổng số 180.000 học sinh trung học tham gia cuộc khảo sát Speak Up năm 2013 cũng đồng ý rằng Flipped Classroom mang lại hiệu quả học tập cao hơn so với bình thường Với những ưu điểm trên, Flipped Classroom được nhiều cơ sở giáo dục ở Mỹ áp dụng trong giảng dạy, chủ yếu ở các bậc trung học và đại học.[6]
Trang 14lưu ý khi sử dụng phương thức lớp học nghịch đảo Tác giả lưu tâm nhiều đến các bước tạo bài giảng ghi hình phục vụ cho LHĐN
- Trang Web Moon.vn cũng cho biết cơ sở dạy học ngoại ngữ cũng đã triển khai dạy tiếng Anh văn theo hình thức dạy học đảo ngược này
- Không những vậy, phương pháp lớp học đảo ngược đã được sử dụng từ khá lâu
ở bậc đại học Hiện nay đã có một số cơ sở giáo dục sử dụng mô hình Flipped Classroom trong giảng dạy như Đại học FPT, Anh ngữ Việt Mỹ VATC, Trung tâm Anh ngữ Quốc tế Apollo và các trang web giáo dục trực tuyến như Zuni.vn và Moon.vn Đại học FPT đã triển khai mô hình này trên 4 lớp với 100 sinh viên Kết quả cho thấy, số sinh viên thi đỗ thực hành tại Đại học FPT tăng từ 30% ở các lớp thông thường lên 53% khi áp dụng Flipped Classroom Tuy nhiên, áp dụng cho bậc phổ thông thì chưa phổ biến do chưa có bất kỳ một cuộc tập huấn nào triển khai về phương pháp này dành cho GV phổ thông
1.2 Về lý luận
1.2.1 Các khái niệm
a) Khái niệm năng lực
- Theo cách hiểu thông thường, năng lực là sự kết hợp của tư duy, kĩ năng
và thái độ có sẵn hoặc ở dạng tiềm năng có thể học hỏi được của một cá nhân hoặc tổ chức để thực hiện thành công nhiệm vụ (DeSeCo, 2002) Mức độ và chất lượng hoàn thành công việc sẽ phản ứng mức độ năng lực của người đó Chính vì thế, thuật ngữ “năng lực” khó mà định nghĩa được một cách chính xác Năng lực hay khả năng, kĩ năng trong tiếng Việt có thể xem tương đương với các thuật ngữ “competence”, “ability”, “capability”, … trong tiếng Anh
- Ở một nghiên cứu khác về phương pháp dạy học tích hợp, Nguyễn Anh Tuấn (Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật TP Hồ Chí Minh) đã nêu một cách khá khái quát rằng năng lực là một thuộc tính tâm lí phức hợp, là điểm hội tụ của nhiều yếu tố như tri thức, kỹ năng, kĩ xảo, kinh nghiệm, sự sẵn sàng hành động và trách nhiệm
Trang 15- Các nhà tâm lí học cho rằng năng lực là tổng hợp các đặc điểm, thuộc tính tâm lí của cá nhân phù hợp với yêu cầu đặc trưng của một hoạt động nhất định nhằm đảm bảo cho hoạt động đó đạt hiệu quả cao
- Trong chương trình dạy học định hướng phát triển năng lực, khái niệm năng lực được sử dụng riêng biệt trong mỗi lĩnh vực môn học và các bình diện khác nhau:
+ Năng lực liên quan đến bình diện mục tiêu của dạy học: mục tiêu dạy học được mô tả thông qua các năng lực cần hình thành;
+ Trong các môn học, những nội dung và hoạt động cơ bản được liên kết với nhau nhằm hình thành các năng lực;
+ Năng lực là sự kết nối tri thức, hiểu biết, khả năng, mong muốn ;
+ Mục tiêu hình thành năng lực định hướng cho việc lựa chọn, đánh giá mức độ quan trọng và cấu trúc hóa các nội dung và hoạt động và hành động dạy học về mặt phương pháp;
+ Năng lực mô tả việc giải quyết những đòi hỏi về nội dung trong các tình huống: ví dụ như đọc một văn bản cụ thể, Nắm vững và vận dụng được các kiến thức cơ bản
+ Các năng lực chung cùng với các năng lực chuyên môn tạo thành nền tảng chung cho công việc giáo dục và dạy học;
+ Mức độ đối với sự phát triển năng lực có thể được xác định trong các chuẩn:
Đến một thời điểm nhất định nào đó, HS có thể/phải đạt được những gì ?
- Như vậy, ta có thể nhận thấy rằng, khái niệm về năng lực được các tác giả trong và ngoài nước, các chuyên gia các lĩnh vực khác nhau định nghĩa, được hiểu theo các nghĩa khác nhau, tùy vào mỗi lĩnh vực chuyên môn và tùy thuộc vào hoàn cảnh được nhắc đến Nhưng nội hàm tương đối thống nhất và khẳng định rằng sự kết hợp giữa kiến thức, thái độ và kĩ năng là yếu tố quan trọng nhất
để hình thành năng lực tương ứng trên cơ sở rèn luyện, trải nghiệm hoạt động nhất định của mỗi cá thể hoặc tập thể
Trang 161.2.2 Đặc điểm của mô hình lớp học đảo ngược
- Lớp học đảo ngược (Flipped classroom) là một dạng lớp học CMS mà ở
đó người học tiếp thu nội dung bài học trực tuyến qua việc xem các video bài giảng ở nhà còn bài tập về nhà hay bài tập thực hành thì GV và HS cùng thảo luận và giải quyết ở trên lớp thay vì GV giảng bài trên lớp và sau đó học viên
thực hành ở nhà
- Với mô hình này sự tương tác giữa người dạy và người học được trang cá nhân hóa hơn, thay vì giảng bài như thường lệ, GV bây giờ lại là một người hướng dẫn Học viên thay vì tiếp thu kiến thức thụ động từ GV sẽ phải tự tiếp cận kiến thức tại nhà Mô hình nay đang được áp dụng trên nhiều nước trên thế giới và được biết đến với tên: “Flipped Classroom” hay “lớp học đảo ngược” hay “phương pháp Thayer”
Hình 1.1: Mô hình lớp học đảo ngược và lớp học truyền thống
Lịch sử hình thành và phát triển
- Eric MaZur đã phát triển phương pháp hướng dẫn theo cặp vào những năm 20 của thế kỉ XX Ông nhận thấy rằng việc sử dụng máy tính trong việc giảng dạy giúp ông hướng dẫn học viên chứ không phải diến thuyết Lage, Platt
và Treglia cho xuất bản bài báo học thuật lớp học đảo ngược: “Cánh cửa giáo dục toàn diện” vào năm 2000 Năm 1993, Alison King xuất bản “Từ một nhà hiền triết xa vời trên bục giảng tới một người hướng dẫn trong cuốn “Dạy học đại học” tập 41, số 1 (Winter, 1993), trang 30-35 Baker trình bày “Lớp học đảo ngược: sử dụng công cụ quản lí khóa học trực tuyến để GV trở thành người hưỡng dẫn tại hội thảo quốc tế lần thứ 11 về dạy và học đại học Bài báo của Baker đưa ra một mô hình mẫu của một lớp học đảo ngược
Trang 17- Bắt đầu vào mùa thu năm 2000, trường đại học Wisconsin-Madison đã sử dụng phần mềm để thay thế các bài giảng ngành công nghệ thông tin trên lớp bằng các video bài giảng của GV có slides đi kèm Các tác giả Lage, Platt và Treglia xuất bản công trình “Đảo ngược lớp học- cánh cửa dẫn đến sự sáng tạo môi trường học tập trọn vẹn”, trong đó giới thiệu các nghiên cứu về lớp học đảo ngược tại các trường cao đẳng Năm 2011, hai trung tâm ở Wisconsin Collaboratory for Enhanced Learning đã được thành lập để tập trung vào lớp học đảo ngược
- Năm 2004, Salman Khan bắt đầu thu âm và làm video theo yêu cầu của người em họ Cô em họ thấy rằng những video bài học giúp cô bỏ qua những phần mà cô đã nắm chắc và xem lại những phần mà cô còn chưa hiểu Mô hình của Khan chính là mô hình dạy học theo cặp 1-1 Các video của học viện Khan (Khan Academy) được sử dụng như một phần chiến thuật dạy học của các nhà giáo dục
- Trong bài thuyết trình “Lớp học đảo ngược” (2006), Tenneson và McGlasson trình bày một phương cách cho GV cân nhắc xem họ có nên đảo ngược lớp học của mình hay không và đưa ra các cách để cải tiến quá trình dạy Đồng thời, bà thuyết trình này cũng đi sâu vào hệ thống quản lí việc học trên máy tính
- Giáo sư Bill Brantley trình bày một mô hình lớp học đảo ngược ở Hội thảo dạy và học của Hiệp hội khoa học chính trị Mỹ tháng 2/2007 Ông miêu tả cách sử dụng hai phiên bản cho lớp học trong khi gửi tài liệu qua phần mềm Learning Management System (LMS)
- Vào năm 2007, Jeremy Strayer công bố một nghiên cứu thực hiện tại Đại học bang Ohio với nhan đề “Những ảnh hưởng của lớp học đảo ngược đối với môi trường học: so sánh hoạt động giữa lớp học truyền thống và lớp học đảo lộn
có sử dụng một hệ thông minh” Nghiên cứu nêu bật lên tầm quan trọng của việc chú trọng tới sự liên kết của hoạt động trên lớp và ngoài lớp học có thể tiêu cực hoặc tích cực ảnh hưởng tới việc tham gia học của HS Cùng năm này, Jonathan
Trang 18Bergmann và Aaron Sams, hai GV hóa học trường THPT Woodland Park, ghi lại những bài giảng của mình và cung cấp cho HS vì nhiều lý do khác nhau đã không đến lớp một cách đầy đủ để theo kịp chương trình, qua đó họ đã xây dựng
mô hình flipped classroom, làm thay đổi hoàn toàn cách dạy của GV, cách học của HS, giúp HS cải thiện rõ rệt năng lực của bản thân từ ghi nhớ, hiểu đến vận dụng thực tế
- Ở Mỹ, phần lớn các cơ sở giáo dục đã đảo ngược quy trình nghe giảng bài trên lớp, về nhà làm bài tập Mô hình dạy học mới này được gọi là Flipped Classroom hay Lớp học Đảo ngược, được áp dụng khoảng 10 năm nay
- Theo một cuộc khảo sát do Sophia Learning và Flipped Learning Network tiến hành hồi tháng 5, số lượng GV áp dụng mô hình Flipped Classroom trong giảng dạy ở Mỹ tăng lên 78% trong năm 2014, so với chỉ 48% vào năm 2012 Trong đó, các GV tham gia khảo sát đều đồng ý rằng mô hình này giúp thái độ học tập trong lớp được cải thiện rất nhiều và điểm số của HS tăng lên 67% so với cách học truyền thống Ngoài ra, 3/4 trong tổng số 180.000 HS trung học tham gia cuộc khảo sát Speak Up năm 2013 cũng đồng ý rằng Flipped Classroom mang lại hiệu quả học tập cao hơn so với bình thường Với những ưu điểm trên, Flipped Classroom được nhiều cơ sở giáo dục ở Mỹ áp dụng trong giảng dạy, chủ yếu ở các bậc trung học và đại học Năm 2015, mô hình này được bầu chọn trong top 5 những xu hướng trong công nghệ giáo dục Mỹ
- Ở Việt Nam, phương pháp lớp học đảo ngược đã được sử dụng từ khá lâu
ở bậc đại học Hiện nay đã có một số cơ sở giáo dục sử dụng mô hình Flipped Classroom trong giảng dạy như Đại học FPT, Anh ngữ Việt Mỹ VATC, Trung tâm Anh ngữ Quốc tế Apollo và các trang web giáo dục trực tuyến như Zuni.vn
và Moon.vn Đại học FPT đã triển khai mô hình này trên 4 lớp với 100 sinh viên Kết quả cho thấy, số sinh viên thi đỗ thực hành tại Đại học FPT tăng từ 30% ở các lớp thông thường lên 53% khi áp dụng Flipped Classroom Tuy nhiên, áp dụng cho bậc phổ thông thì chưa phổ biến do chưa có bất kỳ một cuộc tập huấn nào triển khai về phương pháp này dành cho GV phổ thông
Trang 19- Luôn chủ động, tích cực thực hiện những công việc của
bản thân trong học tập và trong cuộc sống
- Biết giúp đỡ người sống ỷ lại vươn lên để có lối sống tự
lực
NL1B:
Tự khẳng định và bảo vệ quyền, nhu cầu chính đáng
- Biết khẳng định và bảo vệ quyền, nhu cầu cá nhân phù
hợp với đạo đức và pháp luật
NL1C
Tự điều chỉnh tình cảm, thái
độ, hành
vi của mình
- Đánh giá được những ưu điểm và hạn chế về tình cảm,
- Điều chỉnh được hiểu biết, kĩ năng, kinh nghiệm của cá
nhân cần cho hoạt động mới, môi trường sống mới
- Thay đổi được cách tư duy, cách biểu hiện thái độ, cảm
xúc của bản thân để đáp ứng với yêu cầu mới, hoàn cảnh mới
NL1E
Định
- Nhận thức được cá tính và giá trị sống của bản thân
- Nắm được những thông tin chính về thị trường lao động,
về yêu cầu và triển vọng của các ngành nghề
Trang 20hướng nghề nghiệp
- Xác định được hướng phát triển phù hợp sau trung học
phổ thông
- Lập được kế hoạch, lựa chọn học các môn học phù hợp
với định hướng nghề nghiệp của bản thân
NL1F
Tự học,
tự hoàn thiện
- Xác định được nhiệm vụ học tập dựa trên kết quả đã đạt
được
- Biết đặt mục tiêu học tập chi tiết, cụ thể, khắc phục những
hạn chế
- Đánh giá và điều chỉnh được kế hoạch học tập
- Hình thành cách học riêng của bản thân
- Tìm kiếm, đánh giá và lựa chọn được nguồn tài liệu phù
hợp với mục đích, nhiệm vụ học tập khác nhau
- Ghi chép thông tin bằng các hình thức phù hợp, thuận lợi
cho việc ghi nhớ, sử dụng, bổ sung khi cần thiết
- Tự nhận ra và điều chỉnh được những sai sót, hạn chế của
bản thân trong quá trình học tập
- Suy ngẫm cách học của mình, rút kinh nghiệm để có
thể vận dụng vào các tình huống khác
- Biết tự điều chỉnh cách học
- Biết thường xuyên tu dưỡng theo mục tiêu phấn đấu cá
nhân và các giá trị công dân
Bảng 1.1: Khung năng lực tự chủ - tự học
b) Quy trình tự học
- Để sát với lịch trình giảng dạy và phát huy được tính tự học của HS cao hơn,
chúng ta có thể sử dụng hai hình thức xây dựng kế hoạch TCDH theo theo chủ đề (Topics) và xây dựng theo tuần học tập (Weeks)
Nội dung
chính Nội dung chi tiết
Mục tiêu
Sau khi học xong HS đạt được
1 Về kiến thức: Liệt kê những kiến thức HS lĩnh hội được theo mức độ
nhận thức Bloom
2 Về kỹ năng: Trình bày các kỹ năng HS có thể rèn luyện được
Trang 213 Về thái độ: Thể hiện những phẩm chất cần giáo dục được cho HS sau
Đánh giá Quy định điểm đánh giá chuyên cần, làm bài tập quá trình, bài kiểm tra
giữa kỳ và thi cuối học kỳ, trọng số của từng cột điểm
Trước khóa học Tuần 1 Tuần 2 Tuần
Trang 22Nội dung chính tuần 1
Nội dung chính tuần 2
Nội dung chính tuần …
- Yêu cầu HS:
+ Tìm tài liệu học tập + Vào các trang website tìm hiểu, nghiên cứu trước + Tìm hiểu cơ bản toàn
bộ nội dung học tập
Chủ đề thảo luận trực tiếp:
…
- Bài tập tuần 1
- Sự cộng tác của HSlà gì? Nội dung công việc cụ thể giao cho HS
- Hạn chót để nộp bài tập tuần 1
- Những nội dung
HS chuẩn bị cho tuần 2………
Chủ đề thảo luận của tuần 2: …
- Nhắc lại những kiến thức thảo luận ở tuần 1:…
- Những phản hồi của GV về bài tập tuần 1
- Hoàn thành các bài tập tuần 2
- Chuẩn bị trước nhiệm vụ tuần tiếp theo
- Trả lời các câu hỏi
HS thắc mắc khi đăng
ký học phần
- Thiết kế chương trình học tập và hướng dẫn
HS nghiên cứu
- Chỉ đạo quá trình học tập của HS trên lớp và ở nhà
- Cung cấp các vấn
đề thảo luận
- Đưa ra những phản hồi trực tiếp trên lớp
Tổ chức dạy học:
- Để DH hiệu quả, GV cần phải có phương pháp TCDH hợp lý để truyền tải hết
kiến thức đến HS GV chỉ giảng giải những vấn đề cốt lõi, quan trọng, nâng cao, mở rộng và khó Những vấn đề dễ, HS đã chuẩn bị ở nhà GV chỉ cần kiểm tra mức độ hoàn thành của nhóm hoặc cá nhân thông qua các câu hỏi trong quá trình tìm hiểu kiến thức khó Đồng thời GV cần sử dụng phối hợp các kỹ thuật dạy học tích cực phát huy tính tự học, tự nghiên cứu của HS: công não, tia chớp, thảo luận nhóm nhỏ…
Trang 23 e-Learning hổ trợ GV trong quá trình giảng dạy theo mô hình lớp học đảo
ngược:
Ở giai đoạn chuẩn bị trước khi dạy học nếu GV phát tài liệu cung cấp trước cho
HS là rất tốn kém vì GV thường dạy nhiều lớp, tài liệu tham khảo giới thiệu cho HS nhiều, GV không thể photo để đáp ứng được số lượng HS có nhu cầu về tài liệu Khắc phục điều này, e-Learning hỗ trợ cập nhật học liệu lên hệ thống, phân phối tài liệu theo ý muốn tới từng HS, HS chỉ cần lưu trong máy tính mở ra, in để học bất cứ lúc nào
Mặt khác nhờ có e-Learning, GV có thể xây dựng kế hoạch dạy học dễ dàng Trong quá trình dạy học, kế hoạch dạy học có thể bất ngờ có sự thay đổi đột xuất vì một lý do khách quan như do phương tiện (phòng học bị thay đổi, thời gian bị thay đổi, ), nhưng kế hoạch dạy học - “bản hợp đồng” đã phát cho HS nên GV muốn “hợp đồng lại” để cập nhật nội dung thì rất khó khăn Với khó khăn này,
e-Learning hỗ trợ việc cập nhật thông tin dễ dàng mà vẫn đảm bảo đồng thời tất
cả HS và GV cùng có chung một kế hoạch dạy học thống nhất mới nhất
Ngoài ra để biết được thực trạng, nhu cầu của HS trước khi học từ đó GV có phương án tối ưu trong dạy học và hỗ trợ những khó khăn của HS là rất khó vì GV chưa gặp mặt HS trên lớp Khi sử dụng e-Learning, nó hỗ trợ cho HS phát hành phiếu điều tra điện tử, hỗ trợ GV thu nhận và xử lý kết quả, giúp GV có kết quả một cách nhanh chóng
Từ những phân tích trên, việc sử dụng e-Learning trước khi dạy học hỗ trợ GV
và HS ở những công việc cụ thể sau:
Hình 1.2 Hệ thống e-Learning hỗ trợ GV trước khi đến lớp
Hỗ trợ GV
THIẾT KẾ BÀI GIẢNG ĐIỆN
TỬ
Tải về tham khảo/
sử dụng
Thư viện điện tử tham khảo
Trang 24- Thứ nhất, GV khai thác thư viện điện tử, tải về bài giảng, giáo trình để tham
khảo hoặc tải các video clip, các phần mềm, ảnh minh họa, flash mô phỏng để sử dụng trong quá trình biên soạn bài giảng điện tử và cập nhật ĐCCTHP
- Thứ hai, GV copy và dán các đường liên kết đến học liệu đã được cập nhật sẵn
trên hệ thống, cung cấp cho HS để lập kế hoạch học tập, nhờ đó HS có thể truy cập vào
dữ liệu trực tuyến để học tập đúng tài liệu mà không phải mất công tìm kiếm
- Thứ ba, GV cập nhật, thay đổi nội dung khi TCDH ở các lớp khác nhau một
cách dễ dàng Với sự hỗ trợ của e-Learning, GV có thể scan các giáo trình, sách bài tập, tải các file tài liệu tham khảo lên hệ thống, liên kết đường link tới các website trên internet để giới thiệu cho HS học tập E-Learning có thể giúp người học tiếp cận khối lượng thông tin khổng lồ của nhân loại với sự hỗ trợ của Google hoặc Yahoo Người dạy và người học có thể tìm kiếm bất kỳ một nội dung kiến thức liên quan đến bài học (nếu có) ở trên mạng Internet
- Thứ tư, GV thông báo kế hoạch dạy học từng tuần hoặc từng nội dung để HS
thực hiện các nhiệm vụ về nhà và chuẩn bị bài mới trước khi đến lớp Cuối mỗi phần
tự học, GV kiểm tra HS bằng cách đưa ra một số vấn đề thảo luận trên diễn đàn, yêu cầu HS hoàn thành một số bài tập Điều này rất phù hợp với hoạt động học bài cũ ở nhà của HS, lúc không còn trực tiếp gặp GV nữa
- Thứ năm, GV kiểm soát, theo dõi tiến độ học tập ở nhà của HS, đánh giá
chính xác năng lực và sự tiến bộ của mỗi HS khi tham gia học tập cá nhân hoặc học theo nhóm Tất cả HS vào tự học GV đều có thể kiểm tra được số lần tham gia, thời gian tự học và mức độ hoàn thành các bài tập, bài kiểm tra
- Thứ sáu, GV nhắc nhở HS học tập, thông báo nhanh các thông tin khi cần thiết
cho toàn thể HS biết: thông tin về thời hạn, nội dung học tập Những thông tin này định kỳ
sẽ được gửi về email của HS hoặc hiển thị trên màn hình khi HS vào học Vì vậy, việc giao nhiệm vụ HS tự học thường xuyên hơn, giúp cho HS có ý thức học tập tốt
- Thứ bảy, GV tìm hiểu nhu cầu HS về giáo trình, tài liệu tham khảo, kịp thời
nắm bắt về những khó khăn của HS khi thực hiện kế hoạch học tập, từ đó có phương
án hỗ trợ kịp thời giúp HS học tập tốt hơn
e-Learning hỗ trợ HS tự học, tự hoàn thành các nhiệm vụ:
Trang 25Hình 1.3 Hệ thống e-Learning hỗ trợ HS trước khi đến lớp
- Thứ nhất: HS dựa trên kế hoạch TCDH của GV được cập nhật trên hệ thống
e-Learning, lập kế hoạch học tập với mục tiêu cụ thể trong đó phân biệt được việc chính với việc phụ, việc làm ngay với việc sẽ phải làm; đánh giá kết quả thực hiện mục tiêu phấn đấu để từng bước tích luỹ KQHT; lập thời gian biểu với kế hoạch phân
bổ thời gian cụ thể từng tháng, tuần, buổi học dựa trên kế hoạch học tập của học kỳ, năm học
- Thứ hai: với những học liệu được GV cung cấp trên hệ thống, HS có thể cập
nhật thông tin học tập, tự nghiên cứu các tài liệu học tập mà GV cung cấp, định hướng, trả lời những câu hỏi đã được đặt ra Tránh trường hợp không nghiên cứu trước tài liệu lên lớp, phải chép lại những nội dung đã có trong tài liệu phổ biến trên hệ thống e-Learning
- Thứ ba: các diễn đàn trao đổi trên hệ thống e-Learning hỗ trợ HS tham gia thảo
luận, đặt ra các câu hỏi để thảo luận và hỗ trợ nhau Qua diễn đàn HS có thể nhờ GV gợi ý, hướng dẫn hoặc hỗ trợ tìm cách giải quyết những vấn đề, các khái niệm, các hệ quả của khái niệm, các định luật, các nguyên tắc cơ bản, nâng cao và mở rộng mà mình chưa nắm vững
- Thứ tư: thông qua tham gia sinh hoạt nhóm trên diễn đàn, các nhóm nhỏ HS có
thể chia sẻ quan điểm, ý tưởng trong nghiên cứu bài mới hoặc giải quyết các bài tập khó của bài cũ Từ đây có thể tự học được cách giải quyết những vấn đề khoa học, học được cách giao tiếp, cách trình bày diễn giải bằng lời, học cách thuyết phục, học cách
Hoàn thành các nhiệm
Học liệu trên hệ thống
Tương tác
Khó khăn
Trang 26quản lý và tổ chức từ một nhóm nhỏ học tập đến một hội thảo đông đảo, học cách tham khảo trí tuệ của bạn học…
- Thứ năm: e-Learning hỗ trợ chức năng phân phối, quản lý bài tập đến từng HS,
giúp HS có thể tự kiểm tra, đánh giá kết quả hoạt động tự học từ đó phân tích những tồn tại, nguyên nhân và cách khắc phục để thực hiện nhiệm vụ học tập mới tốt hơn
Hỗ trợ GV cung cấp nội dung dạy học, tổ chức cho HS tìm hiểu, trao đổi
trên lớp
- Hình thức TCDH theo tín chỉ yêu cầu phát huy tối đa tinh thần tự học, tự nghiên
cứu của HS Khi TCDH trên lớp, GV cần cung cấp đầy đủ học liệu, nội dung dạy học, hướng dẫn và tổ chức cho HS tìm hiểu trao đổi nhiều hơn về các nội dung học tập Để đáp ứng được điều đó, hệ thống e-Learning hỗ trợ theo các nội dung như hình 1.4:
Hình 1.4 Sơ đồ TCDH trên lớp với sự hỗ trợ của e-Learning
- Thứ nhất: Từ danh sách HS, hệ thống hỗ trợ cung cấp tên đăng nhập
(username), mật khẩu (password) cho HS Điều này giúp GV quản lý được HS trong việc sử dụng các tài liệu GV cung cấp và tham gia vào các hoạt động học tập trên hệ thống Nếu HS không vào được hệ thống để tải tài liệu có nghĩa là chưa tham gia vào quá trình học tập mà GV tổ chức, HS chưa có tài liệu học tập, chưa thực hiện các nhiệm vụ mà GV đề ra Khi HS đăng nhập vào hệ thống, GV có thể kiểm tra số lần HS tải tài liệu, tham gia vào các chức năng của bài học
- Thứ hai: Trên lớp, GV và HS cùng vào một địa chỉ trang bài học Tùy thuộc
vào cấp độ, hệ thống sẽ hỗ trợ GV tổ chức HS tự học hoàn toàn hoặc hỗ trợ HS theo
Thông báo danh sách lớp học phần/các nhóm
Cung cấp mật khẩu, username
đăng nhập
Trình chiếu bài giảng điện tử, GV tổ
chức dạy học
Kế hoạch học tập
Bài giảng, giáo trình
Thư viện điện tử
Kiểm tra hết chương
Diễn đàn trao đổi khó khăn trong học tập
Nhận danh sách từ
phòng đào tạo Nhập tài khoản vào hệ thống
Cung cấp và giới thiệu bài học
Tiếp nhận và trả lời
những phản hồi từ SV
Xem danh sách theo lớp/nhóm Đăng nhập vào
hệ thống
Tìm hiểu các nội dung học tập
BT trắc nghiệm,
theo kế hoạch
Gửi các thắc mắc, góp ý
Tổ chức lớp học
theo kế hoạch
Sinh viên Giảng
viên
Trang 27dõi bài giảng Ngoài nội dung bài giảng, hệ thống hỗ trợ HS cập nhật thêm các tài liệu tham khảo, bài tập thường xuyên, bài tập định kỳ để nghiên cứu và ôn tập thêm
Nhờ các ưu điểm nổi bật của mutimedia, e-Learning hỗ trợ HS qua nhiều kênh thông tin như văn bản, hình ảnh, biểu đồ, sơ đồ, video, hoạt hình, mô phỏng,… Đặc biệt đối với môn vật lý, không phải quá trình nào trong tự nhiên cũng dễ quan sát và mô tả,
có những quá trình xảy ra nhanh hoặc có những hiện tượng xảy ra ở thế giới vi mô, không thể khảo sát và mô tả được Do đó, các mô hình, hình ảnh minh họa, đoạn phim cung cấp để HS xem lại dưới dạng quay chậm là rất cần thiết
- Thứ ba: HS có thể trao đổi với nhau hoặc với GV những vấn đề HS chưa hiểu,
ngay tại lớp Nếu không có thời gian, hệ thống e-Learning hỗ trợ HS có thể trao đổi qua diễn đàn Dựa trên nội dung trên diễn đàn, GV kịp thời hỗ trợ, tháo gỡ những khó khăn HS gặp phải để tiếp tục học những nội dung tiếp theo
- Thứ tư: Cuối mỗi bài, mỗi chương hoặc mỗi phần, hệ thống hỗ trợ GV tổ chức
kiểm tra để đánh giá kết quả HS học tập thường kỳ Điểm số này công bố cho HS để
HS kịp thời điều chỉnh quá trình học tập của mình Dựa vào nhận xét của GV và điểm
số đạt được, HS tự xác định cho mình kế hoạch học tập tiếp theo để đạt được mục tiêu học tập đề ra
Để học tập trong môi trường e-Learning, HS phải có thói quen tự học tốt, có kỹ năng tự học và quản lý thời gian của riêng mình Điều này làm cho người học rèn luyện kỹ năng làm việc độc lập, sáng tạo Đồng thời, việc trao đổi thẳng thắng trên lớp học, tiếp cận với vần đề bằng nhiều hướng khác nhau sẽ giúp cho HS rèn luyện thái độ nghiêm túc và tư duy phê phán [5]
1.2.4 Phát triển năng lực tự học trên mô hình lớp học đảo ngược
- Với cách thực hiện dạy học kết hợp giữa mô hình lớp học đảo ngược và dạy học trực tuyến, để phát triển năng lực tự học cho học sinh cũng như tăng tính hiệu quả của việc áp dụng mô hình này vào dạy học thì đối với mỗi người giáo viên, người học phải đảm bảo được các yêu cầu sau:
Yêu cầu đối với giảng viên:
- Giáo viên lựa chọn nội dung, bài dạy thích hợp, thiết kế các bài giảng, video, chia sẻ các tài liệu đồng thời giao các nhiệm vụ học tập cần thực hiện cho HS (như tìm hiểu các vấn đề học tập; bài tập phát triển năng lực; bài báo cáo kèm sản phẩm báo
cáo…)
Trang 28- Giáo viên chủ trì tổ chức hoạt động đưa ra ý kiến, thảo luận, trao đổi các nội dung bài học giữa HS với HS sau đó kết luận các vấn đề chính của bài dạy học khi
thực hiện giờ giảng theo thời gian thực
- Giáo viên tiếp tục hỗ trợ, trao đổi, giải đáp thắc mắc của người học về nội dung
đã
Học trên không gian lớp học qua mạng đã được tạo ra sau khi kết thúc giờ học trực tiếp cũng như thực hiện kiểm tra, đánh giá việc tiếp nhận kiến thức, kỹ năng của
người học
Yêu cầu đối với người học:
- HS bắt buộc phải xem/nghiên cứu bài giảng, tài liệu, video ở nhà và hoàn thành
các nhiệm vụ học tập được giảng viên giao trước khi vào học trực tuyến
- HS dành thời gian để thảo luận nhóm, trao đổi với nhau và trao đổi với giảng
viên (các HS khác vẫn theo dõi được) trên lớp học trực tuyến
- HS làm bài tập và thực hiện các nhiệm vụ của giảng viên giao sau mỗi buổi
Trang 29không chỉ thực hiện phương thức dạy học này mang tính chất tình thế khi dịch COVID-19 (với giáo dục đại học, Bộ GD&ĐT đang dự thảo Quy chế đào tạo mới [13], trong đó cho phép các trường dành tới 20% thời lượng chương trình đào tạo để dạy học trực tuyến cho HS-HS và công nhận kết quả của hoạt động học này)
- Mô hình lớp học đảo ngược là phương thức tổ chức dạy học đã và đang chứng
tỏ sự phù hợp, có nhiều ưu thế trong tổ chức dạy học ở các nhà trường hiện nay [1]
1.3.2 Kết quả điểu tra
- Sau điều tra, ngoài những ưu điểm đã được chỉ ra tôi nhận thấy còn những khó khăn cần phải quan tâm giải quyết Đó là việc tổ chức dạy học này đòi hỏi GV mất nhiều công sức, thời gian cho việc lựa chọn, chuẩn bị nội dung, bài học; giảng viên dành nhiều thời gian để tương tác với người học hơn (trước, trong, sau giờ học trực tuyến); các học sinh nhiều em vì hoàn cảnh gia đình hoặc một vài lý do nào đó mà không có máy tính xách tay phải dùng điện thoại hoặc máy tính để bàn (không có micro) để tham gia lớp học nên phần tương tác, trao đổi trực tiếp sẽ còn hạn chế Hơn nữa, đường truyền Internet cũng là yếu tố ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả của các giờ lên lớp
1.4 Tiểu kết chương 1
- Thông qua việc nghiên cứu những cơ sở lí luận và thực tiễn chương trình cùng như thực trạng dạy và học Tin học trên mô hình lớp học đảo ngược, bước đầu góp
phần làm sáng tỏ nội dung “Phát triển năng lực tự chủ- tự học Tin học cho HS THPT
trên mô hình lớp học đảo ngược – Flipped Classroom”, đồng thời chỉ ra được những
thuận lợi, khó khăn đối với GV và HS trong dạy và học Tin học theo hướng rèn luyện
và phát triển các năng lực tự học Kết quả nghiên cứu của chương này một lần nữa đã khẳng định tính cấp thiết của đề tài Nó đòi hỏi người GV cần quan tâm để rèn luyện
và phát triển các năng lực cho HS, tìm tòi và thay đổi phương pháp dạy học hiệu quả
và hiện đại hơn Có như thế HS mới trở thành những chủ thể tích cực trong học tập cũng như trong đời sống xã hội, phát triển toàn diện và đóng góp sức mình cho đất nước
Trang 30CHƯƠNG 2: PHÁT TRIỂN WEBSITE HỖ TRỢ CHO HỌC SINH LỚP 10 MÔN TIN HỌC ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC TỰ HỌC
THEO MÔ HÌNH LỚP HỌC ĐẢO NGƯỢC 2.1 Phân tích chương trình giáo dục phổ thông tổng thể năm 2018 môn Tin học 10
2.1.1 Mục tiêu của chương trình giáo dục phổ thông 2018
a) Mục tiêu chung
- Chương trình môn Tin học được xây dựng với mục tiêu chính là góp phần hình thành, phát triển 5 phẩm chất chủ yếu, 3 năng lực chung, 7 năng lực đặc thù, đặc biệt là năng lực tin học; trang bị cho học sinh hệ thống kiến thức tin học phổ thông gồm:
Học vấn số hoá phổ thông (DL) nhằm giúp học sinh có khả năng hoà nhập và thích ứng với xã hội hiện đại, sử dụng được các thiết bị số và phần mềm cơ bản thông dụng một cách có đạo đức, văn hoá và tôn trọng pháp luật
Công nghệ thông tin và truyền thông (ICT) nhằm giúp học sinh có khả năng sử dụng và áp dụng hệ thống máy tính giải quyết vấn đề thực tế một cách hiệu quả và sáng tạo
Khoa học máy tính (CS) nhằm giúp học sinh bước đầu hiểu biết các nguyên tắc
cơ bản và thực tiễn của tư duy máy tính; tạo cơ sở cho việc thiết kế và phát triển các hệ thống máy tính
b) Mục tiêu cụ thể
- Mục tiêu của chương trình môn Tin học ở mỗi cấp học là sự cụ thể hoá mục tiêu chung theo các mạch kiến thức thức DL, ICT và DL ở cấp học đó
- Đối với lớp 10 Thuộc cấp THPT:
Chương trình môn Tin học ở cấp trung học phổ thông giúp học sinh củng cố và nâng cao năng lực tin học đã được hình thành, phát triển ở giai đoạn giáo dục cơ bản, đồng thời cung cấp cho học sinh tri thức mang tính định hướng nghề nghiệp thuộc lĩnh vực tin học hoặc ứng dụng tin học Cụ thể nhằm:
Giúp học sinh có những hiểu biết cơ bản về hệ thống máy tính, củng cố và phát triển hơn nữa cho học sinh tư duy giải quyết vấn đề, phát triển năng lực tự chủ -
tự học
Trang 31Giúp học sinh có khả năng hoà nhập và thích ứng được với sự phát triển của xã hội số hoá, chủ động sử dụng công nghệ số trong học và tự học; tìm kiếm và trao đổi thông tin theo cách phù hợp, tuân thủ pháp luật, có đạo đức, ứng xử văn hoá và có trách nhiệm; có hiểu biết thêm một số ngành nghề thuộc lĩnh vực tin học, chủ động và
tự tin trong việc định hướng nghề nghiệp tương lai của bản thân.[3]
2.1.2 Đặc điểm môn học
- Giáo dục tin học đóng vai trò chủ đạo trong việc chuẩn bị cho học sinh khả năng tìm kiếm, tiếp nhận, mở rộng tri thức và sáng tạo trong thời đại cách mạng công nghiệp lần thứ tư và toàn cầu hoá Tin học có ảnh hưởng lớn đến cách sống, cách suy nghĩ và hành động của con người, là công cụ hiệu quả hỗ trợ biến việc học thành tự học suốt đời
- Môn Tin học giúp học sinh thích ứng và hoà nhập được với xã hội hiện đại, hình thành và phát triển cho học sinh năng lực tin học để học tập, làm việc và nâng cao chất lượng cuộc sống, đóng góp vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
- Nội dung môn Tin học phát triển ba mạch kiến thức hoà quyện: Học vấn số hoá phổ thông (DL), Công nghệ thông tin và truyền thông (ICT), Khoa học máy tính (CS)
và được phân chia theo hai giai đoạn:
Giai đoạn giáo dục cơ bản:
- Môn Tin học giúp học sinh hình thành và phát triển khả năng sử dụng công cụ
kĩ thuật số, làm quen và sử dụng Internet; bước đầu hình thành và phát triển tư duy giải quyết vấn đề với sự hỗ trợ của máy tính và hệ thống máy tính; hiểu và tuân theo các nguyên tắc cơ bản trong trao đổi và chia sẻ thông tin
- Ở cấp tiểu học, chủ yếu học sinh học sử dụng các phần mềm đơn giản hỗ trợ học tập và sử dụng thiết bị tin học tuân theo các nguyên tắc giữ gìn sức khoẻ,đồng thời bước đầu được hình thành tư duy giải quyết vấn đề có sự hỗ trợ của máy tính
- Ở cấp trung học cơ sở, học sinh học cách sử dụng, khai thác các phần mềm thông dụng để làm ra sản phẩm số phục vụ học tập và đời sống; thực hành phát hiện và giải quyết vấn đề một cách sáng tạo với sự hỗ trợ của công cụ và các hệ thống tự động hoá của công nghệ kĩ thuật số; học cách tổ chức lưu trữ, quản lí, tra cứu và tìm kiếm
dữ liệu số, đánh giá và lựa chọn thông tin
Giai đoạn giáo dục định hướng nghề nghiệp:
Trang 32- Môn Tin học có sự phân hoá sâu Tuỳ theo sở thích và dự định về nghề nghiệp trong tương lai, học sinh lựa chọn một trong hai định hướng: Tin học ứng dụng và Khoa học máy tính
- Hai định hướng có chung một số chủ đề con và mỗi định hướng này còn có những chủ đề con riêng
- Định hướng Tin học ứng dụng đáp ứng nhu cầu sử dụng máy tính như một công
cụ của công nghệ kĩ thuật số trong cuộc sống, học tập và làm việc, đem lại sự thích ứng và khả năng phát triển dịch vụ trong xã hội số
- Định hướng Khoa học máy tính đáp ứng mục đích bước đầu tìm hiểu nguyên lí hoạt động của hệ thống máy tính, phát triển tư duy máy tính, khả năng tìm tòi, khám phá các hệ thống tin học, phát triển ứng dụng trên hệ thống máy tính
- Bên cạnh nội dung giáo dục cốt lõi, học sinh có thể chọn một số chuyên đề học tập tuỳ theo sở thích, nhu cầu và định hướng nghề nghiệp Những chuyên đề thuộc định hướng Tin học ứng dụng nhằm tăng cường thực hành ứng dụng, giúp học sinh thành thạo hơn trong sử dụng các phần mềm thiết yếu, áp dụng tin học vào học tập và cuộc sống một cách hiệu quả
2.1.3 Yêu cầu cần đạt
a) Yêu cầu cần đạt về phẩm chất chủ yếu và năng lực chung
- Môn Tin học góp phần thực hiện các yêu cầu cần đạt về phẩm chất chủ yếu và năng lực chung theo các mức độ phù hợp với môn học, cấp học đã được quy định trong Chương trình tổng thể
b) Yêu cầu cần đạt về năng lực đặc thù
- Học sinh hình thành, phát triển được năng lực tin học với năm thành phần năng lực sau đây:
NLa: Sử dụng và quản lí các phương tiện công nghệ thông tin và truyền thông;
NLb: Ứng xử phù hợp trong môi trường số;
NLc: Giải quyết vấn đề với sự hỗ trợ của công nghệ thông tin và truyền thông;
NLd: Ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông trong học và tự học;
NLe: Hợp tác trong môi trường số
Trang 33- Học sinh có được những kiến thức, kĩ năng cơ bản để hoà nhập, thích ứng với
xã hội số; tạo được sản phẩm số phục vụ bản thân và cộng đồng; bước đầu có tư duy điều khiển các thiết bị số Năng lực tin học đạt được ở cuối cấp trung học cơ sở góp phần chuẩn bị cho học sinh học tiếp giai đoạn giáo dục định hướng nghề nghiệp, học trường nghề hoặc tham gia lao động
2.1.4 Các năng lực chuyên biệt trong dạy học Môn Tin học THPT
1 Năng lực sử dụng, quản lý các công cụ của ICT, bao gồm cả khả năng khai thác các ứng dụng thông dụng trên Internet và các dịch vụ kỹ thuật số khác để phục vụ cho học tập và đời sống;
2 Năng lực nhận biết và ứng xử đúng với quy định pháp luật trong sử dụng ICT, phù hợp với chuẩn mực đạo đức, văn hóa của xã hội Việt Nam và đảm bảo an toàn thông tin cho bản thân cũng như cộng đồng;
3 Năng lực phát hiện và giải quyết vấn đề một cách sáng tạo với sự hỗ trợ của các công cụ ICT, bao gồm các khả năng tư duy về tự động hóa và điều khiển, khả năng lập kế hoạch, quản lý, tìm kiếm, đánh giá, sử dụng linh hoạt, tối ưu các nguồn tài nguyên và khả năng thiết kế giải quyết vấn đề một cách hệ thống và có quy trình;
4 Năng lực học và tự học với sự hỗ trợ của ICT, bao gồm khả năng khai thác các ứng dụng, các dịch vụ của công nghệ kỹ thuật số của môi trường ICT để học tập có hiệu quả ở các lĩnh vực khác nhau;
5 Năng lực sử dụng các công cụ và môi trường ICT để chia sẻ thông tin, hợp tác với mọi thành viên trong nhà trường, trong cộng đồng và trong xã hội để nâng cao hiệu quả công việc, nâng cao chất lượng cuộc sống
2.1.5 Phân tích nội dung giáo dục của chương trình giáo dục phổ thông môn tin học 10
a) Nội dung cốt lõi
- Chủ đề A Máy tính và xã hội tri thức
- Chủ đề B Mạng máy tính và Internet
- Chủ đề C Tổ chức lưu trữ, tìm kiếm và trao đổi thông tin
- Chủ đề D Đạo đức, pháp luật và văn hoá trong môi trường số
- Chủ đề E Ứng dụng tin học
- Chủ đề F Giải quyết vấn đề với sự trợ giúp của máy tính