Phát triển khả năng sáng tạo, tự học, khuyến khích học tập suốt đời” và được nêu rõ trong dự thảo chương trình giáo dục phổ thông mới là “Chương trình giáo dục phổ thông mới được xây dự
Trang 11
ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KHOA SINH - MÔI TRƯỜNG
HUỲNH LÊ THÚY HUYỀN
PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC TỰ HỌC CHO HỌC SINH THÔNG QUA DẠY HỌC PHẦN SINH HỌC CƠ THỂ THỰC VẬT – SINH HỌC 11
TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP Chuyên ngành: Sư phạm Sinh học
Đà Nẵng - 2021
Trang 22
ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KHOA SINH - MÔI TRƯỜNG
HUỲNH LÊ THÚY HUYỀN
PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC TỰ HỌC CHO HỌC SINH THÔNG QUA DẠY HỌC PHẦN SINH HỌC CƠ THỂ THỰC VẬT – SINH HỌC 11
Đà Nẵng - 2021
Trang 3i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan các dữ liệu trình bày trong khóa luận này là trung thực Đây là kết quả nghiên cứu của riêng tôi dưới sự hướng dẫn của Ths Ngô Thị Hoàng Vân (Khoa Sinh – Môi trường) và chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào khác trước đây Tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm nếu vi phạm bất kì quy định nào về đạo đức khoa học
Tác giả
Huỳnh Lê Thúy Huyền
Trang 4ii
LỜI CẢM ƠN
Hoàn thành khóa luận này, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc nhất đến cô giáo hướng dẫn Th.S Ngô Thị Hoàng Vân, người đã tận tình hướng dẫn, giúp
đỡ chúng tôi trong suốt thời gian thực hiện đề tài
Xin chân thành cảm ơn quý thầy cô giáo trong khoa Sinh – Môi trường trường Đại học Sư phạm – Đại học Đà Nẵng đã nhiệt tình giảng dạy và có những ý kiến quý báu đóng góp cho đề tài
Cảm ơn các bạn sinh viên trong lớp 17SS đã động viên, giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện đề tài
Do trình độ nghiên cứu và thời gian có hạn, khóa luận này không tránh khỏi những thiếu sót và hạn chế Rất mong nhận được sự góp ý của quý thầy cô !
Tôi xin chân thành cảm ơn !
Trang 5
iii
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT v
DANH MỤC BẢNG BIỂU vi
DANH MỤC HÌNH ẢNH vii
MỞ ĐẦU 1
1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI 1
2 MỤC TIÊU ĐỀ TÀI 2
3 Ý NGHĨA CỦA ĐỀ TÀI 2
4 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 2
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
1.1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 4
1.1.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới 4
1.1.2 Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam 5
1.2 CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI 6
1.2.1 Một số vấn đề lí luận về tự học 6
1.2.2 Năng lực tự học 11
1.2.3 Các kỹ năng cơ bản của hoạt động tự học 14
1.2.4 Chu trình của hoạt động tự học 16
1.2.5 Quy trình tổ chức hoạt động tự học 17
1.2.6 Thang đánh giá năng lực tự học của học sinh 21
1.3 CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 23
CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 24
2.1 ĐỐI TƯỢNG, KHÁCH THỂ NGHIÊN CỨU 24
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 24
2.1.2 Khách thể nghiên cứu 24
Trang 6iv
2.2 PHẠM VI NGHIÊN CỨU 24
2.3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 24
2.3.1 Phương pháp nghiên cứu lý thuyết 24
2.3.2 Phương pháp điều tra giáo dục 24
2.3.3 Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia 24
2.3.4 Phương pháp khảo nghiệm 25
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 26
3.1 Cấu trúc nội dung chương trình Sinh học 11 - THPT 26
3.1.1 Phân tích cấu trúc nội dung chương trình Sinh học 11 – THPT 26
3.1.2 Cấu trúc nội dung phần Sinh học cơ thể thực vật, Sinh học 11 – THPT 27
3.2 Thiết kế hoạt động tự học trong phần Sinh học cơ thể thực vật, Sinh học 11 – THPT 33
3.3 Khảo nghiệm sư phạm 53
3.4.1 Mục đích khảo nghiệm 53
3.4.2 Nội dung và phương pháp khảo nghiệm 53
3.4.3 Kết quả khảo nghiệm 54
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 56
1 Kết luận 56
2 Khuyến nghị 56
TÀI LIỆU THAM KHẢO 58
PHỤ LỤC 59
Trang 8vi
DANH MỤC BẢNG BIỂU
1.1 Bảng Rubrics đánh giá năng lực tự học 22
3.1 Bảng nội dung kiến thức và mục tiêu dạy học chương
trình Sinh 11 THPT phần Sinh học cơ thể thực vật
27
3.2 Nội dung kiến thức áp dụng hình thức tổ chức hoạt
động tự học trong phần Sinh học cơ thể thực vật, Sinh học 11 – THPT
33
3.3 Bảng tiêu chí đánh giá quá trình hoạt động nhóm 39
3.4 Bảng tiêu chí đánh giá kết quả 40 3.5 Mức độ phù hợp của các kế hoạch bài dạy do giáo viên
THPT đánh giá
54
Trang 101
MỞ ĐẦU
1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Hiện nay, nền giáo dục nước ta đang ở vào giai đoạn mà việc đổi mới phương pháp giảng dạy đang là vấn đề cấp bách được đặt ra Đảng và Nhà nước ta đã nhận định rõ tình hình đó
và đưa ra định hướng đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo Điều này thể hiện rõ trong Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và
đào tạo là “Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ và đồng bộ các yếu tố cơ bản của giáo dục, đào tạo theo
hướng coi trọng phát triển phẩm chất, năng lực của người học”; “Tập trung phát triển trí tuệ, thể chất, hình thành phẩm chất, năng lực công dân, phát hiện và bồi dưỡng năng khiếu, định hướng nghề nghiệp cho học sinh Nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, chú trọng trọng giáo dục lý tưởng, truyền thống, đạo đức, lối sống, ngoại ngữ, tin học, năng lực và kỹ năng thực hành, vận dụng kiến thức vào thực tiễn Phát triển khả năng sáng tạo, tự học, khuyến khích học tập suốt đời” và được nêu rõ trong dự thảo chương trình giáo dục phổ thông mới là
“Chương trình giáo dục phổ thông mới được xây dựng theo định hướng phát triển phẩm chất
và năng lực, tạo môi trường học tập và rèn luyện giúp người học tích lũy được kiến thức phổ
tinh thần đó, các yếu tố của quá trình giáo dục trong trường trung học cần được tiếp cận theo hướng đổi mới là phải giúp cho từng học sinh thay đổi triệt để quan niệm và phương pháp học tập cho phù hợp với yêu cầu của thời đại – thời đại mà mỗi người phải học tập suốt đời Để học tập không ngừng, học tập suốt đời, mỗi người phải biết cách tự học, biết phát huy cao độ tiềm năng của bản thân; nếu người học muốn giỏi hơn thầy thì chỉ có duy nhất một con đường
là tự học Vì vậy, tự học là một vấn đề cốt lõi thuộc mục tiêu của giáo dục hiện đại và dạy cho học sinh biết tự học là một trong những nội dung quan trọng nhất mà Đảng và Nhà nước ta hướng đến
Sinh học là môn học được lựa chọn trong nhóm môn khoa học tự nhiên ở giai đoạn giáo dục định hướng nghề nghiệp Môn Sinh học có nhiều ưu thế hình thành và phát triển các năng lực chung đã quy định trong Chương trình tổng thể, phát triển các năng lực đó cũng chính là
để nâng cao chất lượng giáo dục sinh học Trong dạy học môn Sinh học, năng lực tự chủ và
tự học được hình thành và phát triển thông qua các hoạt động thực hành, làm dự án, thiết kế
1 Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 4/11/2013 Hội nghị Trung ương 8 khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo
Trang 112
các hoạt động thực nghiệm trong phòng thực hành, ngoài thực địa, đặc biệt trong tổ chức tìm hiểu thế giới sống Định hướng tự chủ, tích cực, chủ động trong phương pháp dạy học mà môn Sinh học chú trọng là cơ hội giúp học sinh hình thành và phát triển năng lực tự học
Trong trường THPT hiện nay, thực tế cho thấy năng lực tự học của một bộ phận học sinh không được như mong muốn, do nhiều nguyên nhân khách quan, chủ quan như: thời gian và điều kiện dành cho việc tự học, phương pháp giảng dạy đọc chép của giáo viên, ý thức tự học của học sinh còn yếu cùng với hoạt động hướng dẫn cho học sinh tự học chưa được nhiều giáo viên quan tâm và tổ chức hiệu quả Lượng kiến thức môn Sinh học nhiều, yêu cầu về nhiệm
vụ học tập cao mà thời lượng trên lớp lại không đổi, học sinh sẽ gặp nhiều khó khăn trong học tập Phần Sinh học cơ thể thực vật ở lớp 11 có rất nhiều kiến thức mới lạ, thú vị, gần gũi với học sinh và vận dụng trong vấn đề thực tiễn khá nhiều Do đó, để tiếp thu kiến thức bài học trên lớp dễ dàng và sâu sắc thì học sinh phải biết tự nghiên cứu bài học trước ở nhà thông qua cách dạy của người thầy Vì vậy, việc tự học của học sinh là rất quan trọng và cần thiết
Xuất phát từ những lý do trên, tôi chọn đề tài: “Phát triển năng lực tự học cho học sinh thông qua dạy học phần Sinh học cơ thể thực vật – Sinh học 11 Trung học phổ thông” với
mong muốn góp phần từng bước nâng cao chất lượng và hiệu quả của quá trình dạy học Sinh học ở Trung học phổ thông
2 MỤC TIÊU ĐỀ TÀI
Đề xuất, lựa chọn, thiết kế hoạt động dạy học trong dạy học phần “Sinh học cơ thể thực vật" – Sinh học 11 THPT nhằm phát triển năng lực tự học cho học sinh, góp phần nâng cao chất lượng dạy học Sinh học ở trường THPT
3 Ý NGHĨA CỦA ĐỀ TÀI
- Góp phần làm sáng tỏ, hoàn thiện cơ sở lí luận và thực tiễn của phát triển năng lực tự học cho học sinh
- Xây dựng các kế hoạch bài dạy và thiết kế tổ chức các hoạt động học tập theo hướng phát triển năng lực tự học cho người học qua nội dung phần Sinh học cơ thể thực vật – Sinh học 11
- Bước đầu đã xây dựng được bộ công cụ gồm các tiêu chí cụ thể để đánh giá kỹ năng tự học của học sinh THPT
4 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
- Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn về dạy học phát triển năng lực tự học cho học sinh THPT
Trang 134
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới
Trong lịch sử giáo dục đã xuất hiện nhiều tư tưởng lớn đề cao vai trò của tự học, những
tư tưởng ấy đến nay vẫn giữ nguyên giá trị và tiếp tục được phát huy trong nền giáo dục hiện đại Ngay từ thời cổ đại, vấn đề phát huy tính tự học của người học đã được quan tâm
- Khổng Tử (551 - 479 TCN) – nhà giáo dục kiệt xuất thời Trung Hoa cổ đại, trong cuộc đời dạy học của mình đã luôn quan tâm và coi trọng mặt tích cực suy nghĩ sáng tạo của học sinh Cách dạy của ông là gợi mở để học trò tự tìm ra chân lý, thầy chỉ là người giúp trò cái mấu chốt nhất, mọi vấn đề khác trò phải tự tìm ra, người thầy không được làm thay học trò Ông nói “Không giận vì muốn biết thì không gợi mở cho, không bực vì không rõ thì không bày vẽ cho Vật có 4 góc, báo cho biết 1 góc mà không suy ra 3 góc kia thì không dạy nữa”
- Socrate (469 - 399 TCN) đã đề cao vai trò của cá nhân trong quá trình học tập: “Hãy
tự biết lấy chính mình”, phương pháp này thường được gọi là phương pháp Socrate nhằm mục đích phát hiện “chân lý” bằng cách đặt câu hỏi để gợi mở cho người nghe dần tìm ra kết luận Ông gọi phương pháp này là “phép đỡ đẻ”
Người đặt nền móng cho ý thức về hoạt động tự học là nhà giáo dục người Cộng hòa Séc
J A Komenxki (1592 - 1670) Cùng với việc “đánh giá năng lực nhạy cảm, phán đoán của người học”, ông đã tìm ra phương pháp cho phép giáo viên giảng ít hơn, học sinh học nhiều hơn Ông khẳng định: “Không có khát vọng học tập, không có khát vọng suy nghĩ sẽ không thể trở thành tài năng”
Đến thế kỷ XVII – XIX, các nhà giáo dục nổi tiếng của thế giới như: J.J Rousscau (1712
- 1778), J.H Petstalogi (1746 - 1827), A Dixtecvec (1790 - 1886), K.D Usinxky (1824 - 1890) trong các tác phẩm nghiên cứu của mình đã khẳng 5 định: “Tự mình giành lấy tri thức bằng con đường tự khám phá, tự tìm tòi, tự suy nghĩ là con đường quan trọng để chiếm lĩnh tri thức” (P V Exipov, 1997)
Vào những năm 70 của thế kỉ XX, các nhà giáo dục tiếp tục kế thừa và phát triển những thành tựu trước đó, đã tạo ra một giai đoạn phát triển rực rỡ về lý luận dạy học Những nhà giáo dục tên tuổi như: I.F.Kharlamop, Gulgliemino, Rubakin, M.S Knowels…đã tập trung nghiên cứu bản chất của năng lực tự học, vai trò của GV và HS trong tự học
Trang 145
Nhiều nhà giáo dục ở Châu Á cũng đã quan tâm đến lĩnh vực tự học của học sinh Nhà
sư phạm nổi tiếng người Nhật ông Tsunesaburo Makiguchi (1871-1944) đã trình bày những
tư tưởng giáo dục mới trong tác phẩm “Giáo dục vì cuộc sống sáng tạo” Ông cho rằng giáo dục có thể coi là quá trình hướng dẫn tự học mà động lực của nó là kích thích người học sáng tạo ra giá trị để đạt tới hạnh phúc của bản thân và của cộng đồng (Tsunesaburo Makiguchi, 1994)
Hiện nay, quan điểm giáo dục định hướng phát triển năng lực người học ngày càng được quan tâm nghiên cứu áp dụng Trong đó, năng lực tự học của học sinh là năng lực cốt lõi cần được hình thành và phát triển Vì vậy năng lực tự học là vấn đề thu hút sự quan tâm nghiên cứu của nhiều nhà giáo dục
1.1.2 Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam
Vấn đề tự học ở Việt Nam cũng được chú ý từ rất lâu, ngay từ thời kỳ phong kiến, giáo dục chưa phát triển nhưng đất nước vẫn có nhiều nhân tài kiệt xuất Những nhân tài đó, bên cạnh yếu tố được những ông Đồ tài giỏi dạy dỗ thì yếu tố quyết định đều là tự học Cũng chính
vì vậy mà người ta coi trọng việc tự học, nêu cao những tấm gương tự học thành tài
Đến thời kỳ Thực dân Pháp đô hộ, mặc dù nền giáo dục Âu Mỹ rất phát triển nhưng nền giáo dục nước ta vẫn chậm đổi mới Vấn đề tự học không được nghiên cứu và phổ biến, song thực tiễn lại xuất hiện nhu cầu tự học rất cao trong nhiều tầng lớp xã hội
Vấn đề tự học ở nước ta thực sự được phát động nghiên cứu nghiêm túc, rộng rãi từ khi nền giáo dục cách mạng ra đời (1945), mà Chủ tịch Hồ Chí Minh vừa là người khởi xướng, vừa nêu tấm gương về tinh thần tự học Người từng nói: “còn sống thì còn phải học”, và cho rằng: “về cách học phải lấy tự học làm cốt” Có thể nói tự học là một tư tưởng lớn của Hồ Chí Minh về phương pháp học tập Những lời chỉ dẫn quý báu và những bài học kinh nghiệm sâu sắc rút ra từ chính tấm gương tự học bền bỉ và thành công của Người cho đến nay vẫn còn nguyên giá trị (Ths Lê Văn Lực - PHT, 2018)
Từ những năm 90 của thế kỷ XX, tư tưởng về tự học đã được nhiều tác giả trình bày trực tiếp trong các công trình tâm lý học, giáo dục học, phương pháp dạy học bộ môn Một số công
trình tiêu biểu là: Nguyễn Cảnh Toàn (1999,) với “Luận bàn và kinh nghiệm về tự học”, Trần Kiều, Nguyễn Bá Kim, Thái Duy Tuyên (2003) với “Bồi dưỡng năng lực tự học cho học sinh,
Bùi Văn Nghị, …
Trang 156
Các tác giả: Nguyễn Cảnh Toàn, Nguyễn Kỳ, Vũ Văn Tảo, Bùi Tường đã khẳng định:
“Năng lực tự học của học trò dù còn đang phát triển vẫn là nội lực quyết định sự phát triển
của bản thân người học Thầy là ngoại lực, là tác nhân, hướng dẫn, tổ chức, đạo diễn cho trò
tự học Nói cách khác quá trình tự học, tự nghiên cứu, cá nhân hóa việc học của trò phải kết hợp với việc dạy của thầy và quá trình hợp tác của các bạn trong cộng đồng lớp học, tức là quá trình xã hội hóa việc học” (Nguyễn Cảnh Toàn (Chủ biên) et al., 1997)
Bước vào thời kì đổi mới hiện nay, việc tự học nói chung và vấn đề tự học của học sinh nói riêng ngày càng được quan tâm và nghiên cứu Ở nước ta, từ năm 2002 bắt đầu triển khai chương trình và SGK phổ thông mới, mà trọng tâm là đổi mới phương pháp dạy học theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của người học Dần chuyển đổi từ chương trình giáo dục tiếp cận nội dung sang tiếp cận năng lực người học
Trong Chương trình giáo dục phổ thông tổng thể, năng lực tự học được xếp số 1 trong 3 năng lực chung cần đạt Năng lực tự học có vai trò quan trọng vì tự học là chìa khóa vào thế
kỉ XXI, một thế kỉ với quan niệm học suốt đời và cả nước trở thành một xã hội học tập Những nội dung nghiên cứu về năng lực tự học, các tác giả Việt Nam đã chung một quan điểm đó là
tự học là một quá trình học tập độc lập của người học và liệt kê các dấu hiệu để nhận diện người có khả năng tự học Ngoài ra cũng có rất nhiều các công trình nghiên cứu về việc vận dụng các phương pháp dạy học mới nhằm hình thành và phát triển năng lực tự học cho người học
1.2 CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI
1.2.1 Một số vấn đề lí luận về tự học
1.2.1.1 Khái niệm tự học
- “Tự học là quá trình lĩnh hội tri thức, kinh nghiệm xã hội, lịch sử trong thực tiễn hoạt động cá nhân bằng cách thiết lập các mối quan hệ cải tiến kinh nghiệm ban đầu, đối chiếu với các mô hình phản ánh hoàn cảnh thực tại, biến tri thức của loài người thành vốn tri thức, kinh nghiệm, kỹ năng, kỹ xảo của chủ thể” (N.A Rubakin, 1973)
- Theo GS Đặng Vũ Hoạt và PGS Hà Thị Đức trong cuốn “Lý luận dạy học đại học” thì “Tự học là một hình thức tổ chức dạy học cơ bản ở đại học Đó là một hình thức nhận thức của cá nhân, nhằm nắm vững hệ thống tri thức và kỹ năng do chính người học tự tiến hành ở trên lớp hoặc ở ngoài lớp, theo hoặc không theo chương trình và sách giáo khoa đã được qui định” (Đặng Vũ Hoạt & Hà Thị Đức, 2008)
Trang 167
- GS Nguyễn Cảnh Toàn đã phân tích bản chất của tự học từ đó đưa ra khái niệm: “Tự học – là tự mình động não, suy nghĩ, sử dụng các năng lực trí tuệ (quan sát, so sánh, phân tích, tổng hợp ) và có khi cả cơ bắp (khi phải sử dụng công cụ) cùng các phẩm chất của mình, rồi
cả động cơ, tình cảm, cả nhân sinh quan, thế giới quan (như tính trung thực, khách quan, có chí tiến thủ, không ngại khó, ngại khổ, kiên trì, nhẫn nại, lòng say mê khoa học, biến khó khăn thành thuận lợi…) để chiếm lĩnh một lĩnh vực hiểu biết nào đó của nhân loại, biến lĩnh vực đó thành sở hữu của mình” (Nguyễn Cảnh Toàn, 2001)
Có rất nhiều quan điểm khác nhau về tự học Tuy nhiên, trong các nghiên cứu giáo dục định nghĩa về tự học của tác giả Malcolm Shepherd Knowles được sử dụng phổ biến hơn cả Trong nghiên cứu của mình chúng tôi cũng phân tích năng lực tự học dựa trên định nghĩa
này: “Tự học là một quá trình mà người học tự thực hiện các hoạt động học tập, có thể cần
hoặc không cần sự hỗ trợ của người khác, dự toán được nhu cầu học tập của bản thân, xác định được mục tiêu học tập, phát hiện ra nguồn tài liệu, con người giúp ích được cho quá trình học tập, biết lựa chọn và thực hiện chiến lược học tập và đánh giá được kết quả thực hiện” (Malcolm Shepherd Knowles, 1975)
Từ những quan niệm trên đây có thể nhận thấy rằng, khái niệm tự học luôn đi cùng, gắn
bó chặt chẽ với khái niệm tự thân Tri thức, kinh nghiệm, kĩ năng của mỗi cá nhân chỉ được
hình thành bền vững và phát huy hiệu quả thông qua các hoạt động tự thân ấy Để có được, đạt tới sự hoàn thiện thì người học phải tự thân tiếp nhận tri thức từ nhiều nguồn; Tự thân rèn luyện các kĩ năng; Tự thân bồi dưỡng tâm hồn của mình ở mọi nơi mọi lúc
Theo chúng tôi, tự học được hiểu theo nghĩa rộng là quá trình người học tự quyết định việc lựa chọn mục tiêu học tập, nội dung học tập, cách thức học tập, các hoạt động học tập và các hình thức, phương pháp kiểm tra đánh giá thích hợp Từ đó tổ chức, xây dựng, kiểm tra, kiểm soát tiến trình học tập của cá nhân mình Nhìn chung, tự học theo nghĩa này được hiểu
là quá trình học tập 1 cách tự giác, chủ động và độc lập
Tự học theo nghĩa hẹp được hiểu là quá trình học sinh giải quyết các nhiệm vụ học tập theo yêu cầu của giáo viên mà không giáp mặt thầy (hay là quá trình học sinh học tập một cách tự giác, độc lập nhằm giải quyết những nhiệm vụ học tập mà giáo viên giao cho để về nhà làm) Theo cách hiểu này thì tự học được xem như một giai đoạn hay một khâu của hoạt động học, diễn ra ngoài giờ lên lớp, học sinh tự học để hoàn thành những nhiệm vụ mà người dạy giao cho Theo cách hiểu ở trên, có thể cho rằng:
Trang 178
Hoạt động tự học của học sinh được hiểu là hoạt động giải quyết các nhiệm vụ học tập theo yêu cầu của giáo viên mà không giáp mặt thầy, nhằm đáp ứng các yêu cầu cao của việc học tập ở trường học
1.2.1.2 Vai trò của tự học
Trong quá trình học tập của người học, tự học có những vai trò sau :
- Tự học là mục tiêu cơ bản của quá trình dạy học Ngoài việc dừng lại ở cách dạy học
truyền thống, chỉ truyền thụ những tri thức sẵn có và yêu cầu học sinh ghi nhớ thì trong quá trình dạy học, giáo viên phải định hướng, tổ chức cho học sinh tự mình khám phá những quy luật, thuộc tính mới của các vấn đề khoa học Từ đó giúp học sinh nắm bắt được tri thức và biết cách tìm đến những tri thức ấy dễ dàng hơn Thực tiễn cũng như phương pháp dạy học hiện đại còn xác định rõ: càng ở trình độ cao thì tự học càng đóng vai trò quan trọng và cốt lõi của phương pháp dạy học chính là dạy tự học
- Rèn luyện kỹ năng tự học là cách tốt nhất để tạo ra động lực cho học sinh trong quá trình học tập Một trong những phẩm chất quan trọng của mỗi cá nhân là tính tích cực, sự chủ
động sáng tạo trong mọi hoàn cảnh Và, một trong những nhiệm vụ quan trọng của giáo dục
là hình thành phẩm chất đó cho người học Bởi từ đó nền giáo dục mới mong đào tạo ra những lớp người năng động, sáng tạo, thích ứng với mọi thị trường lao động, góp phần phát triển cộng đồng Có thể xem tính tích cực (hình thành từ năng lực tự học) như một điều kiện, kết quả của sự phát triển nhân cách thế hệ trẻ trong xã hội hiện đại Trong đó hoạt động tự học là những biểu hiện sự gắng sức cao về nhiều mặt của từng cá nhân người học trong quá trình nhận thức thông qua sự hưng phấn tích cực Mà hưng phấn chính là tiền đề cho mọi hứng thú trong học tập Có hứng thú người học mới có được sự tự giác say mê tìm tòi nghiên cứu khám phá Hứng thú là động lực dẫn tới tự giác Tính tích cực của con người chỉ được hình thành trên cơ sở sự phối hợp ngẫu nhiên giữa hứng thú với tự giác Nó bảo đảm cho sự định hình tính độc lập trong học tập
- Tự học giúp mở rộng không gian học tập Trong thời đại bùng nổ thông tin như hiện
nay, với rất nhiều công cụ tìm kiếm đa dạng, việc tiếp cận với các nguồn thông tin trở nên dễ dàng hơn bao giờ hết Nhờ vậy, tự học ngày càng trở thành phổ biến, học sinh có thể chủ động tìm kiếm và thu nạp thông tin, kiến thức ngoài chương trình bằng cách truy cập vào các nguồn tài nguyên, việc học có thể diễn ra ở bất cứ đâu, bất cứ lúc nào mà không bị giới hạn trong phạm vi lớp học
Trang 189
- Hình thành các kỹ năng, phương pháp học tập khoa học Khi tự học, các thao tác tư
duy lặp đi lặp lại nhiều lần, góp phần hình thành cho người học các kỹ năng, phương pháp học tập cho người học Do vậy, tự học là cốt lõi của cách học, như Bác Hồ đã từng nói: “về cách học phải lấy tự học làm cốt”
- Giúp người học có khả năng tự giải quyết các vấn đề học tập, vận dụng vào giải quyết các vấn đề thực tiễn Trong hoạt động tự học, kiến thức mà người học chiếm lĩnh được thông
qua các hoạt động tư duy của bản thân Người có khả năng tự học có thể thu thập và xử lí thông tin, biết vận dụng kiến thức đã học vào thực tiễn và tự kiểm tra, đánh giá hoạt động học tập của mình, từ đó người học tự khám phá ra điểm mạnh và sở thích của bản thân
- Tự học là một phương pháp hữu ích mà người học có thể sử dụng để nâng cao trải nghiệm học tập cho dù đang ở trong một khóa học hay chỉ là tìm hiểu một chủ đề vui Việc áp
dụng phương pháp tự học có thể giúp người học đi xa hơn những kiến thức có ở trong sách giáo khoa hay sự truyền đạt của thầy cô Bằng cách tự học, học sinh được khuyến khích khám phá thêm các chủ đề khác mà họ quan tâm cũng như phát triển các kỹ năng nghiên cứu
- Tự học giúp học sinh có thể kiểm soát được việc học tập của bản thân, từ đó càng trở
nên thích học hơn Cùng với hình thức học tập truyền thống, tự học giúp người học tận dụng tối đa kinh nghiệm học tập, lưu giữ thông tin tốt hơn, giúp tăng cường sự hiểu biết, điểm số
và động lực trong học tập
- Tự học giúp cho mọi người chủ động học tập suốt đời, học tập để khẳng định năng lực
phẩm chất và để cống hiến Tự học giúp con người thích ứng với mọi biến cố của sự phát triển kinh tế - xã hội Bằng con đường tự học mỗi cá nhân sẽ không cảm thấy bị lạc hậu so với thời cuộc, thích ứng và bắt nhịp nhanh với những tình huống mới lạ mà cuộc sống hiện đại mang đến, kể cả những thách thức to lớn từ môi trường nghề nghiệp Nếu rèn luyện cho người học
có được phương pháp, kĩ năng tự học, biết linh hoạt vận dụng những điều đã học vào thực tiễn thì sẽ tạo cho họ lòng ham học, nhờ đó kết quả học tập sẽ ngày càng được nâng cao
Nhờ hoạt động tự học mà người học có thể hình thành những năng lực cơ bản để có thể học tập suốt đời, sau khi ra trường có thể tự học, tự bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ nhằm đáp ứng yêu cầu đổi mới của xã hội Nếu xem xét việc tự hoàn thiện suốt cuộc đời thì học tập trên ghế nhà trường là cần thiết, nhưng quá trình học tập tiếp diễn sau khi rời nhà trường càng cần thiết hơn
Trang 1910
Tự học là một xu thế tất yếu, bởi vì quá trình giáo dục thực chất là quá trình biến người học từ khách thể giáo dục thành chủ thể giáo dục (tự giáo dục) Tự học giúp nâng cao kết quả học tập của học sinh và chất lượng giáo dục của nhà trường, là biểu hiện cụ thể của việc đổi mới PPDH ở các trường phổ thông
1.2.1.3 Các hình thức tự học
- Tự học hoàn toàn: Là hình thức mà người học hoàn toàn độc lập hoàn thành các nhiệm
vụ học tập của mình, vai trò của người học trong trường hợp này là nhân tố quan trọng nhất trong quá trình chiếm lĩnh tri thức Mục tiêu của tự học ở hình thức này chủ yếu đáp ứng yêu cầu hiểu biết riêng, bổ sung, mở rộng và nâng cao kiến thức Với hình thức này, người học hoàn toàn chủ động lựa chọn kiến thức cần bổ sung, lựa chọn tài liệu cần đọc, tự sắp xếp các tri thức học được vào hệ thống tri thức mà mình đang có Đây là mức độ tự học cao nhất vì học sinh tự mình tổ chức toàn bộ các hoạt động của quá trình tự nhận thức của mình
- Tự học có sự điều khiển, hướng dẫn gián tiếp của giáo viên: Hình thức tự học này diễn
ra ngoài phạm vi lớp học nhằm đáp ứng yêu cầu của các môn học trong chương trình nhà trường, đòi hỏi người học phải có tính tự giác và tự lực cao, đồng thời phải tuân thủ theo những chỉ dẫn của giáo viên Học sinh phải tự tổ chức việc học tập của mình nhằm ôn tập, hệ thống hóa kiến thức, làm bài tập, rèn luyện các kỹ năng, kỹ xảo… theo yêu cầu của giáo viên và đáp ứng các yêu cầu của bản thân người học đặt ra nhằm lĩnh hội tri thức các môn học Hiệu quả của hình thức tự học này phụ thuộc vào vai trò của người hướng dẫn và sự tích cực, chủ động hoàn thành các nhiệm vụ học tập của người học
- Tự học dưới sự tổ chức, hướng dẫn trực tiếp của giáo viên: Theo đó, quá trình tự học
của học sinh diễn ra dưới sự điều khiển trực tiếp của giáo viên với sự hỗ trợ của các phương tiện kỹ thuật trên lớp Với hình thức này, việc tự học của học sinh chịu sự định hướng và điều khiển của giáo viên nhằm đạt được những mục tiêu của giờ dạy đã được xác định từ trước Thông qua các phương pháp định hướng và thiết kế các hoạt động dạy học của giáo viên, người học có thể tự tổ chức, tự thiết kế, tự thi công hoạt động học tập của mình bằng hoạt động tự nghiên cứu, tự thể hiện, tự kiểm tra, tự điều chỉnh nhằm hoàn thành nhiệm vụ học tập Hiệu quả của hình thức tự học này phụ thuộc vào mối quan hệ giữa người dạy và người học, trong đó yếu tố đóng vai trò quan trọng là sự tổ chức, hướng dẫn của giáo viên và yếu tố đóng vai trò quyết định là sự tích cực, tính tự giác, năng lực tổ chức, tự điều khiển hoạt động tự học của học sinh Do đó, nhiệm vụ quan trọng nhất của người dạy ở hình thức tự học này là phải phát huy được tính chủ động, tích cực, tự giác, tính độc lập của người học trong quá trình hoàn
Trang 2011
thành các nhiệm vụ học tập, qua đó hình thành phương pháp tự học trong người học để họ có khả năng tự học, tự hoàn hoàn các nhiệm vụ phát sinh trong quá trình học tập
1.2.2 Năng lực tự học
1.2.2.1 Khái niệm năng lực tự học
Năng lực tự học là khả năng của bản thân người học tự giải quyết những vấn đề đặt ra một cách nhanh chóng và hiệu quả bằng cách áp dụng kiến thức đã lĩnh hội vào những tình huống, những hoạt động thực tiễn để tìm hiểu thế giới xung quanh và có khả năng biến đổi nó Năng lực tự học là khả năng thực hiện có kết quả một hành động nào đó bằng cách vận dụng những tri thức, những kinh nghiệm đã có để hành động phù hợp với những điều kiện cho phép GS Nguyễn Cảnh Toàn đưa ra quan niệm “năng lực tự học là một thuộc tính kỹ năng rất phức hợp, bao gồm kỹ năng và kỹ xảo cần gắn bó với động cơ và thói quen tương ứng, làm cho người học có thể đáp ứng được những yêu cầu mà công việc đặt ra” (Nguyễn Cảnh Toàn, 2001); “năng lực tự học là sự tích hợp tổng thể giữa cách học, kỹ năng học và nội dung học trong hàng loạt tình huống hay vấn đề khác nhau” Vận dụng vào hoạt động học tập, tác giả Trần Thị Minh Hằng cho rằng “năng lực tự học là những phương thức thể hiện hành động tự học thích hợp, tương ứng với mục đích và những điều kiện hoạt động, hình thành kỹ xảo đúng trong hoạt động tự học đảm bảo cho hoạt động tự học có kết quả” (Trần Thị Minh Hằng, 2011) 1.2.2.2 Những biểu hiện của năng lực tự học
Năng lực tự học là một cấu trúc đa yếu tố, đa tầng bậc bao gồm một hệ thống các kỹ năng thành phần, mỗi kỹ năng thành phần lại bao gồm một hệ thống thao tác trí tuệ và thực hành Do đó để hình thành và phát triển năng lực tự học, người học phải tự hoàn thiện một hệ thống các kỹ năng thành phần cấu trúc nên năng lực này Quá trình hoàn thiện các kỹ năng thành phần luôn chịu tác động của các yếu tố tâm lý, thể chất, khả năng nhận thức, môi trường sống, môi trường học tập, phương pháp dạy học và khả năng hoạt động của học sinh trong những bối cảnh cụ thể
Theo nghiên cứu của nhiều tác giả, năng lực tự học có 14 kỹ năng được phân chia thành
3 nhóm như sau:
- Nhóm kỹ năng nhận thức: (1) Kỹ năng xác định mục đích tự học; (2) Kỹ năng tạo động
cơ, thái độ tự học; (3) Kỹ năng quản lý thời gian, kiểm soát quá trình tự học
Trang 2112
- Nhóm kỹ năng thực hiện: (4) Kỹ năng lập kế hoạch tự học; (5) Kỹ năng tìm kiếm tài liệu; (6) Kỹ năng làm việc với sách giáo khoa, tài liệu; (7) Kỹ năng tham gia các hoạt động học tập theo nhóm; (8) Kỹ năng tổ chức thực nghiệm, kiểm chứng khoa học; (9) Kỹ năng sử dụng ngôn ngữ trong giao tiếp; (10) Kỹ năng tổ chức và thức hiện các dự án nghiên cứu khoa học; (11) Kỹ năng tham gia diễn đàn trên mạng thông tin và truyền thông; (12) Kỹ năng truyền thông
- Nhóm kỹ năng tự kiểm tra, đánh giá và tự điều chỉnh: (13) Kỹ năng đặt câu hỏi và trả lời câu hỏi; (14) Kỹ năng đánh giá và điều chỉnh
Philip Candy (1991) đã liệt kê 12 biểu hiện của người có năng lực tự học Ông chia thành
2 nhóm để xác định nhóm yếu tố nào sẽ chịu tác động mạnh từ môi trường học tập: nhóm đặc điểm bên trong (tính cách) và nhóm đặc điểm bên ngoài (phương pháp học) (Philip C Candy, 1991)
Hình 1.1 Sơ đồ biểu hiện năng lực tự học của Phillip Candy
- Nhóm đặc biệt bên ngoài (phương pháp học) chứa đựng các kỹ năng học tập cần phải
có của người học, chủ yếu được hình thành và phát triển trong quá trình học, do đó phương
Trang 2213
pháp dạy của giáo viên sẽ có tác động rất lớn đến phương pháp học của học trò, tạo điều
kiện để hình thành, phát triển và duy trì năng lực tự học
- Nhóm đặc điểm bên trong (tính cách) được hình thành và phát triển chủ yếu thông qua các hoạt động sống, trải nghiệm của bản thân và bị chi phối bới yếu tố tâm lý Chính vì điều
đó mà giáo viên nên tạo môi trường để học sinh được thử nghiệm và kiểm chứng bản thân, đôi khi chỉ cần phản ứng đúng sai trong nhận thức hoặc nhận được lời động viên, khích lệ cũng tạo ra được động lực để người học phấn đấu, cố gắng tự học
Tác giả Taylor (1995) khi nghiên cứu về vấn đề tự học của học sinh trong trường phổ
thông đã xác định năng lực tự học có những biểu hiện sau:
Hình 1.2 Sơ đồ biểu hiện của năng lực tự học của Taylor
Taylor đã xác nhận người tự học là người có động cơ học tập và bền bỉ, có tính độc lập,
kỉ luật, tự tin và biết định hướng mục tiêu, có kỹ năng hoạt động phù hợp Thông qua mô hình trên tác giả đã phân tích ra có ba yếu tố cơ bản của người tự học, đó là thái độ, tính cách và kỹ năng Có thể nhận thấy, sự phân định đó để nhằm xác định rõ ràng những biểu hiện tư duy của bản thân và khả năng hoạt động trong thực tế chứ không đơn thuần chỉ đề cập đến khía cạnh tâm lí của người học (Taylor, 1995)
Trang 2314
Năng lực tự học cũng là một khả năng, phẩm chất vốn có của mỗi cá nhân Tuy nhiên năng lực này cũng luôn biến đổ tùy thuộc vào hoạt động của cá nhân trong môi trường văn hóa – xã hội Do đó, năng lực tự học là khả năng bẩm sinh của mỗi người nhưng phải được đào tạo, rèn luyện trong hoạt động thực tiễn thì mới bộc lộ những ưu điểm giúp cá nhân phát triển, nếu không sẽ mãi là khả năng tiềm ẩn Thời gian ngồi trên ghế nhà trường là rất ngắn ngủi so với cuộc đời, vì vậy tự học và năng lực tự học của học sinh sẽ là nền tảng cơ bản đóng vai trò quyết định đến sự thành công của các em trên con đường phía trước và đó cũng chính
Ở bậc trung học, tự học của học sinh mới chỉ dừng lại ở việc chủ động, tích cực tham gia các hoạt động học tập, tự nghiên cứu tài liệu, tự phát hiện kiến thức và nắm bắt một phần kiến thức Học sinh phải thường xuyên tự tìm tòi những tài liệu liên quan đến bài học để có sự so sánh, đối chiếu và chuyển hóa kiến thức bài học dưới sự định hướng và dẫn dắt của giáo viên Nhà trường sẽ là nơi khởi tạo và xây dựng nền móng vững chắc cho năng lực tự học và tự nghiên cứu thành thục của một nhà khoa học về sau
1.2.3 Các kỹ năng cơ bản của hoạt động tự học
Kĩ năng tự học là yếu tố quan trọng nhất trong năng lực tự học của HS Để tự học có hiệu quả thì ngoài nhận thức, kĩ năng, thái độ thì kĩ năng tự học là thành tố đảm bảo sự thành công trong quá trình tự học của HS Có nhiều quan điểm phân nhóm các kĩ năng tự học Theo nhóm nghiên cứu ở Khoa Tâm lý - Giáo dục trường Đại học sư phạm Hà Nội, kỹ năng tự học
có thể được phân thành 4 nhóm, đó là nhóm kỹ năng định hướng, nhóm kỹ năng thiết kế (lập
kế hoạch), nhóm kỹ năng thực hiện kế hoạch và nhóm kỹ năng kiểm tra, đánh giá, rút kinh nghiệm
Trường ĐHSP Hà Nội I, 1992 Tác giả Vũ Trọng Rỹ thì cho rằng kỹ năng tự học của học sinh nói chung và sinh viên nói riêng gồm 4 nhóm: kỹ năng nhận thức, kỹ năng thực hành,
kỹ năng tổ chức, kỹ năng kiểm tra đánh giá (Vũ Trọng Rỹ, 1994)
Trang 2415
Tiếp thu những quan điểm trên, chúng tôi phân chia hoạt động tự học bao gồm các nhóm
kỹ năng cơ bản sau:
Kỹ năng định hướng
Điều kiện tiên quyết để quá trình tự học diễn ra thành công chính là việc người học xác định được động lực học tập, qua đó định hướng được những hoạt động học tập Kỹ năng định hướng được thể hiện qua việc nhận thức đúng đối tượng học tập, lên được kế hoạch học tập, kiểm tra và điều chỉnh hoạt động học tập theo kế hoạch Để có được cơ sở định hướng, học sinh phải trả lời được các câu hỏi sau:
- Học nhằm mục đích gì? Học vì yêu thích, đam mê với môn học hay vì trách nhiệm với gia đình và xã hội, hay học vì để được khen thưởng, được đánh giá cao…?
- Thái độ học tập như thế nào? Học với tinh thần, thái độ nghiêm túc hay hời hợt, qua loa?
- Học như thế nào? Phương pháp học tập nào là phù hợp với bản thân?
- Thứ hai, khi lập kế hoạch, học sinh phải chọn đúng trọng tâm, cần xác định cái gì là quan trọng để ưu tiên, dành thời gian và công sức để hoàn thành
Kỹ năng thực hiện kế hoạch
Muốn thực hiện thành công kế hoạch đã tạo lập, người học cần một số kỹ năng như:
- Tiếp cận thông tin: lựa chọn và chủ động tiếp nhận thông tin từ nhiều nguồn khác nhau
và từ những hoạt động đã được xác định như đọc sách, nghe giảng, xem truyền hình, tra cứu
Trang 2516
từ internet, làm thí nghiệm… Trong hoạt động này rất cần kỹ năng chọn lọc thông tin một cách thông minh và linh hoạt
- Xử lý thông tin: việc xử lý thông tin trong quá trình tự học không diễn ra trong vô thức
mà cần có sự gia công, xử lý mới có thể sử dụng được Quá tình này có thể được tiến hành thông qua các kỹ năng ghi chép, phân tích, đánh giá, tóm tắt, tổng hợp, so sánh…
- Vận dụng tri thức, thông tin: thể hiện qua việc áp dụng thông tin tri thức khoa học để giải quyết các vấn đề nảy sinh trong thực tế hoặc trong quá trình học tập
- Trao đổi, phổ biến thông tin: việc trao đổi kinh nghiệm, chia sẻ thông tin tri thức thông qua các hình thức thảo luận, thuyết trình, tranh luận… là công việc cuối cùng của quá trình tiếp nhận tri thức
Kỹ năng tự kiểm tra, đánh giá, rút kinh nghiệm
Thông qua việc tự đánh giá được kết quả học tập, người học sẽ tự đánh giá được năng lực của bản thân, hiểu được cái gì mình đã làm được, cái gì mình chưa làm được để từ đó có hướng phát huy hoặc khắc phục Để có kỹ năng tự kiểm tra, đánh giá, học sinh cần:
- Tự trả lời các câu hỏi có trong bài học bằng cách xác định yêu cầu của câu hỏi, dự kiến câu trả lời, tái hiện các kiến thức liên quan, tập trình bày câu trả lời trước nhóm hoặc trước lớp để tìm ra chỗ sai để từ đó khắc phục
- Tự đặt câu hỏi để tự mình giải quyết hoặc thảo luận cùng bạn bè
- Làm các bài tập thầy cô giao hoặc các bài tập bản thân tự tìm kiếm được sau đó tự kiểm tra đáp án để rút kinh nghiệm
1.2.4 Chu trình của hoạt động tự học
Tự học là một thách thức ngay cả đối với những học sinh thông minh và năng động nhất
Do đó, việc phân tích được các giai đoạn của chu trình tự học là một khâu cần thiết, qua đó học sinh có thể lên kế hoạch chi tiết cho hoạt động tự học của bản thân Chu trình của hoạt động tự học bao gồm 4 giai đoạn: (i) sẵn sàng học hỏi, (ii) đặt mục tiêu học tập, (iii) tham gia vào quá trình học tập, (iv) đánh giá việc học
Giai đoạn 1 Đánh giá mức độ sẵn sàng học hỏi Giai đoạn này liên quan đến việc học
sinh tự đánh giá tình hình hiện tại (bao gồm thói quen học tập, hoàn cảnh gia đình, mạng lưới
hỗ trợ học tập), đồng thời cũng liên quan đến việc đánh giá những kinh nghiệm tự học trong
Trang 26Giai đoạn 2 Đặt mục tiêu học tập Việc trao đổi các mục tiêu học tập giữa học sinh và
giáo viên đóng vai trò quan trọng Mục tiêu học tập thường bao gồm:
+ Mục tiêu của nhiệm vụ học tập
+ Cấu trúc và trình tự của nhiệm vụ học tập
+ Thời gian dự kiến hoàn thành nhiệm vụ
+ Tài liệu học tập cho từng nhiệm vụ
+ Tiêu chí đánh giá cho từng nhiệm vụ
+ Phản hồi và rút kinh nghiệm cho mỗi nhiệm vụ hoàn thành
Giai đoạn 3 Thực hiện nhiệm vụ học tập theo những yêu cầu và hướng dẫn của giáo viên Trong quá trình thực hiện nhiệm vụ cần theo dõi để đảm bảo mục tiêu và các mốc
thời gian hoàn thành nhiệm vụ theo đúng kế hoạch đã đề ra
Giai đoạn 4 Đánh giá hiệu quả tự học Để thành công trong việc tự học, học sinh phải
có khả năng tự phản ánh và tự đánh giá việc hoàn thành mục tiêu học tập và sự tiến bộ của bản thân trong quá trình thực hiện nhiệm vụ học tập Qua đó, học sinh rút ra các bài học kinh nghiệm, ghi nhận ưu điểm và nhược điểm để khắc phục trong những nhiệm vụ học tập tiếp theo
1.2.5 Quy trình tổ chức hoạt động tự học
Bước 1 Xác định mục tiêu của nhiệm vụ tự học
Trong thiết kế tổ chức hoạt động học tập nói chung và hoạt động tự học nói riêng, việc xác định đúng mục tiêu của nhiệm vụ tự học đóng vai trò hết sức quan trọng Đây là tiền đề giúp định hướng nội dung và phương thức học tập của nhiệm vụ đó Để tổ chức cho học sinh
Trang 2718
xác định mục tiêu của nhiệm vụ tự học, cần tiến hành theo 2 giai đoạn: giai đoạn giáo viên hướng dẫn học sinh và giai đoạn học sinh tự thực hiện
- Giáo viên hướng dẫn học sinh thực hiện theo trình tự:
+ Nghiên cứu mục tiêu, nội dung, chuẩn kiến thức và kỹ năng của môn học
+ Nghiên cứu các mức độ nhận thức theo thang phân loại của Bloom và các thao tác tư duy
+ Xác định mục tiêu của nhiệm vụ tự học
- Học sinh thực hiện theo trình tự:
+ Nghiên cứu, thảo luận và thực hiện theo tiến trình đã được hướng dẫn
+ Xác định mục tiêu của nhiệm vụ tự học
+ Báo cáo sản phẩm – thảo luận
+ Chỉnh sửa, bổ sung và hoàn thiện mục tiêu của nhiệm vụ tự học
Bước 2 Xác định nội dung cơ bản của nhiệm vụ tự học
Dựa vào mục tiêu của nhiệm vụ tự học đã xác định ở bước 1, giáo viên hướng dẫn học sinh xác định nội dung của nhiệm vụ tự học
- Giáo viên hướng dẫn học sinh thực hiện theo trình tự:
+ Đọc tài liệu, tìm các thành phần nội dung của nhiệm vụ tự học
+ Xác định nội dung cơ bản của nhiệm vụ
+ Xác định mối quan hệ giữa các nội dung cơ bản của nhiệm vụ và thiết lập sơ đồ nội dung cơ bản theo thứ bậc và logic phát triển
+ Xây dựng câu hỏi, bài tập, tình huống học tập tương ứng với mục tiêu, nội dung + Đề xuất sản phẩm tương ứng với mục tiêu nhiệm vụ đã đề ra
- Học sinh thực hiện theo trình tự đã được giáo viên hướng dẫn Sản phẩm có thể là bản
đồ tư duy, bản đồ khái niệm, bảng hệ thống… diễn đạt nội dung cơ bản của nhiệm vụ tự học
Bước 3 Xác định kế hoạch thực hiện nhiệm vụ tự học
- Giáo viên hướng dẫn học sinh thực hiện theo trình tự:
Trang 28+ Xác định tài liệu chính, tài liệu tham khảo tương ứng với mỗi nội dung
+ Xác định thời gian thực hiện, cách thức đánh giá tương ứng với mỗi nội dung (gửi sản phẩm về email cho giáo viên hoặc nộp trực tiếp hoặc báo cáo trực tiếp trong các buổi thảo luận trên lớp)
- Học sinh thực hiện theo trình tự đã được giáo vên hướng dẫn Sản phẩm là bản kế hoạch thực hiện các nội dung của chủ đề
Bước 4 Thu thập nguồn thông tin
Học sinh căn cứ vào tài liệu chính, tài liệu tham khảo tương ứng với mỗi nội dung đã xác định ở bước 3 để thu thập nguồn thông tin Sản phẩm là tài liệu, thông tin cho từng nội dung, nhiệm vụ tự học
Bước 5 Xử lý thông tin và xây dựng sản phẩm
Học sinh thực hiện nhiệm vụ theo trình tự:
+ Căn cứ vào nhiệm vụ tự học, nguồn thông tin, tham khảo tài liệu, xác định từ khóa, thiết lập dàn bài
+ Xác định nội dung cốt lõi của mỗi ý
+ Sắp xếp, hệ thống hóa và xây dựng sản phẩm dưới dạng lời văn, bảng biểu, sơ đồ… theo cách hiểu của mình một cách hợp lý, khoa học Trong quá trình đó, có thể đặt câu hỏi và xin ý kiến tư vấn của giáo viên (nếu có)
Sản phẩm có thể là đoạn văn, sơ đồ, bảng biểu… biểu diễn các nội dung, các video sưu tầm lựa chọn được, các câu hỏi, bài tập xây dựng, cách giải của mỗi bài tập, đề cương đề tài nghiên cứu…
Bước 6 Báo cáo sản phẩm và thảo luận
Học sinh báo cáo sản phẩm và thảo luận theo trình tự:
+ Đặt vấn đề
Trang 2920
+ Giới thiệu khái quát nội dung
+ Trình bày từng nội dung cụ thể
+ Thảo luận và đặt câu hỏi trao đổi, giải đáp thắc mắc và tranh luận Giáo viên có thể phân tích, góp ý, bổ sung sản phẩm đã thể hiện
Sản phẩm là phần trình bày và thảo luận sản phẩm đã làm theo cá nhân hoặc nhóm
Bước 7 Kiểm tra, đánh giá
Thông qua báo cáo sản phẩm và thảo luận, giáo viên hướng dẫn học sinh tự đánh giá và đánh giá đồng đẳng từ các học sinh khác bằng cách đặt vấn đề:
+ Mục tiêu của phần trình bày là gì?
+ Nội dung trình bày đã đáp ứng với mục tiêu đặt ra chưa?
+ Nếu đã đáp ứng được thì ở mức độ nào? Giải thích rõ lý do
+ Tìm những thiếu sót so với mục tiêu nhiệm vụ đặt ra, tìm nguyên nhân và cách khắc phục
Sản phẩm là ý kiến hoặc biên bản tự kiểm tra, đánh giá và đánh giá đồng đẳng
Bước 8 Tự điều chỉnh
Với những thông tin thu thập được trong khâu kiểm tra, đánh giá, giáo viên hướng dẫn học sinh sửa chữa, bổ sung và rút kinh nghiệm về cách học của mình Sản phẩm là phần tự điều chỉnh của học sinh, những nhận xét, góp ý của giáo viên và kết luận nội dung kiến thức của chủ đề
Bước 9 Định hướng học
Giáo viên tổ chức cho học sinh suy ngẫm và thảo luận về quá trình tự học để định hướng điều chỉnh và thực hiện ở các nhiệm vụ tự học tiếp theo Giáo viên hướng dẫn học sinh tự nhận ra những điểm mạnh và hạn chế của bản thân, hoạch định được phương án thực hiện, lựa chọn, quyết định mục tiêu, nhiệm vụ học tập tiếp theo
Trang 3021
1.2.6 Thang đánh giá năng lực tự học của học sinh
Nhằm đánh giá năng lực tự học của học sinh một cách chính xác và hiệu quả, cần có thang đánh giá rõ ràng Các nhà giáo dục học đã chia năng lực tự học thành 3 mức độ nâng cao dần với các biểu hiện như sau (Road to Success, 2010)2:
- Mức độ 1:
+ Hiểu được giá trị của việc sắp xếp thời gian và không gian học tập
+ Nhận ra vai trò của việc ghi chú khi nghe giảng trên lớp và khi tự học ở nhà
+ Nhận diện được các yếu tố tác động đến tâm lý người học
+ Phân tích được ảnh hưởng của sự khác biệt cá nhân đến quá trình tự học
+ Xác định được một số biện pháp giảm thiểu stress trong quá trình tự học
+ Lập được danh mục việc cần làm trong một ngày
- Mức độ 2:
+ Liệt kê danh sách các bài tập về nhà
+ Xác định được danh mục những việc cần làm và những việc hoặc bài tập ưu tiên trong danh mục việc cần làm hằng ngày
+ Áp dụng các phương pháp thích hợp để ghi chú nội dung học tập bằng sơ đồ tư duy, outline, phương pháp Cornell (gồm phân biệt ý chính và ý bổ sung)
+ Xác định được chiến lược để ôn tập bài cũ
- Mức độ 3:
+ Xây dựng được thời khóa biểu tự học theo từng tháng, từng tuần
+ Dự kiến được khoảng thời gian cần thiết để hoàn thành bài tập/nhiệm vụ tự học + Xây dựng được thời gian biểu chi tiết cho hoạt động tự học từng ngày
+ Áp dụng những phương pháp học tập tích cực nhằm nâng cao hiệu quả của tự học + Khắc phục được những khó khăn trong quá trình tự học
Bảng 1.1 Bảng Rubrics đánh giá năng lực tự học
2 Road to Success (2010) Study skill
https://cfwv.com/images/wv/pdfs/rts/Facilitators_Guides/grade_7/G7_Unit4_StudySkills.pdf
Trang 312
Trang 3223
TC5.2 Tự nhận ra và điều chỉnh những sai sót, hạn chế của bản thân trong quá trình học tập nhưng chưa đầy đủ
1
TC5.3 Không tự nhận ra và điều chỉnh những sai sót, hạn chế của bản thân trong quá trình học tập
0
Đánh giá:
- Tốt: Tổng điểm đạt từ 8 điểm đến 10 điểm và không có tiêu chí nào 0 điểm
- Đạt: Tổng điểm từ 5 điểm đến 7 điểm và không có 2 tiêu chí nào 0 điểm
- Không đạt: Tổng điểm dưới 5
1.3 CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
Qua việc điều tra, phỏng vấn GV và HS, nhận thấy rằng có khoảng 42,9% GV (trường THPT Thanh Khê) có chú trọng đến phương pháp tự học của HS nhưng chủ yếu là giao các nhiệm vụ về nhà Điều này dẫn đến năng lực tự học của HS không được bồi dưỡng trong quá trình học tập, biểu hiện là các em lúng túng khi phải tự đọc sách, tự làm thí nghiệm và đặc biệt
là chưa xây dựng được kế hoạch tự học một cách khoa học, chưa có kĩ năng thu thập, xử lí, vận dụng thông tin vào thực tiễn cũng như kĩ năng tự kiểm tra đánh giá và tự điều chỉnh quá trình học tập của bản thân Có 61,7% HS (trường THPT Thanh Khê) có áp dụng hình thức tự học ở nhà nhưng qua trao đổi thì các em cho biết chủ yếu là học bài cũ và chỉ xem trước bài khi GV có căn dặn và chưa vạch ra được kế hoạch tự học một cách đúng đắn
Nguyên nhân là do: chất lượng đầu vào của trường còn thấp, các em chưa có ý thức tự giác trong quá trình học tập; bản thân HS không có tốt chất, chưa có động cơ, chưa có ý chí
và chưa có kĩ năng tự học; các em chưa được định hướng một cách cụ thể trong hoạt động tự học của bản thân; ngoài ra môi trường sống hiện nay cũng gây ảnh hưởng lớn tới tinh thần và
ý thức học tập của HS Do vậy, vai trò của người GV trong việc phát triển năng lực tự học của
HS nhằm góp phần nâng cao hiệu quả dạy và học ở trường phổ thông là hết sức quan trọng
Trang 3324
CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 ĐỐI TƯỢNG, KHÁCH THỂ NGHIÊN CỨU
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu
Năng lực tự học của học sinh THPT trong dạy học chủ đề “Sinh học cơ thể thực vật” – Sinh học 11
2.3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.3.1 Phương pháp nghiên cứu lý thuyết
Nghiên cứu các tài liệu có liên quan đến nội dung kiến thức phần Sinh học cơ thể thực vật – Sinh học 11, các tài liệu về phát triển năng lực tự học, bao gồm: SGK Sinh học 11, các sách lý luận và phương pháp giảng dạy Sinh học, các giáo trình, luận văn, luận án, tạp chí, bài viết và các website làm cơ sở khoa học cho nghiên cứu
2.3.2 Phương pháp điều tra giáo dục
Sử dụng phiếu điều tra giáo viên, quan sát sư phạm, dự giờ giảng để đánh giá thực trạng dạy học Sinh học theo hướng phát triển năng lực tự học Sinh học của học sinh THPT
2.3.3 Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia
Tiến hành gặp gỡ và trao đối với những người giỏi về lĩnh vực đang nghiên cứu, lắng nghe dự tư vấn của các chuyên gia để định hướng cho việc triển khai nghiên cứu đề tài Các chuyên gia có thể là giảng viên hướng dẫn, giảng viên bộ môn, Tiến sĩ, … và những người có
am hiểu về lĩnh vực đang nghiên cứu, một số giáo viên phổ thông
Trang 3425
2.3.4 Phương pháp khảo nghiệm
Sau khi xây dựng và đề xuất một số biện pháp phát triển năng lực tự học trong dạy học phần Sinh học cơ thể thực vât – Sinh học 11, tiến hành khảo nghiệm với các hoạt động học tập theo hướng tự học trong dạy học Sinh học nhằm đánh giá hiệu quả và tính khả thi của đề tài
Trang 3526
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
3.1 Cấu trúc nội dung chương trình Sinh học 11 - THPT
3.1.1 Phân tích cấu trúc nội dung chương trình Sinh học 11 – THPT
Nội dung chương trình sinh học 11 gồm 48 bài trong đó có 40 bài lí thuyết và 8 bài thực hành Chương trình sinh học 11 là phần Sinh học cơ thể, phần này gồm 4 chương Mỗi chương lại được tách thành 2 phần nhỏ để giới thiệu riêng rẽ về các quá trình diễn ra trong cơ thể thực vật và động vật
- Chương I: Chuyển hóa vật chất và năng lượng
Chương này gồm 22 bài (18 bài lí thuyết và 4 bài thực hành) Nội dung chương này giới thiệu về các quá trình diễn ra trong cơ thể thực vật và động vật, đó là quá trình như vận chuyển các chất trong cây, thoát hơi nước, quá trình quang hợp, quá trình hô hấp ở thực vật Các quá trình tiêu hóa, hô hấp, tuần hoàn ở cơ thể động vật
- Chương II: Cảm ứng
Chương này gồm 11 bài (9 bài lý thuyết và 2 bài thực hành) Nội dung của chương đề cập đến các hiện tượng diễn ra trong cơ thể thực vật và động vật để phản ứng lại các kích thích của môi trường
- Chương III: Sinh trưởng và phát triển
Chương này gồm 7 bài (6 bài lý thuyết và 1 bài thực hành) Nội dung của chương này giới thiệu về quá trình sinh trưởng và phát triển ở thực vật và động vật, các hoocmôn, các yếu
tố ảnh hưởng đến sinh trưởng và phát triển ở thực vật
- Chương IV: Sinh sản
Chương này gồm 8 bài (6 bài lí thuyết, 1 bài thực hành và 1 bài ôn tập) Nội dung của chương giới thiệu về sinh sản vô tính và hữu tính ở thực vật và động vật cũng như các cơ chế, điều kiện để điều hòa sinh sản
Thành phần kiến thức của chương trình:
Kiến thức cơ bản nhất của chương trình là hệ thống các khái niệm phản ánh các hiện tượng, quá trình diễn ra trong cơ thể thực vật và động vật
Trang 363.1.2 Cấu trúc nội dung phần Sinh học cơ thể thực vật, Sinh học 11 – THPT
Thông qua phân tích nội dung cụ thể của phần Sinh học cơ thể thực vật, Sinh 11 THPT, thành phần kiến thức cơ bản được tóm tắt trong bảng 2.1
Bảng 3.1 Bảng nội dung kiến thức và mục tiêu dạy học chương trình Sinh 11 THPT phần
- Dựa vào sơ đồ, mô tả được quá trình trao đổi nước trong cây, gồm: sự hấp thụ nước ở rễ, sự vận chuyển nước ở thân và sự thoát hơi nước ở lá
Trang 37và lực bám giữa các phân tử nước với thành mạch dẫn)
- Nêu được sự vận chuyển các chất hữu cơ trong mạch rây cung cấp cho các hoạt động sống của cây và dự trữ trong cây
Sự thoát hơi nước ở lá
Vai trò của các nguyên tố
- Nêu được khái niệm dinh dưỡng ở thực vật và vai trò sinh lí của một số nguyên tố khoáng đối với thực vật (cụ thể một số nguyên tố đa lượng, vi lượng)
- Quan sát và nhận biết được một số biểu hiện của cây do thiếu khoáng
- Nêu được các nguồn cung cấp nitơ cho cây
- Trình bày được quá trình hấp thụ và biến đổi nitrate và ammonium ở thực vật
- Phân tích được một số nhân tố ảnh hưởng đến trao đổi nước ở thực vật và ứng dụng hiểu biết này vào thực tiễn
- Giải thích được sự cân bằng nước và việc tưới tiêu hợp lí; các phản ứng chống chịu hạn, chống chịu ngập úng, chống chịu mặn của thực vật và chọn giống cây trồng có khả năng chống chịu
Trang 3829
- Trình bày được các nhân tố ảnh hưởng đến quá trình dinh dưỡng khoáng ở cây, đặc biệt là nhiệt độ và ánh sáng Ứng dụng được kiến thức này vào thực tiễn
- Phân tích được vai trò của phân bón đối với năng suất cây trồng
- Thông qua thực hành, quan sát được cấu tạo khí khổng
ở lá
- Thực hiện được các thí nghiệm chứng minh sự hút nước
ở rễ; vận chuyển nước ở thân và thoát hơi nước ở lá Thực hành tưới nước chăm sóc cây
- Thực hiện được các bài thực hành về thuỷ canh, khí canh
+ Quang hợp ở thực vật
Khái quát về quang hợp
Các giai đoạn của quá trình
- Trình bày được vai trò của sắc tố trong việc hấp thụ năng lượng ánh sáng Nêu được các sản phẩm của quá trình biến đổi năng lượng ánh sáng thành năng lượng hoá học (ATP và NADPH)
- Nêu được các con đường đồng hoá carbon trong quang hợp Chứng minh được sự thích nghi của thực vật C4 và CAM trong điều kiện môi trường bất lợi
- Trình bày được vai trò của sản phẩm quang hợp trong tổng hợp chất hữu cơ (chủ yếu là tinh bột), đối với cây và đối với sinh giới
- Phân tích được ảnh hưởng của các điều kiện đến quang hợp (ánh sáng, CO2, nhiệt độ)
Trang 39- Vận dụng hiểu biết về quang hợp để giải thích được một
số biện pháp kĩ thuật và công nghệ nâng cao năng suất cây trồng
- Thực hành, quan sát được lục lạp trong tế bào thực vật; nhận biết, tách chiết các sắc tố (chlorophyll a, b; carotene
và xanthophyll) trong lá cây
- Thiết kế và thực hiện được các thí nghiệm về sự hình thành tinh bột; thải oxygen trong quá trình quang hợp + Hô hấp ở thực vật
Khái niệm
Vai trò của hô hấp
Các giai đoạn hô hấp ở thực
vật
- Nêu được khái niệm hô hấp ở thực vật
- Phân tích được vai trò của hô hấp ở thực vật
- Trình bày được sơ đồ các giai đoạn của hô hấp ở thực vật
- Phân tích được ảnh hưởng của điều kiện môi trường đến
hô hấp ở thực vật Vận dụng được hiểu biết về hô hấp giải thích các vấn đề thực tiễn (ví dụ: bảo quản hạt và nông sản, cây ngập úng sẽ chết, ) Thực hành được thí nghiệm
Trang 40+ Mô phân sinh
+ Sinh trưởng sơ cấp, sinh
trưởng thứ cấp
+ Hormone thực vật
+ Phát triển ở thực vật có hoa
- Nêu được đặc điểm sinh trưởng và phát triển ở thực vật
- Phân tích được một số yếu tố môi trường ảnh hưởng đến sinh trưởng và phát triển ở thực vật
- Nêu được khái niệm mô phân sinh Trình bày được vai trò của mô phân sinh đối với sinh trưởng ở thực vật Phân biệt được các loại mô phân sinh
- Trình bày được quá trình sinh trưởng sơ cấp và sinh trưởng thứ cấp ở thực vật
- Nêu được khái niệm và vai trò hormone thực vật Phân biệt được các loại hormone kích thích tăng trưởng và hormone ức chế tăng trưởng
- Trình bày được sự tương quan các hormone thực vật và nêu được ví dụ minh hoạ
- Trình bày được một số ứng dụng của hormone thực vật trong thực tiễn
- Dựa vào sơ đồ vòng đời, trình bày được quá trình phát triển ở thực vật có hoa
- Trình bày được các nhân tố chi phối quá trình phát triển
ở thực vật có hoa Lấy được ví dụ minh hoạ