VỘI VÀNGNếu ví thơ mới như một ngã rẽ mới của làng văn học Việt Nam thì trong những khoảng khắc đó, phải có sự xuất hiện của những con người tài năng, “một hồn thơ rộng lớn” như Thế Lữ,
Trang 1VỘI VÀNG
Nếu ví thơ mới như một ngã rẽ mới của làng văn học Việt Nam thì trong những khoảng khắc đó, phải có
sự xuất hiện của những con người tài năng, “một hồn thơ rộng lớn” như Thế Lữ, “ảo não” như Huy Cận hay “trong sáng” như Nguyễn Nhược Pháp, những màu sắc đã góp vào những gam màu riêng biệt cho khu vườn thơ ca Việt Nam, nhưng còn đó vẫn là một cánh hoa đào lạc giữa rừng hoa mai, Xuân Diệu, người mà được mệnh danh là “nhà thơ mới nhất trong những nhà thơ mới” với lối kể chuyện độc đáo,
tư tưởng tình yêu mới lạ sớm đã để lại nhiều tiếng vang, với đặc sắc chính là tác phẩm “Vội vàng”
“Thà một phút huy hoàng rồi chợp tắt Còn hơn buồn lẻ loi suốt trăm năm”
Cái hồn của Xuân Diệu như được thả vào mây gió, ông là một người đã mang tình yêu lên làm tôn giáo, một kẻ luôn luôn tìm kiếm cái đẹp trong cuộc đời, mà cũng vì thế mà sự nghiệp văn chương của ông là những hào hùng khi là một trong những thành viên của Tự Lực văn đoàn và nắm nhiều chức vụ quan trọng trong làng văn học lúc bấy giờ Về “Vội vàng”, được in trong tập “Thơ thơ” và được ví như một kì quan phi vật thể của thế giới hiện đại, nhẹ nhàng nhưng trầm lắng, thể hiện được phong cách thơ của Xuân Diệu, cái hồn đặt trong từng câu chữ của bài thơ
Dưới lăng kính tình yêu của nhà thơ, độc giả đã được chứng kiến được 4 câu thơ mà có lẽ là ấn tượng khi đọc vào tác phẩm
“Tôi muốn tắt nắng đi Cho màu đừng nhạt mất Tôi muốn buộc gió lại Cho hương đừng bay đi”
Sự đặc biệt của bốn câu thơ ngũ ngôn, kết hợp với nhịp cảm xúc gấp gáp dường như đã hình dung được
sự mãnh liệt trong khát vọng của tác giả Sau đó chính là điệp từ “Tôi muốn”, một đại từ lại đi sau một động từ thể hiện cái sự thật trong khát khao của tác giả bùng cháy khi chủ động thể hiện niềm kiêu hãnh
và ước muốn tột độ của chính bản thân ở cái mà tác giả đang muốn bảo vệ Phải chăng sau điệp từ là những gì mà tác giả đang muốn thể hiện, những hành động như “tắt nắng” hay “buộc gió” phải chăng là hành động bảo vệ cái đẹp, cái lưu giữ của mùa xuân? Nhà thơ, bằng một cách tinh tế, đã lựa chọn ra những hành động “ngông” nhất để biểu đạt tình cảm, một cái ước muốn tưởng chừng là vô lí nhưng lại thể hiện được vẻ đẹp trong tâm hồn ông Ông sợ gió cuốn trôi đi hương thơm, sợ nắng làm nhạt màu xuân sắc, tất cả cũng là vì tình yêu, vì “tiếc” nên đã muốn tự cho mình cái quyền của tạo hóa, để có thể lưu giữ cái đẹp vĩnh viễn và vô hình chung tạo nên một bức rào cản giữa thực tế và tâm hồn, sự nghiệt ngã của số phận đối với những con người muốn lưu giữ cái đẹp
Được tiếp sức bởi những sức mạnh tưởng như vô hình đó, nhà thơ đã đặc tả tiếp cảnh sắc ở những câu thơ sau với hình ảnh thiên nhiên đầy sức sống
“Của ong bướm này đây tuần tháng mật Này đây hoa của đồng nội xanh rì Này đây lá của cành tơ phơ phất
Trang 2Của yến anh này đây khúc tình si
Và này đây ánh sáng chớp hàng mi Mỗi sáng sớm thần vui hằng gõ cửa Tháng giêng ngon như một cặp môi gần Tôi sung sướng Nhưng vội vàng được một nửa Tôi không chờ nắng hạ mới hoài xuân”
Quả thực, một cảnh sắc tuyệt đẹp bày ra trước mắt độc giả, với một bàn tiệc đầy sắc xuân của những ong bướm, hoa lá, lời ca và điệu nhạc, và cũng với những sự vật đó, tác giả đã cho nó cái hồn, cái tình yêu của những cặp đôi đang yêu nhau như “ong”-“bướm”, “hoa”, “đồng nội”,”lá”-“cành tơ” hay “yến anh”-“khúc tình si”, cảnh tưởng chừng chỉ có trên thiên đường này đã được tác giả biến hóa bằng nhiều nghệ thuật, cách ngắt nhịp uyển chuyển, linh hoạt cùng với sự cách tân trong từng câu thơ Nếu nói các nhà thơ cổ chỉ dùng thị giác để miêu tả ngoại cảnh thì Xuân Diệu đã vẫn dụng hết “thức nhọn giác quan” nhằm đưa ra những nhận định thật nhất, huy hoàng nhất Thật điên rồ khi nói rằng đã từng có một tác giả nghĩ đến sự so sánh giữa “cặp môi gần”, vốn là sự khởi đầu của một nụ hôn nồng thắm với “tháng giêng”, cũng vốn là sự khởi đầu của một năm mới, nhưng nếu có, thì chắc chắn đó là Xuân Diệu, nghệ thuật so sánh mà đã được ông sử dụng càng làm thêm cho xuân càng “ngon”, một sự chuyển đổi cảm giác nhanh chóng khiến cho tâm hồn yêu mùa xuân, cuộc sống của tác giả được khắc họa đến mức cao nhất Tuy đẹp là vậy, tình tứ là thế, nhưng buổi tiệc nào rồi cũng tàn, và bức tranh của Xuân Diệu vẽ ra cũng vậy, “nhưng” chỉ 1 từ mà cả câu thơ trở nên trật nhịp đi hẵn so với phần còn lại, nó chia cảm xúc ra làm hai nửa, vui sướng và hốt hoảng, và cũng mang cho câu thơ một giá trị nhân văn sâu sắc Khi con người không biết trân trọng những gì mình có, thì có lẽ tới lúc nhận ra thì đã chậm chân một nhịp Rõ ràng, “xuân” không chỉ có ý nghĩa là thiên nhiên, cảnh vật, mà đó là tất cả những gì tạo hóa đã ban tặng cho con người, nó chứng minh cho việc con người mới là thước đo của vũ trụ ngoài sự miêu tả mĩ miều
về thiên nhiên, quan điểm mĩ học mới mẻ đã nâng tầm khổ thơ và làm cho nó đặc biệt hơn cả
Cái nhìn của tác giả chẳng những đặc sắc về không gian và cả xúc mà nó còn là sự đặc tả về thời gian, về cái gọi là quy luật của cuộc sống
“Xuân đương tới nghĩa là xuân đương qua Xuân còn non nghĩa là xuân sẽ già
Mà xuân hết nghĩa là tôi cũng mất Lòng tôi rộng nhưng lượng trời cứ chật Không cho dài thời trẻ của nhân gian Nói làm chi rằng xuân vẫn tuần hoàn Nếu tuổi trẻ chẳng hai lần thắm lại Còn trời còn đất nhưng chẳng còn tôi mãi Nên bâng khuâng tôi tiếc cả đất trời
Trang 3Mùi tháng năm đều rớm vị chia phôi Khắp núi sông vẫn than thầm tiễn biệt Con gió xinh thì thào trong lá biếc Phải chăng hờn vì nỗi phải bay đi?
Chim rộn ràng bỗng đứt tiếng reo thi Phải chăng sợ độ phai tàn sắp sửa?
Chẳng bao giờ, ôi! Chẳng bao giờ nữa”
Một mĩ quan đẹp, nhưng vô cùng sâu sắc của Xuân Diệu khi nói về thời gian Bằng cách sử dụng phép đối bằng các từ ngữ như “tới-qua” hay “non-già” cùng với điệp ngữ “nghĩa là” đã thành công trong việc cắt nghĩa, giúp thể hiện thời gian qua một khái niệm khắc nghiệt nhất, rằng thời gian đối với Xuân Diệu là tuyến tính mà thôi, nó cũng mang sự khác biệt lớn với thơ ca cổ khi mà nhà thơ được nói lên tiếng lòng của mình rằng phải chăng thời gian còn là có ý nghĩa khi đã đánh mất tuổi xuân của mình mất rồi, phải chăng “tuổi trẻ có hai lần thắm lại”?
“Mà xuân hết nghĩa là tôi cũng mất Lòng tôi rộng nhưng lượng trời cứ chật Không cho dài thời trẻ của nhân gian”
Vẫn là những từ ngữ mang sắc thái tương phản của thiên nhiên để Xuân Diệu mở ra được một thế giới mùa xuân của con người, cảnh vật, một thứ mà tưởng chừng như chẳng có sự liên quan Với giọng điệu
u hờn, Xuân Diệu đã thể hiện ra cái bao la của trời đất so với cái hữu hạn của con người, dường như đến
cả thiên nhiên cảnh vật cũng đang chống lại nhà thơ
“Nói làm chi rằng xuân vẫn tuần hoàn Nếu tuổi trẻ chẳng hai lần thắm lại Còn trời còn đất nhưng chẳng còn tôi mãi Nên bâng khuâng tôi tiếc cả đất trời”
Cái nhỏ bé và sự vĩ đại, dường như nó đã thấm đẫm vào từng dòng thơ của ông ở trên, và cũng như thế, thi nhân dường như đã nhận ra sự bất lực của mình so với thời gian Có người đã từng nói “Thời gian thấm thoát thoi đưa”, nó có lẽ cũng đã được Xuân Diệu chấp nhận và tiếc thay cho cuộc đời, hơn thế nữa là sự cảm của một tâm hồn yêu cái đẹp dành cho thời gian
“Mùi tháng năm đều rớm vị chia phôi Khắp núi sông vẫn than thầm tiễn biệt”
Xuân Diệu luôn là thế, một thi sĩ với tâm hồn bay bổng, và ở đây cũng vậy, Nguyễn Du từng viết:
“Cảnh nào cảnh chẳng đeo sầu Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ”
Trang 4Theo mạch cảm xúc ở trên, Xuân Diệu càng làm cho nó thêm đặc sắc khi đã cảm nhận nó qua khứu giác
“mùi tháng năm” và vị giá “vị chia phôi”, đớn đau làm sao cho một góc nhìn mất mát này, nó thể hiện cho một khoảng không gian đang tiễn biệt chính thời gian hay bằng một cách nói khác là thời gian đang tạm biệt một phần của chính nó Khoảng khắc nào mà lại chẳng có sự chia li, chính Xuân Diệu cũng đã khẳng định, xót xa làm sao cho số phận của tất cả những thứ hữu hạn trên cuộc đời này
“Con gió xinh thì thào trong lá biếc Phải chăng hờn vì nỗi phải bay đi?
Chim rộn ràng bỗng đứt tiếng reo thi Phải chăng sợ độ phai tàn sắp sửa?”
Cái cách mà ông nhân hóa những sự vật với những từ mà chỉ còn thể hiện sự thoi thóp như “thì thào” cũng phần nào hiện lên nỗi sợ của tác giả, nỗi sợ đó còn được “gió” và “chim” cộng hưởng lại để kết hợp với hai câu hỏi tu từ là “Phải chăng là” hay “Phải chăng sợ”góp phần hợp tác hóa và cộng hưởng sự buồn
bã của cảnh vạt, của những “sinh vật” tràn đầy “nhựa sống” để giờ đây chỉ còn phải “bay đi” và đợi “phai tàn” Từ đó mới thấy Xuân Diệu trân trọng mỗi cá nhân trên cuộc đời ra sao, ông luôn nâng niu, trân trọng dù chỉ là một khắc của cuộc đời là như thế nào
“Chẳng bao giờ, ôi! Chẳng bao giờ nữa Mau đi thôi mùa chưa ngả chiều hôm”
Trước bao cơ hội đã bỏ lỡ, thì giờ đây, giá trị của thời gian được lên ngôi Với giọng điệu gấp gáp, Xuân Diệu đã thể hiện lên được sự “vội vàng” để tận hưởng tuổi trẻ, để sống có ý nghĩa khi tuổi vẫn chưa “xế chiều” Nỗi lo âu của tạo hóa dần được bùng lên và thành một tiếng thúc giục, gấp gáp : “Mau đi thôi” Tiếng gọi ấy cũng như đã thức tỉnh biết bao nhiêu điều, và cũng mang lại những giây phút ít ỏi còn lại của tuổi trẻ
Phần cuối của bài thơ, là lúc mà cảm xúc dường như được đúc kết lại bằng hành động, những cảm xúc
cứ thế càng mãnh liệt và dồn dập hơn
“Ta muốn ôm Cái sự sống bắt đầu mơn mởn
Ta muốn riết mây đưa và gió lượn
Ta muốn say cánh bướm với tình yêu
Ta muốn thâu trong một cái hôn nhiều
Và non nước và cây và cỏ rạng Cho chếnh choáng mùi thơm cho đã đầy ánh sáng
Cho no nê thanh sắc của thời tươi -Hỡi xuân hồng ta muốn cắn vào ngươi!”
Trang 5Cái đặc sắc ở khổ thơ cuối cùng có phải chăng là do điệp ngữ “Ta muốn”, với tần suất dày đặc, sự mong ước của tác giả cũng đã được đưa lên mức cao nhất khi tất cả cảm xúc đang cộng hưởng, đan xen vào nhau theo chiều càng tăng tiến, càng cao trào Mà cùng với đó là nhịp thơ dồn dập và đại tự “ta”, nhắc đến cái tôi to lớn để có thể tận hưởng cảnh vật của thiên nhiên cũng giống như cái ngông mà Nguyễn Công Trứ đã từng thể hiện
“Vũ trụ nội mạc phi phận sự”
Mà hai câu cuối cũng không phải là ngoại lệ khi nó cũng đã được tận hưởng cuộc đời, điệp từ “cho” cũng
đã mang lại đến 2 câu thơ một màu sắc của thanh xuân, của tuổi trẻ Với sự tái hợp của những từ “no nê”, “đã đầy”, và điệp từ “và” đã góp phần khắc sâu cái khát khao của nhà thơ đối với cuộc sống Tất nhiên, những gì đã thăng hoa thì lúc nào cũng sẽ có lúc cao trào nhất, ở đây là câu cuối “Hỡi”, một tiếng gọi tha thiết và đầy trìu mến tưởng như chỉ có với những người thân mật với nhau mà ông đã vật chất hóa một thứ vô hình, “mùa xuân” để có thể sống, cống hiến và đắm chìm trong tình yêu đó Cách cảm nhận độc đáo đã mang cho bài thơ thêm một từ khác là “cắn”, một từ mà trong thơ cổ dường như không bao giờ xuất hiện nhưng ở đây nó tượng trưng cho sự yêu đương đến mức phải “cắn” thì mới có thể lột
tả được hết cảm xúc thăng hoa của tác giả Qua khổ thơ cũng cho ta thấy cái hồn của Xuân Diệu đẹp ở đâu, ông cho ta thấy con người, tình yêu mới là những thứ đẹp mê hồn nhất, cho ta biết trân trọng thời gian tuổi trẻ, cho ta biết hưởng thụ chính đáng những gì đẹp nhất khi còn cơ hội
Về nội dung, bài thơ đã khắc họa được lối sống phóng khoáng của nhà thơ, yêu cái đẹp mà cũng rất biết tận hưởng nó, cái cuống quýt của tiêu đề cũng dường như thúc đẩy để không bỏ lỡ giây phút nào của tuổi trẻ Về nghệ thuật, bài thơ có sự đan xen giữa mạch cảm xúc và mạch luận lí, thêm vào đó là sự sử dụng liên tục của những động từ mạnh, với tần suất liên tục, cuối cùng là tạo ra hình ảnh độc đáo cho ngôn ngữ thơ
Vội vàng, như cái tên của nó, đã góp phần làm đẹp thêm về một tâm hồn, một cách sống mới lạ đương thời, Xuân Diệu cũng vậy, chẳng phải ngẫu nhiên mà người ta gọi ông là “ông hoàng thơ tình” Đây là một bài thơ mang đậm tính triết lý về tình yêu và cuộc sống và Xuân Diệu cũng xứng đáng trở thành một trong những người cách tân của phong cách ấy
TRÀNG GIANG
Trăng lên trong lúc đang chiều Gió về trong lúc ngọn triều mới lên
Thuyền đi, sông nước ưu phiền;
Buồm treo ráng đỏ rong miền viễn khơi
Huy Cận ( Thuyền đi ) Thơ ca Việt Nam đã có một bước chuyển mình to lớn khi bắt đầu cho thời đại thơ mới, và ở những sân chơi mới nhất, những con người vĩ đại sẽ tỏa sáng và vươn mình, lần lượt những Thế Lữ, Tản Đà hay Xuân Diệu, với cái hồn của mình đặt vào trong tình yêu hay là người mở đầu cho những khúc ngân ca của thơ mới Việt Nam thì đó là một biến số nếu thiếu Huy Cận, cái “ão não” của thơ mới của Việt Nam thời bấy giờ, đặc trưng chính là bài thơ “Tràng Giang”
Tràng Giang, vốn được trích từ tập thơ “Lửa thiêng” của Huy Cận, góp phần làm giàu thêm phong trào thơ mới và đưa cái tên Huy Cận vào hàng ngũ bậc thầy Với thể thơ thất ngôn, “Tràng Giang” đã có
Trang 6những nét cách tân riêng cho phong trào thơ mới nhưng vẫn hàm chứa những nét văn chương truyền thống Còn về Huy Cận, cái hồn của ông đã đưa vào trong tác phẩm một cách độc đáo nhưng vẫn thấm đẫm trong đó là nỗi buồn, day dứt với thời gian và không gian, càng cho thấy đó là một tâm hồn nhạy cảm với thiên nhiên, với cuộc đời
Mở đầu bài thơ,thật không ngoa khi nói rằng thơ mới luôn có một cái gì đó cách tân, tiêu biểu hơn những thể loại thơ khác, ở Tràng Giang, đó chính là lời đề từ:
“Bâng khuâng trời rộng nhớ sông dài”
Chỉ một dòng thôi mà cách thể hiện với nỗi “bâng khuâng” của những sự vật vốn tưởng vô tri lại thổi thêm cảm xúc vào trong nó, góp phần đóng góp thêm vào cái không gian “rộng” và “dài” đó của tác giả Trong đó, nỗi niềm của con người len lỏi vào không gian trời đất, với một cách diễn đạt mới lạ, tác giả đã cho độc giả hiểu bằng hai thái cực khác nhau, đó là con người nhớ nhung trời rộng, sông dài, hay cách khác là trời rộng nhớ sông dài, dù sao thì tương tư về dòng sông, về cảnh vật vẫn luôn là nét chủ đạo, khơi gợi nỗi buồn nơi người đọc, cùng với đó là nhan đề, vốn có vần “ang” chẳng đành, vì vốn đó là âm
mở, gợi tiếng vang xa mà rộng, vô tận mà rợn ngợp, thì còn đó chính là hình ảnh về con sông “Tràng Giang”, vốn mang đầy sức gợi cùng nhiều ý nghĩa cổ kính và chất thơ cổ điển
Mở đầu bài thơ, tác giả đã nâng tầm cách thể hiện tư tưởng của mình qua nỗi buồn đặt lên dòng sông
“Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp Con thuyền xuôi mái nước song song Thuyền về nước lại, sầu trăm ngả Củi một cành khô lạc mấy dòng”
Cái cách mà bài thơ đã gợi nên hình ảnh cho con sông thật là một cách tinh tế, mĩ miều khi đã đề cập đến nó như những “gợn sóng”, hay đến dòng thơ kế tiếp, đó lại là một hình ảnh khác, “nước song song”
mà vốn để chỉ mặt nước sóng đôi trải dài, kết hợp với những sự nhấp nhô nhẹ nhàng của mặt nước, góp phần làm cho không gian thêm phần tĩnh lặng, cùng với đó là những từ láy “điệp điệp” hay “song song” cũn chính là một trong những hạt nhân nhưng lại mang đậm sắc thái cổ kính của Đường thi Mà không chỉ nét đẹp ấy, đó còn chính là “con thuyền”, vốn tượng trưng cho sự nhỏ nhoi, vô định khi chỉ trôi nổi trên dòng sông, phải chăng đó chính là tâm trạng rối bời của tác giả trong cuộc đời, với những gì đã thể hiện, hai câu đầu cũng đã phần nào đó nói lên tâm trạng và khung cảnh lúc đó của dòng sông, đó là sự đối lập giữa cái rợn ngợp của không gian, sự tự do của bầu trời so với sự nhỏ nhoi của con thuyền, và sự lênh đênh của số phận Tâm trạng của tác giả không chỉ dừng ở đó ma còn được phát triển thêm ở hai câu thơ sau, cụm từ “thuyền về nước lại” có vẻ như một cấu trúc tương xứng với nhau, độc đáo trong khâu thể hiện sự trớ trêu của cuộc sống và sự ngổn ngang trong lòng nhà thơ, hai hình ảnh thuyền và nước tưởng chừng như là hai hình ảnh sánh đôi, nước đẩy thuyền đi, thuyền nương tựa vào dòng nước
mà ở trong câu lại là sự bất hòa hợp của bộ đôi, làm cho lòng dạ của tác giả thêm phần ngổn ngang trăm lối của nhà thơ Cuối cùng, cảm xúc của tác giả đã được kết lại ở câu cuối, với một sự lẻ loi của “củi một cành”, không còn sự sống của “khô” và sự vô định của “lạc mấy dòng” đã đưa dòng cảm xúc chảy liền mạch và cũng thêm vào đó chính là nghệ thuật đảo ngữ, góp phần nhấn mạnh thêm những dòng cảm xúc ấy, nó cũng tạo nên vết tích của thơ Huy Cận, khi mà văn học cổ luôn đưa những thứ cao đẹp và tao nhã thì Huy Cận lại mang những thứ tầm thường, vô nghĩa nhưng nó lại chính là nét cách tân của nhà thơ so với những người khác, hình ảnh chân thực nhưng hiện lên cái vô hồn của tác giả, cái tuyệt vọng
Trang 7của những kiếp người vô định lênh đênh của cuộc đời Nét đẹp tả cảnh ngụ tình đã được đưa lên mức cao nhất khi mà cảnh vật tượng trưng cho tâm trạng hụt hẫng, bâng quơ của tác giả dưới những tác động trong cuộc sống Khổ thơ đầu đã mở ra cho độc giả không chỉ ngoại cảnh mà còn là tâm cảnh Những dòng cảm xúc ấy còn được tiếp nối qua ở khổ 2, cảnh bãi bờ hiu quạnh với sự lạc loài, đơn côi
“Lơ thơ cồn nhỏ gió đìu hiu, Đâu tiếng làng xa vãn chợ chiều
Nắng xuống, trời lên sâu chót vót;
Sông dài, trời rộng, bến cô liêu.”
Phải biết rằng ở câu đầu, tác giả đã thể hiện ra những hình ảnh như “cồn”, “gió đìu hiu” hay “chợ chiều”, cái đặc sắc là những sự vật này đều rời rạc, tạo nên cảnh vật u sầu, ảm đạm, mở rộng thêm, từ láu “đìu hiu” của tác giả cũng góp phần vào cái bức tranh phong cảnh, mà từ này được mượn từ bản dịch “Chinh phụ ngâm”
“Non kì quạnh quẻ trăng treo Bến phì thổi gió đìu hiu mấy hồi”
Cách mượn của nhà thơ không những làm đẹp thêm cho câu thơ mà còn cho nó thêm màu sắc cổ kính trong từng câu chữ Âm vang ắt hẵn đã là những nét đặc trưng của bài thơ, nhưng lần này, âm vang lại là của “chợ chiều”, một khung cảnh đã tàn mà có lẽ khi tác giả đang đứng ở đó đã tình cờ được vọng lại, có thể đó cũng chỉ là một tạp âm trong lòng của tác giả khi đứng trước cảnh đẹp u sầu của dòng sông nhưng dù thế nào thì hình ảnh im lặng tuyệt đối của một dòng sông vẫn là chủ đạo Nghệ thuật cũng là một thứ được Huy Cận nhắc đến, đó chính là tăng cấp, chợ vãn đã đành, chợ chiều còn thêm phần sầu não, mang đậm màu sắc thê lương Những sự liên tưởng còn được tiếp tục khi mà đôi mắt của nhà thơ
đã lướt qua nắng, nhìn xuống trời để rồi nhìn lại con người, quả thức hai hình ảnh ”nắng xuống” và “trời lên” chính là một cách thể hiện nghệ thuật tưởng phản sâu sắc của nhà thơ tô đậm lên cảnh vật, thêm vào cảnh vật những “sông dài”, “trời rộng” mà làm cho cảnh vật thêm phần hùng vĩ, để rồi nhìn lại con người chỉ còn “bến cô liêu” và một sự lẻ loi vô tận Câu thơ được phát triển toàn diện về con người và cảnh vật, nhưng liệu, trời có “sâu”? Hay đó chính là cái nhìn xuyên thấu qua tâm can, qua bầu trời của tác giả để càng thêm phần nhỏ bé của con người, dù là gì thì nó cũng là một cách dùng từ thú vị trong một bài thơ có sự hiện đại và cổ kính mang trong nó Một lần nữa xuất hiện những từ láy “lơ thơ” và
“đìu hiu”, sự cổ kính lại được lặp lại thêm một lần nữa,nhưng lần này là để vẽ ra cảm xúc nhỏ bé, trống vắng của con người so với cảnh vật, ở khổ thơ còn có sự xuất hiện của âm thanh thường trực hơn nhưng lại tăng thêm phần rời rạc, sầu thảm hơn
Những tưởng đã hết, nhưng còn đó là khổ 3 với thiên nhiên mênh mông nỗi sầu nhân thế
“Bèo dạt về đâu, hàng nối hàng;
Mênh mông không một chuyến đò ngang
Không cầu gợi chút niềm thân mật, Lặng lẽ bờ xanh tiếp bãi vàng.”
Sự cổ điển trong bài thơ được hiện lên khi có sự xuất hiện của “bèo”, một hình ảnh thường thấy trong thơ cổ, trong đây, tác giả đã vận dụng nghệ thuật ước lệ lên loài thực vật tượng trưng cho số phận bấp bênh này, “về đâu” cũng là cách để thể hiện sự mất phương hướng khi đứng trước ngưỡng cửa của cuộc sống, một lá bèo thì đã đành, “hàng nối hàng” khiến cho độc giả rợn ngợp trước thiên nhiên Đi theo góc
Trang 8nhìn của tác giả, điệp từ “không” được sử dụng trong câu hai tạo ra âm hưởng trong phần trước của bài thơ, sự mênh mông, lặng lẽ và cô đơn đến mức hiu quạnh của cảnh vật, cảnh vật mà ở đó chỉ có “bờ xanh tiếp bãi vàng” mà dường như sự tồn tại của con người chỉ còn là vô nghĩa Ở đó, chẳng những là nỗi buồn của cảnh vật mà còn là nỗi đau nhân thế khi thậm chí những phương tiện kết nối đơn giản nhất như “cầu” hay “đò” dường như đã bị cái rợn ngợp của thiên nhiên nuốt chửng khi nào Đặc sắc của khổ thơ còn nằm trong tâm can tác giả , những từ ngữ tưởng chừng quen thuộc như “mênh mông”, “lặng lẽ”
là những từ láy, khắc sâu thêm cái cô đơn , quặng vắng của tác giả với thiên nhiên, cảnh vật Quả thực không thể nói không có sự xuất hiện của con người, hay đúng hơn là không có sự xuất hiện của một con người đúng nghĩa, mà chỉ là những cái xác không hồn, cảm trước vẻ đẹp của dòng sông, “xanh” và
“vàng” là hai gam màu tươi sáng, nhưng trong ngữ cảnh này nó lại làm tô đậm thêm cái heo hút của tâm trạng con người, cảnh vật mà nó tượng trưng cho Khổ thơ đã cho ta thấy vết tích rõ ràng hơn về nền văn minh nhân loại, nhưng thực tế lại khắc họa theo lối thiên nhiên làm chủ, những cảm xúc trong thâm tâm lại bị chi phối bởi cảnh vật xung quanh, những bó buộc trong tâm can tác giả
Dõi theo lăng kính u sầu này, dẫn đến khổ cuối cùng của bài thơ, cũng chính là cảnh chiều sa với lòng quê dâng trào của nhà thơ Với lối dẫn dắt quen thuộc, những cảnh vật thiên nhiên lập tức xuất hiện như
“mây”, “núi” cùng với những “bóng chiều sa”, và cũng ở đó từ láy “lớp lớp” có lẽ là để thể hiện sự dày đặc, mức độ phủ sóng của thiên nhiên, nhưng đặc biệt hơn là động từ “đùn” của Huy Cận, nhà thơ miêu
tả những cảnh vật như rằng nó có trong mình nội lực, sức sống riêng mà ở đây là mây, mây cũng đã có những chuyển động để tạo thành núi, cũng như con người cũng đã sa vào vẻ đẹp của dòng sông, tất cả đều xuất phát từ nội lực, từ bên trong mà ra Đối lập lại với những cảnh vật ở trên sông trước kia thì dường như cảnh vật khi này đã có sự biến chuyển lớn về chất và lượng, gợi lên cho những tâm hồn cô độc sự hoảng sợ, hãi hùng với nhiều biến chuyển về mặt cảm xúc Sau đó là hình ảnh “chim nghiêng cánh”, quả thực, dấu hai chấm ở đây chính là bút pháp chấm phá của tác giả đã trao cho câu thơ, để thấy rằng hai sự vật “cánh chim” và “bóng chiều” là hai thứ nương tựa vào nhau, có thể đó là những cánh chim sà xuống mặt nước hay đó là cánh chim mang cả buổi chiều trên vai, và cũng là một hình ảnh thường được bắt gặp trong thơ cổ Như những câu thơ trên, cánh chim hiện ra lẻ loi, đơn chiếc so với những “núi mây” thì dường như nhỏ bé quá, cô đơn quá và rồi buổi chiều cũng sẽ quay về màn đêm, những cánh chim kia rồi cũng sẽ lạc lối, giống như tâm trạng của tác giả vào khoảng khắc này vậy Từ láy
“dờn dợn”, không chỉ nằm ở cảnh vật mà đó còn chính là tâm hồn của tác giả, lênh đệnh vô định, mà kết hợp là “không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà” phải chăng đó là sự chai sạn của những gì đang được chứng kiến đối với tác giả hay nó chỉ đơn giản là một nỗi nhớ bâng quơ được bộc phát trong tâm can, dù sao thì câu thơ này phần nào cũng mang ý nghĩa độc đáo của chính nó, đó là vừa hiện đại nhưng cũng vừa cổ kính, nỗi nhớ da diết của Huy Cận hay chính là nỗi nhớ của những con người nơi xa xứ cùng với nhau hội ngộ Câu thơ cũng chính là được lấy cảm hứng từ hai câu thơ trong Lầu Hoàng Hạc
“Quê hương khuất bóng hoàng hôn Trên sông khói sóng cho buồn lòng ai”
Cái đặc sắc, cái hay đã được nằm trong sự cải tiến mà Huy Cận dành cho nó, với một nỗi nhớ da diết hơn, mãnh liệt hơn khi mà không cần khói nước nhưng vẫn nhớ về quê hương, về cội nguồn của chính bản thân mình Đoạn thơ kết thúc là thế với bao sự tiếc nuối mà tác giả dành cho nó, sự cảm nhận về con người hữu hạn và nhỏ bé nhường nào, sự bao la của vũ trụ rộng lớn
Vẻ đẹp cùng khát khao của nhân vật trữ tình đã hòa hợp vào cảnh vật để tạo nên một lòng yêu nước thầm kín và cũng là tiếng lòng của những người con xa xứ Nỗi buồn của nhà thơ cũng được thấm nhuần
Trang 9vào vũ trụ, vào từng câu thơ với cảnh vật mênh mông, xa vắng Cái nghệ thuật của bài thơ cũng được Huy Cận kết hợp bởi gam màu hiện đại và cổ điện hòa hợp, cách ngắt nhịp thơ 4/3 cũng góp phần tạo thêm được âm hương u sầu cho bài thơ, cùng với đó là nhiều từ láy và những biện pháp nghệ thuật để tạo nên một dòng sông đẹp đến nỗi mà dường như chỉ có trong tâm can nhà thơ
Tràng giang là một tác phẩm độc đáo về cả nội dung và nghệ thuật, cách khắc họa rõ nét sự cô độc cùng với những cảm xúc trầm lắng lẫn lộn vào nhau đã tạo ra một khung cảnh buồn nhưng là một cách thiết tha để thể hiện tình cảm, Huy Cận như đã tượng trưng cho một gam màu tối nhưng không tiêu cực của phong trào thơ mới, góp phần làm giàu đẹp thêm văn học nước nhà