1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

NGHỊ LUẬN VĂN HỌC 11 VỘI VÀNG-TRÀNG GIANG-ĐÂY THÔN VĨ DẠ

10 30 1

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 10
Dung lượng 49,28 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

đây là ba bài văn đạt điểm 9. Bài văn đầy đủ bố cục, đúng theo ba rem chấm điểm của gv các trường, đảm bảo đầy đủ nghệ thuật, liên hệ mở rộng. bonus thêm các cách mở đoạn, kết đoạn nlxh 200 chữ. Đây là tài liệu được sửa đổi, chọn lọc từ nhiều nguồn, đặc biệt cảm ơn sách của thầy Lê Thạch Thi.

Trang 1

Vội vàng -Xuân Diệu Thế Lữ trong lời tựa tập Thơ thơ đã nhận định: “ Xuân Diệu là một người của đời, một người ở giữa loài người Lầu thơ của ông xây dựng trên đất của một tấm lòng trần gian, ông đã ko trốn tránh mà quyến luyến cõi đời” Quả thật đúng như vậy, Xuân Diệu là một trong những cây đại thụ lớn của nền thi ca Việt Nam, ông còn được mệnh danh là

“ông hoàng” của những bài thơ tình cháy bỏng, nồng nàn Ngay trong lời thơ hay đời thực thì Xuân Diệu lúc nào cũng thể hiện được cái khát khao mãnh liệt với tình yêu, với cuộc đời Không giống như những nhà thơ mới cùng thời, Xuân Diệu đã sớm khẳng định được cái tôi riêng biệt trong chất sống sôi nổi, cuồng say của mình Vội vàng là một sáng tác rất tiêu biểu, nói lên tiếng của một trái tim đang khát khao, cuồng si với lẽ sống cuộc đời Bài thơ cũng chứa đựng cả nỗi trăn trở, khắc khoải, lo âu của Xuân Diệu trước sự trôi nhanh vội vã của thời gian./trích thơ/

“Vội vàng” được in trong tập “Thơ Thơ” – bông hoa đầu mùa đày hương sắc làm rạng danh một tài thơ thế kỷ Xuân Diệu đem đến cho thơ một sức sống mới, quan niệm sống mới và những cách cách tân nghệ thuật đầy sáng tạo,

“nhà thơ mới nhất trong những nhà thơ mới”(Hoài Thanh) Nhan đề “Vội vàng” ở đây không được hiểu là cách sống vội, qua loa mà nó đã giúp thi nhân truyền tải một quan niệm sống tự giác và thể hiện giá trị cá nhân – đó cũng là một

lẽ sống tích cực của nhà thơ luôn khát khao giao cảm với cuộc đời Cho nên, đặt cho bài thơ rất đặc trưng của mình cái tựa đề Vội vàng, hẳn đó phải là một cách tự bạch, tự hoạ của Xuân Diệu, nó cho thấy thi sĩ rất hiểu mình

Mở đầu bài thơ là tình yêu cuộc sống trần thế da diết của tác giả, đưa người đọc đến những cảm xúc vui tươi, yêu đời trước vẻ đẹp của mùa xuân mơn mởn: /13c đầu/

Mở màn bằng bốn câu thơ ngũ ngôn tưởng chừng “lệch nhịp” với toàn bài, đó là một ước muốn kì lạ của thi sĩ, đi ngược lại với qui luật tự nhiên Ông muốn “tắt nắng”,“buộc gió”, nắng và gió là những sự vật vô hình ta có thể cảm nhận bằng mắt nhưng tay ta lại chẳng thể chạm được Nghệ thuật điệp từ “tôi muốn” kết hợp cùng các động từ mạnh

đã cho người đọc thấy được niềm đam mê mãnh liệt và khát khao nắm giữ, chinh phục tạo hoá của nhà thơ Lời đề tặng Vũ Đình Liên – tác giả bài thơ Ông Đồ Phải chăng tác giả muốn gửi tặng đến người xưa là Vũ Đình Liên một quan niệm sống mới, một sức sống mới? Thế giới này được Xuân Diệu cảm nhận theo một cách riêng Nó bày ra như một thiên đường trên mặt đất, như một bữa tiệc lớn của trần gian.Cái thiên đường đầy sắc hương đó hiện diện trong Vội vàng vừa như một mảnh vườn tình ái, vạn vật đang lúc lên hương, vừa như một mâm tiệc với một thực đơn quyến

rũ, lại vừa như một người tình đầy khiêu gợi Xuân Diệu cũng hưởng thụ theo một cách riêng,ấy là hưởng thụ thiên

nhiên như hưởng thụ ái tình:/Của ong bướm…cặp môi gần/

Tác giả đã vẽ ra bức tranh thiên nhiên tuyệt đẹp,với cả màu sắc và âm thanh, với những cặp đôi quyến rũ đầy tình tứ ong bướm vàng, mật ngọt hoa lá xanh non tơ, yến anh ríu rít bên nhau quấn quýt, điệp ngữ “này đây” muốn mời gọi mọi người nhập bữa tiệc ngay trên mặt đất. Tháng giêng mang trong nó sức quyến rũ không thể cưỡng được của một người tình rạo rực, trinh nguyên.Nhưng những lời ca đó bỗng dưng bị khựng lại bởi câu thơ chia làm hai thái cực:

“Tôi sung sướng nhưng vội vàng một nửa/ Tôi ko chờ nắng hạ ”

Phải, cái thế giới này lộng lẫy nhất, “ngon” nhất là ở độ xuân; còn con người cũng chỉ hưởng thụ được cái “ngon” kia khi còn trẻ thôi Trong khi đó, cả hai đều vô cùng ngắn ngủi, thời gian sẽ cướp đi hết thảy.Cuộc đời là vô hạn nhưng đời người lại quá ngắn ngủi, những suy nghĩ trăn trở cứ hiện lên trong tâm hồn tác giả: Làm sao có thể níu kéo được thanh xuân? Làm sao có thể tận hưởng trọn vẹn cuộc đời?Hai câu thơ được xem như cái bản lề khép mở tâm trạng vừa vồ vập say đắm của cuộc sống tình yêu vừa là linh cảm bất an, băn khoăn âu sầu của nhà thơ vì thời gian qua mau, tuổi trẻ một đi không trở lại, quả thật XD là nhà thơ của những cảm quan tinh tế về thời gian

[liên hệ] Nhà thơ Thế Lữ đã từng nói: “Xuân Diệu say đắm với tình yêu và hăng hái với mùa xuân, thả mình bơi trong ánh nắng, rung động với bướm chim, chất đầy trong tim mấy trời thanh sắc” cũng bởi vậy mà ông đã cảm nhận về mùa xuân bằng tất cả sự tinh tế nhất của tâm hồn Cũng trong cùng thời kì thơ mới, nếu như những nhà thơ lãng mạn chỉ muốn sống một cuộc sống nơi thoát khỏi trần thế, Thế Lữ ở trên thiên thai với “Tiếng sáo thiên thai”, Chế Lan Viên tìm cái đẹp ở xưa trong thời gian mà giờ chỉ là đống hoang tàn đổ nát:

“Hãy cho tôi một tinh cầu giá lạnh

Một vì sao trơ trọi cuối trời xa!

Ðể nơi ấy tháng ngày tôi lẩn tránh

Những ưu phiền, đau khổ với buồn lo!” - (Những sợi tơ lòng – Chế Lan Viên)

Trang 2

“Trời cao xanh ngắt Ô kìa

Hai con hạc trắng bay về Bồng Lai” - (Tiếng sáo Thiên Thai – Thế Lữ)

thì Xuân Diệu đã “đốt cảnh bồng lai và xua ai nấy về hạ giới”

-NT: Trong các bài thơ của Xuân Diệu trước Cách mạng thì đây là những vần thơ xuân diệu nhất Sự kết hợp hài hoà giữa mạch cảm xúc trên bề mặt và mạch triết luận ở bề sâu: muốn tắt nắng, buộc gió, muôn giữ lại hương sắc cuộc đời vì cuộc sống trần gian rạo rực xuân thì, đẹp đến ngất ngây.Những sáng tạo độc đáo về hình ảnh thơ táo bạo, mãnh liệt và ngôn ngữ thơ phong phú,mới lạ Giọng thơ sôi nổi rất riêng của XD đã truyền được trọn vẹn cái đắm say trong tình cảm của nhà thơ và như vậy, bài thơ đã tìm được con đường ngắn nhất đến với trái tim người đọc

Lần giở theo mạch cảm xúc của thi sĩ, ta bắt gặp được sự khắc khoải trước những bước đi của thời gian và nỗi

băn khoăn về sự ngắn ngủi của kiếp người: /Xuân đương tới…Mùa chưa ngả chiều hôm/

Từ trước đến nay thời gian luôn vận động theo đúng quy luật của tạo hóa và cũng có nhiều cách quan niệm về nó như:

“thời gian thấm thoát thoi đưa”, “thời gian như bóng câu vút qua cửa sổ”, “thời gian như nước chảy qua cầu”’… Người ta mừng vì mùa xuân tới thì Xuân Diệu trong niềm vui chào đón mùa xuân thoáng qua có một chút xót xa vì nó tới cũng là lúc tuổi xuân dần trôi qua mau Xuân Diệu đã đối lập mùa xuân của đất trời với tuổi xuân của con người Nếu như mùa xuân của đất trời qua đi rồi lại trở về theo đúng vòng tuần hoàn của nó Còn tuổi xuân của con người thì một đi không trở lại Ngỡ như Xuân Diệu đưa ra điều phi lí nhưng thực ra hoàn toàn biện chứng và trong cái biện chứng ấy lại chứa đầy cảm xúc.Đấy là quan niệm thời gian tuyến tính qua cái nhìn động của “một đôi mắt mới”, hai câu thơ với nghệ thuật điệp cấu trúc, điệp từ khẳng định “nghĩa là” trên những cặp từ tương phản “đương tới-đương qua”, “còn non- sẽ già”, nhấn mạnh sự chảy trôi, vận động ko ngừng của thời gian vô tận Trong bài thơ “Quả sấu non trên cao” thi nhân cũng đã thảng thốt trước bước chuyển mình mau lẹ ấy của bánh xe thời gian:

“Mấy hôm trước còn hoa

Mới thơm đây ngào ngạt

Thoáng như một nghi ngờ

Trái đã liền có thật”

Những câu thơ tiếp theo nói lên nghịch lí giữa tuổi trẻ, đời người với thời gian và vũ trụ Khi “xuân hết”, tuổi trẻ đi qua “nghĩa là tôi cũng mất” Quy luật của cuộc sống thật vô cùng khắc nghiệt: “Không cho dài thời trẻ của nhân gian”

“Lòng tôi” và “lượng trời” vốn là hai thế cực tương phản giữa hữu hạn và vô hạn, nhưng dưới góc nhìn XD thì cái vốn hữu hạn như đời người lại đc mở rộng đến vô cùng còn thứ tưởng chừng vô hạn như đất trời lại trở nên nhỏ bé chật hẹp Xuân của bốn mùa thì tuần hoàn (xuân khứ, xuân lai, xuân bất tận) nhưng đời người chỉ có một thanh xuân, “tuổi trẻ chẳng hai lần thắm lại” Kiếp nhân sinh nhiều bi kịch, ai cũng muốn trường sinh bất tử, sống mãi với tuổi xanh Hình dung về một thế giới chẳng còn tôi khiến thi nhân đau đớn, tiếc nuối khiến ông cảm thấy “Mùi tháng năm đều rớm vị chia phôi” Ở đây, cuộc chia phôi như làm rớm máu cả thời gian, nó không diễn ra ở một không gian cụ thể hay nhỏ bé mà diễn ra ở không gian rộng lớn “Khắp sông núi” Dường như chỗ nào cũng ủ ê những tiếng nỉ non, than vãn Một ngọn gió mùa xuân nhỏ bé, duyên dáng đang vương vít với những cành cây chẳng muốn rời xa Gió và cây đang thì thào lời tiễn biệt và gió như giận hờn vì sớm phải chia tay Tiếng chim đang hót rộn ràng bỗng đứt giữa chừng bởi

lo sợ độ phai tàn của cuộc thi sắp đến Nghệ thuật nhân hóa kết hợp với những câu hỏi tu từ liên tiếp như khẳng định thêm nỗi buồn của cảnh vật thiên nhiên khi xuân tàn và đó cũng là tâm trạng bâng khuâng, tiếc nuối đến ngẩn ngơ của

thi sĩ Để rồi kết thúc đoạn thơ là tiếng gọi mãnh liệt đã vang vọng từ lâu: /Chẳng bao giờ… Mùa chưa ngả chiều hôm/

Câu cảm thán với cách ngắt nhịp biến hóa làm nổi bật nỗi lòng vừa lo lắng băn khoăn vừa luống cuống bâng khuâng Nỗi lo âu của nhà thơ về vòng quay của tạo hóa chợt bừng lên thành tiếng thôi thúc, gấp gáp: “mau đi thôi” Không thể “buộc gió”, “tắt nắng”, cũng không thể cầm giữ đc thời gian thì chỉ có cách thực tế nhất là chạy đua với thời gian, phải ráng tranh thủ sống Thế giới thơ XD đầy những từ ngữ giục giã, vội vàng, mau, mau lên, gấp, bởi thi nhân e sợ

lỡ làng, không kịp, lỡ thì…!

-NT:Nhịp thơ ở đây cũng biến đổi uyển chuyển, linh hoạt theo dòng cảm xúc Phép điệp và phép đối được phát huy triệt để trong cấu trúc câu thơ làm tăng sức biểu hiện, các giác quan được huy động tối đa dẫn đến những cảm

Trang 3

nhận độc đáo cả “mùi” lẫn “vị”.Hệ thống từ ngữ, hình ảnh được đặt trong thế tương phản đối lập cao độ Tất cả

đã tạo nên một đoạn thơ hay và giàu ý nghĩa mang đậm dấu ấn Xuân Diệu

- Qua đoạn thơ ta thấy đc niềm khát khao sống mãnh liệt, cháy bỏng của ông Hoàng thơ tình VN Từ đó, chúng ta thêm trân trọng quan niệm nhân sinh tích cực, tiến bộ, “một quan niệm nhân sinh mới mẻ chưa từng thấy trong thơ ca truyền thống”(Nguyễn Đăng Mạnh) Mỗi khoảnh khắc trong đời người đều vô cùng quý giá, một khi đã trôi qua là vĩnh viễn mất đi, vì thế cng phải làm cho mỗi khoảnh khắc đều trở nên đáng giá, có như thế mới là biết sống!

Cao trào của thi phẩm chính là lúc lòng yêu đời, ham sống của nhà thơ bùng lên dữ dội, hối hả, cuồng nhiệt ở

cuối bài:/Ta muốn ôm Hỡi xuân hồng, ta muốn cắn vào ngươi/

Mở đầu khúc thơ cuối là câu thơ ba chữ đc tách ra đặt chính giữa khổ thơ, câu thơ làm nổi bật lên hình ảnh một cái tôi ham hố đang dang rộng cánh tay ôm hết, ôm khắp, ôm trọn tất cả sự sống mơn mởn non tơ đang bày ra trước mắt Từ láy “mơn mởn” miêu tả sức sống căng tràn, tươi mới khiến người ta muốn “ôm” Điệp ngữ “ta muốn” đc lặp đi lặp lại với mật độ dày đặc,khát vọng tận hưởng cs ngày càng nồng nàn và cháy bỏng hơn trong trái tim yêu đời đến tham lam của XD Trước sự sống rộng lớn bao la nên tác giả cần xưng ta chăng? Theo như Chu Văn Sơn lý giải: “Ở trên tác giả xưng Tôi để đối thoại với đồng loại, ở dưới xưng Ta để đối diện với sự sống”.Những gì thi sĩ muốn là giao cảm với thiên nhiên, với sự sống: từ mây, gió, cánh bướm đên tình yêu, cỏ cây, non nước Mức độ giao cảm cũng dần mãnh liệt hơn: từ “ôm”, “riết”, đến “say”, “thâu” và sau cùng là “cắn” Hàng loạt các động từ mạnh theo trình tự tăng tiến xuất hiện là biểu hiện của tình yêu ngày càng say đắm mãnh liệt XD tận hưởng cs như tận hưởng ái tình và phải đạt đến độ no nê, đã đầy, chếch choáng, nghĩa là phải thỏa thuê, ngây ngất, lịm đi Điệp từ “cho” với nhịp độ tăng tiến nhấn mạnh khát vọng hưởng thụ trọn ven đến cao độ

XD hiện ra đúng là một gã si tình chếch choáng men say Với những khát khao ấy, nhà thơ đã nhìn mùa xuân giống như con người và thốt lên một tiếng kêu thể hiện niềm yêu đời, khát khao chưa từng có trong thơ ca Việt

Nam:/Hỡi xuân hồng, ta muốn cắn vào ngươi./

“Xuân hồng” hai từ thôi mà sao nghe mềm mại thế, nghe đằm thắm thế Ông khát khao tận hưởng mùa xuân, một mùa “xuân hồng” chứ không phải là “xuân xanh” như trong thơ Nguyễn Bính:/Mùa xuân là cả một mùa xanh/ Mùa xuân không chỉ còn là tên gọi mà mùa xuân trong thơ XD trở nên có hồn, có sức sống Mùa xuân ấy đẹp, ngọt ngào như đôi môi người thiếu nữ khiến “ta muốn cắn vào ngươi” Mùa xuân chẳng phải là cái hữu hình, làm sao thi nhân có thể cắn? Đúng, thi nhân ko thể cắn nhưng có thể hòa mình vào mùa xuân, có thể đắm chìm trong cơn tình dịu ngọt của mùa xuân

Thơ XD ko phải ai cũng cảm nhận đc cái hay của nó, bởi đôi lúc người ta thấy nó sao dồn dập, sao vội vàng và đôi khi quá đỗi “trần truồng” khiến những nhà thơ thời ấy khó chấp nhận, bởi vì nó mới lạ, mang âm hưởng Pháp nhưng khi đọc vào lại thấy đậm vị quê hương Nó gần giống như món ăn vị lạ, khó để nói thành lời, mà cái người

ta ko diễn giải đc thì ngta sẽ gạt đi Ngược lại, với những ai đã trót yêu thơ XD thì lại mê lắm, đa số ấy là những người trẻ, họ có chung một ước muốn sống “nhanh”, muốn tận hưởng cho trọn vẹn tuổi trẻ

-NT: Sự bùng nổ của “cái tôi cảm xúc” đã kéo theo sự bùng nổ về nghệ thuật thơ, đem đến những cách tân nghệ thuật trong thơ XD ở đoạn thơ này Cảm xúc dâng trào mạnh mẽ làm cho âm điệu thơ cuồn cuộn, diễn tả

dc sự vội vàng, hối hả đến với cuộc sống của nhà thơ, mang âm hưởng như một lời triệu hiệu, một sự giục giã của XD với những người trẻ

Nhưng thơ đâu chỉ là giải phóng và men lên xúc cảm, một bài thơ thực có giá trị là bài thơ “hay cả hồn lẫn xác” “Vội vàng” là sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa mạch cảm xúc và mạch lí luận, giộng điệu say mê sôi nổi, những sáng tạo độc đáo về ngôn từ và hình ảnh thơ độc đáo giàu sức gợi hình, gợi liên tưởng Thủ pháp ẩn dụ chuyển đổi cảm giác, các biện pháp tu từ, các động từ mạnh đã tạo ra nhịp điệu cuống quýt, rộn rã khiến cho bài thơ mang âm hưởng như một lời triệu hiệu, một sự giục giã của XD với những người trẻ

Tóm lại, bài thơ thể hiện lòng ham muốn sống bồng bột và mãnh liệt của cái tôi XD rất hiện đại và quan niệm mới mẻ về thời gian, tuổi tẻ, hạnh phúc Cái tôi XD trong bài thơ tiêu biểu cho cái tôi thời đại mới: một ý thức cao cả ráo riết về giá trị đời sống cá thể Một quan niệm táo bạo đầy tính cách mạng trước những quan niệm cũ kĩ vốn cản trở việc giải phóng con người cá nhân Một niềm thiết tha với cuộc sống trần thế và một tâm thế cuồng nhiệt tích cực [Tác phẩm đã gieo vào lòng ng đọc những băn khoăn trăn trở về giá trị sự sống để bất cứ ai khi đọc cũng phải ngẫm nghĩ, nhìn nhận lại mình và hướng bản thân tới những giá trị tốt đẹp nhất Cũng bởi lẽ thế “Vội vàng” dù đã được sáng tác những năm 30 của thế kỉ trước nhưng vẫn vang vọng, đọng lại trong lòng hậu thế những vần thơ tựa như mật ngọt đầy tinh túy khiến ta phải ghi nhớ mãi cái tên Xuân Diệu-ông hoàng thơ tình trong làng thi ca Việt!]

Trang 4

Tràng Giang – Huy Cận

Nhà phê bình Hoài Thanh đã từng nhận định: “Chưa bao giờ người ta thấy xuất hiện cùng một lần hồn thơ rộng mở như Thế Lữ, mơ màng như Lưu Trọng Lư, hùng tráng như Huy Thông, trong sáng như Nguyễn Nhược Pháp,

ảo não như Huy Cận…” Thật vậy, thơ Huy Cận là sự hòa hợp nỗi sầu thiên cổ cùng cả nỗi sầu vũ trụ và nhân tình trong thơ Đường với cái tôi cá nhân cá thể của thời thơ mới Bài thơ “Tràng Giang” là một tác phẩm tiêu biểu cho phong cách nghệ thuật ấy, HC đã bộc lộ nỗi sầu của một “cái tôi” cô đơn trước thiên nhiên rộng lớn, trong đó thấm đượm tình người, tình đời và lòng yêu nước thầm kín mà thiết tha:/trích thơ/

“Tràng Giang”có thể xem là một nốt nhạc buồn trong bản giao hưởng đa sầu đa cảm của “Lửa thiêng” Bài thơ đc sáng tác vào một chiều thu năm 1939, khi HC đứng ở bờ Nam bến Chèm sông Hồng ngắm cảnh Chính cái không gian mênh mang của dòng sông Hồng và suy nghĩ về kiếp người nhỏ bé, trôi nổi, vô định đã gợi lên cảm hứng sáng tác bài thơ này Nhan đề “Tràng Giang” không chỉ nói con sông dài, mà qua đây mượn sông để tác giả nói lên đúng tâm trạng của mình khi đứng trước dòng sông với sự mơ mộng, cô đơn và tâm trạng buồn của tác giả Lời đề từ

“Bâng khuâng trời rộng nhớ sông dài” đã thể hiện được tâm trạng suy tư, sầu muộn của Huy Cận về sự nhỏ bé của

cng trước vũ trụ rộng lớn, bộc lộ nỗi khắc khoải không gian của hồn thơ HC

Và ngay từ khổ thơ đầu, ta đã bắt gặp một khung cảnh sông nước mênh mông bất tận:/khổ 1/

Với một loạt từ ngữ gợi buồn thê lương “buồn”,”xuôi mái”, “sầu trăm ngả”, “lạc mấy dòng” kết hợp với từ láy “điệp điệp”, “song song” dường như đã lột tả hết thần thái và nỗi buồn vô biên, vô tận của tác giả Ngay khổ thơ đầu, nét chấm phá cổ điển đã hòa lẫn với nét hiện đại Vốn dĩ thuyền và nước là hai thứ không thể tách rời nhau nhưng trong lại viết “thuyền về nước lại sầu trăm ngả”, liệu rằng có uẩn khúc gì chăng, hay là sự chia lìa không báo trước, nghe xót

xa và nghe quạnh lòng hiu hắt quá Có thể nói câu thơ đã nói lên đc tâm trạng của các nhà thơ mới nói chung ở thời

kỳ đó, một kiếp người đa tài nhưng vẫn long đong, loay hoay giữa cuộc sống bộn bề chật chội như thế này Tâm hồn của chủ thể trữ tình được bộc lộ đầy đủ nhất qua câu thơ đặc sắc: “Củi một càng khô lạc mấy dòng” Huy Cận đã khéo dùng phép đảo ngữ kết hợp với các từ ngữ chọn lọc, thể hiện nổi cô đơn, lạc lõng trước vũ trụ bao la “Một” gợi lên sự ít ỏi, nhỏ bé, “cành khô” gợi sự khô héo, cạn kiệt nhựa sống, “lạc” mang nỗi sầu vô định, trôi nổi, bập bềnh trên “mấy dòng” nước thiên nhiên rộng lớn mênh mông Cành củi khô đó trôi dạc đi nơi nào, hình ảnh giản dị, không

tô vẽ mà sao đầy rợn ngợp, khiến lòng người đọc cảm thấy trống vắng, đơn côi [Câu thơ trải qua một hành trình từ kiếp củi đến kiếp người Trạng thái khô héo, cô đơn và chết chóc ngay trong sự sống mới càng trở nên buốt nhói hơn

vì nước là sự sống, là cội nguồn của sự sống đc bắt dầu từ những hạt Coaxecva.] Nếu trong Tràng Giang, HC mượn cành củi khô để diễn tả tình cảnh lưu lạc, hoang hoải trong tâm hồn của những cái tôi thơ mới, thì Xuân Diệu cũng từng viết:

“Tôi là con nai bị chiều đánh lưới Không biết đi đâu đứng sầu bóng tối.”

Khi đánh giá thơ ông, XD nói rất tình: ”Thơ HC ko gắn đến cái hằng ngày, cái trước mắt mà là cái ngàn năm” Đây là một quan niệm nhân sinh mới mẻ thể hiện sự vụt tỉnh của ý thức cá nhân, thôi thúc HC sáng tạo nên một hình ảnh tương phản thể hiện rõ cảm quan buốt nhói về thời gian ngay trên chính dòng sông “Tràng giang”

Lần giở theo mạch cảm xúc của bài thơ, đến với khổ thơ thứ hai, thi sĩ đã mở ra một không gian nơi cồn nhỏ với nỗi buồn vũ trụ Hai câu thơ mở đầu khổ thứ hai đã vẽ nên một không gian hoang vắng, hiu quạnh:”Lơ thơ cồn nhỏ…”

Với việc sử dụng nghệ thuật đảo ngữ cùng từ láy “lơ thơ”, “đìu hiu” đặc biệt gợi cảm tác giả đã vẽ nên một bức tranh nơi cồn nhỏ vừa thưa thớt, hoang vắng, lạnh lẽo vừa gợi nên một nỗi buồn mênh mang Thêm vào đó, sự hoang vắng, tĩnh mịch của không gian như càng đc tô đậm thêm qua câu thơ “Đâu tiếng làng xa vãn chợ chiều” Chợ vốn là hình ảnh của không gian sống, là biểu tượng của cs nhộn nhịp, đông đúc Nhưng chợ ở đây,cũng là chợ chiều đã vãn Cảnh vật héo buồn, sinh hoạt và cs của cng cũng đi dần vào thế nghỉ ngơi, vào sự buồn bã hiu quạnh Tiếp theo trong câu ba và câu bốn, dường như không gian ấy như đc mở rộng cả về bốn phía làm cho cảnh vật vốn đã vắng vẻ lại càng thêm cô liêu và tĩnh mịch hơn: “Nắng xuống, trời lên sâu chót vót/Sông dài, trời rộng, bến cô liêu”

Trang 5

Không gian thơ càng trở nên rợn ngộp và ám ảnh hơn khi tứ thơ đột ngột đc nhấc bổng lên để tỏa ra đôi bờ và phía

“cồn nhỏ”, ‘’làng xa’’ gợi cảm giác về vũ trụ quá rộng nhưng rỗng và lạnh Không gian trong thơ cổ thường bị đập bẹp với hai chiều cao – thấp HC cũng làm như vậy nhưng khi diễn tả chiều rộng, ông bổ sung thêm chiều sâu “sâu chót vót” khiến không gian đc dựng dậy, mở rộng về tứ phía tạo không gian hình lập phương ba chiều hiện đại Nếu khổ thơ thứ nhất là sự nhói buốt bởi cái nhìn nhỏ nhoi và hữu hạn của kiếp người trong sự “vô thủy vô chung” của không gian thì khổ thứ hai lại choáng voáng trước cái thăm thẳm vô cùng của vũ trụ Những chuyển động đối lập nhau: lên – xuống cùng với cách tạo vế đối “nắng xuống”- “trời lên” tạo cảm giác như một chiếc tù giam lỏng dồn nén con người ở giữa cảm thấy ngột ngạt, bí bách và chán chường trong sự vận động xoay guồng của tạo hóa

-NT: Thành công của hai khổ thơ chính là sự sáng tạo nghệ thuật, sự kết hợp hài hòa giữa cổ điển và hiện đại Sử dụng nhiều thi liệu trong thơ cổ, từ ngữ giản dị, giàu hình ảnh và thể thơ thất ngôn rất hợp lý, hiệu quả cùng với

sự kết hợp của các từ láy, biện pháp tu từ, thủ pháp nghệ thuật tương phản

-Kb: [Mỗi một nhà thơ trong phong trào thơ Mới đều diện cho mình một bộ y phục tối tân khác nhau, một phong cách, một giọng riêng không thể tìm thấy trong bất kì cổ họng của một người nào Và Huy Cận, bằng nỗi sầu của nhân thế, sầu vũ trụ, ông đã đem lượm lặt chút buồn rải rác để góp nhặt nên những vần thơ âu sầu, ảo não trong hai khổ thơ đầu “Tràng Giang”] Qua đoạn thơ trên, thi nhân đã vẽ nên bức tranh thiên nhiên bất tận và không gian của cảnh núi non, bên cạnh đó còn thể hiện niềm yêu quê hương, đất nước của mình Là nhà thơ nổi tiếng của phong trào thơ mới, HC đã để lại những dấu son khó phai trên thi đàn, vừa tiếp nối, gìn giữ những nét cổ điển trong thơ xưa vừa thực hiện cuộc khai phá ngoạn mục trong hành trình thơ mới

Nhà thơ lại nhìn về dòng sông, nhìn cảnh xung quanh mong mỏi có chút gì quen thuộc mang lại hơi ấm cho tâm hồn đang chìm vào giá lạnh, về cô đơn Nhưng thiên nhiên đã đáp trả sự khao khát ấy bằng những hình ảnh càng quạnh quẽ, đìu hiu:/khổ 3/

Nỗi cô đơn của khổ thơ được diễn tả bằng hình ảnh cánh bèo truyền thống nhưng mang linh hồn hiện đại “hàng nối hàng” Câu thơ là sự ngân dài qua ba biến tấu, từ kiếp “củi” đến kiếp “bèo” và cuối cùng là kiếp “người” Đặc sắc nhất

là chữ “dạt” đứng sau chữ “bèo” gợi sự chới với, chơi vơi Càng ấn tượng hơn nữa là hai chữ “không”: “không cầu”,

“không đò’’ như những nhát dao cắt đưt mối liên hệ dù là mong manh nhất khiến thế giới thống nhất trở nên vỡ vụn, vạn vật hoàn toàn bị cô lập Đây là thủ pháp nghệ thuật dùng cái không để diễn tả cái có, lấy cái “không cầu”, “không đò” diễn tả nỗi cô đơn đã chiếm lĩnh hết vị trí của ô-xi trong cái không gian ấy Hai chữ “bờ xanh” và “bãi vàng” khiến câu thơ đẹp như miền cổ tích ngày xưa, thực chất đây là thủ pháp dùng cái lặng lẽ ở bên ngoài để dồn tụ, để lắng động những cái đang náo động, đang nhảy múa toán loạn bên trong Đó là nỗi khắc khoải, nỗi khát khao của tâm hồn ham sống cho ra sống Từ láy “mênh mông” đc tác giả đẩy lên đầu câu thơ nhằm khéo léo mở ra tầm nhìn bao quát toàn cảnh “tràng giang” Hình ảnh cây cầu và chuyến đò ngang xuất hiện trong đoạn thơ không chỉ là hiện thân cho dấu vết của sự sống cng mà còn là những nhịp cầu nối những bờ sông, là con đò nối hai bờ sông nước Lời thơ của

HC gợi nhớ cảm nhận về thiên nhiên của Truyện Kiều khi nàng đang đứng ở lầu Ngưng Bích:

“Bốn bể bát ngát xa trông Cát vàng cồn nọ, bụi hồng dặm kia”

Khổ cuối khép lại chất chứa niềm tâm sự sâu kín của thi nhân về tình yêu với quê hương xứ sở: /khổ 4’/ Trước mắt nhà thơ là những núi mây nhô lên hết lớp này đến lớp khác như những búp bông trắng nở ra trên trời thu,

đc nắng chiều phản chiếu lấp lánh như những núi bạc Cảnh tượng hùng vĩ này khiến ta liên tưởng đến bài “Thu hứng” của Đỗ Phủ:

“Lưng trời sóng gợn lòng sông thẳm Mặt đất mây đùn cửa ải xa”

Giữa cái bao la hùng vĩ bỗng xuất hiện một cánh chim cô đơn nhỏ nhoi, dang chở nặng bóng chiều, bay vội vã Tác giả tạo ra hai hoàng hôn, hoàng hôn của cảnh vật với sự đối lập của hai phạm trù không gian, không gian của dáng chiều

và không gian của cánh chim Dáng chiều đẹp và hoành tráng với núi mây kỳ vĩ bao la, cánh chim lại nhỏ nhoi yếu đuối nhưng lại mang một tầm vóc phi thường Chỉ cần nghiêng cánh mà cả dáng chiều hấp hối đã đổ sập xuống Đấy

là thủ pháp cường điệu hóa dùng để diễn tả hữu hiệu nhất cái đẹp không bền vững cứ chới với chơi vơi Và lúc này đây, điểm nhìn thi nhân có sự thay đổi, nhà thơ không nhìn ngắm ngoại cảnh bao la rộng lớn nữa mà quay ngược

Trang 6

hướng về lòng mình “lòng quê” Hai câu thơ cuối cùng xuất hiện đầy bất ngờ, ta từng bắt gặp nỗi nhớ quê da diết ấy trong tâm hồn của Thôi Hiệu:

“Nhật mộ hương quan hà xứ thị?

Yên ba giang thượng sứ nhân sầu” (Hoàng Hạc lâu)

Thôi Hiệu phải nhìn thấy khói sóng mới nhớ nhà còn HC thì “Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà” Nỗi nhớ như đầy

ắp và luôn trào ra khỏi cái vực thẳm của tâm hồn cô đơn trước không gian ám ảnh Đây không đơn thuần là nỗi nhớ nhà, nhớ gia đình mà là nỗi nhớ quê hương, nhớ đất nước ngay cả khi đang đặt chân trên chính quê hương đất nước, đang tắm mình trong không gian của quê hương đất nước mình Đây chính là nỗi buồn “vong quốc” của một thế hệ nhà thơ mới lúc bấy giờ, một nỗi lòng đau xót trước cảnh mất nước “Dợn dợn” là một từ láy nguyên sáng tạo của Huy Cận, chưa từng thấy trước đó Từ láy này hô ứng cùng cụm từ “vời con nước” cho thấy một nổi niềm bâng khuâng, cô đơn của “lòng quê”

-NT: Tràng giang mang đậm phong vị cổ điển và hiện đại qua việc vận dụng nhuần nhuyễn thể thơ bảy chữ với cách ngắt nhịp, gieo vần, cấu trúc đăng đối; bút pháp tả cảnh ngụ tình, gợi hơn là tả, sử dụng các thi liệu cổ điển quen thuộc…Vẻ đẹp hiện đại lan toả qua các câu chữ sáng tạo, độc đáo của nhà thơ như “sâu chót vót”, dấu hai chấm thần tình Nhưng vẻ đẹp ấy đọng lại cuối cùng là tâm trạng thi nhân trước tình cảnh đất nước Âm điệu đoạn thơ trầm bổng, lúc cao lúc thấp như muôn ngàn sóng điệp điệp gợn buồn trong lòng bạn đọc bấy lâu nay

-KB: Hai khổ thơ cuối Tràng Giang, dường như là những mạch chảy mạnh mẽ nhất của tâm trạng thi nhân, tưởng như nếu lắng mình nghiêng lòng xuống trang sách có thể cảm được điệu tâm hồn buồn và cô đơn của cái tôi thơ Mới chở mang trong đó Đoạn thơ là bức tranh thiên nhiên độc đáo, cùng với những tâm trạng, nỗi lòng rất khó để thổ lộ của nhà thơ

Nhưng thơ đâu chỉ là giải phóng và men lên xúc cảm, một bài thơ thực có giá trị là bài thơ “hay cả hồn lẫn xác” Bài thơ là sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa yếu tố cổ điển, nhất là yếu tố Đường thi với yếu tố thơ mới Nhiều yếu

tố hiện đại thể hiện “tinh thần thơ mới” và sự sáng tạo mới mẻ của HC: một cái “tôi” thơ mới lãng mạn, giàu cảm xúc trước tạo vật Hình ảnh sinh động, cảm giác tinh vi phong phú, nhiều sáng tạo bất ngờ và đặc biệt chất Đường thi thấm đượm: từ thể thơ, thi đề, thi tứ thi liệu đến những thủ pháp nghệ thuật đặc trưng

“Tràng giang” là một trong những bài thơ hay nhất trong tập thơ “Lửa thiêng” Nó là ngọn lửa thiêng liêng, ngọn lửa vĩnh cửu toả sáng một hồn thơ đẹp Bức tranh Tràng Giang hiện lên với tất cả sự đối lập, tương phản giữa thiên nhiên, không gian vũ trụ mênh mông với sự sống nhỏ bé đơn chiếc, lạc lõng, mong manh Thể hiện hiện nỗi sầu

vô tận của kẻ lữ thứ - cái “tôi” bơ vơ trước thiên nhiên vũ trụ rộng lớn, bao la [Thơ HC hàm súc, cổ điển và thấm đẫm màu sắc triết lí suy tưởng.Như Xuân Diệu đã từng nói “Tràng giang là bài thơ ca hát non sông đất nước, do đó dọn đường cho lòng yêu giang sơn Tổ quốc”.“Tràng giang” khơi gợi trong ta hình bóng quê hương yêu dấu và mang bao vạn lí tình trong hồn ta ]

Trang 7

Đây thôn Vĩ Dạ - Hàn Mặc Tử

Giáo sư Nguyễn Đăng Mạnh đã từng nhận xét về thơ rằng: “Thơ không cần nhiều từ ngữ, nó cũng không quan tâm đến hình xác của sự sống.Nó chỉ cần cảm nhận và truyền đi một chút linh hồn của cảnh vật thông qua linh hồn thi sĩ”.Điều này được thể hiện rõ nét qua bài thơ “Đây thôn Vĩ Dạ” của Hàn Mặc Tử Hàn Mặc Tử là hồn thơ đau thương nhưng là một nhà thơ có sức sáng tạo mạnh mẽ nhất trong phong trào thơ mới, là “ngôi sao chổi trên bầu trời thơ VN” (Chế Lan Viên) Ông trải nghiệm đau thương bằng cả tâm hồn lẫn thể xác, bằng cả điên lẫn hình, bằng cả

mơ lẫn thực Tác phẩm “Đây thôn Vĩ Dạ” là bức tranh tuyệt đẹp về miền quê đất nước và là tiếng lòng của một con người tha thiết yêu đời, yêu người:/trích thơ/

“Đây thôn Vĩ Dạ” ban đầu có tên “Ở đây thôn Vĩ Dạ” được sáng tác năm 1938 in trong tập thơ “Thơ Điên” sau đổi thành “Đau thương” Bài thơ là những cảm xúc ngổn ngang chất chứa trong lòng HMT từ mối tình đơn phương dành cho cô Hoàng Thị Kim Cúc Cô là nàng thơ xứ Huế mà ông luôn đau đáu hướng về và cũng là suối nguồn cảm hứng cho những sáng tác của ông Khi Hàn Mặc Tử đang điều trị bệnh phong tại Quy Nhơn, nhận được tấm bưu ảnh cùng những lời thăm hỏi của cô gái xứ Huế, ông đã xúc động viết bài thơ này

Từ xa xưa, Vĩ Dạ đã đi vào thơ ca bởi vẻ đẹp thi vị, tiêu biểu cho cảnh sắc xứ Huế, nhà thơ Bích Khuê đã từng viết:

“Vĩ Dạ thôn, Vĩ Dạ thôn Biếc tre cần chúc không buồn mà say.”

Đó là vẻ đẹp của một dáng Huế yêu kiều – nơi đã khắc chạm một dấu ấn khó quên của một người con gái và cũng là nơi để lại mối tình đơn phương trong lòng tác giả Chính vì thế, bài thơ mở đầu bằng một hoài niệm mênh mang về cảnh và người thôn Vĩ Bức tranh thơ đẹp còn tình người thì tha thiết nhớ mong: /khổ 1/

Có lẽ, với bất cứ ai khi đọc bài thơ này, cũng đều bị cuốn hút ngay từ câu thơ đầu với những băn khoăn, vừa như hờn dỗi, như trách yêu Câu hỏi ấy chính là sự phân thân của nhà thơ, sự hóa thân của nhà thơ vào cô gái Huế Tại sao lâu rồi anh không về chơi thôn Vĩ bên bờ sông Hương thơ mộng, có người con gái anh thương? Nhà thơ sử dụng từ

“chơi” mà không sử dụng từ “thăm” Nếu sử dụng từ “thăm” thì cấu trúc câu thơ không thay đổi nhưng nó trở nên khách sáo, từ “chơi” gợi nên sự thân mật, gần gũi thắm thiết, thân tình.Mặt khác, sắc thái tu từ trong câu thơ đầu còn là lời tự hỏi, tự trách mình: sao cảnh Huế đẹp vậy mà mình không trở về ? Hai từ “không về” dường như khép lại mọi nẻo đường về thôn Vĩ, cộm lên biết bao xót xa vì giờ đây thôn Vĩ chỉ còn trong hoài niệm của quá khứ xa vời bởi nhà thơ đang ở giai đoạn cuối của cơn bạo bệnh Nhưng cũng chính câu hỏi tu từ ấy là nguyên cớ để khơi dậy khao khát, hoài niệm Vì không thể trở về nên nhà thơ đã làm một cuộc hành hương trong tâm tưởng Bài thơ bắt đầu bằng câu hỏi đầy ẩn ý đã giúp nhà thơ mở ra khung cảnh thiên nhiên thôn Vĩ tinh khôi, sống động, tươi đẹp và căng

tràn sức sống: “Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên…Lá trúc che ngang mặt chữ điền.”

Nắng trong thơ HMT thường lạ, đầy ấn tượng với những “nắng tươi”, “nắng vàng”, còn ở đây là “nắng mới lên” Hàng cau hiện lên thật cụ thể, những thân cây cau cao thẳng kiêu hãnh đang tắm táp dưới ánh nắng mặt trời Nhà thơ chọn hình ảnh những hàng cau xanh bởi đó là loài cây thân thuộc với làng quê Việt Nam, mang linh hồn Việt Nam, gợi cho người đọc sự yên bình, dân dã của thôn Vĩ lúc bình minh.Ông đã phải thốt lên trầm trồ rằng “vườn ai mướt quá xanh như ngọc” , câu thơ sử dụng một loạt các từ cùng trường từ vựng: “mướt”, “xanh”, “ngọc” để miêu tả màu xanh non tơ, trẻ trung, tươi mới Vẻ đẹp của vườn cây còn được miêu tả qua phép so sánh độc đáo “xanh như ngọc”

- đó là cách nói ước lệ nhằm lí tưởng hóa đối tượng thẩm mĩ, gợi ra cả vườn thôn Vĩ như một viên ngọc óng ánh sắc xanh Tiếp đến là cách sử dụng đại từ phiếm chỉ “vườn ai”, vườn Vĩ Dạ vườn nào mà chẳng đẹp, chẳng tươi nhưng để

có được vẻ đẹp khiến thi nhân say đắm như vậy chỉ có thể là vườn của người mình thương, mình nhớ Không dừng lại ở đó Hàn Mặc Tử đã đưa hình bóng con người vào đoạn thơ nhưng lại không dùng một chữ người nào để thông báo sự xuất hiện của con người, đồng thời khiến người đọc thắc mắc và hoang mang bởi cụm từ “mặt chữ điền” :

“Lá trúc che ngang mặt chữ điền”

“Lá trúc” mảnh mai, thanh tao còn mặt chữ điền gợi sự vuông vắn đầy đặn, phúc hậu Hàn Mặc Tử chỉ biết là “mặt chữ điền”, không nói, không giải thích thêm đó là khuôn mặt của ai khiến nhiều tranh cãi về hình ảnh đặc sắc này Có

Trang 8

người cho rằng đó là khuôn mặt đôn hậu của người phụ nữ miền Trung nhưng cũng có người lại nói đó là khuôn mặt

do nhà thơ tự họa mình, ông vì mặc cảm bệnh tật chỉ dám đứng sau khóm trúc lặng lẽ ngắm thôn Vĩ Chỉ qua bốn câu thơ tác giả đã rất thành công khi mang đến cho người đọc nhiều liên tưởng

Ở khổ thơ thứ hai tâm trạng của tác giả đã chuyển sang một gam khác, đó là cảnh sông nước xứ Huế đêm trăng qua cái nhìn đầy nội tâm của thi sĩ: /khổ 2/

Người ta thường nói gió thổi mây trôi, nhưng ở đây mây và gió lại chia hai ngả, gió lối gió, mây đường mây không liên quan đến nhau Dòng nước sông Hương lững lờ trôi và những bông hoa khẽ lay trong gió cảnh vật thật buồn thật ảm đạm, nhà thơ có lẽ cũng đang mang một nỗi buồn tâm cảnh đúng như Nguyễn Du từng nói “Người buồn cảnh cũng vui đâu bao giờ” Biện pháp nhân hóa “Dòng nước buồn”đã làm cho hình ảnh dong nước trở nên u buồn, xa vắng

“Buồn thiu” là tự thân vốn có hay là nỗi buồn chia phôi của kiếp người? Một nỗi buồn bao phủ từ bầu trời đến mặt đất, từ đất, gió, mây đến dòng nước và hoa bắp trên sông Đằng sau những cảnh vật ấy là tâm trạng của một con người mang nặng nỗi buồn xa cách, một mối tình vô vọng, tất cả bây giờ chỉ là hư ảo trong mộng tưởng Hai câu thơ tiếp theo, thi nhân đưa người đọc vào cõi mộng Vẫn là dòng sông Hương, là Huế thơ mộng nhưng không còn nắng, còn xanh của Vĩ Dạ mà trước mắt người đọc là không gian ngập đầy ánh trăng, con thuyền trở thành thuyền trăng, dòng sông thì sông trăng, bến thì thành bến trăng Từ xưa đến nay, có thuyền trăng, bến trăng nhưng nay lại có sáng tạo “sông trăng” độc đáo của hồn thơ Hàn Mặc Tử “Thuyền ai” phải chăng đó là con thuyền của cô gái Huế, con thuyền mà nhà thơ đang mơ ước chở trăng và phải chăng trăng chính là tình yêu mà nỗi chờ mong của Hàn Mặc Tử

“Tối nay” là tối nào, phải chăng đây là giới hạn cuối cùng của cuộc đời nhà thơ – khi mà cuộc sống của nhà thơ là cuộc chạy đua với thời gian, là ranh giới của sự sống và cái chết Có phải vì thế mà câu hỏi tu từ vang lên khẩn thiết:

“Có chở trăng về kịp tối nay?” Liệu rồi con thuyền ấy có cập bến bờ trước lúc Hàn Mặc Tử trở về với cõi vĩnh hằng hay không? Từ “kịp” vì thế mà chất chứa tâm trạng hoài mong và cả tin yêu lẫn bi kịch và hoài nghi của con người

[Nếu như Xuân Diệu chạy đua với thời gian để sống tận hưởng và tận hiến hết mình, chỉ sợ thời gian cướp đi tuổi trẻ và tình yêu thì ở HMT đang đứng ở giữa hai bờ sinh tử, lưỡi hái tử thần đã huơ lên lạnh buốt sống lưng bởi vậy gã lo sợ từng giờ sẽ sớm vĩnh viễn rời xa cõi đời Trong cảnh ngộ ấy, trăng dường như là điểm tựa duy nhất, là bấu víu cuối cùng của kẻ “đuối nước” đang chới với, “thơ là sự lên tiếng của thân phận” ]

Tiếp nối mạch thơ trên, khổ thơ cuối cùng thể hiện mottj nỗi niềm canh cánh của thi nhân trong cái mênh mông, bao la của trời đất Đó là sự hi vọng, chờ đợi, mong mỏi và một niềm khắc khoải khôn nguôi: /khổ 3/

Thi nhân đưa người đọc tới một cõi xa xăm, không gian đã chuyển sang hoàn toàn thế giới mộng ảo Nhịp thơ 4/3 và điệp ngữ “Khách đường xa” được lặp lại hai lần thể hiện tâm trạng khắc khoải chờ đợi và niềm khát khao đến mãnh liệt Từ “mơ” nằm đầu câu đã thể hiện rõ tâm trạng mong chờ ấy của thi nhân “Mơ” chứ không phải là “mong”, vì không mong được nên mơ, vì sống trong mơ có lẽ sẽ bớt đi nỗi cô đơn thì phải Màu sắc, âm thanh, đường nét đều

mờ nhòa, chỉ còn một bóng hình ai đó đang chập chờn xuất hiện, phải chăng đó là hình bóng xa xôi của một nữ sinh Đồng Khánh thuở nào Hình ảnh người con gái xứ Huế xuất hiện trực diện bằng tiếng “em” rất mơ hồ Em gần gũi đấy nhưng mà sao lại quá đỗi xa vời? Gần gũi vì đây là hình ảnh thường trực trong cõi lòng thi nhân, xa vời vì giữa hai người là khoảng cách thời gian cùng màn khói sương của quá khứ mờ ảo hay là vì xuất phát từ sự mặc cảm tự ti trong tình yêu:

“Em lớn quá, anh không sao giữ

nổi-Hễ lúc nào em muốn, cứ xa anh.” (Shakespeare)

HMT cực tả sắc trắng trong câu thơ “Áo em trắng quá nhìn không ra” ở độ tuyệt đối, tột cùng Nó choáng cả không gian làm lập lòe cả thị giác “Ở đây sương khói mờ nhân ảnh”: “Ở đây” – nơi nhà thơ dưỡng bệnh – nơi mà Hàn Mặc

Tử luôn xem là lãnh cung giam lỏng mình, nơi không có “niềm trăng và ý nhạc”, nơi có “người cung nữ nhớ thương vua” “Ở đây” và “ngoài kia” có xa xôi mấy đâu vậy mà một lần về thăm thôi cũng là điều không tưởng Bởi thế câu thơ như vừa thực vừa mơ, còn kỷ niệm cứ chìm dần vào Huế – nơi đó giai nhân trong mộng đang lẫn trong màu khói sương của kỷ niệm Hình bóng giai nhân ấy đã bao năm làm điên đảo mộng thi ca:

“Làm sao giết được người trong mộng

Để trả thù duyên kiếp lỡ làng”

Trang 9

Câu hỏi cuối khổ thơ vang lên đầy hoài nghi, đầy khắc khoải về một mối tình vô vọng: “Ai biết tình ai có đậm đà?”

Tình anh, tình em hay tình đời, tình người? Câu thơ không một từ ngữ bộc lộ cảm xúc, không một dấu chấm than nhưng người đọc vẫn cảm thức được nỗi khổ tâm của nhà thơ Hàn Mặc Tử rơi vào trang thái hoài nghi, bị giày vò vì quá khao khát nên rơi vào trạng thái trống trải, cô đơn Chẳng biết thôn Vĩ có hiểu cho mối tình đơn phương mà tha thiết đó không? Chẳng hay người thôn Vĩ có tình cảm đậm đà với mình không? Tác giả ko dám khẳng định tình mình với cô gái Huế mà chỉ nói “ai”- điệp từ “ai” dường như xuyên suốt cả bài thơ, khổ thơ nào cũng có sự hiện diện của

“ai”, từ “vườn ai”, “thuyền ai” và bây giờ thì “ai biết tình ai có đậm đà” Những câu hỏi tu từ trong bài dường như cứ xoáy lên mỗi lúc một cao hơn Cảnh vật thì đẹp nhưng dường như vô tình được làm nhòe đi để tạo nét mênh mang, phù hợp với tâm trạng nhà thơ – một con người đang ở giữa hai bờ của sự sống và cái chết Lồng vào cảnh là tâm trạng của chủ thể trữ tình, cảnh cũng trở nên buồn, buồn nhưng có hồn

Nhưng thơ đâu chỉ là giải phóng và men lên xúc cảm, một bài thơ thực có giá trị là bài thơ “hay cả hồn lẫn xác” Bằng thể thơ bảy chữ , ngôn ngữ trong sáng tinh tế, sự kết hợp các biện pháp nghệ thuật một cách đặc sắc khiến nhiều liên tưởng đc mở rộng, khung cảnh thiên nhiên trở nên đẫy đà, giàu sức sống để nhấn amnhj hơn khao khát sống của người nghệ sĩ Đặc biệt với nhịp điệu, giọng điệu luôn thay đổi khi chậm rãi gấp gáp lúc tha thiết, hoài nghi, tuyệt vọng, da diết khiến cho bài thơ đọng lại trong lòng người đọc một nỗi băn khoăn, day dứt về cuộc đời

“Đây thôn Vĩ Dạ” là một bức tranh thôn Vĩ vừa mang vẻ đẹp rất thực với tất cả nét trong sáng, tinh khôi, thơ mộng với những đặc trưng của thiên nhiên xứ Huế Ba khổ thơ với những hình ảnh là những mảnh ghép kí ức của nhà thơ Đồng thời cũng là nỗi đau đớn, quằn quại của HMT khi khao khát đc sống tha thiết với đời còn quá sâu nặng

mà thời gian còn lại của đời người quá ngắn ngủi Trải qua bao năm tháng, cái tình của HMT vẫn còn tươi nguyên, nóng hổi và day dứt trong lòng người đọc Đây là một nghệ sĩ tài hoa, một trái tim suốt đời thổn thức tình yêu, một tâm hồn thi sĩ đã biến những nỗi đau thương, bất hạn của đời mình thành những đóa hoa thơ, mà trong đó thơm ngát nhất, thanh khiết nhất là “ĐTVD” Và thi sĩ HMT không còn nữa nhưng bài thơ đã để lại trong ta một hoài niệm

về Huế thật đẹp, về một thi sĩ tài hoa đoản mrrnj mãi vương vấn như nhà thơ Thu Bồn đã từng viết:

“Xin chào Huế một lần anh đến

Để ngàn lần anh nhớ trong mơ

Em rất thực mà nắng thì mờ ảo

Xin đừng lầm em với cố đô.”

NLXH

-Trong hai chữ “Con Người” để phần Con của bản năng không lấn át phần Người cao quý, phải chăng chúng ta nên mang trong mình…

-Tuổi 18 này, tôi chọn cách sống như đời núi “vươn tới những tầm cao”, chọn hướng về tương lai với trái

tim rực cháy của tình yêu và nhiệt huyết tuổi trẻ bởi lẽ “Khát vọng của tôi mang dấu chân của những cuộc hành trình/ Chạy hoang hoài trong vô cùng vũ trụ…”

-Trong tác phẩm “Vừa nhắm mắt vừa mở cửa sổ”, Nguyễn Ngọc Thuần từng viết: “Người sống là một âm thanh nên khi sống, người ta sẽ gây nên tiếng vang bằng chính cuộc sống của mình.” Và có lẽ, ngay từ ngày hôm nay, bản thân tôi cũng sẽ tạo ra một “tiếng vang” như thế khi ý thức được mình cần sống trọn vẹn từng giây phút và tạo nên một tuổi trẻ rực lửa đam mê.

-Trong những ngày tháng vật vã cuối đời, nhà vật lí đại tài Albert Einstein đã cố gắng ghi lại một công thức ông gọi là “Phương trình Hạnh phúc” Công thức đó được biểu diễn như sau: “Phương trình Hạnh phúc = Dùng tâm trí để mơ + Dùng tất cả sức lực để theo đuổi ước mơ đó” Ước mơ là món quà kì diệu của cuộc sống, là thứ ban tặng công bằng cho tất cả chúng ta Và trong cuộc sống này, bạn có lưu giữ trong chính mình một ước mơ như thế chứ?

Ngày đăng: 26/03/2022, 21:50

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w