1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

TIỂU LUẬN đạo đức học mác LÊNIN

33 11 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Các Chức Năng Cơ Bản Của Đạo Đức Và Vai Trò Của Nó Đối Với Sự Ổn Định, Phát Triển Kinh Tế
Tác giả Trần Thị Bình
Người hướng dẫn TS. Lê Thị Hường
Trường học Học viện báo chí và tuyên truyền
Chuyên ngành Đạo đức học mác - lênin
Thể loại tiểu luận
Năm xuất bản 2021
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 33
Dung lượng 321,06 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN KHOA TÂM LÝ GIÁO DỤC VÀ NGHIỆP VỤ SƯ PHẠM BÀI TẬP MÔN LÝ LUẬN DẠY HỌC ĐẠI HỌC ĐỀ TÀI VAI TRÒ CỦA PHƯƠNG TIỆN KỸ THUẬT VÀ CÔNG NGHỆ TRONG DẠY HỌC ĐẠI HỌC HIỆN NAY GVHD TS Lý Thị Minh Hằng Sinh viên Trần Thị Bình Lớp Kinh tế chính trị K39 MSSV 1951020002 HÀ NỘI – 2021 HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN KHOA TRIẾT HỌC

Trang 1

HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN

KHOA TÂM LÝ GIÁO DỤC VÀ NGHIỆP VỤ SƯ PHẠM

- -BÀI TẬP MÔN: LÝ LUẬN DẠY HỌC ĐẠI HỌC

ĐỀ TÀI: VAI TRÒ CỦA PHƯƠNG TIỆN KỸ THUẬT

VÀ CÔNG NGHỆ TRONG DẠY HỌC ĐẠI HỌC

HIỆN NAY

GVHD : TS Lý Thị Minh Hằng Sinh viên : Trần Thị Bình

Lớp : Kinh tế chính trị - K39 MSSV : 1951020002

HÀ NỘI – 2021

Trang 3

H C VI N BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUY N Ọ Ệ Ề

KHOA TRIẾT HỌC

- -TIỂU LUẬN MÔN: ĐẠO ĐỨC HỌC MÁC - LÊNIN

ĐỀ TÀI: CÁC CHỨC NĂNG CƠ BẢN CỦA ĐẠO ĐỨC

VAI TRÒ CỦA NÓ ĐỐI VỚI SỰ ỔN ĐỊNH,

PHÁT TRIỂN KINH TẾ

GVHD : TS LÊ TH H Ị ƯỜ NG Sinh viên: TR N TH BÌNH Ầ Ị

L p ớ : KINH T CHÍNH TR - K39 Ế Ị MSSV : 1951020002

HÀ N I – 2021 Ộ

Trang 4

Đạo đức là một trong những phạm trù cơ bản của lý luận giáo dục, là nội dungquan trọng trong rèn luyện phát triển nhân cách của mỗi người Việt Nam Đức củangười Việt Nam rất giản dị, tự nhiên, trong sáng, đã trở thành một nhân tố khôngthể thiếu được trong đời sống tinh thần, là một tiêu chuẩn quan trọng trong đánhgiá, xem xét về phẩm chất nhân cách của mỗi người Công cuộc công nghiệp hóa,hiện đại hóa đất nước đang đặt ra những yêu cầu to lớn về chất lượng nguồn nhânlực con người Đó là sự phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ

và nhân cách nói chung của con người Việt Nam

Ngày nay cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế, cácquy tắc chuẩn mực của đạo đức dần biến đổi Tuy nhiên điều này không đồngnghĩa với việc các giá trị đạo đức cũ hoàn toàn mất đi, thay vào đó là các giá trịđạo đức mới Các giá trị đạo đức ở Việt Nam hiện nay là sự kết hợp sâu sắc truyền

Trang 5

thống đạo đức tốt đẹp của dân tộc với xu hướng tiến bộ của thời đại của nhân loại.

Đó là tinh thần cần cù, sáng tạo, yêu lao động; tình yêu quê hương, đất nước gắnliền với chủ nghĩa xã hội; sống và làm việc theo hiến pháp và pháp luật, có lối sốngvăn minh, lành mạnh; có tinh thần nhân đạo và tinh thần quốc tế cao cả

Với sự biến đổi không ngừng của xã hội khiến các chuẩn mực đạo đức hàng ngàyphải điều chỉnh sao cho phù hợp với hiện thực cuộc sống Để hiểu rõ hơn về đạo

đức và vai trò của nó đối với cuộc sống xã hội, tôi đã lựa chọn đề tài: “Các chức

năng cơ bản của đạo đức và vai trò của nó đối với sự ổn định và phát triển của

xã hội” làm đề tài nghiên cứu tiểu luận.

2. Mục đích nghiên cứu

Làm rõ các chức năng cơ bản của đạo đức để hiểu thêm về bản chất của vấn đềLàm rõ các vai trò của đạo đức đối với việc duy trì sự ổn định, phát triển của xãhội Đồng thời chỉ ra thực trạng, nguyên nhân để đi đến tìm ra các giải pháp đốiphó, cải thiện đời sống đạo đức cho con người xã hội mới

3. Đối tượng, khách thể nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: các chức năng cơ bản đạo đức và vai trò của nó đối vớiviệc duy trì sự ổn định, phát triển của xã hội

Khách thể nghiên cứu: Chức năng và vai trò của đạo đức

4. Phương pháp nghiên cứu

Ngoài những nguyên tắc phương pháp luận của chủ nghĩa Mác Lênin, tiểuluận được thực hiện thông qua quá trình thu thập, nghiên cứu, hệ thống hóa,khái quát hóa các lý luận về những vấn đề cần tìm hiểu qua các giáo trình, bàigiảng, đề án, văn bản, Vận dụng những luận điểm của chủ nghĩa duy vật biệnchứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử khi xem xét các hiện tượng đạo đức Bêncạnh đó, có sử dụng một số phương pháp nghiên cứu cụ thể như: liệt kê, sosánh, quy nạp, diễn dịch, tìm tài tiệu, Các phương pháp nghiên cứu lý luận;

Trang 6

phương pháp nghiên cứu thực tiễn để phân tích và làm sáng tỏ vấn đề nghiêncứu.

5. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn nghiên cứu của đề tài

Chương I CƠ SỞ LÝ LUẬN

1.1. Khái niệm đạo đức

Đạo đức là một phạm trù rất rộng nhưng lại rất cụ thể Trong cuộc sống hàngngày, chúng ta thường nhắc đến cụm từ đạo đức trên mọi lĩnh vực: Đạo đức giađình, đạo đức xã hội, đạo đức kinh doanh, đạo đức nghề nghiệp, v.v nói rộng ra làđạo đức của cả một dân tộc Tuy nhiên khi sử dụng cụm từ này, ít ai quan tâm đếnnội hàm của khái niệm Vậy đạo đức là gì?

Với tư cách là bộ phận của tri thức triết học, những tư tưởng đạo đức học đãxuất hiện cách đây hơn 20 thế kỷ trong triết học Trung Quốc, Ấn Độ, Hy Lạp cổđại

Danh từ đạo đức bắt nguồn từ tiếng Latinh là mos (Moris) - lề thói (Moralisnghĩa là có liên quan đến lề thói,đạo nghĩa) Trong tiếng Hy Lạp, đạo đức đượcxem như đồng nhất với “luân lý học” và được bắt nguồn từ chữ Êthicos, nghĩa là lềthói, tập tục Như vậy, khi ta nói đến đạo đức tức là nói đến những lề thói và tậptục biểu hiện mối quan hệ nhất định giữa người với người trong sự giao tiếp vớinhau hàng ngày

Trang 7

Ở Phương Đông các học thuyết về đạo đức của người Trung Quốc cổ đại bắtnguồn từ cách hiểu của họ Đạo là một trong những phạm trù quan trọng của triếthọc trung Quốc cổ đại Đạo có nghĩa là con đường, đường đi Về sau đạo được vậndụng trong triết học để chỉ con đường của tự nhiên Đạo còn là con đường sống củacon người trong xã hội

Khái niệm Đức lần đầu tiên xuất hiện trong Kim văn đời nhà Chu và từ đótrở đi nó được người Trung Quốc cổ đại sử dụng nhiều Đức dùng để nói đến nhânđức, đức tính và nhìn chung đức là biểu hiện của đạo, là đạo nghĩa là nguyên tắcluân lý Như vậy, có thể nói đạo đức của người Trung Quốc cổ đại chính là nhữngyêu cầu, những nguyên tắc do cuộc sống đặt ra mà mỗi người phải tuân theo

Trước C.Mác và Ph.Ăngghen, các nhà triết học (kể cả duy tâm lẫn duy vật)đều rơi vào quan điểm duy tâm khi xem xét vấn đề xã hội và đạo đức Họ khôngthấy được tính quy định của nhân tố kinh tế đối với sự vận động của xã hội nóichung và đạo đức nói riêng Khác với các quan niệm trên, C.Mác và Ph.Ăngghen

đã chứng minh rằng, trước khi sáng lập các quan điểm tư tưởng, lý luận con người

đã hoạt động thực tiễn, tức là đã sản xuất ra các tư liệu vật chất cần thiết cho đờisống Toàn bộ tư tưởng thể hiện trong các hình thái ý thức xã hội của một thời đạiđều bắt nguồn từ điều kiện sinh hoạt vật chất của xã hội đó Ý thức xã hội của conngười là sự phản ánh tồn tại xã hội của họ Các hình thái ý thức xã hội khác nhauphản ánh những mặt khác nhau của đời sống xã hội Đạo đức cũng vậy, nó là mộthình thái ý thức xã hội phản ánh tồn tại xã hội dưới dạng các nguyên tắc, quy tắc

và chuẩn mực nhằm điều chỉnh hành vi của con người

Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, chúng ta có thể hiểu khái niệmđạo đức như sau:

Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội thuộc về tinh thần xã hội, bao gồm

hệ thống các quan điểm, quan niệm, nguyên tắc, chuẩn mực để điều chỉnh hành vi của con người được thực hiện bởi niềm tin, trách nhiệm, lương tâm của mỗi cá

Trang 8

nhân, được thực hiện bởi phong tục tập quán, dư luận xã hội Nhằm tạo nên sự hài hòa giữa lợi ích cá nhân và lợi ích cộng đồng và bảo đảm cho hạnh phúc của con người tiến bộ.

Như vậy, đạo đức không phải là cái có sẵn ở đâu đó, nó được hình

thành từ khi có xã hội loài người và tồn tại vĩnh viễn cùng loài người Tuy nhiên,

hệ thống các nguyên tắc, quy tắc và chuẩn mực đạo đức lại có tính lịch sử vì với tưcách là một hình thái ý thức xã hội, mà tồn tại xã hội không bất biến Hình thái ýthức xã hội đạo đức giúp con người điều chỉnh hành vi của mình, hướng con ngườitới cái tốt, cái thiện

1.2. Các chức năng cơ bản của đạo đức

Bao gồm 3 chức năng cơ bản sau:

1.2.1. Chức năng giáo dục

Con người muốn làm được điều thiện, tránh được điều ác, muốn cho nhữnghành động của mình được xã hội chấp nhận, không bị xã hội lên án thì họ phảinắm được những quan điểm, những chuẩn mực đạo đức cơ bản Chẳng hạnnguyên tắc sống của con người phải trung thực thật thà Nhìn vào nguyên tắcnày, mỗi người phải tự giác tuân theo, hoặc ai vi phạm như ăn cắp, nói dối sẽ bị

dư luận phê phán Bởi vậy, chức năng giáo dục của đạo đức đóng vai trò quantrọng nhất trong việc hình thành nhân cách con người Chủ tịch Hồ Chí Minh đãdạy:

Hiền dữ đâu phải là tính sẵn Phần nhiều do giáo dục mà nênCùng với việc giáo dục thì quá trình tự giáo dục sẽ giúp con người càng hiểu rõ vaitrò to lớn của lương tâm, nghĩa vụ, danh dự và những phẩm chất đạo đức cần thiếtcủa cá nhân mình đối với đời sống của cộng đồng Nhờ có chức năng giáo dục và

Trang 9

tự giáo dục, con người học tập được ở những tấm gương đạo đức cao cả xả thânlàn việc nghĩa, hy sinh quên mình cho đất nước, kiên cường đấu tranh cho tâm lý Chính vì vậy đã làm cho xã hội ngày càng công bằng, văn minh, tiến bộ.

Con người vươn lên “chân - thiện - mỹ” Con người là sản phẩm của lịch sử,đồng thời là chủ thể của lịch sử Con người tạo ra hoàn cảnh đến mức nào thì hoàncảnh cũng tạo ra con người đến mức ấy Con người sinh ra bắt gặp hệ thống đạođức của xã hội Hệ thống ấy tác động đến con người và con người tác động lại hệthống Hệ thống đạo đức do con người tạo ra, nhưng sau khi ra đời hệ thống đạođức tồn tại như là cái khách quan hoá tác động, chi phối con người Xã hội có giaicấp hình thành và tồn tại nhiều hệ thống đạo đức mà các cá nhân chịu sự tác động

Ở đây, môi trường đạo đức: tác động đến đạo đức cá nhân bằng nhận thức đạođức(1) và thực tiễn đạo đức (2)

(1) Nhận thức đạo đức để chuyển hoá đạo đức xã hội thành ý thức đạo đức cá nhân.Theo đó những kinh nghiệm và khái niệm đạo đức, những chuẩn mực và lýtưởng đạo đức, những cách đánh giá và các phẩm hạnh đã được xã hội thừanhận sẽ được cá nhân tiếp nhận

Hình thức nhận thức có hai cách: Thông tin và đánh giá đạo đức

Cách thứ nhất là thông tin, là cách truyền đạt đạo đức xã hội cho cá nhân bằng cáchgiảng giải, thuyết phục làm cho cá nhân hiểu và tin đạo đức xã hội Cách nàythường gặp trong lớp học: cô giáo dạy học trò, trong gia đình: cha mẹ dạy con cái,trong tập thể: biểu dương hoặc phê bình Hiệu quả của nó thường chậm và dễ phảntác dụng nếu thực tiễn đạo đức mà cá nhân trải nghiệm và chứng kiến không giống,hoặc tai hại hơn là ngược lại với các bài răn dạy

Cách thứ hai là đánh giá đạo đức Đó là cách làm cho cá nhân hiểu rõ và tin vàinhững giá trị đạo đức của xã hội và của bản thân người ấy Nhưng để thực hiệncách này cần có hai điều kiện:

- Lương tâm của đối tượng cần giáo dục

Trang 10

- Dư luận xã hội lành mạnh

Con người không có lương tâm vì lợi ích cá nhân sẽ lờ đi không chịu tiếp nhận cácgiá trị đạo đức xã hội Dư luận xã hội không lành mạnh sẽ a dua với những tròphản trắc vì lợi ích trước mắt, vì định kiến, vì lòng ghen ghét

(2) Thực tiễn đạo đức là hiện thực hoá nội dung giáo dục bằng hành vi đạo đức.Các hành vi đạo đức lặp đi lặp lại trong đời sống xã hội và cá nhân làm cả đạo đức

cá nhân và xã hội được củng cố, phát triển thành thói quen, truyền thống, tập quánđạo đức Hiệu quả giáo dục đạo đức phụ thuộc vào điều kiện kinh tế - xã hội, cáchthức tổ chức, giáo dục mức độ tự giác của chủ thể và đối tượng giáo dục trong quátrình giáo dục

- Giáo dục đạo đức gắn với tiến bộ đạo đức: Nhân đạo hóa các quan hệ xã hội vàmức độ phổ biến nhân đạo hóa các quan hệ xã hội; sự hoàn thiện của cấu trúc đạođức và mức độ phổ biến của nó…sẽ giúp chủ thể lựa chọn, đánh giá đúng các hiệntượng xã hội, đánh giá đúng tư cách của người khác hay của cộng đồng cũng như

tự đánh giá đúng thông qua mục đích, yêu cầu, nhiệm vụ, nội dung, phương thức,hình thức và các bước đi của quá trình giáo dục sẽ giúp mỗi cá nhân và cả cộngđồng tạo ra các hành vi và thực tiễn đạo đức đúng

Dưới ảnh hưởng của chức năng này, một người phát triển nhận thức về tầm quantrọng của không chỉ nhu cầu của anh ta, mà cả nhu cầu của những người xungquanh anh ta Có một cảm giác đồng cảm và tôn trọng, góp phần vào sự phát triểnhài hòa của các mối quan hệ trong xã hội, một sự hiểu biết về lý tưởng đạo đức củamột cá nhân khác, góp phần hiểu rõ hơn về nhau

Đây cũng là một trong những chức năng cơ bản của các hệ thống đạo đức đã từngđược xuất hiện trong lịch sử, chức năng này có tác dụng hết sức to lớn đối với sựhình thành và phát triển nhân cách, là con đường đặc trưng cơ bản để loài ngườitồn tại và phát triển Nhiều giá trị đạo đức được hình thành chủ yếu bằng con

Trang 11

đường giáo dục Nếu không có giáo dục thì người ta khó lĩnh hội được nền vănhóa, văn minh của nhân loại, không có giáo dục thì hệ thống giá trị chung của loàingười, cũng như hệ thống giá trị truyền thống của dân tộc sẽ không được bảo tồn

và phát triển, do đó sẽ không tạo ra được giá trị mới

Thông qua giáo dục đạo đức góp phần hình thành những quan điểm cơ bảnnhất, những nguyên tắc, quy tắc và chuẩn mực đạo đức trong từng con người cụthể; giúp con người xác lập khả năng lựa chọn, đánh giá các hiện tượng xã hội.Trên cơ sở ấy, con người tự xem xét, đánh giá được tư cách, ý thức và hành vi củabản thân Nói cách khác, chức năng giáo dục của đạo đức chính là làm giàu thêmtính người cho mỗi con người, được thực hiện thông qua quá trình giáo dục của xãhội và tự giác của mỗi cá nhân

Hiệu quả của giáo dục đạo đức phụ thuộc nhiều vào ý thức tự giác của chủthể Những người có tính tự giác cao, bản tính hiền hậu hơn tiếp nhận giáo dục đạođức nhanh hơn, dễ dàng hơn Người có bản tính hung bạo, độc ác ích kỷ cũng cóthể tiếp nhận giáo dục được, song cần phải có môi trường thích hợp và nhữngngười hướng đạo phải thật có bản lĩnh

Ngoài ra, hiệu quả giáo dục đạo đức còn phụ thuộc vào mức độ hoàn thiệncủa hệ thống nội dung đạo đức, phụ thuộc vào việc tuyên truyền giáo dục Cầnthiết phải có nhiều hình thức, nhiều biện pháp giáo dục, không kiêng dè biện phápnào nếu các biện pháp thông dụng tỏ ra kém hiệu quả

Như vậy, chức năng giáo dục của đạo đức cần được hiểu một mặt “giáo dụclẫn nhau trong cộng đồng”, giữa cá nhân và cá nhân, giữa cá nhân và cộng đồng;mặt khác, là sự “ tự giáo dục” ở các cấp độ cá nhân lẫn cấp độ cộng đồng

1.2.2. Chức năng điều chỉnh hành vi

Đạo đức là một phương thức điều chỉnh hành vi Sự điều chỉnh hành vi làm

cá nhân và xã hội cùng tồn tại và phát triển, bảo đảm quan hệ lợi ích cá nhân và

Trang 12

cộng đồng Loài người sáng tạo ra nhiều phương thức điều chỉnh hành vi, trong đó

Sự điều chỉnh này, có thể thuận chiều, có thể ngược chiều

- Điều chỉnh hành vi của đạo đức và pháp quyền khác nhau ở mức độ đòi hỏi vàphương thức điều chỉnh Pháp quyền thể hiện ra ở pháp luật, là ý chí của giai cấpthống trị buộc mọi người phải tuân theo Những chuẩn mực của pháp luật đượcthực hiện bằng ngăn cấm và cưỡng bức (quyền lực công cộng cùng với đội vũtrang đặc biệt, quân đội, cảnh sát, toà án, nhà tù…) Pháp quyền là đạo đức tốithiểu của mỗi cá nhân sống trong cộng đồng Đạo đức đòi hỏi từ tối thiểu đến tối

đa đối với các hành vi cá nhân Phương thức điều chỉnh là bằng dư luận xã hội vàlương tâm Những chuẩn mực đạo đức bao gồm cả chuẩn mực ngăn cấm và cảchuẩn mực khuyến khích Chức năng điều chỉnh hành vi của đạo đức bằng dư luận

xã hội và lương tâm đòi hỏi từ tối thiểu tới tối đa hành vi con người đã trở thànhđặc trưng riêng để phân biệt đạo đức với các hình thái ý thức khác, các hiện tượng

xã hội khác và làm thành cái không thể thay thế của đạo đức

Chức năng điều chỉnh hành vi của đạo đức được thực hiện chủ yếu bằng hai phương thức:

Một là, sử dụng sức mạnh của dư luận để động viên, khuyên khích những chủ thể

có đạo đức và hành vi tốt đẹp, đồng thời phê phán, lên án nghiêm khắc những hành

vi gây ảnh hưởng xấu đến người khác, đến cộng đồng

Hai là, bản thân chủ thể đạo đức phải tự nguyện tự giác điều chỉnh hành vi củamình trên cơ sở chuẩn mực đạo đức xã hội Phải tham gia hoạt động thực tiễn để

bổ sung nhận thức, rèn luyện ý chí

Trang 13

- Mục đích điều chỉnh: bảo đảm sự tồn tại và phát triển xã hội bằng cách tạo nênquan hệ lợi ích cộng đồng và cá nhân theo nguyên tắc hài hòa lợi ích cộng đồng và

cá nhân (và khi cần phải ưu tiên lợi ích cộng đồng) Tuy vậy, hài hòa không cónghĩa là các lợi ích được san đều mà nó được hiểu rất mềm dẻo tùy từng hoàncảnh, từng điều kiện xã hội

- Đối tượng điều chỉnh: Hành vi cá nhân (trực tiếp) qua đó điều chỉnh quan hệ cánhân với cộng đồng (gián tiếp) Qua đó điều chỉnh quan hệ giữa các cá nhân vớinhau, quan hệ giữa cá nhân với cộng đồng Trong đời sống xã hội có thể có nhiềuviệc làm hợp lẽ phải, hợp luân lý nhưng chưa hẳn nó đã xuất phát từ động cơ mangtính đạo đức, có thể do áp lực của luân lý mà người ta phải làm điều này, khônglàm điều kia

- Cách thức điều chỉnh được biểu hiện: Lựa chọn giá trị đạo đức; xác định chươngtrình của hành vi bởi lý tưởng đạo đức; xác định phương án cho hành vi bởi chuẩnmực đạo đức; tạo nên động cơ của hành vi bởi niềm tin, lý tưởng, tình cảm của đạođức, kiểm soát uốn nắn hành vi bởi dư luận xã hội Chức năng điều chỉnh hành viđược thực hiện bởi hai hình thức chủ yếu

Lý tưởng đạo đức hướng hành vi con người vào những mục đích đạo đứcphù hợp với logic tạo lập những lợi ích xác định Lý tưởng đạo đức hướng tổng sốhành vi con người vào các mục đích đạo đức thống nhất Đạt được mục đích ấychính là lẽ sống của con người

Đánh giá đạo đức giúp con người nhận thức được giá trị đạo đức của hành vi Từ

đó con người lựa chọn chuẩn mực đạo đức Đánh giá đạo đức cũng làm nảy sinh vàphát triển tình cảm đạo đức, nghĩa là nó còn tạo động lực cho hành vi

Niềm tin đạo đức và tình cảm đạo đức vốn là động lực của hành vi đạo đức Niềmtin đạo đức giúp hình thành ý chí trong hành vi đạo đức, có tác dụng khích lệ hành

vi đạo đức con người, còn tình cảm đạo đức điều chỉnh cường độ, nhịp độ hoạtđộng nhằm đạt mục đích trọn vẹn hơn Tóm lại, đạo đức thực hiện chức năng điều

Trang 14

chỉnh đạo đức bằng cách quy định giới hạn và phương án hoạt động, hướng hành

vi đạo đức con người, giúp chủ thể đạo đức lựa chọn chuẩn mực đạo đức và cuốicùng tạo động lực cho hành vi đạo đức

Điều chỉnh hành vi đạo đức chỉ có hiệu quả và phạm vi nhất định, nó phụthuộc vào nhiều yếu tố, cả yếu tố khách quan và yếu tố chủ quan Trước hết tri thứcđạo đức càng phong phú và sâu sắc thì đạo đức xã hội và đạo đức cá nhân càng cónhiều khả năng điều chỉnh đạo đức cả về phạm vi lẫn hiệu quả Vì tri thức rộng vàsâu thì niềm tin đạo đức vững, lý tưởng đạo đức đúng đắn, hợp logic, tình cảm đạođức mạnh mẽ Tri thức đạo đức càng sâu rộng thì các chuẩn mực đạo đức càngphản ánh sát thực những nhu cầu của sự phát triển xã hội và cá nhân, nó cũng làmcho các cá nhân và xã hội tiếp nhận, thực hiện các chuẩn mực đạo đức tốt hơn Trithức đạo đức phong phú, sâu sắc giúp con người nắm bắt được xu hướng tất yếucủa hiện thực đạo đức, qua đó giúp xã hội xây dựng được lý tưởng đạo đức, hướnghành vi đạo đức của mọi người tới mục đích đạo đức thống nhất Tri thức đạo đứcnông cạn dễ làm con người đuổi theo những lý tưởng lỗi thời (chẳng hạn trungquân với tên vua vô đạo hoặc tên vua mù quáng, bù nhìn hoặc bảo vệ một thể chếquân phiệt, độc tài, vô nhân đạo) hoặc lý tưởng mù mịt, không tưởng Tri thức đạođức sâu sắc sẽ giúp con người đánh giá đạo đức được đúng đắn hơn qua đó màđộng lực hành vi đạo đức được tăng cường

- Xã hội và tập thể tạo dư luận để khen ngợi khuyến khích cái thiện, phê phánmạnh mẽ cái ác

- Bản thân chủ thể đạo đức tự giác điều chỉnh hành vi cơ sở những chuẩn mực đạođức xã hội

Chức năng điều chỉnh hành vi là chức năng quan trọng nhất của đạo đức, tuynhiên, đó không phải là cái đặc quyền của đạo đức, bởi trong xã hội, con người tạo

ra rất nhiều phương thức điều chỉnh hành vi (pháp luật, tôn giáo, chính trị, nghệthuật, nhận thức khoa học…) Mục đích điều chỉnh hành vi của đạo đức nhằm bảo

Trang 15

đảm hài hòa quan hệ lợi ích cộng đồng và cá nhân Nếu như sức mạnh của phápluật là sự bắt buộc, cưỡng chế, thì sức mạnh của đạo đức là dư luận xã hội, niềmtin cá nhân, truyền thống Phạm vi điều chỉnh hành vi của đạo đức lớn hơn rất nhiều

so với phạm vi điều chỉnh của pháp luật, thậm chí có những hành vi không vi phạmpháp luật nhưng vẫn bị đạo đức lên tiếng

1.2.3. Chức năng phản ánh (chức năng nhận thức)

Với tư cách là một hình thái ý thức xã hội, đạo đức có chức năng nhận thức thôngqua sự phản ánh tồn tại xã hội Sự phản ánh của đạo đức với hiện thực có đặc điểmriêng khác với các hình thái ý thức khác Đạo đức là phương thức đặc biệt của sựchiếm lĩnh thế giới con người Nếu xét dưới góc độ bản thể luận, đạo đức là hệthống tinh thần, được quy định bởi tồn tại xã hội Nhưng xét dưới góc độ xã hộihọc thì hệ thống tinh thần (nhận thức đạo đức) không tách rời thực tiễn – hànhđộng của con người Do vậy, đạo đức là hiện tượng xã hội vừa mang tính tinh thầnvừa mang tính hành động hiện thực

Sự nhận thức của đạo đức có đặc điểm:

- Hành động đạo đức tiếp liền sau nhận thức giá trị đạo đức Và đa số trường hợp

có sự hòa quyện ý thức đạo đức với hành động đạo đức (Khác những khoa học vàứng dụng nghiên cứu thành tựu khoa học có khoảng cách về không gian và thờigian)

- Nhận thức của đạo đức là quá trình vừa hướng ngoại (hướng ra ngoài) và hướngnội (tự nhận thức – hướng vào chính mình, chính chủ thể) Nhận thức hướng ngoạilấy chuẩn mức, giá trị, đời sống đạo đức của xã hội làm đối tượng Đó là hệ thốnggiá trị thiện và ác, trách nhiệm và nghĩa vụ, hạnh phúc và ý nghĩa cuộc sống…,những “cách thức và phương tiện” tạo ra các giá trị đạo đức Nhờ sự nhận thức này

mà chủ thể nhận thức đã chuyển hóa đạo đức của xã hội như là cái chung thành ýthức đạo đức của cá nhân như là cái riêng Nhận thức hướng nội (tự nhận thức), lấy

Trang 16

bản thân mình – chủ thể đạo đức – làm đối tượng nhận thức Đây là quá trình tựđánh giá, tự thẩm định, tự đối chiếu những nhận thức, hành vi, đạo đức của mìnhvới những chuẩn mực giá trị chung của cộng đồng

Từ cách nhận thức này mà chủ thể hình thành phát triển thành các quan điểm vànguyên tắc sống: sáng tạo hay chủ động, hy sinh hay hưởng thụ, vị tha hay vị kỷ,hướng thiện hay sa vào cái ác… Trong tự nhận thức, vai trò của dư luận xã hội vàlương tâm là to lớn Dư luận xã hội là sự bình phẩm, đánh giá từ phía xã hội đốivới chủ thể, còn lương tâm là sự phê bình Cả hai đều giúp chủ thể tái tạo lại giá trịđạo đức của mình – giá trị mà xã hội mong muốn Từ nhận thức giúp chủ thể ýthức được trách nhiệm của mình và sẵn sàng để hoàn thành trách nhiệm đó Trongcuộc sống có vô số những trách nhiệm như vậy Nó luôn đặt ra trong quan hệphong phú giữa chủ thể đạo đức với xã hội, gia đình, bạn bè, đồng chí, đồng đội,tập thể, dân tộc, gia cấp, tổ quốc

Nhận thức đạo đức (đạo đức phản ánh hiện thực) ở hai trình độ : trình độ thôngthường và trình độ lý luận

- Nhận thức đạo đức ở trình độ thông thường là ý thức thông thường, những giátrị riêng lẻ Nó đáp ứng nhu cầu đạo đức thông thường đủ để chủ thể xử lý kịpthời trong cuộc sống và sự phát triển bình thường của xã hội Mọi cá nhân đều

có thể và cần phải ảnh ánh đạo đức ở trình độ này

- Nhận thức đạo đức ở trình độ lý luận là những nhận thức có tính nguyên tắcđược chỉ đạo bởi những giá trị đạo đức có tính tổng quát Trình độ này đángứng những đòi hỏi của sự phát triển đạo đức và tiến bộ xã hội Đây là yếu tốkhông thể thiếu được trong hệ tư tưởng và hành vi của các gia cấp cầm quyền Nhận thức đạo đức đưa lại tri thức đạo đức, ý thức đạo đức Các cá nhân, nhờ trithức đạo đức, ý thức đạo đức xã hội đã nhận thức (trở thành đạo đức cá nhân) Cánhân hiểu và tin ở các chuẩn mực, lý tưởng giá trị đạo đức xã hội trở thành cơ sở

để cá nhân điều chỉnh hành vi, thực hiện đạo đức (hiện thực hóa đạo đức)

Ngày đăng: 29/05/2022, 12:52

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w