A MỞ ĐẦU Tính cấp thiết của đề tài B NỘI DUNG I CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CẠNH TRANH VÀ ĐỘC QUYỀN MỐI QUAN HỆ GIỮA CẠNH TRANH VÀ ĐỘC QUYỀN 1 1 Các khái niệm 1 1 1 Tự do cạnh tranh Ví dụ Các nhà mạng Viettel – Vina – Mobi cạnh tranh với nhau Nhà mạng Viettel có mức chi phí khá thấp, sản phẩm của họ rẻ, nên thu hút lượng khách sử dụng nhiều hơn Dẫn tới nhà mạng Vina đã tiến hành cải tiến kỹ thuật, nâng cấp các gói mạng 3G, 4G để thu hút những khách hàng có nhu cầu, điều đó biểu hiện việc cạnh tranh giữa cá.
Trang 1A. MỞ ĐẦU Tính cấp thiết của đề tài
B. NỘI DUNG
I. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CẠNH TRANH VÀ ĐỘC QUYỀN MỐI
QUAN HỆ GIỮA CẠNH TRANH VÀ ĐỘC QUYỀN
1.1. Các khái niệm
1.1.1. Tự do cạnh tranh
Ví dụ: Các nhà mạng Viettel – Vina – Mobi cạnh tranh với nhau Nhà mạng Viettel
có mức chi phí khá thấp, sản phẩm của họ rẻ, nên thu hút lượng khách sử dụng nhiều hơn Dẫn tới nhà mạng Vina đã tiến hành cải tiến kỹ thuật, nâng cấp các gói mạng 3G, 4G để thu hút những khách hàng có nhu cầu, điều đó biểu hiện việc cạnh tranh giữa các ngành trong cùng 1 đối tượng sẽ dẫn tới chất lượng sản phẩm, dịch vụ ngày càng cao, nâng cao chất lượng, hiện đại
1.1.2. Độc quyền
Chủ nghĩa tư bản độc quyền là sự kế tục trực tiếp giai đoạn tự do cạnh tranh trong cùng một phương thức sản xuất TBCN
Độc quyền là sự liên minh giữa các doanh nghiệp lớn, nắm trong tay phần lớn việc sản xuất và tiêu thụ một số loại hàng hóa, có khả năng định ra giá cả độc quyền, nhằm thu lợi nhuận độc quyền cao
b Bản chất của chủ nghĩa tư bản độc quyền
- Độc quyền là trạng thái thị trường chỉ có duy nhất một người bán và sản xuất ra
sản phẩm không có sản phẩm thay thế gần gũi Độc quyền là nấc thang mới trong quá trình phát triển và điều chỉnh của chủ nghĩa tư bản cả lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất để thích ứng với những biến động mới trong tình hình kinh tế - chính trị thế giới từ cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX cho đến nay
Trang 2- Sự ra đời của CNTB độc quyền vẫn không làm thay đổi được bản chất của
CNTB Bản thân quy luật lợi nhuận độc quyền cũng chỉ là một hình thái biến tướng của quy luật giá trị thặng dư
- Sự thống trị của độc quyền thay thế cho sự thống trị của cạnh tranh tự do
Ví dụ: Trên thị trường có sự độc quyền về mặt hàng xăng dầu Dù giá xăng đắt,
chất lượng xăng không tốt thì người tiêu dùng vẫn phải mua nó để phục vụ cho việc đi lại Các công ty vẫn cần nhiên liệu để làm chất đốt, để vận hành máy móc,
1.2. Mối quan hệ giữa cạnh tranh và độc quyền
Chủ nghĩa tư bản cạnh tranh tự do phát triển đến trình độ cao nhất vào những năm
1860 – 1870 ở các nước Tây Âu Trong giai đoạn này đã bắt đầu xuất hiện mầm mống của độc quyền Sau cuộc khủng hoảng kinh tế năm 1873, hình thức Cácten
đã xuất hiện và phát triển, nhưng vẫn còn là tổ chức chưa bền vững
Chỉ tới cuối thế kỷ XIX và đến cuộc khủng hoảng kinh tế 1900 – 1903, Cácten mới trở thành một trong những cơ sở của toàn bộ đời sống kinh tế và chủ nghĩa tư bản cạnh tranh tự do thực sự chuyển thành chủ nghĩa tư bản độc quyền, chủ nghĩa đế quốc V.I.Lênin đã phát triển học thuyết giá tri thặng dư của C.Mác trong thời đại
đế quốc chủ nghĩa, đã trình bày một lý luận có hệ thống sâu sắc về chủ nghĩa đế quốc
Nghiên cứu chủ nghĩa tư bản tự do cạnh tranh, C Mác và Ph Ăngghen đã chỉ ra rằng Tự do cạnh tranh đưa tới tập trung sản xuất, tập trung sản xuất phát triển tới một trình độ nhất định sẽ dẫn tới độc quyền
Độc quyền là sự liên minh giữa các doanh nghiệp lớn, nắm trong tay phần lớn việc sản xuất và tiêu thụ một số loại hàng hóa, có khả năng định ra giá cả độc quyền, nhằm thu lợi nhuận độc quyền cao
Trước hết, độc quyền sinh ra từ cạnh tranh tự do Nhưng sự xuất hiện của độc quyền không thủ tiêu cạnh tranh mà độc quyền làm cho cạnh tranh trở nên đa dạng, gay gắt hơn
Trang 3Trong nền kinh tế thị trường, nhìn chung không chỉ tồn tại sự cạnh tranh giữa các chủ thể sản xuất kinh doanh nhỏ và vừa mà còn có thêm các loại cạnh tranh giữa các tổ chức độc quyền Đó là:
Một là, cạnh tranh giữa các tổ chức độc quyền với các doanh nghiệp ngoài độc quyền Các tổ chức độc quyền thường tìm cách để chi phối, thôn tính các doanh nghiệp ngoài độc quyền bằng nhiều biện pháp như: độc quyền mua nguyên liệu đầu vào; độc quyền phương tiện vận tải; độc quyền tín dụng, để có thể loại bỏ các chủ thể yếu thế hơn ra ngoài thị trường
Hai là, cạnh tranh giữa các tổ chức độc quyền với nhau Loại hình cạnh tranh này
có nhiều hình thức: cạnh tranh giữa các tổ chức độc quyền trong cùng một ngành, kết thúc bằng một sự thỏa hiệp hoặc bằng sự phá sản của một bên cạnh tranh; cạnh tranh giữa các tổ chức độc quyền khác ngành có liên quan với nhau về nguồn lực đầu vào,
Ba là, cạnh tranh trong nội bộ các tổ chức độc quyền Những doanh nghiệp tham gia các tổ chức độc quyền cũng có thể cạnh tranh với nhau để giành lợi thế trong
hệ thống Các thành viên trong tổ chức độc quyền cũng có thể cạnh tranh nhau để chiếm tỷ lệ cổ phần khống chế, từ đó chiếm địa vị chi phối và phân chia lợi ích có lợi hơn
Thực tiễn lịch sử của chủ nghĩa tư bản vào cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX đã chứng minh luận điểm đó Song các nhà kinh tế và các nhà xã hội học tư sản đã không phản ánh đúng bản chất của chủ nghĩa đế quốc, trái lại họ còn bênh vực và che đậy bản chất của nó
Dựa trên những tư tưởng của C Mác và Ph Ăngghen, dựa trên thực tiễn sinh động của thời đại lúc bấy giờ, đồng thời sử dụng có phê phán những số liệu và những tư tưởng của các nhà kinh tế tư sản, V.I lênin đã đi sâu phân tích một cách khoa học
Trang 4về chủ nghĩa đế quốc Người đã chỉ ra những đặc điểm kinh tế cơ bản và địa vị lịch
sử của nó Trên cơ sở đó đã tiếp tục vạch ra đường lối đấu tranh cách mạng cho giai cấp công nhân và các dân tộc bị áp bức trên toàn thế giới
II. BIỂU HIỆN CỦA QUY LUẬT GIÁ TRỊ, QUY LUẬT GIÁ TRỊ
THẶNG DƯ TRONG GIAI ĐOẠN ĐỘC QUYỀN
II.1. Biểu hiện của quy luật giá trị trong giai đoạn độc quyền
II.1.1. Nội dung của quy luật giá trị
Tất cả các hoạt động kinh tế của con người đều chịu sự tác động của quy luật kinh
tế nào đó Quy luật giá trị là một trong những quy luật kinh tế có tác động rất lớn tới hoạt động kinh tế của con người Là cơ sở của mọi nền tảng kinh tế, thể hiện sự chi phối của nó trong quá trình sản xuất, phân phối, trao đổi, làm sao cho các quá trình đó phù hợp với những đặc điểm tiêu dùng và tích trữ xã hội
Nó còn là cơ sở cho việc chi phối nền sản xuất hàng hóa Theo yêu cầu của quy luật giá trị thì sản xuất hàng hóa phải định hướng nền sản xuất và trao đổi theo các quan hệ tỷ lệ phản ánh hao phí lao động xã hội cần thiết Giá trị là hình thức biểu hiện các hao phí đó trên cơ sở quy tất cả các loại lao động cụ thể thành lao động trừu tượng và quy lao động phức tạp thành lao động giản đơn Giá trị là phương thức điều tiết các mối quan hệ giữa những người sản xuất hàng hóa trong quá trình trao đổi hoạt động
Ví dụ: bán hàng có lãi và bù đắp được chi phí thì người sản xuất phải điều chỉnh
làm sao cho hao phí lao động cá biệt của mình phù hợp với mức chi phí mà xã hội chấp nhận được
Quy luật giá trị hoạt động trong các hình thức xã hội khác nhau và trong hệ thống các quan hệ kinh tế của mỗi hình thái Quy luật đó không thuộc về quy luật biểu hiện bản chất xã hội cơ bản của một hình thái xã hội nào, các biểu hiện cụ thể của
nó phụ thuộc vào quy luật kinh tế cơ bản của phương thức sản xuất nhất định
Trang 5Việc trao đổi hàng hóa cũng phải dựa theo cơ sở hao phí lao động xã hội cần thiết
đó và trao đổi theo nguyên tắc ngang giá Biểu hiện ở quy luật giá trị quy định việc sản xuất và trao đổi hàng hóa phải tiến hành trên cơ sở hao phí lao động xã hội tất yếu Có nghĩa là giá trị hàng hóa do lao động trừu tượng của người sản xuất hàng hóa tạo nên và lượng giá trị của hàng hóa cá biệt phải phù hợp với lượng lao động
xã hội tất yếu để làm ra loại hàng hóa đó
Quy luật giá trị vận động thông qua sự vận động của giá cả hàng hóa, chỉ có thông qua sự vận động lên xuống của giá cả thị trường mới thấy được sự hoạt động của quy luật giá trị, vì giá trị là cơ sở của giá cả Giá cả thị trường lên xuống một cách
tự phát, xoay quanh giá trị, là sản phẩm của nền kinh tế tự do cạnh tranh, vô chính phủ và biểu hiện sự tác động của quy luật giá trị trong điều kiện sản xuất và trao đổi hàng hóa tự nhiên
Quy luật giá trị là quy luật kinh tế quan trọng nhất của sản xuất và trao đổi hàng hóa Ở đâu có sản xuất và trao đổi hàng hóa thì ở đó có sự xuất hiện và hoạt động của quy luật giá trị Mọi hoạt động của các chủ thể kinh tế trong sản xuất và trao đổi hàng hóa đều chịu sự tác động và chi phối của quy luật này Tuân theo yêu cầu của quy luật giá trị thì mới có lợi nhuận, mới tồn tại và phát triển được, ngược lại
sẽ bị thua lỗ và phá sản
II.1.2. Biểu hiện của quy luật giá trị trong giai đoạn độc quyền
Độc quyền là biểu hiện mới, mang những quan hệ mới nhưng nó không vượt ra khỏi quy luật giá trị của chủ nghĩa tư bản, mà chỉ là sự tiếp tục mở rộng, phát triển những xu hướng sâu sắc nhất của chủ nghĩa tư bản và của nên sản xuất hàng hóa nói chung, làm cho các quy luật của nền sản xuất hàng hóa và của chủ nghĩa tư bản
có những biểu hiện mới
Trang 6Thời kỳ tư bản độc quyền: giá trị biểu hiện thành quy luật giá cả độc quyền Do chiếm được vị trí độc quyền nên các tổ chức độc quyền đã áp đặt giá cả độc quyền; giá cả độc quyền thấp khi bán, cao khi mua Tuy vậy, giá cả độc quyền vẫn không thoát ly và không phủ định cơ sở của nó là giá trị Các tổ chức độc quyền thi hành chính sách giá cả độc quyền nhằm chiếm đoạt một phần giá trị và giá trị thặng dư của người khác
Như vậy, nếu như trong giai đoạn chủ nghĩa tư bản tự do cạnh tranh quy luật giá trị biểu hiện thành quy luật giả cả sán xuất, thì trong giai đoạn chủ nghĩa tư bản độc quyền quy luật giá trị biểu hiện thành quy luật giá cả độc quyền
II.2. Biểu hiện của quy luật giá trị thặng dư trong giai đoạn độc quyền
II.2.1. Nội dung của quy luật giá trị thặng dư
II.2.2. Biểu hiện của quy luật giá trị thặng dư trong giai đoạn độc quyền
Quy luật giá trị thặng dư trong giai đoạn chủ nghĩa tư bản tự do cạnh tranh biều hiện thành quy luật tỷ suất lợi nhuận bình quân, theo đó các nhà tư bản kinh doanh
ở các ngành nghề, lĩnh vực khác nhau đều thu được lợi nhuận trên cơ sở tỷ suất lợi nhuận chung, bằng nhau Trong giai đoạn độc quyền, các tập đoàn tư bản độc quyền nhờ quy mô lớn, liên kết chặt chẽ với nhau nên đã thao túng cả sản xuất và lưu thông, cả thị trường đầu vào và đầu ra nên có thể định ra giá cả độc quyền, từ
đó thu lợi nhuận độc quyền cao Như vậy, trong giai đoạn chủ nghĩa tư bản độc quyền, quy luật giá trị thặng dư biểu hiện thành quy luật lợi nhuận độc quyền cao
Về thực chất, lợi nhuận độc quyền cao cũng chỉ là giá trị thặng dư, là kết quả của sự chiếm đoạt lao động không công của giai cấp những người làm thuê, nhân dân lao động ở các nước tư bản và các nước thuộc địa, phụ thuộc
Bản chất của QHSX với cốt lõi là quyền chiếm hữu tư nhân TNCB về TLSX biến thành quyền chiếm đoạt lao động của người khác vẫn được giữ nguyên và mở rộng ra cả về không gian và tầm bóc lột với trình độ cao hơn, đặc thù hơn
Trang 7Lợi nhuận độc quyền thực ra vẫn là giá trị thặng dư do những người làm thuê trong chính tập đoàn độc quyền tạo ra và một phần giá trị thặng dư do những người làm thuê trong các xí nghiệp vừa và nhỏ ngoài độc quyền tạo ra mà ông chủ tư bản của họ là những ông chủ doanh nghiệp vừa và nhỏ, vì yếu thế trong cạnh tranh với
tổ chức độc quyền mà đã phải cống nạp, một phần nữa là giá trị thặng dư bóc lột được ở các nước thuộc địa, phụ thuộc Vì vậy, có thể nói, trong giai đoạn chủ nghĩa
tư bản độc quyền, quy luật giá trị thặng dư thành quy luật lợi nhuận độc quyền cao
là sự phản ánh quan hệ thống trị, bóc lột của tư bản độc quyền đối với tất cả các ngành trong nền kinh tế ở các nước tư bản chủ nghĩa và toàn thế giới
Trong giai đoạn chủ nghĩa tư bản cạnh tranh tự do, quy luật giá trị thặng dư biểu hiệu thành quy luật tỷ suất lợi nhuận bình quân Bước sang giai đoạn chủ nghĩa tư bản độc quyền, các tổ chức độc quyền thao túng nền kinh tế bằng giá cả độc quyền
và thu được lợi nhuận độc quyền cao Do dó quy luật lợi nhuận độc quyền cao là hình thức biểu hiện của quy luật giá trị thặng dư trong giai đoạn chủ nghĩa tư bản độc quyền
Nguồn gốc của lợi nhuận độc quyền cao là: lao động không công của công nhân ở các xí nghiệp độc quyền; một phần lao dộng không công của nhân công ở các xí nghiệp không độc quyền; một phần giá trị thặng dư của các nhà tư bản vừa và nhỏ
bị mất di do thua thiệt trong cuộc cạnh tranh; lao động thặng dư và đôi khi cả một phần lao động tất yếu của những người sản xuất nhỏ, nhân dân lao động ở các nước
tư bản và các nước thuộc địa, phụ thuộc
Như vậy, trong giai đoạn chủ nghĩa tư bản độc quyền quy luật giá trị thặng
dư biểu hiện thành quy luật lợi nhuận độc quyền cao Quy luật này phản ánh quan
hệ thống trị và bóc lột của tư bản độc quyền trong tất cả các ngành kinh tế của xã hội tư bản và trên toàn thế giới
Trang 8III. MỐI QUAN HỆ GIỮA TỰ DO CẠNH TRANH VÀ ĐỘC QUYỀN
TRONG NỀN KINH TẾ VIỆT NAM HIỆN NAY
Kinh tế học đã chứng minh, cạnh tranh và độc quyền đều có ưu và nhược điểm Nếu đề cao quá mức cạnh tranh sẽ dẫn đến loại bỏ doanh nghiệp lớn, từ đó không thể tận dụng được lợi thế của kinh tế quy mô, đồng thời làm suy giảm sức cạnh tranh của một quốc gia do không thể hình thành được doanh nghiệp lớn, đủ sức cạnh tranh trên thị trường quốc tế Độc quyền có thể khắc phục được hạn chế của cạnh tranh nhưng nếu không được kiểm soát sẽ dẫn đến hiện tượng tăng giá bán, giảm sản lượng, chậm đổi mới kỹ thuật…, từ đó gây thiệt hại cho người tiêu dùng
và toàn bộ nền kinh tế Kết hợp ưu điểm của cạnh tranh và độc quyền để tạo ra kết cấu thị trường cạnh tranh hữu hiệu là trào lưu phổ biến hiện nay, được đa số các nước trên thế giới ủng hộ
Việc thừa nhận doanh nghiệp có quyền tự do cạnh tranh là để hình thành kết cấu thị trường cạnh tranh hữu hiệu, không phải để hình thành kết cấu thị trường cạnh tranh tự do Nói cách khác, quyền tự do cạnh tranh không nên được hiểu đồng nhất với kết cấu thị trường cạnh tranh tự do, có như vậy mới đảm bảo thực thi hiệu quả chính sách cạnh tranh quốc gia
Trang 9IV. PHƯƠNG HƯỚNG, GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ
KINH TẾ VIỆT NAM THÔNG QUA MỐI QUAN HỆ GIỮA CẠNH TRANH VÀ ĐỘC QUYỀN