ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI KHOA LUẬT VŨ THỊ PHƢỢNG MèI QUAN HÖ GI÷A §¹O §øC Vµ PH¸P LUËT TRONG LÜNH VùC H¤N NH¢N GIA §×NH ë N¦íC TA HIÖN NAY LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC HÀ NỘI 2016 ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI KHOA LUẬT VŨ THỊ PHƢỢNG MèI QUAN HÖ GI÷A §¹O §øC Vµ PH¸P LUËT TRONG LÜNH VùC H¤N NH¢N GIA §×NH ë N¦íC TA HIÖN NAY Chuyên ngành Lý luận và lịch sử Nhà nƣớc và pháp luật Mã số 60 38 01 01 LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC Ngƣời hƣớng dẫn khoa học GS TS HOÀNG THỊ KIM QUẾ HÀ NỘI 2016 LỜI[.]
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
VŨ THỊ PHƢỢNG
MèI QUAN HÖ GI÷A §¹O §øC Vµ PH¸P LUËT
TRONG LÜNH VùC H¤N NH¢N GIA §×NH ë N¦íC TA HIÖN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
VŨ THỊ PHƯỢNG
MèI QUAN HÖ GI÷A §¹O §øC Vµ PH¸P LUËT
TRONG LÜNH VùC H¤N NH¢N GIA §×NH ë N¦íC TA HIÖN NAY
Chuyên ngành: Lý luận và lịch sử Nhà nước và pháp luật
Mã số: 60 38 01 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: GS.TS HOÀNG THỊ KIM QUẾ
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực
Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội
Vậy, tôi viết Lời cam đoan này kính đề nghị Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội xem xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn của mình
Tôi xin chân thành cảm ơn!
NGƯỜI CAM ĐOAN
Vũ Thị Phƣợng
Trang 4VÀ PHÁP LUẬT TRONG LĨNH VỰC HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH 10 1.1 Khái niệm đạo đức và pháp luật, mối quan hệ giữa đạo đức
và pháp luật trong lĩnh vực hôn nhân gia đình 10
1.1.1 Khái niệm đạo đức 10 1.1.2 Khái niệm pháp luật 11 1.1.3 Mối quan hệ giữa đạo đức và pháp luật trong lĩnh vực hôn nhân
gia đình 11
1.2 Các quan hệ xã hội trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình chịu
sự điều chỉnh của đạo đức và pháp luật và nội dung mối quan
hệ giữa đạo đức và pháp luật trong lĩnh vực hôn nhân gia đình 12
1.2.1 Quan hệ giữa vợ chồng 12 1.2.2 Quan hệ giữa cha mẹ và con 16 1.2.3 Quan hệ giữa các thành viên khác của gia đình 19
1.3 Nội dung của mối quan hệ giữa đạo đức và pháp luật trong
lĩnh vực hôn nhân và gia đình 21 1.4 Vai trò, sự cần thiết của mối quan hệ giữa đạo đức và pháp
luật đối với lĩnh vực hôn nhân và gia đình 23
1.4.1 Vai trò của mối quan hệ giữa đạo đức và pháp luật đối với lĩnh
vực hôn nhân và gia đình 23
Trang 51.4.2 Sự cần thiết của mối quan hệ giữa đạo đức và pháp luật đối với
lĩnh vực hôn nhân và gia đình 25
1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến mối quan hệ giữa đạo đức và pháp luật trong lĩnh vực hôn nhân gia đình 35
Kết luận chương 1 37
Chương 2: THỰC TRẠNG MỐI QUAN HỆ GIỮA ĐẠO ĐỨC VÀ PHÁP LUẬT TRONG LĨNH VỰC HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH Ở NƯỚC TA HIỆN NAY VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ 39
2.1 Thực trạng mối quan hệ giữa đạo đức và pháp luật trong các quy định pháp luật về hôn nhân gia đình 39
2.2 Thực trạng mối quan hệ giữa đạo đức và pháp luật trong một số nội dung cụ thể của lĩnh vực hôn nhân gia đình 54
2.2.1 Thực trạng mối quan hệ giữa đạo đức và pháp luật trong quan hệ vợ chồng 54
2.2.2 Thực trạng mối quan hệ giữa đạo đức và pháp luật trong quan hệ giữa cha mẹ con 57
2.2.3 Thực trạng mối quan hệ giữa đạo đức và pháp luật trong quan hệ giữa những người thân thích trong gia đình 60
2.4 Nguyên nhân của thực trạng mối quan hệ giữa đạo đức và pháp luật trong lĩnh vực hôn nhân gia đình ở nước ta hiện nay và một số kiến nghị 62
2.4.1 Nguyên nhân của thực trạng mối quan hệ giữa đạo đức và pháp luật trong lĩnh vực hôn nhân gia đình ở nước ta hiện nay 62
2.4.2 Một số kiến nghị nhằm thực hiện tốt mối quan hệ giữa đạo đức và pháp luật trong lĩnh vực hôn nhân gia đình hiện nay 65
Kết luận chương 2 74
KẾT LUẬN 76
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 77
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Trong những năm gần đây Đảng và nhà nước ta đặc biệt quan tâm tới việc xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Nội dung trọng tâm của việc xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa là xây dưng một hệ thống pháp luật phù hợp, tương thích với các giá trị chuẩn mực đạo đức xã hội nhằm phát huy truyền thống đạo đức tốt đẹp của dân tộc trên cơ sở một nền pháp luật kỷ cương, nhân đạo, vì lý do trên nên việc nghiên cứu mối quan
hệ giữa đạo đức và pháp luật ở Việt Nam hiện nay là vấn đề cần thiết, đáp ứng đòi hỏi thực tế Đặc biệt lĩnh vực hôn nhân và gia đình là lĩnh vực đặc thù, ở lĩnh vực này mối quan hệ giữa đạo đức và pháp luật được thể hiện nổi bật nhất Đề tài "mối quan hệ giữa đạo đức và pháp luật trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình ở Việt Nam hiện nay" với mục đích nghiên cứu làm sáng tỏ tầm quan trọng của sự hòa hợp giữa đạo đức và pháp luật trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình ở nước ta hiện nay nhằm làm rõ thực trạng về mối quan hệ giữa đạo đức và pháp luật trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình, đồng thời đưa
ra giải pháp nhằm giúp cho các nhà quản lý, nhà làm luật hiểu rõ thêm tính tất yếu và tầm quan trọng của "loại quan hệ" đặc biệt trong lĩnh vực đặc thù, lĩnh vực "hôn nhân và gia đình" Từ đó có các biện pháp xây dựng các quy định pháp luật phù hợp với các giá trị chuẩn mực đạo đức xã hội nhằm tiến tới hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam
Thực tế hiện nay cho thấy mối quan hệ giữa đạo đức và pháp luật có vai trò quan trọng trong hệ thống pháp luật Việt Nam nói chung và trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình nói riêng, vì vậy việc nghiên cứu đề tài “Mối quan
hệ giữa đạo đức và pháp luật trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình” là hết sức cần thiết, đặc biệt trong bối cảnh đất nước đang trên đà đổi mới, xu thế hội
Trang 7nhập, toàn cầu hoá là xu thế tất yếu, việc đòi hỏi một hệ thống pháp luật phù hợp với thực tế Việt Nam và việc giữ gìn, nâng cao các giá trị chuẩn mực đạo đức xã hội trong điều kiện thực tế đất nước còn nhiều hạn chế về hệ thống pháp luật, các giá trị đạo đức truyền thống có biểu hiện xuống cấp, mai một, nhiều tệ nạn xã hội diễn ra, đặc biệt trong lĩnh vực hôn nhân gia đình ngày càng phát sinh nhiều vụ việc có tính chất phức tạp, đáng báo động, vì các lý
do trên chúng tôi nhận thấy sự cần thiết trong việc nghiên cứu vai trò, tầm quan trọng của đạo đức và pháp luật trong lĩnh vực hôn nhân gia đình, từ đó xem xét mối quan hệ giữa đạo đức và pháp luật trong lĩnh vực này, trong đó việc nghiên cứu thực trạng mối quan hệ giữa đạo đức và pháp luật trong lĩnh vực hôn nhân gia đình ở Việt Nam hiện nay là nhiệm vụ trọng yếu
Chúng tôi quyết định chọn đề tài “Mối quan hệ giữa đạo đức và pháp
luật trong lĩnh vực hôn nhân gia đình ở nước ta hiện nay” với mong muốn
nghiên cứu, làm rõ mối quan hệ giữa đạo đức và pháp luật trong một lĩnh vực
cụ thể, chứa nhiều nét đặc thù - lĩnh vực hôn nhân và gia đình, đồng thời đưa
ra các giải pháp nhằm xây dựng các gia đình ấm no, hạnh phúc
2 Tình hình nghiên cứu
Hiện nay luật hôn nhân và gia đình năm 2014 chính thức có hiệu lực từ ngày 01 tháng 01 năm 2015 là luật có rất nhiều điểm mới, tiến bộ song do lĩnh vực hôn nhân và gia đình là lĩnh vực nhạy cảm và phức tạp, luôn có những phát sinh mới, vì lý do này nên một số quy định trong lĩnh vực này cần phải hoàn thiện và bổ sung thêm cho phù hợp với các điều kiện thực tế, yếu tố đạo đức trong luật này cần được nghiên cứu sâu hơn, mối quan hệ giữa đạo đức và pháp luật cần có sự điều chỉnh để đạt được sự hòa hợp nhằm mang lại hiệu quả cao trong công tác quản lý, đồng thời góp phần đảm bảo cuộc sống ấm
no, hạnh phúc trong mỗi gia đình Qua thực tế có thể nhận thấy lĩnh vực hôn nhân và gia đình là lĩnh vực thường được nói tới hàng ngày và trở nên quen
Trang 8thuộc với tất cả mọi người, đạo đức và pháp luật được nhiều nhà khoa học nghiên cứu, lĩnh vực hôn nhân và gia đình cũng là lĩnh vực có nhiều đề tài nghiên cứu, nhiều bài viết trên các tạp chí, trên các trang mạng xã hội chia sẻ
về những vấn đề xoay quanh đời sống gia đình, mặc dù vậy những nghiên cứu chuyên sâu, cụ thể về mối quan hệ giữa đạo đức và pháp luật trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình thì hầu như chưa có đề tài nào Ngoài luật hôn nhân và gia đình năm 2014 và NĐ số 126/2014/NĐ-CP ngày 31 tháng 12 năm 2014 quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành luật hôn nhân và gia đình, trước khi có đề tài nghiên cứu này có một số giáo trình, một số bài viết của tác giả mang tính chuyên khảo, bình luận hay nghiên cứu về một khía cạnh khác trong mối quan hệ giữa đạo đức và pháp luật như: Giáo trình Lý luận Nhà nước và pháp luật, Đại học Luật Hà Nội, NXB Công an nhân dân, Hà Nội - 2009, giáo trình này có mục nghiên cứu tổng quan về pháp luật, đạo đức, đưa ra khái niệm cơ bản về pháp luật và đạo đức, đặc trưng của pháp luật
và đạo đức Bên cạnh đó còn có các nghiên cứu cụ thể có liên quan đến đề tài trước hết phải kể đến những nghiên cứu nổi bật, mang tính định hướng về các khái niệm đạo đức và pháp luật, khái quát chung về mối quan hệ giữa đạo đức
và pháp luật của GS.TS Hoàng Thị Kim Quế như: GS.TS Hoàng Thị Kim
Quế (2010), “Bản chất đích thực của mối quan hệ giữa pháp luật với đạo
đức”, tạp chí dân chủ và pháp luật, trong đề tài nghiên cứu này GS.TS Hoàng
Thị Kim Quế đã chỉ ra những nội dung cơ bản của pháp luật và đạo đức, từ đó nghiên cứu rút ra bản chất đích thực của mối quan hệ này, đây được xem là một nghiên cứu vô cùng hữu ích cho việc nghiên cứu mối quan hệ giữa đạo đức và pháp luật trong từng lĩnh vực cụ thể của các nhà nghiên cứu sau này Một số công trình nghiên cứu dưới góc độ luận văn, luận án như luận văn thạc
sỹ của tác giả Hoàng Xuân Châu: “Mối quan hệ giữa Pháp luật và đạo đức
Trang 9trong nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam”,
Đại học Quốc gia Hà Nội, năm 2002 Luận văn thạc sỹ của tác giả Nguyễn
Văn Năm: “Mối quan hệ giữa pháp luật với đạo đức ở Việt Nam hiện nay”,
Đại học Luật Hà Nội, năm 2003 Luận văn thạc sỹ của tác giả Tạ Thị Thu
Đông: “Tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức và pháp luật”, Đại học Quốc gia
Hà Nội, năm 2010 Luận án Tiến sỹ của nghiên cứu sinh Nguyễn Văn Năm
chuyên ngành lý luận và lịch sử nhà nước và pháp luật: “Quan hệ giữa pháp
luật và đạo đức trong điều kiện xây dựng nhà nước pháp quyền Việt Nam hiện nay”, cơ sở đào tạo: Đại học Luật Hà Nội, năm 2012
Ngoài ra còn có các nghiên cứu cụ thể có liên quan đến một số phương diện về đạo đức, pháp luật, lĩnh vực hôn nhân gia đình như: TS Ngọ Văn Nhân,
xã hội học pháp luật, NXB Hồng Đức, Hà Nội, 2012 (Chuẩn mực đạo đức và
mối quan hệ giữa chuẩn mực đạo đức và pháp luật: trang 216-222) ở nghiên cứu này, tác giả tập trung làm rõ những nội dung cơ bản về chuẩn mực đạo đức, đồng thời xem xét mối quan hệ giữa chuẩn mực đạo đức và pháp luật, kết quả của đề tài đã làm rõ nội dung quan trọng nhất của phương diện đạo đức đó
là chuẩn mực đạo đức và xem xét mối quan hệ giữa chuẩn mực đạo đức và pháp luật một cách tổng quan; THS Nguyễn Hồng Hải – Khoa Luật Dân sự,
Đại học luật Hà Nội, Quyền con người về hôn nhân và gia đình trong pháp luật
Việt Nam hiện hành; Tìm hiểu các quy định pháp luật trong lĩnh vực dân sự, hôn nhân gia đình và học sinh, Nhà xuất bản Tư pháp (đề án “tăng cường công tác phổ biến, giáo dục pháp luật nhằm nâng cao ý thức pháp luật cho thanh thiếu niên giai đoạn 2011-2015); Phạm Bích Thuỷ (2008) “Gia đình và vấn đề giáo giục hành vi đạo đức cho trẻ em trong giai đoạn hiện nay”, Tạp chí giáo
dục, (192); Tạ Thị Thu Đông, "Kết hợp đạo đức với pháp luật - cơ sở và giải
pháp trong việc quản lý xã hội, xây dựng con người mới ở nước ta hiện nay",
Trang 10Tạp chí phát triển nhân lực, số 3(29) - 2012; Tìm hiểu về mối quan hệ giữa đạo
đức và pháp luật của Luật gia Lê Quang Thuỷ; Đạo đức truyền thống của dân tộc là môi trường thuận lợi của việc thực hiện pháp luật của Luật gia Phạm
Văn Tỉnh Trong các nghiên cứu trên, mối quan hệ giữa đạo đức và pháp luật trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình chưa được nghiên cứu chuyên sâu và toàn diện,các vấn đề về đạo đức và pháp luật được nhắc đến trong mối quan hệ chung, chưa đi sâu vào một lĩnh vực cụ thể để thấy rõ tầm ảnh hưởng của mối quan hệ giữa đạo đức và pháp luật, lĩnh vực hôn nhân và gia đình cũng được nghiên cứu nhưng không phải toàn bộ lĩnh vực này mà chỉ là những nghiên cứu
về một khía cạnh cụ thể thuộc lĩnh vực, đặc biệt các nghiên cứu trên chưa đặt mối quan hệ giữa đạo đức và pháp luật vào lĩnh vực để nghiên cứu Đặc biệt lĩnh vực hôn nhân và gia đình là một lĩnh vực nhạy cảm, lĩnh vực chứa đựng rõ nét các giá trị đạo đức nhất chưa được nghiên cứu cụ thể và chuyên sâu, việc kết hợp đạo đức và pháp luật trong lĩnh vực này chưa được quan tâm đúng mức, vì các lý do trên đề tài “Mối quan hệ giữa đạo đức và pháp luật trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình” mà chúng tôi lựa chọn nghiên cứu là một đề tài mới, mang tính chuyên sâu về một lĩnh vực cụ thể, mối quan hệ giữa pháp luật và đạo đức đươc xem xét toàn diện trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình
3 Mục đích, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của luận văn là nghiên cứu vai trò, tầm quan trọng của đạo đức và pháp luật trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình, xem xét mối quan hệ giữa pháp luật và đạo đức trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình ở nước ta hiện nay và ý nghĩa của mối quan hệ này với đời sống thực tế, từ đó luận văn đưa ra những giải pháp nhằm tạo ra sự hài hòa, hợp lý trong mối quan hệ giữa pháp luật và đạo đức trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình, hướng
Trang 11tới hình thành nền tảng cơ bản của hệ thống pháp luật Việt Nam là sự tổng hòa giữa pháp luật và đạo đức
Ngoài ra việc nghiên cứu luận văn còn nhằm đánh giá thực trạng đời sống hôn nhân và gia đình hiện nay ở Việt Nam để thấy được mức độ phù hợp với thực tế của pháp luật và đạo đức trong lĩnh vực này nhằm tiến tới hoàn thiện các quy định của pháp luật trong lĩnh vực này
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Từ mục đích nghiên cứu trên, luận văn có nhiệm vụ chủ yếu sau:
Thứ nhất, trên cơ sở tổng hợp các quan điểm về pháp luật và đạo đức,
về mối quan hệ giữa pháp luật và đạo đức trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình, luận văn nghiên cứu làm rõ hơn "mối quan hệ" giữa "pháp luật" và "đạo đức" trong lĩnh vực đặc thù "lĩnh vực hôn nhân và gia đình" từ đó rút ra tầm quan trọng, ý nghĩa của việc nghiên cứu mối quan hệ này đối với việc bảo vệ các giá trị đạo đức truyền thống, kết hợp với việc xây dựng hệ thống pháp luật hoàn chỉnh, phù hợp
Thứ hai, khái quát lịch sử nghiên cứu về mối quan hệ pháp luật và đạo
đức nói chung và mối quan hệ giữa pháp luật và đạo đức trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình nói riêng trong hệ thống pháp luật Việt Nam từ xưa đến nay
để thấy được những kết quả đạt được và những hạn chế còn tồn tại, từ đó đưa
ra các giải pháp phù hợp
Thứ ba, nghiên cứu thực tế để thấy rõ tầm quan trọng và ảnh hưởng của
“mối quan hệ giữa đạo đức và pháp luật trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình”
từ đó có những điều chỉnh phù hợp với thực tế hiện nay
Thứ tư, qua nghiên cứu hệ thống các văn bản liên quan và hoạt động
tổng kết kinh nghiệm thực tế từ đó xây dựng những quy định pháp luật phù hợp với lĩnh vực hôn nhân và gia đình nhằm giúp Nhà nước quản lý tốt hơn
Trang 12lĩnh vực này, đồng thời nhằm mục đích tạo ra môi trường sống tốt đẹp trong mỗi gia đình, tạo ra mối quan hệ gắn bó bền chặt giữa các thành viên trong gia đình
4 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu về mối quan hệ giữa pháp luật và đạo đức trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình ở Việt Nam hiện nay, nghiên cứu tác động qua lại của đạo đức và pháp luật trong thực tiễn lĩnh vực hôn nhân và gia đình, nghiên cứu sâu về lĩnh vực đặc thù “lĩnh vực hôn nhân và gia đình”
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu một số vấn đề về lý luận và thực tiễn về "mối quan hệ giữa đạo đức và pháp luật" trong lĩnh vực "hôn nhân và gia đình" hiện nay trên phương diện các quy định pháp luật và trong thực tế đời sống các gia đình, từ đó có sự đối chiếu, so sánh mối quan hệ này trong luật hôn nhân và gia đình hiện hành và trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình thực tế
Nghiên cứu về sự hòa hợp giữa pháp luật và đạo đức trong lĩnh vực đặc thù
từ đó làm nổi bật thực trạng lĩnh vực hôn nhân và gia đình ở Việt Nam hiện nay
5 Phương pháp luận và các phương pháp nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận chủ nghĩa duy vật biện chứng của triết học Mac-LêNin, tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức và pháp luật, các quan điểm của Đảng và nhà nước ta về xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Ngoài ra đề tài nghiên cứu còn sử dụng các phương pháp nghiên cứu như: Phương pháp so sánh, phương pháp phân tích, phương pháp tổng hợp, phương pháp khảo sát thực tế, phương pháp diễn dịch, phương pháp quy nạp nhằm làm rõ nội dung nghiên cứu
6 Tính mới và đóng góp của luận văn
Luận văn nghiên cứu về "mối quan hệ giữa pháp luật và đạo đức trong
Trang 13lĩnh vực hôn nhân và gia đình ở nước ta hiện nay" có ý nghĩa quan trọng về lý luận và thực tiễn, luận văn là công trình nghiên cứu đầu tiên ở cấp độ một luận văn thạc sỹ luật học mà trong đó nhiều vấn đề về lĩnh vực hôn nhân và gia đình được làm sáng tỏ qua việc thể hiện rõ mối quan hệ giữa pháp luật và đạo đức trong lĩnh vực này
Những điểm mới của luận văn:
Thứ nhất, tổng hợp các đặc điểm khoa học về mối quan hệ giữa đạo
đức và pháp luật từ đó đưa ra những nội dung chủ yếu trong mối quan hệ giữa đạo đức và pháp luật và làm rõ tầm quan trọng của "loại quan hệ này" trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình
Thứ hai, nghiên cứu và chỉ ra mối quan hệ tác động giữa đạo đức và
pháp luật từ đó chỉ ra sự cần thiết của việc kết hợp chặt chẽ hài hòa giữa hai loại quy phạm này trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình
Thứ ba, nghiên cứu, đánh giá thực tế việc kết hợp hai yếu tố đạo đức và
pháp luật trong pháp luật về hôn nhân và gia đình nói chung và trong thực tế đời sống hôn nhân và gia đình hiện tại đưa ra những kết quả đạt được, hạn chế tồn tại, từ đó đưa ra những giải pháp hoàn thiện
Thứ tư, luận văn đưa ra những sáng kiến mới trong việc kết hợp đạo
đức và pháp luật nhằm điều chỉnh các vấn đề trong lĩnh vực hôn nhân gia đình một cách thiết thực và hiệu quả
Thứ năm, đề tài nghiên cứu về lĩnh vực sẽ là tài liệu tham khảo khi
nghiên cứu về mối quan hệ và đạo đức nói chung và mối quan hệ giữa đạo đức
và pháp luật trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình nói riêng, những điểm mới của luận văn có những đóng góp tích cực khi nghiên cứu, xây dựng các quy định pháp luật trong lĩnh vực hôn nhân gia đình, đồng thời có ý nghĩa lớn trong việc gìn giữ, phát huy các giá trị truyền thống đạo đức tốt đẹp của dân tộc
Trang 147 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung luận văn gồm 2 chương
Chương 1: Cơ sở lý luận về mối quan hệ giữa đạo đức và pháp luật
trong lĩnh vực hôn nhân gia đình
Chương 2: Thực trạng mối quan hệ giữa đạo đức và pháp luật trong
lĩnh vực hôn nhân và gia đình ở nước ta hiện nay và một số kiến nghị
Trang 151.1.1 Khái niệm đạo đức
Đạo đức là một phạm trù được con người biết đến từ rất sớm, có nhiều khái niệm về đạo đức được đưa ra theo quan niệm của riêng các học giả, trong nghiên cứu này đạo đức được hiểu theo nghĩa rộng:
Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội, là tập hợp những nguyên tắc, qui tắc, chuẩn mực xã hội, nhằm điều chỉnh và đánh giá cách ứng xử của con người trong quan hệ với nhau và quan hệ với xã hội, chúng được thực hiện bởi niềm tin cá nhân, bởi truyền thống và sức mạnh của dư luận xã hội [11, tr.8]
Khi nghiên cứu về đạo đức, rất nhiều học giả đưa ra các khái niệm về đạo đức mang tính khái quát chung, khái niệm đạo đức cụ thể riêng của cá nhân chưa được nghiên cứu sâu, trong khuôn khổ của một luận văn Thạc sỹ, người viết mạnh dạn đưa ra quan điểm của cá nhân về đạo đức cụ thể của mỗi cá nhân trong xã hội như sau: Đạo đức của một cá nhân là tổng hòa những đặc tính tốt đẹp của cá nhân, được hình thành bởi giao tiếp xã hội, được thể hiện ra bởi những hành động phù hợp với yêu cầu của xã hội trong những giai đoạn lịch
sử nhất định
Như vậy, có thể khẳng định đạo đức luôn được gắn với những thời kỳ lịch sử nhất định và có những giá trị đạo đức chỉ phù hợp với những hoàn cảnh xã hội nhất định, các giá trị đạo đức không đóng khung mà có sự thay đổi phù hợp với sự thay đổi của xã hội
Trang 161.1.2 Khái niệm pháp luật
Khái niệm về pháp luật được nhiều nhà khoa học nghiên cứu và được thể hiện trong các giáo trình, các sách tham khảo của các trường đại học, cá nhân người viết sau khi tìm hiểu và nghiên cứu có đồng quan điểm với khái niệm pháp luật được thể hiện ở phần trên của Đại học Quốc gia Hà Nội, có thể định nghĩa:
Pháp luật là hệ thống các quy tắc xử sự có tính bắt buộc chung do Nhà nước đặt ra hoặc thừa nhận, thể hiện ý chí của Nhà nước, của giai cấp thống trị trên cơ sở ghi nhận các nhu cầu về lợi ích của toàn xã hội, đảm bảo thực hiện bằng Nhà nước nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội với mục đích trật tự và ổn định xã hội vì
sự phát triển bền vững của xã hội [26, tr.288]
1.1.3 Mối quan hệ giữa đạo đức và pháp luật trong lĩnh vực hôn nhân gia đình
Theo quan điểm triết học, mối quan hệ là sự ràng buộc, sự tác động và
làm biến đổi lẫn nhau giữa các sự vật, hiện tượng [10, tr.55]
Mối quan hệ giữa đạo đức và pháp luật vốn là một phạm trù triết học, lĩnh vực hôn nhân gia đình là một lĩnh vực cụ thể, chứa đựng những nét đặc thù, trong lĩnh vực này mối quan hệ giữa đạo đức và pháp luật thể hiện rõ nét Mối quan hệ giữa pháp luật và đạo đức trong lĩnh vực này là một tất yếu cả trên phương diện các quy định của pháp luật và trong đời sống thực tế của mỗi gia đình Có thể định nghĩa quan hệ giữa đạo đức và pháp luật trong lĩnh vực hôn nhân gia đình là sự tác động qua lại giữa đạo đức và pháp luật khi cùng điều chỉnh hành vi của các cá nhân trong gia đình nhằm góp phần vào sự
ổn định của các gia đình và đảm bảo cho các mối quan hệ trong lĩnh vực hôn nhân gia đình được hài hòa
Trang 171.2 Các quan hệ xã hội trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình chịu
sự điều chỉnh của đạo đức và pháp luật và nội dung mối quan hệ giữa đạo đức và pháp luật trong lĩnh vực hôn nhân gia đình
1.2.1 Quan hệ giữa vợ chồng
Mối quan hệ giữa vợ chồng trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình là mối quan hệ đặc biệt, được thiết lập trên cơ sở đăng ký kết hôn, được nhà nước công nhận và bảo vệ, đây được xem là mối quan hệ quan trọng nhất trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình, từ quan hệ này, các quan hệ khác như quan hệ huyết thống và quan hệ nuôi dưỡng được hình thành, khi quan hệ hôn nhân giữa hai vợ chồng tốt đẹp, được bảo đảm sẽ là cơ sở để các quan hệ khác trong gia đình phát triển theo hướng tích cực, trong thực tế khi quan hệ hôn nhân chấm dứt, sẽ có rất nhiều thay đổi đối với một gia đình, vấn đề chấm dứt hôn nhân sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến vấn đề chăm sóc, nuôi dưỡng con cái cũng như vấn đề chăm sóc cha mẹ già yếu, chứa đựng rất nhiều bất ổn đối với các thành viên trong gia đình, vì lý do này quan hệ hôn nhân được pháp luật
và đạo đức đặc biệt coi trọng và bảo vệ
Luật hôn nhân gia đình và các Luật khác có liên quan tới lĩnh vực này
có những quy định nhằm điều chỉnh mối quan hệ giữa vợ chồng
Trước hết là quy định về sự bình đẳng giữa vợ chồng trong gia đình, điều 17 luật hôn nhân và gia đình quy định “Vợ, chồng bình đẳng với nhau,
có quyền, nghĩa vụ ngang nhau về mọi mặt trong gia đình, trong việc thực hiện các quyền, nghĩa vụ của công dân được quy định trong Hiến pháp, Luật này và các luật khác có liên quan”, đây được xem là một trong những quy định quan trọng nhất đối với quan hệ giữa vợ và chồng, khẳng định sự bình đẳng, không phân biệt, không so sánh vị trí, vai trò, tầm quan trọng của vợ hoặc chồng trong gia đình Mối quan hệ giữa vợ và chồng được xem là mối quan hệ hết sức đặc biệt, trong đó tình cảm yêu thương là yếu tố quyết định
Trang 18mối quan hệ này, song sự ảnh hưởng của tư tưởng gia trưởng, trọng nam khinh nữ vẫn còn tồn tại trong suy nghĩ của nhiều gia đình, vì lý do này mà vị thế của người phụ nữ trong gia đình ít được coi trọng, thường có sự phân biệt giữa vợ và chồng, trong mối quan hệ giữa vợ và chồng, người chồng luôn giữ vai trò quan trọng hơn và những quyết định của người chồng thường là quyết định cuối cùng, điều này tạo ra sự bất bình đẳng trong mối quan hệ giữa vợ và chồng, mặt khác, từ xưa tới nay chính bản thân người phụ nữ thường có xu hướng thích được bảo vệ, che chở, những người phụ nữ trong gia đình coi chồng là lao động chính trong gia đình, là trụ cột của gia đình nên mọi quyết định trong gia đình đều phụ thuộc vào chồng, đây cũng là nguyên nhân dẫn đến sự bất bình đẳng giữa vợ và chồng trong gia đình Pháp luật quy định rõ
sự bình đẳng, sự ngang nhau về quyền và nghĩa vụ của vợ và chồng đối với cuộc sống gia đình có ý nghĩa quan trọng, điều này tác động trực tiếp tới nhận thức của vợ chồng, là cơ sở để các bên ý thức về việc tôn trọng bản thân mình
và tôn trọng người bạn đời của mình, đồng thời giúp cho các cặp vợ chồng nhận thức đúng vai trò, vị trí của mình trong gia đình, cùng nhau xây dựng gia đình ấm no, hạnh phúc
Một quy định quan trọng khác đối với mối quan hệ giữa vợ và chồng chính là vấn đề tài sản, khoản 1, điều 29 luật hôn nhân và gia đình năm 2014
quy định “Vợ, chồng bình đẳng với nhau về quyền, nghĩa vụ trong việc tạo
lập, chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung; không phân biệt giữa lao động trong gia đình và lao động có thu nhập”, quy định này nhằm thể hiện sự
bình đẳng giữa vợ và chồng trong việc đóng góp công sức của mình vào tài sản chung để duy trì và phát triển đời sống gia đình, việc đóng góp công sức trong xây dựng kinh tế gia đình được đảm bảo dưới nhiều hình thức, tùy thuộc vào hoàn cảnh gia đình và khả năng của mỗi người, lao động trong gia đình được ghi nhận ngang quyền với lao động có thu nhập
Trang 19Quy định về quyền và nghĩa vụ của vợ chồng đối với nhau và đối với gia đình, trong một gia đình mỗi cá nhân đều có những quyền nhất định, cùng với việc thực hiện các quyền ấy, các cá nhân trong gia đình phải thực hiện các nghĩa vụ của mình đối với các thành viên khác trong gia đình, với mối quan
hệ giữa vợ và chồng, ngoài việc thực hiện nghĩa vụ với các thành viên khác trong gia đình, vợ chồng phải thực hiện nghĩa vụ với nhau để đảm bảo mối quan hệ vợ chồng, luật hôn nhân và gia đình quy định rất cụ thể quyền và nghĩa vụ giữa vợ và chồng bao gồm các quy định tại điều 21 luật hôn nhân và
gia đình 2014 “Vợ, chồng có nghĩa vụ tôn trọng, giữ gìn và bảo vệ danh dự,
nhân phẩm, uy tín cho nhau” Điều 22 “Vợ, chồng có nghĩa vụ tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhau”
Điều 23 “Vợ, chồng có quyền, nghĩa vụ tạo điều kiện, giúp đỡ nhau
chọn nghề nghiệp; học tập, nâng cao trình độ văn hóa, chuyên môn, nghiệp vụ; tham gia hoạt động chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội”
Quy định nhằm bảo vệ chế độ hôn nhân một vợ một chồng khoản 1 điều 2 luật hôn nhân gia đình năm 2014 quy định những nguyên tắc cơ bản
của chế độ hôn nhân và gia đình “Hôn nhân tự nguyện, tiến bộ, một vợ một
chồng, vợ chồng bình đẳng”, đồng thời để ngăn chặn những hành vi xâm
phạm đến đời sống hôn nhân của các cặp vợ chồng, điểm c, khoản 2, điều 5
có quy định về việc cấm các hành vi “người đang có vợ, có chồng mà kết
hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác hoặc chưa có vợ, chưa
có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người đang có chồng, có vợ”
Đạo đức có vai trò quan trọng trong việc điều chỉnh các mối quan hệ trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình, đặc biệt là trong mối quan hệ giữa vợ
và chồng, các yếu tố thuộc khía cạnh đạo đức có sự chi phối rất lớn Quan
hệ giữa hai vợ chồng được hình thành trên nền tảng của tình yêu, của sự
Trang 20yêu thương, sẵn sàng gắn bó với nhau, cùng nhau chia sẻ, tình yêu sẽ là sợi dây gắn kết hai vợ chồng, tình yêu là yếu tố ảnh hưởng đến cách đối xử với nhau giữa hai vợ chồng, sự yêu thương, chung thủy giữa vợ và chồng chính
là đạo đức của mỗi con người, là động lực để mỗi người phấn đấu trong cuộc sống nhằm mục đích cùng nhau xây dựng gia đình ấm lo, hạnh phúc Người Việt Nam vốn coi trọng tình cảm, từ lâu cha ông ta đã sử dụng những câu ca dao, tục ngữ nói về tình nghĩa vợ chồng, ca ngợi tình yêu, sự
hy sinh của vợ chồng đối với gia đình “Qua đình ngả nón trông đình, đình
bao nhiêu ngói thương mình bấy nhiêu”, đồng thời cha ông ta cũng sớm có
sự đúc rút, tìm ra yếu tố quan trọng nhất trong quan hệ vợ chồng đó chính
là sự hòa thuận “thuận vợ thuận chồng, biển đông tát cạn”, chính sự hòa
thuận giữa hai vợ chồng là sức mạnh để các cặp vợ chồng có thể cùng nhau vượt qua mọi khó khăn để xây dựng hạnh phúc trong gia đình Trong bất
kỳ mối quan hệ nào sự tôn trọng lẫn nhau sẽ giúp cho mối quan hệ được duy trì, trong mối quan hệ vợ chồng cũng vậy, sự tôn trọng lẫn nhau giữa
vợ chồng là cơ sở để đảm bảo mối quan hệ giữa vợ chồng, cái tôi cá nhân
của mỗi bên phải có sự điều chỉnh cho phù hợp “chồng nóng thì vợ bớt lời,
cơm sôi nhỏ lửa không đời nào khê” Quan hệ hôn nhân giữa các cặp vợ
chồng là mối quan hệ đặc biệt, trong quan hệ này phải cần đến hai sự công nhận thì hôn nhân của các cặp vợ chồng mới hoàn chỉnh, trước hết sự công nhận của pháp luật đóng vai trò quan trọng trong việc bảo vệ chế độ hôn nhân một vợ một chồng, nhưng sự công nhận của gia đình, họ hàng lại có tác động vô cùng to lớn đối với cuộc sống của các cặp vợ chồng, ở nước ta, yếu tố lễ nghi trong cưới hỏi rất được coi trọng, thông thường mọi người thường hỏi nhau về việc “cưới” chứ rất ít khi hỏi nhau về việc đăng ký kết hôn, điều này dẫn đến trường hợp nhiều cặp vợ chồng đã đăng ký kết hôn nhưng không được sự đồng ý của gia đình, họ hàng, không tổ chức cưới, hỏi nên không được gia đình, dòng họ hai bên công nhận, việc này có ảnh
Trang 21hưởng rất lớn đến tâm lý của các cặp vợ chồng, tạo sức ép về mặt tâm lý và
dư luận dẫn tới sự rạn nứt trong mối quan hệ vợ chồng Trong đời sống hôn nhân, việc mỗi cá nhân sống và hành động phù hợp với các quy chuẩn đạo đức là nội dung quan trọng quyết định hạnh phúc mỗi gia đình, ví dụ như trong vấn đề ngoại tình, yếu tố nhân cách, đạo đức quyết định hành động của mỗi người, khi mỗi cá nhân có đạo đức tốt sẽ nhận thức được những hành động nào là vi phạm các chuẩn mực đạo đức và sẽ cố gắng không vi phạm khi đạo đức bị xuống cấp, sẽ dẫn đến những hành động vi phạm dù người vi phạm có thể nhận thức rõ hành vi của mình là sai trái nhưng vẫn
cố tình thực hiện
1.2.2 Quan hệ giữa cha mẹ và con
Pháp luật quy định quyền và nghĩa vụ giữa cha mẹ con trong gia đình nhằm bảo vệ các quyền và lợi ích cho các thành viên trong gia đình, đồng thời gắn trách nhiệm, nghĩa vụ cho từng cá nhân trong mối quan hệ cha mẹ con, đây là quan hệ chủ yếu về chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục, Điều 69 luật hôn nhân gia đình quy định Nghĩa vụ và quyền của cha mẹ:
1 Thương yêu con, tôn trọng ý kiến của con; chăm lo việc học tập, giáo dục để con phát triển lành mạnh về thể chất, trí tuệ, đạo đức, trở thành người con hiếu thảo của gia đình, công dân có ích cho xã hội
2 Trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình
3 Giám hộ hoặc đại diện theo quy định của Bộ luật dân sự cho con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành
vi dân sự
Trang 224 Không được phân biệt đối xử với con trên cơ sở giới hoặc theo tình trạng hôn nhân của cha mẹ; không được lạm dụng sức lao động của con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành
vi dân sự hoặc không có khả năng lao động; không được xúi giục,
ép buộc con làm việc trái pháp luật, trái đạo đức xã hội
Qua quy định tại điều luật này, có thể nhận thấy trách nhiệm của cha
mẹ đối với con cái được quy định khá cụ thể và đầy đủ nhằm mục đích tạo ra môi trường sống tốt nhất để con cái có điều kiện phát triển cả về thể chất lẫn tinh thần, trách nhiệm của cha mẹ đối với con cái cũng đồng thời là quyền của cha mẹ đối với việc chăm sóc, nuôi dạy con cái của mình, khi cha mẹ thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của mình đối với con cái thì quyền của cha mẹ với con cái đã được đảm bảo
Trong quy định về quan hệ cha mẹ con, pháp luật về lĩnh vực hôn nhân
và gia đình luôn quy định quyền và nghĩa vụ ở nhóm quan hệ này mang tính hai chiều, cả cha mẹ con đều có những quyền và nghĩa vụ nhất định, điều 70 của luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định quyền và nghĩa vụ của con:
1 Được cha mẹ thương yêu, tôn trọng, thực hiện các quyền, lợi ích hợp pháp về nhân thân và tài sản theo quy định của pháp luật; được học tập và giáo dục; được phát triển lành mạnh về thể chất, trí tuệ và đạo đức
2 Có bổn phận yêu quý, kính trọng, biết ơn, hiếu thảo, phụng dưỡng cha mẹ, giữ gìn danh dự, truyền thống tốt đẹp của gia đình
3 Con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành
vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để
tự nuôi mình thì có quyền sống chung với cha mẹ, được cha mẹ trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc
Trang 23Con chưa thành niên tham gia công việc gia đình phù hợp với lứa tuổi và không trái với quy định của pháp luật về bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em
4 Con đã thành niên có quyền tự do lựa chọn nghề nghiệp, nơi cư trú, học tập, nâng cao trình độ văn hóa, chuyên môn, nghiệp vụ; tham gia hoạt động chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội theo nguyện vọng và khả năng của mình Khi sống cùng với cha mẹ, con có nghĩa vụ tham gia công việc gia đình, lao động, sản xuất, tạo thu nhập nhằm bảo đảm đời sống chung của gia đình; đóng góp thu nhập vào việc đáp ứng nhu cầu của gia đình phù hợp với khả năng của mình
5 Được hưởng quyền về tài sản tương xứng với công sức đóng góp vào tài sản của gia đình
Các quy định của luật hôn nhân và gia đình cho thấy con cái trong gia đình không chỉ có các quyền được xã hội và gia đình thực hiện nhằm bảo đảm đời sống vật chất và tinh thần cho con cái mà con cái cũng có nghĩa vụ đóng góp công sức vào việc xây dựng gia đình, điều này giúp hạn chế tình trạng dựa dẫm vào bố mẹ, lười lao động ở trẻ em, đồng thời rèn luyện sự chăm chỉ, yêu lao động ở trẻ, góp phần hình thành nhân cách ở trẻ em, tạo cơ sở hình thành những giá trị đạo đức cơ bản cho con cái trong gia đình
Quan hệ chăm sóc, nuôi dưỡng trong mỗi gia đình không đơn giản chỉ
là sự chăm sóc, nuôi dưỡng của cha mẹ đối với con cái mà cần phải được hiểu đầy đủ đó là sự chăm sóc, nuôi dưỡng mang tính hai chiều tùy thuộc vào mỗi thời điểm trong gia đình, khi con cái còn nhỏ thì cha mẹ chăm sóc, nuôi dưỡng, khi con cái đã trưởng thành phải có nghĩa vụ chăm sóc, phụng dưỡng ông bà cha mẹ
Trong mỗi gia đình, việc chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con cái là việc
Trang 24làm hết sức quan trọng, một đứa trẻ từ khi sinh ra, được cha mẹ, người thân chăm sóc, nuôi dưỡng, đến khi đứa trẻ biết nhận thức, được dạy dỗ những điều hay lẽ phải, đầu tiên là việc yêu thương những người thân trong gia đình, sau
đó là việc ứng xử kính trên nhường dưới, với quan niệm “trẻ cậy cha, già cậy
con” quan hệ nuôi dưỡng trong các gia đình ở Việt Nam được hình thành chủ
yếu dựa trên tình cảm yêu thương, ruột thịt, sự hy sinh của các bậc cha mẹ với con cháu, mong muốn con cái sẽ có một tương lai tốt đẹp, những người con là sợi dây gắn kết tình cảm vợ chồng thêm bền chặt, là động lực để các cặp vợ chồng sinh sống, làm việc với mục đích mang lại ấm no, hạnh phúc cho gia đình, chính những tình cảm yêu thương của ông bà, cha mẹ đối với con cháu giúp cho con cháu có cảm giác được yêu thương, che chở, đồng thời hình thành tình cảm biết ơn của con cháu đối với ông bà cha mẹ Người Việt Nam có truyền thống hiếu thảo với ông bà, cha mẹ, cách giáo dục con cái sống đúng với
đạo làm con “một lòng thờ mẹ kính cha, cho tròn chữ hiếu mới là đạo con”,
“công cha như núi thái sơn, nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra”, trách
nhiệm chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con cái khi con cái còn nhỏ là trách nhiệm của cha mẹ, cách sống và cách ứng xử của cha mẹ ảnh hưởng không nhỏ đến việc hình thành nhân cách của những người con, ngoài việc nuôi dưỡng, giáo dục con cái thì việc cha mẹ làm gương cho con cái noi theo cũng hết sức quan trọng trong việc hình thành nhân cách của con cái
1.2.3 Quan hệ giữa các thành viên khác của gia đình
Gia đình ở Việt Nam hiểu theo nghĩa rộng thường bao gồm các thành viên có quan hệ huyết thống, quan hệ hôn nhân và quan hệ nuôi dưỡng, vì lý
do này mà mối quan hệ giữa các thành viên khác trong gia đình được pháp luật quan tâm ngoài quan hệ giữa vợ và chồng, quan hệ giữa cha mẹ con, sở dĩ quan hệ giữa các thành viên khác trong gia đình được pháp luật điều chỉnh bởi
vì đặc điểm các gia đình Việt Nam thường có nhiều thế hệ cùng sinh sống,
Trang 25mỗi thành viên trong gia đình đều có sự tương tác lẫn nhau trong đời sống hàng ngày, để bảo đảm cho đời sống của mỗi thành viên trong gia đình ổn định, tiến tới phát triển kinh tế, văn hóa của cả gia đình, mỗi thành viên phải
có trách nhiệm với chính bản thân mình và với những người thân thích khác trong gia đình, luật hôn nhân gia đình 2014 quy định cụ thể quyền và nghĩa vụ của các thành viên khác trong gia đình như sau:
Điều 104 Quyền, nghĩa vụ của ông bà nội, ông bà ngoại và cháu:
1 Ông bà nội, ông bà ngoại có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, giáo dục cháu, sống mẫu mực và nêu gương tốt cho con cháu; trường hợp cháu chưa thành niên, cháu đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không
có tài sản để tự nuôi mình mà không có người nuôi dưỡng theo quy định tại Điều 105 của Luật này thì ông bà nội, ông bà ngoại có nghĩa vụ nuôi dưỡng cháu
2 Cháu có nghĩa vụ kính trọng, chăm sóc, phụng dưỡng ông bà nội, ông bà ngoại; trường hợp ông bà nội, ông bà ngoại không có con
để nuôi dưỡng mình thì cháu đã thành niên có nghĩa vụ nuôi dưỡng Đối với quan hệ giữa anh chị em trong một gia đình, luật hôn nhân gia đình năm 2014 cũng có những quy định cụ thể về quyền và nghĩa vụ như sau:
Điều 105 Quyền, nghĩa vụ của anh, chị, em:
Anh, chị, em có quyền, nghĩa vụ thương yêu, chăm sóc, giúp
đỡ nhau; có quyền, nghĩa vụ nuôi dưỡng nhau trong trường hợp không còn cha mẹ hoặc cha mẹ không có điều kiện trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con
Trong quy định về quyền và nghĩa vụ giữa các thành viên trong gia đình, pháp luật quy định cụ thể quyền, nghĩa vụ của cô, dì, chú, bác, cậu ruột và cháu nhằm đáp ứng đòi hỏi của thực tế, điều 106 luật hôn nhân và gia đình quy định:
Trang 26Cô, dì, chú, cậu, bác ruột và cháu ruột có quyền, nghĩa vụ thương yêu, chăm sóc, giúp đỡ nhau; có quyền, nghĩa vụ nuôi dưỡng nhau trong trường hợp người cần được nuôi dưỡng không còn cha, mẹ, con và những người được quy định tại Điều 104 và Điều 105 của Luật này hoặc còn nhưng những người này không có điều kiện để thực hiện nghĩa vụ nuôi dưỡng
Quan hệ huyết thống trong gia đình người Việt Nam ít khi được hiểu là quan hệ của những người có cùng dòng máu trực hệ trong phạm vi ba đời mà thường được hiểu theo nghĩa mở rộng phạm vi theo tên của dòng họ, với suy
nghĩ “một giọt máu đào hơn ao nước lã”, điều này xuất phát từ đặc điểm coi
trọng tình cảm, coi trọng họ hàng của người Việt, ở mối quan hệ này người viết không bàn tới quan hệ gần gũi giữa ông bà, cha mẹ và con cái mà sẽ xem xét về quan hệ huyết thống xa hơn, đó là quan hệ giữa các bên cô, dì, chú, bác
ruột và một bên là cháu Người Việt thường có câu “chú cũng như cha”, “mất
cha còn chú, mất mẹ bú dì” nhằm mục đích tăng sự gần gũi, sự gắn bó tình
cảm họ hàng, đồng thời cũng nhằm mục đích nói lên đạo lý làm người phải có
sự yêu thương, trách nhiệm nếu như con cháu hoặc cô, dì, chú, bác ruột gặp hoàn cảnh khó khăn, không có người chăm sóc
1.3 Nội dung của mối quan hệ giữa đạo đức và pháp luật trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình
Thực tế trong đời sống tự nhiên cũng như trong đời sống xã hội các sự vật hiện tượng có mối quan hệ qua lại với nhau, tác động lẫn nhau cùng tồn tại
và phát triển, với tư cách là các quy phạm dùng để điều chỉnh các quan hệ xã hội, nhằm mục đích đảm bảo trật tự, ổn định trong xã hội, pháp luật và đạo đức
có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, tác động qua lại với nhau Trong tiến trình phát triển của nhân loại, đạo đức là các giá trị hình thành trước pháp luật, dùng
Trang 27để điều chỉnh các quan hệ xã hội, được xã hội thừa nhận và trở thành quy tắc
xử sự chung, được các cá nhân trong xã hội tự giác nhận thức và chủ động tuân thủ như một nề nếp do những thói quen của cộng đồng tạo lên Pháp luật ra đời đáp ứng nhu cầu quản lý xã hội khi xã hội đã có sự phân định giai cấp, các mối quan hệ trở lên phức tạp hơn, cần một tổ chức với các chế tài mạnh mẽ để đảm bảo trấn áp kịp thời các hành vi vi phạm, vì lý do ra đời sau, pháp luật muốn đi vào cuộc sống và được xã hội chấp nhận sẽ phải có bước kế thừa những giá trị đạo đức tốt đẹp vốn đã được xã hội thừa nhận, mặt khác đạo đức vốn có tính độc lập tương đối nên pháp luật không thể phủ nhận sạch trơn các giá trị đạo
đức hoặc chỉ dùng pháp luật để điều chỉnh xã hội, “pháp luật không tồn tại biệt
lập mà luôn nằm trong mối quan hệ phụ thuộc, tác động biện chứng với các hiện tượng xã hội khác Pháp luật luôn vận động trong mối liên hệ phổ biến với kinh tế, chính trị, đạo đức” [26, tr.289] vì vậy phải có sự kết hợp hài hòa giữa
hai lĩnh vực này nhằm tạo ra phương án tối ưu nhất trong công tác quản lý xã
hội, “trong hệ thống các quy phạm điều chỉnh xã hội, pháp luật và đạo đức giữ
vị trí trung tâm, có vai trò quan trọng nhất” [26, tr.296]
Đạo đức có tác động mạnh đối với pháp luật, buộc pháp luật phải phù hợp với các chuẩn mực đạo đức vốn được thừa nhận rộng rãi nếu như pháp luật muốn được chấp nhận và thực sự có hiệu quả khi đi vào cuộc sống, trên
cơ sở đạo đức, pháp luật có những quy định phù hợp với thực tế
Pháp luật với đặc trưng cơ bản là tính bắt buộc chung, được thực hiện bởi quyền lực nhà nước sẽ có tác động trở lại với đạo đức, những tác động ấy góp phần không nhỏ trong việc bảo vệ và phát huy các giá trị đạo đức truyền thống tốt đẹp, đồng thời loại bỏ các giá trị đạo đức đã lỗi thời, lạc hậu
Sự tác động giữa đạo đức và pháp luật tạo ra mối quan hệ không thể tách rời giữa hai yếu tố này khi cùng tham gia điều chỉnh các quan hệ xã hội
Trang 281.4 Vai trò, sự cần thiết của mối quan hệ giữa đạo đức và pháp luật đối với lĩnh vực hôn nhân và gia đình
1.4.1 Vai trò của mối quan hệ giữa đạo đức và pháp luật đối với lĩnh vực hôn nhân và gia đình
Pháp luật có vai trò bảo vệ các giá trị đạo đức tốt đẹp, đặc biệt trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình là lĩnh vực mà các giá trị tình cảm và đạo đức được thể hiện rõ nét, pháp luật tạo hành lang pháp lý bảo đảm cho các giá trị chuẩn mực đạo đức được duy trì và phát triển, trên cơ sở phát huy truyền thống đạo đức tốt đẹp của dân tộc, pháp luật về hôn nhân và gia đình quy định
về quyền lợi, nghĩa vụ của các thành viên trong gia đình nhằm mục đích xây dựng gia đình ấm no, hạnh phúc
Trên tinh thần bảo vệ quyền con người, pháp luật Việt Nam nói chung
và luật hôn nhân gia đình nói riêng bảo vệ quyền của mỗi cá nhân, chống bạo hành, chống lạm dụng, khi nghiên cứu về lĩnh vực hôn nhân và gia đình, ngoài luật hôn nhân và gia đình cần phải xem xét các bộ luật như: Bộ luật dân
sự, Bộ luật hình sự, luật phòng chống bạo lực, luật bảo vệ trẻ em Hệ thống pháp luật Viện Nam hiện nay được xây dựng dựa trên cơ sở các giá trị đạo đức mới, tiến bộ, phù hợp với thực tế
Pháp luật có vai trò quan trọng trong việc loại trừ các quan niệm đạo đức lỗi thời, lạc hậu, đặc biệt trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình, đây là một lĩnh vực tồn tại nhiều quan niệm mang tính truyền thống của người Việt, trong đó có nhiều quan niệm đã lỗi thời, lạc hậu, trong thời đại hiện nay một
số quan niệm trái pháp luật, không phù hợp với các giá trị đạo đức tốt đẹp của dân tộc Ví dụ như: Quan niệm trọng nam khinh nữ, quan niệm cha mẹ đặt đâu con ngồi đấy, quan niệm phép vua thua lệ làng, quan niệm một trăm cái lý không bằng một tý cái tình
Pháp luật góp phần quan trọng trong việc xây dựng và phát triển những
Trang 29giá trị đạo đức mới, tiến bộ, phù hợp với chuẩn mực đạo đức tốt đẹp của dân tộc, phù hợp với xu thế của thế giới Những quy định của pháp luật về việc giảm hình phạt cho phụ nữ đang có thai hoặc nuôi con nhỏ dưới 36 tháng tuổi, quy định về tội giết con mới đẻ, quy định về chế độ trợ cấp cho người già từ
80 tuổi trở lên, quy định về việc chăm sóc và bảo trợ cho trẻ em
Pháp luật trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình góp phần bảo vệ quyền
và lợi ích của nhóm yếu thế trong xã hội
Đạo đức là nền tảng cơ sở để xây dựng hệ thống pháp luật, dựa trên các giá trị đạo đức được cộng đồng thừa nhận, pháp luật có những quy định phù hợp với các giá trị đạo đức, tôi cho rằng trong một xã hội hiện đại, pháp luật và đạo đức có xu thế xích lại gần nhau, pháp luật được xây dựng trên nền tảng những tư tưởng đạo đức tiến bộ, những giá trị đạo đức được coi là chuẩn mực sẽ là nội dung cốt lõi trong các quy định của pháp luật Những giá trị chuẩn mực đạo đức tốt đẹp của dân tộc là tinh thần then chốt của hệ thống pháp luật, trong đó tính nhân đạo, nhân văn là cốt lõi của đạo đức,
đồng thời cũng là mục tiêu mà pháp luật hướng tới bởi vì “có pháp luật
nhưng không có đạo đức, không có lương tâm thì sẽ bất chấp pháp luật, xuyên tạc luật, lợi dụng luật”, [15, tr.67]
Những giá trị đạo đức tiến bộ là định hướng trong xây dựng hệ thống pháp luật, việc tôn trọng lẫn nhau giữa các cá nhân trong cộng đồng, cùng với
tư tưởng bình đẳng, tự do, bác ái chính là nền tảng bảo vệ quyền con người Phạm trù quyền con người rất rộng, khó định lượng, khi xem xét về vấn đề quyền con người thì chúng ta sẽ nhận thấy ở khía cạnh này có những mặt mà
cả đạo đức và pháp luật chưa thể hiện đầy đủ quyền con người nếu xét riêng biệt từng lĩnh vực Ví dụ trong tư duy đạo đức của người Việt, đạo làm con phải hiếu thảo, vâng lời ông bà cha mẹ, nghe theo sự chỉ dạy của ông bà cha
mẹ, sự tác động của các bậc cha mẹ trong vấn đề hướng nghiệp, vấn đề hôn
Trang 30nhân ảnh hưởng rất lớn đến quyết định của con cái, nhưng nếu mọi lời nói của cha mẹ mà con cái phải nghe theo thì điều đó trở thành sự áp đặt, quyền con người cũng bị hạn chế Trong khi đó pháp luật quy định mỗi cá nhân có quyền
tự do lựa chọn nghề nghiệp của mình, tự do tìm hiểu và tiến tới quan hệ hôn nhân, không ai có quyền đe dọa, cưỡng ép người khác kết hôn Như vậy trong một quan hệ đã có sự mâu thuẫn giữa pháp luật và đạo đức khi cùng điều chỉnh một vấn đề, nhiệm vụ đặt ra là làm thế nào để giải quyết tốt mâu thuẫn giữa pháp luật và đạo đức khi điều chỉnh cùng một vấn đề thuộc lĩnh vực hôn nhân và gia đình, tạo ra sự mềm dẻo trong các quy định, loại bỏ các quan niệm đạo đức lỗi thời, lạc hậu
1.4.2 Sự cần thiết của mối quan hệ giữa đạo đức và pháp luật đối với lĩnh vực hôn nhân và gia đình
Lĩnh vực hôn nhân và gia đình là lĩnh vực đặc biệt trong đó quan hệ giữa đạo đức và pháp luật cần phải có sự hòa hợp, việc xác định thế nào là hòa hợp là một vấn đề không đơn giản, sự hòa hợp giữa đạo đức và pháp luật không phải là sự giống nhau về câu từ trong các quy định pháp luật và trong các quy phạm đạo đức, mà sự hòa hợp thể hiện ở sự thống nhất trong tinh thần của pháp luật và đạo đức Nội dung các quy định pháp luật có sự thống nhất, không mâu thuẫn với các giá trị đạo đức, hiện nay để quản lý xã hội theo trật tự nhất định bằng pháp luật, nhà nước luôn tìm cách dung hòa pháp luật với đạo đức để người dân dễ tiếp cận, dễ chấp nhận và Nhà nước cũng dễ dàng hơn trong công tác quản lý Ngoài ra việc kết hợp giữa đạo đức và pháp luật nhằm mục đích bổ xung cho nhau, tạo sự ổn định trật tự xã hội, mặt khác trong xã hội hiện đại, sự hòa hợp giữa pháp luật và đạo đức trong lĩnh vực
hôn nhân và gia đình là biểu hiện của một xã hội tiến bộ “pháp luật và đạo
đức phải được vận dụng kết hợp với nhau và với các quy phạm xã hội khác mới cho hiệu quả điều chỉnh cao nhất” [26, tr.296]
Trang 31Trong công tác nghiên cứu, sự phân định giữa đạo đức và pháp luật trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình là cần thiết, song không phải phân định để tách bạch riêng ra mà việc phân định để tìm đến điểm chung nhất, để thấy được đặc điểm riêng có của từng loại, so sánh để thấy ưu nhược điểm của mỗi lĩnh vực khi điều chỉnh một vấn đề để từ đó có những cân nhắc, lựa chọn hợp lý
trong công tác xây dựng pháp luật “giữa đạo đức và pháp luật có sự thống nhất
bao hàm sự khác biệt, không đồng nhất, không thay thế nhau” [23, tr.43], khi
nghiên cứu về lĩnh vực này chúng ta không thể đánh đồng đạo đức và pháp luật là một mặc dù hai lĩnh vực này cùng có nội dung giống nhau khi điều
chỉnh về một vấn đề cụ thể nào đó “cho dù xã hội phát triển đến đâu cũng
không thể đạt đến sự xóa nhòa đường biên, ranh giới giữa đạo đức và pháp luật” [25, tr.6] Khi nghiên cứu về đạo đức và pháp luật, chúng ta không nên đề
cao mặt này và xem nhẹ mặt kia, bởi lẽ mỗi phương diện đều có ưu, nhược
điểm nhất định khi điều chỉnh cùng một vấn đề “đạo đức là gốc pháp lý” nhưng pháp lý “là chuẩn của đạo đức”, [12, tr.25], với tinh thần đạo đức là nền
tảng của pháp luật, khi pháp luật và đạo đức có sự kết hợp hài hòa trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình sẽ mang lại hiệu quả quản lý trong lĩnh vực này
Sự thể hiện của các giá trị đạo đức trong hệ thống pháp luật là biểu hiện của sự hòa hợp, bởi lẽ khi các quy định của pháp luật có sự kế thừa hợp lý các giá trị đạo đức mới, phù hợp với xu hướng phát triển của lịch sử và nhân loại thì sẽ tạo điều kiện cho pháp luật dễ dàng đi vào cuộc sống, pháp luật và đạo đức cùng thống nhất về nội dung khi điều chỉnh một vấn đề thì mỗi khía cạnh
sẽ phát huy vai trò, ý nghĩa của mình, giúp cho việc thực hiện pháp luật có hiệu quả Các giá trị đạo đức mới, tiến bộ được xã hội thừa nhận, nhà nước ghi nhận các giá trị đạo đức ấy và thể hiện các giá trị ấy trong các quy định của pháp luật, điều đó thể hiện sự khéo léo trong quản lý xã hội, bởi lẽ các giá tri đạo đức vốn đã được cộng đồng thừa nhận sẽ tăng thêm giá trị bảo đảm khi
Trang 32được quy định rõ rang trong luật, đó chính là “giá trị pháp lý” Khi hai lĩnh
vực này kết hợp nhuần nhuyễn với nhau sẽ tạo ra sự bổ trợ những khiếm khuyết của mỗi lĩnh vực, cụ thể là pháp luật sẽ khắc phục được hạn chế là
“bắt buộc cá nhân phải phục tùng” còn đạo đức sẽ khắc phục được hạn chế
“không có chế tài để đảm bảo việc thực hiện” Trong thực tế, để pháp luật thực sự mang lại hiệu quả trong công tác quản lý và dễ dàng đi vào cuộc sống thì các nhà làm luật cần nghiên cứu chuyên sâu về đạo đức, lựa chọn các giá trị đạo đức tiến bộ lồng ghép vào các quy định của pháp luật, đặc biệt trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình, đạo đức là công cụ điều chỉnh vốn có và luôn được ưu tiên lựa chọn khi giải quyết các vấn đề liên quan đến hôn nhân và gia đình, nhưng chúng ta không nên hiểu việc bê nguyên những gì thuộc về đạo đức vào quy định của pháp luật thì sẽ thể hiện được mối quan hệ hòa hợp, bởi
lẽ có rất nhiều vấn đề về đạo đức mà pháp luật khó có thể điều chỉnh được, ví
dụ như vấn đề tình cảm vợ chồng, pháp luật không thể can thiệp được tình
cảm yêu thương giữa vợ và chồng, vì lý do này mà việc quy định “vợ chồng
phải có nghĩa vụ yêu thương nhau” là không cần thiết
Sự tồn tại của các giá trị đạo đức phù hợp với các quy định của pháp luật, được cộng đồng xã hội thừa nhận, được thể hiện ở ý nghĩa của các quy định pháp luật góp phần hoàn chỉnh và nâng giá trị của đạo đức trong đời sống xã hội, chính bản thân những giá trị đạo đức mới, tiến bộ góp phần làm
ổn định trật tự xã hội, góp phần đảm bảo hạnh phúc của mỗi gia đình, đẩy lùi các nguy cơ tiềm ẩn phá vỡ hạnh phúc gia đình Ví dụ như trong một gia đình, người vợ và người chồng đều là người có tư cách đạo đức tốt, yêu thương, chung thủy, cùng xây dựng kinh tế gia đình và chăm sóc con cái thì gia đình
đó sẽ hạnh phúc, ở đây người vợ và người chồng trước hết sẽ tuân theo các quy chuẩn về đạo đức, tự giác, chủ động trong xây dựng hạnh phúc gia đình,
ở khía cạnh này đạo đức phát huy ưu thế của mình, nhưng pháp luật thì không
Trang 33thể quy định được tình cảm của mỗi cặp vợ chồng Như vậy sự phù hợp của các giá trị đạo đức không chỉ thể hiện ở khía cạnh thống nhất với các quy định của pháp luật mà còn thể hiện ở khía cạnh không trái luật, bởi lẽ phạm vi của đạo đức luôn rộng hơn pháp luật, có những vụ việc khi cần điều chỉnh một vấn đề chưa có trong luật thì đạo đức sẽ được dùng để điều chỉnh
Mối quan hệ giữa pháp luật và đạo đức có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, đặc biệt trong lĩnh vực hôn nhân
và gia đình, một lĩnh vực đặc thù, chứa đựng rất nhiều các giá trị đạo đức và rất cần pháp luật tạo khung chuẩn mực để bảo vệ các giá trị đạo đức tốt đẹp Hiện nay trong nhiều gia đình người Việt khi tiếp cận với đời sống kinh tế mới và xu hướng xâm nhập của nhiều nền văn hóa trên thế giới qua các hoạt động như phim ảnh, mạng xã hội thì các gia đình truyền thống bị phá vỡ, các quan niệm về nề nếp gia phong của mỗi gia đình cũng ít được nhắc tới, thay vào đó là các gia đình một đến hai thế hệ, và sự gắn kết giữa các thành viên trong mỗi gia đình cũng rất lỏng lẻo, tâm sinh lý của các thành viên trong gia đình ít được chia sẻ và nắm bắt kịp thời, điều này dẫn tới tình trạng gia tăng tội phạm trẻ vị thành niên và tăng tình trạng ly hôn ở các cặp vợ chồng, vì vậy việc kết hợp giữa đạo đức và pháp luật trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình là hết sức cần thiết nhằm kịp thời xử lý những vi phạm xảy ra trong lĩnh vực này, trong đời sống xã hội hiện nay có rất nhiều hành động việc làm vi phạm đạo đức dẫn tới vi phạm pháp luật, ví dụ như việc ngoại tình của các cặp vợ chồng có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến vấn nạn này nhưng nguyên nhân lớn nhất vẫn được xem là yếu tố tác động đến hành động sai trái của con người chính là sự xa đọa về nhân cách, sự xuống cấp của đạo đức, dẫn đến vi phạm quy định pháp luật về chế độ hôn nhân một vợ một chồng chung thủy, ngày nay vấn đề ngoại tình được xem như một vấn nạn khó giải quyết, ngày càng trở lên phổ biến, đây là nguyên nhân quan trọng hàng đầu dẫn tới các vụ ly
Trang 34hôn hiện nay, vì tình trạng ngoại tình xuất hiện khá phổ biến trong xã hội, chúng ta thường xuyên được tiếp cận các thông tin liên quan đến ngoại tình qua các vụ đánh ghen, các vụ gây thương tích, các vụ giết người trên báo chí, trên các trang thông tin trên mạng trong đó nguyên nhân của các vụ việc kia chính là do vợ hoặc chồng có hành vi ngoại tình, điều này chứng tỏ sự xuống cấp của đạo đức, sự thiếu kiểm soát của pháp luật trong việc xử lý các hành vi
vi phạm trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình
Trong lĩnh vực này yếu tố đạo đức dường như thể hiện rõ nét hơn và ăn sâu vào tiềm thức của mỗi cá nhân trong gia đình, ít khi các thành viên trong một gia đình sử dụng pháp luật để quản lý nhau mà đa phần dùng các yếu tố liên quan đến đạo đức và dư luận xã hội, nhưng khi trong gia đình xảy ra các mâu thuẫn mà các thành viên trong gia đình không thể giải quyết được, cần sự vào cuộc của cơ quan chức năng, lúc này pháp luật sẽ thể hiện vai trò của mình, có thể nói để điều chỉnh các mối quan hệ trong gia đình không thể chỉ
sử dụng riêng rẽ pháp luật hoặc đạo đức, mà phải sử dụng nhuần nhuyễn hai lĩnh vực này Mỗi gia đình có một nét văn hóa riêng và có cách thức riêng để duy trì trật tự, sự ổn định trong gia đình, đa phần các mâu thuẫn, xích mích được giải quyết bằng con đường tình cảm, bằng việc giáo dục thông qua các
giá trị đạo đức, “Nếu thiếu luật nhưng con người có đạo đức thì họ sẽ không
vi phạm hoặc biết kiềm chế tối đa sự vi phạm” [21, tr.67], vì vậy có thể nhận
thấy ưu điểm của việc sử dụng các yếu tố liên quan đến đạo đức là ở chỗ các
cá nhân trong gia đình dễ nhận ra hành vi của mình có phù hợp với các quy chuẩn về đạo đức hay chưa để sửa đổi, khi dùng các giá trị đạo đức để giáo dục các thành viên trong gia đình có hành vi sai trái, nếu giáo dục tốt các chủ thể sẽ chủ động thay đổi, rạn nứt giữa các thành viên trong gia đình dễ được khôi phục và hàn gắn, đây được xem như một ưu điểm mang tính ưu việt của đạo đức khi điều chỉnh các vấn đề trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình, ưu
Trang 35điểm này là sự khác biệt về kết quả điều chỉnh của đạo đức so với pháp luật khi điều chỉnh các vấn đề liên quan tới tình cảm, các mối quan hệ trong gia đình
Trong khi đó, nếu nhắc tới pháp luật trong lĩnh vực này chúng ta nghĩ ngay tới các quy định về quyền và nghĩa vụ của các thành viên trong gia đình,
về các chế tài để giải quyết khi có vi phạm xảy ra, mặt khác khi cần dùng đến pháp luật người ta nghĩ ngay tới những mối quan hệ đã rạn nứt, đạo đức không điều chỉnh được nữa, cần tới pháp luật như một công cụ điều chỉnh mạnh mẽ hơn, mang tính phân chia rạch ròi hay xử phạt, trấn áp, chính trong những trường hợp này, pháp luật thể hiện rõ nét vai trò của mình, giải quyết các sự việc trong khuôn khổ các quy định của pháp luật, tránh đẩy những quan hệ đã rạn nứt trong lĩnh vực này đi xa hơn, việc can thiệp của pháp luật sao cho có tình có lý, phù hợp với thực tế chính là biểu hiện của sự kết hợp hài hòa giữa pháp luật và đạo đức trong các quy phạm pháp luật
Đạo đức hình thành trước pháp luật, dường như độc lập tương đối với pháp luật, nhưng không nằm ngoài pháp luật, trong tương lai những tư tưởng đạo đức tiến bộ có xu hướng gắn liền với pháp luật, giúp pháp luật đi vào cuộc sống một cách tự nhiên hơn, đồng thời chính bản thân pháp luật ở mỗi giai đoạn lịch sử sẽ có sự chủ động hòa hợp với các giá trị đạo đức nhằm tăng cường hiệu quả của pháp luật trong hoạt động quản lý nhà nước Pháp luật với
ưu thế được đảm bảo bởi sức mạnh cưỡng chế của nhà nước, mang tính bắt buộc đối với các chủ thể, với những chế tài rõ ràng nếu vi phạm góp phần bảo
vệ các giá trị đạo đức vốn được cộng đồng xây dựng và thừa nhận
Trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình mối quan hệ giữa pháp luật và đạo đức đặc biệt quan trọng, đạo đức sẽ là nền tảng giúp pháp luật trở lên mềm dẻo hơn, đạo đức là bệ đỡ tư tưởng giúp cho pháp luật đi vào đời sống hôn nhân gia đình một cách tự nhiên, nhằm bảo vệ đời sống gia đình trước khi xảy
ra những hậu quả đáng tiếc, ở lĩnh vực này đòi hỏi sự mềm dẻo trong việc sử
Trang 36dụng pháp luật hay đạo đức, đôi khi phải kết hợp cả pháp luật và đạo đức nhằm giải quyết tốt vấn đề, với những mâu thuẫn nhỏ, có thể dùng các yếu tố thuộc phạm trù đạo đức để khuyên giải, hàn gắn, giới hạn phạm vi lan tỏa của mâu thuẫn, đối với các mâu thuẫn lớn, có nguy cơ xảy ra các vi phạm nguy hiểm hoặc đã xảy ra các vi phạm nguy hiểm thì phải cần có sự can thiệp của pháp luật nhưng cũng không thể thiếu các yếu tố về đạo đức nhằm thức tỉnh lương tâm của người phạm tội, giúp người phạm tội có sự hối cải, cải tạo tốt nhanh chóng hòa nhập với cộng đồng Gia đình là nền tảng của xã hội, là nơi tập trung các cá nhân có quan hệ hôn nhân và quan hệ huyết thống, nơi các thành viên trong gia đình đều là công dân của một đất nước, hoặc sinh sống trên lãnh thổ Việt Nam, chịu sự điều chỉnh của pháp luật Việt Nam Đạo đức vốn được hình thành trong bản thân mỗi con người, theo quan điểm riêng, cá nhân người viết cho rằng hầu hết chúng ta thường nhìn nhận đạo đức ở phương diện hẹp, khi một người vi phạm một khía cạnh của đời sống mà cộng đồng cho rằng không thể chấp nhận được lập tức mọi người kết luận là người không có đạo đức, cách nhìn nhận này theo tôi cần xem xét lại, có chăng chúng ta nên kết luận là vi phạm đạo đức, bởi lẽ trong một con người tồn tại nhiều giá trị đạo đức khác nhau, hình thành lên nhân cách của mỗi người, sự
vi phạm một giá trị đạo đức không có nghĩa điều đó làm mất đi các giá trị đạo đức còn lại, sự phủ nhận sạch trơn và sự kỳ thị của cộng đồng khi một cá nhân có một hành động lệch chuẩn đạo đức là một sự hiểm họa lớn cho chính bản thân cá nhân đó và tạo lên trào lưu ăn theo của xã hội Ví dụ như trường hợp người mẹ giết con mới đẻ ra, đa phần xã hội cho rằng người mẹ này mất hết nhân tính, trong khi mọi nguyên nhân dẫn đến hành động giết con của người mẹ đều không được chấp nhận Trong trường hợp này pháp luật có quy
định riêng về tội danh “giết con mới đẻ” trong quy định tội danh này, chúng ta
Trang 37thấy rõ các nhà làm luật có cái nhìn và sự nghiên cứu khá thấu đáo, phù hợp với thực tế cuộc sống trong việc quy định tội danh với người mẹ, thể hiện sự nghiên cứu,đánh giá toàn diện về tâm sinh lý của người phụ nữ sau khi sinh cùng với những tác động về hoàn cảnh dẫn đến hành vi vi phạm đạo đức đồng thời vi phạm pháp luật của người mẹ để định khung hình phạt hợp lý
Gia đình là nơi chứa đựng các giá trị truyền thống đạo đức của dân tộc
và mỗi gia đình có một sắc thái biểu hiện giá trị đạo đức riêng, các giá trị đạo đức của các gia đình được duy trì và phát huy, phù hợp với quy định của pháp luật trong các lĩnh vực của đời sống xã hội, đặc biệt là những quy định
về lĩnh vực hôn nhân và gia đình, theo quan niệm của người Việt trong một gia đình các thành viên sống hòa thuận trên cơ sở yêu thương, chăm sóc lẫn nhau, bố mẹ yêu thương, dạy dỗ con cái, con cái có trách nhiệm chăm lo, phụng dưỡng bố mẹ khi bố mẹ già cả, ốm đau, ngoài việc tạo cuộc sống tình cảm trong gia đình, các thành viên còn đóng góp công sức của mình để cùng xây dựng gia đình ấm no, hạnh phúc, có rất nhiều gia đình ở Việt Nam xây dựng được truyền thống hiếu học, rất nhiều bậc cha mẹ có cuộc sống vất vả vẫn nuôi con cái thành tài, khi có nền móng là đạo đức thì những người con trong các gia đình có truyền thống và nề nếp dễ tiếp cận và cũng dễ nhận thức hơn các quy định của pháp luật, họ hành động chuẩn mực hơn và cũng
lĩnh vực này “ hiệu quả của mỗi loại hình giáo dục này chỉ có thể đạt được
nếu biết kết hợp, lồng ghép cả hai”, [16, tr.31], đạo đức sẽ phát huy vai trò
Trang 38giúp cho pháp luật trong lĩnh vực này được thực thi và mang lại kết quả Tính
tự giác trong nhân cách mỗi con người là vô cùng cần thiết, muốn có được sự
tự giác trong hành động, con người trước hết phải có nhận thức đúng đắn về bản thân và về xã hội, đồng thời có những hành động phù hợp với cộng đồng, ngoài ra để chính bản thân mỗi cá nhân tiến bộ cần phải học theo các thói quen của những người xung quanh để không bị tách biệt Ví dụ hành động chào hỏi của những đứa trẻ đối với mọi người được ông bà, bố mẹ rèn luyện
từ rất sớm, nhằm giáo dục về lễ nghi và dạy cách mở đầu cho việc giao tiếp
Gia đình là cái nôi hình thành nhân cách của mỗi con người, lĩnh vực hôn nhân và gia đình là lĩnh vực chi phối cảm xúc, hoạt động của con người, tạo ra cách nhận thức đối với các sự kiện của đời sống xã hội cũng như nhận thức về pháp luật để hành động, định hướng trong mỗi gia đình có vai trò vô cùng quan trọng, nếu một gia đình trong đó cha mẹ có nhận thức đúng đắn về các quy định của pháp luật, đồng thời có cách giáo dục con cái hợp lý thì những người con ít vi phạm pháp luật hơn, trái lại những đổ vỡ, ly tán trong gia đình thường tạo cho các thành viên những cảm xúc, tâm trạng rất nặng nề, chi phối những hành động của mỗi cá nhân và dẫn tới những quan điểm lệch lạc, những hành động ai trái Hiện nay vấn đề tội phạm phát sinh trong lĩnh vực gia đình ngày càng có xu hướng gia tăng, với những hậu quả nặng nề như: con giết mẹ vì không cho tiền chơi game, bố vợ chém chết con rể rồi chở xác đến cơ quan công an đầu thú, chồng giết vợ rồi phi tang xác, vợ cùng nhân tình sát hại chồng, đặc biệt đối tượng phạm tội là trẻ vị thành niên ngày càng nhiều, tình trạng trẻ em bị lạm dụng, bị tấn công tình dục ngày càng phổ biến, những vụ việc trên trong thời gian qua đã phá vỡ hạnh phúc của nhiều gia đình, đồng thời gây mất trật tự xã hội, tạo sự hoang mang trong dư luận xã hội, là hồi chuông cảnh báo sự xuống cấp về đạo đức, những lỗ hổng của pháp luật và sự yếu kém trong công tác quản lý của nhà nước
Trang 39Mỗi cá nhân trong xã hội có hành động phù hợp với các chuẩn mực đạo đức là góp phần chấp hành pháp luật, vì pháp luật được hình thành và xây dựng trên nền tảng các giá trị chuẩn mực đạo đức, mục tiêu của đạo đức là hướng tới các giá trị chân – thiện – mỹ, nhằm mang lại một cuộc sống tốt đẹp cho mỗi cá nhân và xây dựng một cộng đồng phát triển lành mạnh, công bằng
và bác ái Mỗi cá nhân nếu hành động phù hợp với các giá trị chuẩn mực đạo đức thì sẽ không vi phạm pháp luật, đồng thời góp phần tuân thủ pháp luật Đạo đức luôn hướng con người tới cái thiện, tránh xa cái ác, các yếu tố liên quan đến vấn đề đạo đức thường xuyên xuất hiện trong đời sống hàng ngày của mỗi gia đình, bao gồm sự yêu thương, chăm sóc, chia sẻ với nhau trong nội bộ một gia đình, cách giao tiếp, lễ nghi trong gia đình, họ tộc, vì vậy đạo đức rất dễ dàng đi vào cuộc sống, được con người tiếp nhận một cách tự nhiên, khi pháp luật được xây dựng trên nền tảng của đạo đức, nội dung các quy định phù hợp với các giá trị chuẩn mực đạo đức thì pháp luật sẽ được người dân đón nhận, dễ dàng đi vào cuộc sống
Việc các chủ thể chấp hành pháp luật góp phần bảo vệ các giá trị đạo đức tốt đẹp của gia đình và xã hội, bởi lẽ việc chấp hành pháp luật thể hiện đạo đức của chính chủ thể, đồng thời bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của chủ thể, không xâm phạm tới quyền và lợi ích của cá nhân khác, trong thực tế
có thể nhận định tính tự giác của các chủ thể trong việc tuân thủ các quy chuẩn đạo đức cũng như tuân thủ các quy định của pháp luật là hoạt động nhận thức có ý nghĩa quan trọng đối với việc đảm bảo cuộc sống ổn định, hạnh phúc trong mỗi gia đình Tính tự giác của chủ thể được hình thành, rèn luyện qua quá trình tương tác xã hội, chủ thể nhận thức được cái đúng, cái sai
để chủ động trong hành động cho phù hợp với cộng đồng “tính cách, lối sống
của cá nhân cộng với sự thiếu trách nhiệm đạo đức của họ dẫn đến ý thức, thái độ coi thường pháp luật”, [20, tr.14]
Trang 401.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến mối quan hệ giữa đạo đức và pháp luật trong lĩnh vực hôn nhân gia đình
Thứ nhất, yếu tố pháp luật trong đó các quy định của hệ thống pháp
luật nói chung và luật hôn nhân gia đình nói riêng có ảnh hưởng rất lớn đến mối quan hệ giữa đạo đức và pháp luật bởi lẽ pháp luật là công cụ chính thống, có giá trị cao nhất, được nhà nước thừa nhận và đảm bảo thực hiện, dùng để điều chỉnh và quản lý các quan hệ xã hội, nếu yếu tố pháp luật không mâu thuẫn với các quan niệm, các giá trị đạo đức thì pháp luật và đạo đức vẫn cùng tồn tại khi điều chỉnh các quan hệ xã hội, ngược lại nếu yếu tố pháp luật thể hiện sự xa rời thực tiễn, pháp luật phi đạo đức sẽ dẫn đến sự áp
đặt, sự triệt tiêu các giá trị đạo đức tốt đẹp Hiện nay trong thời kỳ hội nhập,
lĩnh vực hôn nhân gia đình ngày càng phát sinh nhiều vấn đề phức tạp, đòi hỏi pháp luật kịp thời đáp ứng đòi hỏi thực tế, song pháp luật đầy đủ không
có nghĩa là pháp luật quy định luôn tất cả các khía cạnh trong đời sống hôn nhân gia đình mà cần phải có giới hạn nhất định, tránh sự trùng lắp, thiếu tính khả thi khi đi vào thực tế
Thứ hai, yếu tố thiết chế đóng vai trò quan trọng trong mối quan hệ giữa đạo đức và pháp luật nói chung, đặc biệt trong lĩnh vực hôn nhân gia đình yếu tố thiết chế có ảnh hưởng lớn tới mối quan hệ giữa đạo đức và pháp luật Các thiết chế của Nhà nước có tác động không nhỏ đến việc thực thi pháp luật và tuân thủ các chuẩn mực đạo đức, thiết chế chặt chẽ, phù hợp với thực tế sẽ giúp cho việc thực hiện pháp luật và tuân thủ các giá trị đạo đức được thực hiện nghiêm chỉnh, yếu tố thiết chế góp phần làm cho pháp luật và đạo đức có quan hệ chặt chẽ với nhau, cùng hướng đến việc tìm ra những điểm tương đồng nhất khi điều chỉnh về cùng một vấn đề, làm giảm mâu thuẫn giữa pháp luật và đạo đức khi tham gia điều chỉnh các quan hệ xã hội
Thứ ba, yếu tố văn hóa ảnh hưởng rất lớn đến sự tiếp cận các giá trị đạo