ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI KHOA LUẬT NGUYỄN SAO MAI vÊn ®Ò ®×nh chØ, t¹m ®×nh chØ vô ¸n trong luËt tè tông h×nh sù viÖt nam LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC HÀ NỘI 2016 ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI KHOA LUẬT NGUYỄN SAO MAI vÊn ®Ò ®×nh chØ, t¹m ®×nh chØ vô ¸n trong luËt tè tông h×nh sù viÖt nam Chuyên ngành Luật Hình sự và tố tụng hình sự Mã số 60 38 01 04 LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC Người hướng dẫn khoa học GS TS ĐỖ NGỌC QUANG HÀ NỘI 2016 LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan Luận văn này là công[.]
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGUYỄN SAO MAI
vấn đề đình chỉ, tạm đình chỉ vụ án trong luật tố tụng hình sự việt nam
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGUYỄN SAO MAI
vấn đề đình chỉ, tạm đình chỉ vụ án trong luật tố tụng hình sự việt nam
Chuyờn ngành: Luật Hỡnh sự và tố tụng hỡnh sự
Mó số: 60 38 01 04
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học:
GS TS ĐỖ NGỌC QUANG
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn này là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố tại bất kỳ công trình khoa học nào khác Các trích dẫn và
ví dụ đưa ra đảm bảo chính xác, trung thực
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội xem xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Người cam đoan
Ngu ễn Sao Mai
Trang 4MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục các từ viết tắt
Danh mục các bảng
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ HIỆN HÀNH VỀ ĐÌNH CHỈ, TẠM ĐÌNH CHỈ VỤ ÁN 7
1.1 Khái niệm đình chỉ, tạm đình chỉ vụ án 7
1.1.1 Khái niệm đình chỉ vụ án 7
1.1.2 Khái niệm tạm đình chỉ vụ án 11
1.1.3 Ý nghĩa và hậu quả pháp lý của quy định đình chỉ, tạm đình chỉ vụ án 14
1.2 Lịch sử hình thành và phát triển của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam về đình chỉ, tạm đình chỉ vụ án từ năm 1945 đến trước ngà 01/7/2004 16
1.2.1 Đình chỉ, tạm đình chỉ vụ án trong pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam từ năm 1945 đến trước năm 1988 16
1.2.2 Đình chỉ, tạm đình chỉ vụ án trong pháp luật tố tụng hình sự từ năm 1988 đến trước ngày 01/7/2004 17
1.3 Qu định của Bộ luật tố tụng hình sự hiện hành về đình chỉ, tạm đình chỉ vụ án 20
1.3.1 Quy định của Bộ luật tố tụng hình sự hiện hành về đình chỉ, tạm đình chỉ vụ án trong giai đoạn điều tra 21
1.3.2 Quy định của Bộ luật tố tụng hình sự hiện hành về đình chỉ, tạm đình chỉ vụ án trong giai đoạn truy tố 25
Trang 51.3.3 Quy định của Bộ luật tố tụng hình sự hiện hành về đình chỉ, tạm
đình chỉ vụ án trong giai đoạn xét xử 51
Chương 2: THỰC TIỄN ÁP DỤNG VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ ÁP DỤNG QUY ĐỊNH VỀ ĐÌNH CHỈ, TẠM ĐÌNH CHỈ VỤ ÁN 55
2.1 Thực tiễn áp dụng các qu định của BLTTHS về đình chỉ, tạm đình chỉ vụ án 55
2.1.1 Thực tiễn áp dụng các quy định của BLTTHS về đình chỉ vụ án 55
2.1.2 Thực tiễn áp dụng các quy định của BLTTHS về tạm đình chỉ vụ án 66
2.2 Những ngu ên nhân làm phát sinh tồn tại trong việc đình chỉ, tạm đình chỉ vụ án trong tố tụng hình sự 70
2.2.1 Nguyên nhân lập pháp 70
2.2.2 Ý thức pháp luật của công dân chưa cao, dẫn đến CQTHTT gặp phải khó khăn trong quá trình tiến hành tố tụng 76
2.2.3 Năng lực chuyên môn, nghiệp vụ của người tiến hành tố tụng còn nhiều hạn chế, thiếu về số lượng 77
2.2.4 Sự giám sát, phối hợp giữa các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan trong quá trình tiến hành tố tụng chưa thật sự hiệu quả 78
2.3 Một số giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng qu định về đình chỉ, tạm đình chỉ vụ án 79
2.3.1 Hoàn thiện quy định của pháp luật 79
2.3.2 Đào tạo bồi dưỡng, nâng cao năng lực chuyên môn của những người tiến hành tố tụng 82
2.3.3 Một số giải pháp khác 82
KẾT LUẬN 84
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 85
Trang 6DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BLTTHS: Bộ luật tố tụng hình sự BLHS: Bộ luật hình sự
CQĐT: Cơ quan điều tra CQTHTT: Cơ quan tiến hành tố tụng
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1 Tổng số bị can, bị cáo đình chỉ trên phạm vi toàn quốc
Bảng 2.2 Số vụ án và số bị can CQĐT ra quyết định đình chỉ
trên phạm vi toàn quốc giai đoạn 2011 - 2015 57
Bảng 2.3 Số vụ án và số bị can Viện kiểm sát ra quyết định
đình chỉ trên phạm vi toàn quốc giai đoạn 2011- 2015 58
Bảng 2.4 Số vụ án và số bị can, bị cáo Tòa án ra quyết định
đình chỉ trên phạm vi toàn quốc giai đoạn 2011 - 2015 59
Bảng 2.5 Số bị can Viện kiểm sát đình chỉ do hành vi không
cấu thành tội phạm (giai đoạn 2011 - 2015) 64
Bảng 2.6 Tổng số vụ án, bị can, bị cáo CQTHTT tạm đình chỉ
Bảng 2.7 Số vụ án, bị can, bị cáo CQĐT, Viện kiểm sát, Tòa án
tạm đình chỉ (giai đoạn 2011 - 2015) 66
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 được Quốc hội thông qua ngày 26/11/2003 và bắt đầu có hiệu lực từ ngày 01/7/2004 thay thế Bộ luật tố tụng hình sự năm 1988 Trải qua hơn 10 năm thi hành, Bộ luật tố tụng hình sự năm
2003 đã phát huy tác dụng tích cực và có hiệu quả trong đấu tranh phòng và chống tội phạm, góp phần quan trọng vào sự nghiệp bảo vệ thành quả của cách mạng, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, giữ vững an ninh chính trị, trật tự,
an toàn xã hội, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân, phục vụ tích cực công cuộc đổi mới đất nước…
Tuy nhiên, trước yêu cầu đổi mới toàn diện đất nước, trong đó việc đổi mới tổ chức và hoạt động của các cơ quan Nhà nước, tiến hành cải cách hành chính, cải cách tư pháp theo đường lối đổi mới của Đảng, Bộ luật tố tụng hình
sự hiện hành đã bộc lộ một số hạn chế, bất cập chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu của cuộc đấu tranh phòng và chống tội phạm trong tình hình mới Trong đó, quy định về căn cứ, thẩm quyền và thủ tục đình chỉ, tạm đình chỉ vụ án chưa chặt chẽ dẫn đến hiệu quả áp dụng trong thực tiễn chưa cao
Trong bối cảnh Việt Nam đang thực hiện công cuộc cải cách tư pháp theo tinh thần Nghị quyết số 08 ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị về một số nhiệm vụ trong công tác tư pháp trong thời gian tới; Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 25/4/2005 của Bộ Chính trị về chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020;
và Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/06/2005 của Bộ Chính trị về chiến lược
cải cách tư pháp với nội dung “sớm hoàn thiện hệ thống pháp luật liên quan
đến lĩnh vực tư pháp phù hợp mục tiêu của chiến lược xây dựng và hoàn thiện
hệ thống pháp luật …”, việc nghiên cứu đề tài “Vấn đề đình chỉ, tạm đình chỉ
Trang 9vụ án trong Luật tố tụng hình sự Việt Nam” mang tính cấp thiết, không những
về lý luận, mà còn là đòi hỏi thực tiễn hiện nay
Từ những lý do trên, tôi đã chọn đề tài: “Vấn đề đình chỉ, tạm đình chỉ
vụ án trong Luật Tố tụng hình sự Việt Nam” để nghiên cứu trong luận văn
thạc sĩ luật học
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Trong thời gian qua, ở mức độ khác nhau đã có một số luận văn thạc sĩ
và một số bài viết trên tạp chí nghiên cứu về đình chỉ, tạm đình chỉ vụ án, như:
Ở mức độ luận văn thạc sĩ có “Chế định đình chỉ, tạm đình chỉ vụ án
trong Tố tụng hình sự Việt Nam” của tác giả Lê Đình Phong năm 2002;
“Quyết định đình chỉ vụ án trong giai đoạn truy tố” của tác giả Võ Thu Hằng
năm 2014
Dưới góc độ bài viết đăng trên các tạp chí khoa học pháp lý có những
công trình điển hình như: “Vấn đề đình chỉ điều tra và đình chỉ vụ án trong
Luật tố tụng hình sự” (Tạp chí Luật học số 3/1999) của tác giả Vũ Gia Lâm;
“Thẩm quyền và căn cứ đình chỉ vụ án hình sự theo Điều 88 Bộ luật tố tụng
hình sự” (Tạp chí Tòa án nhân dân số 5/2001) của tác giả Nguyễn Sơn; “Tòa
án tạm đình chỉ vụ án khi bị can, bị cáo trốn tránh” (Tạp chí Dân chủ và Pháp
luật số 3/2002) của tác giả Đặng Văn Dùng; “Vấn đề đình chỉ vụ án khi người
bị hại rút yêu cầu khởi tố” (Tạp chí Dân chủ và Pháp luật số 2/2003) của tác
giả Hồ Thị Hạnh; “Thẩm phán ra quyết định tạm đình chỉ và đình chỉ vụ án
trong giai đoạn xét xử sơ thẩm” (Tạp chí Tòa án nhân dân số 17/2006) của tác
giả Đinh Văn Quế; “Một số đề xuất sửa đổi, bổ sung các chế định đình chỉ,
tạm đình chỉ vụ án và phục hồi điều tra trong Bộ luật Tố tụng Hình sự” (Tạp
chí Kiểm sát số 5/2008) của tác giả Huỳnh Quốc Hùng; “Đình chỉ điều tra và
đình chỉ vụ án hình sự đối với trường hợp không có sự việc phạm tội và hành
vi không cấu thành tội phạm” (Tạp chí Kiểm sát số 5/2008) của tác giả Mai
Trang 10Văn Lư; “Thẩm quyền của Viện kiểm sát trong việc quyết định truy tố, đình
chỉ hoặc tạm đình chỉ vụ án theo yêu cầu cải cách tư pháp” (Tạp chí Kiểm sát
số 3/2009) của tác giả Nguyễn Ngọc Khánh; “Quyết định tạm đình chỉ hoặc
đình chỉ vụ án của Tòa án trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự” (Tạp
chí Luật học số 3/2013) của tác giả Vũ Gia Lâm…
Bên cạnh đó, vấn đề đình chỉ, tạm đình chỉ vụ án còn được đề cập trong
các cuốn giáo trình, bình luận như: Giáo trình Luật tố tụng hình sự Việt Nam của Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội; Giáo trình Luật tố tụng hình sự
Việt Nam của trường Đại học Luật Hà Nội; Bình luận khoa học Bộ luật tố tụng hình sự Việt Nam năm 2003 - Nhà xuất bản Chính trị Quốc Gia do
PGS.TS Nguyễn Ngọc Anh và đồng nghiệp chủ biên…
Trên cơ sở khảo sát nêu trên, có thể thấy, ở nước ta đã có một số công trình nghiên cứu về vấn đề đình chỉ, tạm đình chỉ vụ án Tuy nhiên, những nghiên cứu về đề tài này chủ yếu mới chỉ tập trung vào một căn cứ đình chỉ hoặc tạm đình chỉ nhất định Mặt khác, những công trình nêu trên mới chỉ đề cập một cách tổng thể, khái quát những vấn đề lý luận chứ chưa nghiên cứu một cách toàn diện, sâu sắc, riêng biệt về đình chỉ, tạm đình chỉ vụ án dưới cả hai góc độ lý luận và thực tiễn áp dụng
Do vậy, việc nghiên cứu đề tài “Vấn đề đình chỉ, tạm đình chỉ vụ án
trong Luật Tố tụng hình sự Việt Nam” vừa là đòi hỏi khách quan, cấp thiết,
vừa có tính lý luận, vừa có tính thực tiễn
3 Đối tượng, mục đích, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự Việt Nam về đình chỉ, tạm đình chỉ vụ án
3.2 Mục đích nghiên cứu
Mục đích của luận văn là nghiên cứu các quy định của pháp luật về vấn đề đình chỉ, tạm đình chỉ vụ án dưới khía cạnh lập pháp và việc áp
Trang 11dụng các quy định đó trong thực tiễn Từ đó, chỉ ra các nguyên nhân làm phát sinh những tồn tại trong việc đình chỉ, tạm đình chỉ vụ án và những kiến nghị, đề xuất nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật đình chỉ, tạm đình chỉ vụ án trên thực tế
3.3 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích trên, luận văn có nhiệm vụ chủ yếu sau đây:
- Giải quyết một số vấn đề lý luận về đình chỉ, tạm đình chỉ vụ án như: khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa;
- Khái quát sự phát triển của các quy định về đình chỉ, tạm đình chỉ vụ
án trong lịch sử pháp luật tố tụng hình sự của nước ta để rút ra những nhận xét, đánh giá;
- Phân tích những quy định của Bộ luật tố tụng hình sự Việt Nam hiện hành về đình chỉ, tạm đình chỉ vụ án, bao gồm: căn cứ, thẩm quyền, trình tự, thủ tục…;
- Đánh giá thực tiễn áp dụng các quy định về đình chỉ, tạm đình chỉ vụ
án, đồng thời phân tích, làm rõ những nguyên nhân làm phát sinh những tồn tại trong việc đình chỉ, tạm đình chỉ vụ án;
- Đưa ra những kiến nghị, đề xuất nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật đình chỉ, tạm đình chỉ vụ án
3.4 Phạm vi nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu và giải quyết những vấn đề xung quanh quy định về đình chỉ, tạm đình chỉ vụ án trong luật tố tụng hình sự Việt Nam, kết hợp với việc nghiên cứu đánh giá việc áp dụng các quy định của pháp luật về vấn đề đình chỉ, tạm đình chỉ vụ án của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án nhân dân các cấp Những tồn tại, vướng mắc của quy định pháp luật cũng như thực tiễn áp dụng các quy định này, kiến nghị những giải pháp nhằm hoàn thiện luật thực định và nâng cao hiệu quả áp dụng các quy định này trong thực tiễn
Trang 124 Phương pháp luận và các phương pháp nghiên cứu
4.1 Phương pháp luận
Phương pháp luận của luận văn là quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về đấu tranh phòng, chống tội phạm, cũng như thành tựu của các ngành khoa học như triết học, xã hội học, lịch sử, lý luận về nhà nước và pháp luật, luật hình
sự, luật tố tụng hình sự, tội phạm học, những luận điểm khoa học trong các công trình nghiên cứu, sách chuyên khảo và các bài viết đăng trên tạp chí của
một số nhà khoa học Việt Nam và nước ngoài
4.2 Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu luận văn, tác giả luận văn đã sử dụng một
số phương pháp nghiên cứu của khoa học luật tố tụng hình sự, như: lịch sử, so sánh, phân tích, tổng hợp, thống kê Đồng thời, việc nghiên cứu đề tài còn dựa vào các văn bản pháp luật của Nhà nước và những giải thích, hướng dẫn thống nhất có tính chất chỉ đạo nghiệp vụ trong thực tiễn điều tra, truy tố, xét
xử thuộc lĩnh vực pháp luật tố tụng hình sự do các cơ quan có thẩm quyền ban hành có liên quan đến vấn đề đình chỉ, tạm đình chỉ vụ án; những số liệu thống kê, tổng kết hàng năm trong các báo cáo của ngành Viện kiểm sát nhân dân và Tòa án nhân dân, cũng như những thông tin trên mạng internet để phân tích, tổng hợp các tri thức khoa học luật tố tụng hình sự và luận chứng các vấn
đề tương ứng được nghiên cứu trong luận văn
5 Những điểm mới và đóng góp của luận văn
Kết quả nghiên cứu luận văn có ý nghĩa quan trọng về phương diện lý luận và thực tiễn, vì đây là công trình nghiên cứu đầu tiên ở cấp độ một luận văn thạc sĩ luật học về vấn đề đình chỉ, tạm đình chỉ vụ án, mà trong đó giải quyết nhiều vấn đề quan trọng về lý luận và thực tiễn liên quan tới vấn đề đình chỉ, tạm đình chỉ vụ án trong luật tố tụng hình sự Việt Nam Những điểm mới của luận văn là:
Trang 13- Tổng hợp các quan điểm khoa học về vấn đề đình chỉ, tạm đình chỉ vụ
án để xây dựng khái niệm khoa học về vấn đề đình chỉ, tạm đình chỉ vụ án; đồng thời chỉ ra đặc điểm, ý nghĩa của quy định đình chỉ, tạm đình chỉ vụ án;
- Phân tích sự hình thành và phát triển các quy định về đình chỉ, tạm đình chỉ vụ án trong luật tố tụng hình sự Việt Nam;
- Phân tích, đánh giá những quy định của Bộ luật tố tụng hình sự Việt Nam hiện hành về vấn đề đình chỉ, tạm đình chỉ vụ án;
- Chỉ rõ những ưu điểm, hạn chế trong việc áp dụng những quy định của
Bộ luật tố tụng hình sự Việt Nam hiện hành về đình chỉ, tạm đình chỉ vụ án, qua
đó chỉ ra được các nguyên nhân cơ bản của những vướng mắc, hạn chế đó;
- Đề xuất giải pháp hoàn thiện các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự Việt Nam hiện hành về vấn đề đình chỉ, tạm đình chỉ vụ án và những giải pháp nâng cao hiệu quả việc áp dụng các quy định của pháp luật về đình chỉ, tạm đình chỉ vụ án trong giai đoạn cải cách tư pháp hiện nay
Bên cạnh đó, luận văn sẽ là một tài liệu nghiên cứu tham khảo cần thiết
và bổ ích dành cho các nhà nghiên cứu lập pháp cũng như cho các nhà nghiên cứu, cán bộ giảng dạy pháp luật, nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên thuộc chuyên ngành tư pháp hình sự tại các cơ sở đào tạo luật Kết quả nghiên cứu của luận văn còn phục vụ cho việc trang bị những kiến thức chuyên sâu cho các cán bộ thực tiễn đang công tác tại Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án trong quá trình đình chỉ, tạm đình chỉ vụ án
6 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 2 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận và quy định của Bộ luật tố tụng hình
sự hiện hành về đình chỉ, tạm đình chỉ vụ án
Chương 2: Thực tiễn áp dụng và một số giải pháp nâng cao hiệu quả áp
dụng quy định về đình chỉ, tạm đình chỉ vụ án
Trang 14Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ HIỆN HÀNH
vụ án Trong thời hạn điều tra mà có căn cứ do pháp luật quy định thì CQĐT
ra quyết định đình chỉ điều tra hoặc trong trường hợp đã hết thời hạn điều tra theo luật định (kể cả thời hạn gia hạn điều tra) mà không chứng minh được bị can phạm tội thì CQĐT phải ra quyết định đình chỉ điều tra Nếu có đủ cơ sở kết luận bị can là người thực hiện hành vi phạm tội thì CQĐT chuyển toàn bộ
hồ sơ vụ án cùng bản kết luận điều tra sang Viện kiểm sát Sau khi tiếp nhận
hồ sơ vụ án cùng bản kết luận điều tra, Viện kiểm sát xem xét, nghiên cứu thấy đủ cơ sở truy cứu trách nhiệm hình sự đối với bị can thì Viện kiểm sát ra quyết định truy tố và chuyển hồ sơ sang Tòa án Nếu trong thời hạn nghiên cứu để quyết định việc truy tố mà Viện kiểm sát phát hiện các căn cứ để đình chỉ thì Viện kiểm sát ra quyết định đình chỉ vụ án Sau khi tiếp nhận hồ sơ vụ
án từ Viện kiểm sát, trong thời hạn chuẩn bị xét xử nếu phát hiện các căn cứ
để đình chỉ vụ án thì phẩm phán được phân công chủ tọa phiên tòa ra quyết định đình chỉ vụ án
Trang 15Đình chỉ vụ án là một trong các quyết định mà các cơ quan tiến hành tố tụng (CQTHTT) có thể ban hành trong quá trình tố tụng Theo quy định của BLTTHS hiện hành thì đình chỉ vụ án (hoặc đình chỉ điều tra) có cả ở ba giai đoạn (điều tra, truy tố, xét xử) Về mặt pháp lý đình chỉ điều tra hay đình chỉ
vụ án đều là việc quyết định chấm dứt hoạt động tố tụng đối với vụ án hoặc từng bị can, bị cáo trong vụ án Tùy theo từng giai đoạn tố tụng mà BLTTHS quy định “đình chỉ điều tra” hay “đình chỉ vụ án” Nếu vụ án đang ở giai đoạn điều tra mà bị đình chỉ thì gọi là “đình chỉ điều tra vụ án”, nếu đã kết thúc giai đoạn điều tra và đã chuyển sang giai đoạn truy tố hoặc xét xử mà vụ án bị đình chỉ thì gọi là “đình chỉ vụ án”
Như vậy, nếu trong giai đoạn điều tra đã khởi tố vụ án, khởi tố bị can, sau đó có căn cứ đình chỉ điều tra đối với vụ án hoặc với từng bị can trong vụ
án đó (đối với vụ án đồng phạm) thì ra quyết định “đình chỉ điều tra vụ án hoặc đình chỉ điều tra đối với bị can”, nếu vụ án đã chuyển sang giai đoạn truy tố hoặc xét xử mà phát hiện có căn cứ đình chỉ hoạt động tố tụng hình sự đối với vụ án hoặc với từng bị can trong vụ án đó (đối với vụ án đồng phạm) thì phải ra quyết định “đình chỉ vụ án hoặc đình chỉ vụ án đối với bị can, bị cáo” Việc quy định như vậy nhằm làm rõ thẩm quyền của cơ quan ra quyết định cũng như hình thức văn bản tố tụng sử dụng để ra quyết định [28, tr 7]
Trong BLTTHS hiện hành mới chỉ quy định căn cứ, thẩm quyền ra quyết định đình chỉ vụ án trong từng giai đoạn tố tụng chứ chưa đưa ra khái niệm thế nào là đình chỉ vụ án Vì vậy, trên cả hai phương diện lý luận và thực tiễn thi hành còn có nhiều cách hiểu khác nhau
Theo Từ điển Tiếng Việt thì đình chỉ có nghĩa là “ngừng lại hoặc làm
cho phải ngừng lại trong một thời gian vĩnh viễn” [55, tr 236]
Theo Từ điển Bách khoa “Đình chỉ vụ án là việc CQTHTT quyết định
kết thúc vụ án khi có những căn cứ luật định” [47, tr 281]
Trang 16Theo tác giả Đinh Văn Quế “Đình chỉ điều tra là quyết định của CQĐT
chấm dứt một giai đoạn tố tụng hình sự (giai đoạn điều tra) đối với vụ án hoặc đối với một hoặc một số bị can trong vụ án” [30, tr 28]
Theo tác giả Mai Bộ “Đình chỉ vụ án là chấm dứt hoạt động tố tụng
hình sự đối với vụ án hoặc đối với một hoặc một số bị can, bị cáo trong vụ án” [8, tr 25]
Tác giả Ngô Quang Chính cho rằng “Đình chỉ điều tra và đình chỉ vụ
án đều là một trong những biện pháp của tố tụng hình sự do CQTHTT áp dụng khi có đủ căn cứ theo luật định” [10, tr 13]
Theo Bình luận khoa học Bộ luật tố tụng hình sự Việt Nam năm 2003
thì “Quyết định đình chỉ vụ án là việc cơ quan tiến hành tố tụng hình sự quyết
định chấm dứt việc giải quyết theo trình tự tố tụng hình sự đối với vụ án hoặc đối với bị can, bị cáo khi có căn cứ theo quy định của pháp luật” [1, tr 404]
Theo Giáo trình Luật Tố tụng hình sự Việt Nam của trường Đại học
Luật Hà Nội thì “Đình chỉ điều tra là chấm dứt việc điều tra vụ án hoặc với
từng bị can” [46, tr 318] và “Đình chỉ vụ án là quyết định chấm dứt việc tiến hành tố tụng đối với vụ án hoặc với từng bị can” [46, tr 338]
Qua nghiên cứu các quan điểm trên, chúng tôi thấy rằng tuy khái niệm đình chỉ vụ án được diễn đạt bằng nhiều cách khác nhau nhưng các quan điểm trên đều đưa ra được những đặc điểm chung của đình chỉ vụ án đó là một hình thức thể hiện kết quả của hoạt động điều tra, truy tố, xét xử dựa trên những căn cứ luật định Để có một khái niệm chính xác, toàn diện, phản ánh đúng bản chất của việc đình chỉ vụ án nói chung, chúng tôi cho rằng phải làm rõ đặc điểm và bản chất pháp lý của đình chỉ vụ án
Theo ý kiến của chúng tôi, đình chỉ vụ án có những đặc điểm sau đây:
Thứ nhất: Việc đình chỉ vụ án hình sự phải dựa vào những căn cứ,
thẩm quyền, trình tự, thủ tục được quy định tại BLTTHS Trong quá trình giải
Trang 17quyết vụ án hình sự, CQTHTT phải dựa vào những căn cứ đã được quy định trong BLTTHS, chứ không thể tùy nghi áp dụng các căn cứ để ra quyết định đình chỉ vụ án Đồng thời, việc đình chỉ vụ án phải do người có thẩm quyền ra quyết định theo trình tự, thủ tục được quy định trong BLTTHS
Thứ hai: Đình chỉ vụ án là một hình thức kết thúc hoạt động tố tụng
trong một giai đoạn tố tụng cụ thể Hậu quả của việc đình chỉ là mọi hoạt động tố tụng đều phải chấm dứt
Thứ ba: Đình chỉ vụ án là một quyết định tố tụng được áp dụng trong
các giai đoạn khác nhau của quá trình giải quyết vụ án hình sự Nếu vụ án bị đình chỉ ở giai đoạn điều tra thì sẽ kết thúc bằng quyết định đình chỉ điều tra của CQĐT; nếu vụ án bị đình chỉ ở giai đoạn truy tố, xét xử thì sẽ kết thúc bằng quyết định đình chỉ vụ án của Viện kiểm sát hoặc Tòa án
Thứ tư: Về phạm vi hiệu lực của việc đình chỉ vụ án, khi các CQTHTT
ra quyết định đình chỉ vụ án, quyết định này có hiệu lực đối với từng bị can,
bị cáo hoặc với tất cả các bị can, bị cáo trong vụ án (nếu vụ án có đồng phạm
và căn cứ đình chỉ vụ án liên quan đến tất cả các bị can, bị cáo) Nếu trong vụ
án có đồng phạm và có căn cứ để đình chỉ vụ án nhưng căn cứ đó không liên quan đến tất cả các bị can, bị cáo thì chỉ được chấm dứt tiến hành tố tụng đối với từng bị can, bị cáo, còn với các bị can, bị cáo khác thì vẫn tiến hành các hoạt động tố tụng bình thường Trong trường hợp này, việc đình chỉ vụ án chỉ thực hiện đối với từng bị can, bị cáo
Như vậy, bản chất pháp lý của việc đình chỉ vụ án là chấm dứt việc tiến hành tố tụng trong một giai đoạn tố tụng nhất định Trong giai đoạn điều tra là chấm dứt các hoạt động điều tra, trong giai đoạn truy tố là chấm dứt các hoạt động thực hành quyền công tố, trong giai đoạn xét xử là chấm dứt các hoạt động xét xử [12, tr 9]
Từ những phân tích ở trên, chúng tôi đưa ra khái niệm về đình chỉ vụ
Trang 18án như sau “Đình chỉ vụ án trong tố tụng hình sự là việc cơ quan tiến hành tố
tụng ra quyết định chấm dứt hoạt động tiến hành tố tụng đối với vụ án hoặc đối với bị can, bị cáo khi có những căn cứ theo luật định”
1.1.2 Khái niệm tạm đình chỉ vụ án
Sau khi có quyết định khởi tố thì các hoạt động điều tra được tiến hành
Để đảm bảo cho hoạt động điều tra được nhanh chóng, kịp thời, CQĐT tiến hành các biện pháp điều tra theo quy định của BLTTHS và các biện pháp nghiệp vụ trong phạm vi pháp luật cho phép nhằm xác định sự thật khách quan của vụ án
Trong quá trình điều tra, có thể xảy ra hai trường hợp: thứ nhất, bị can
bị bệnh tâm thần hoặc bệnh hiểm nghèo; thứ hai, chưa xác định được bị can hoặc không biết rõ bị can đang ở đâu và CQĐT đã ra quyết định truy nã bị can nhưng hết thời hạn điều tra mà vẫn chưa bắt lại được Trong những trường hợp như vậy không thể tiếp tục tiến hành tố tụng mà CQĐT phải ra quyết định tạm đình chỉ điều tra để chờ cho bị can khỏi bệnh, xác định được người thực hiện hành vi phạm tội trong trường hợp chưa xác định được bị can, hoặc bắt được bị can trong trường hợp không biết rõ bị can ở đâu
Trong trường hợp xác định được người thực hiện hành vi phạm tội thì CQĐT kết thúc điều tra bằng bản kết luận điều tra và chuyển hồ sơ cho Viện kiểm sát Trong thời hạn truy tố, nếu bị can bỏ trốn mà không biết rõ bị can ở đâu thì Viện kiểm sát yêu cầu CQĐT truy nã bị can, khi hết thời hạn truy tố
mà chưa bắt được bị can thì Viện kiểm sát ra quyết định tạm đình chỉ vụ án đối với bị can Trường hợp bị can bị bệnh tâm thần hoặc bị bệnh hiểm nghèo khác có chứng nhận của Hội đồng giám định pháp y thì Viện kiểm sát ra quyết định tạm đình chỉ vụ án đối với bị can trước khi hết thời hạn truy tố
Đối với trường hợp hồ sơ vụ án đã chuyển cho Tòa án mà bị can, bị cáo
bỏ trốn mà không biết rõ bị can, bị cáo ở đâu thì Tòa án yêu cầu CQĐT truy nã
Trang 19bị can, bị cáo Nếu hết thời hạn chuẩn bị xét xử mà vẫn chưa bắt được bị can, bị cáo thì Tòa án ra quyết định tạm đình chỉ vụ án Trường hợp bị can, bị cáo bị bệnh tâm thần hoặc bệnh hiểm nghèo khác mà cho chứng nhận của Hội đồng giám định pháp y thì Tòa án cũng ra quyết định tạm đình chỉ vụ án [28, tr 10]
Tương tự như đình chỉ vụ án, tạm đình chỉ vụ án là một trong các quyết định mà các CQTHTT có thể ban hành trong quá trình tố tụng Theo quy định của BLTTHS hiện hành thì tạm đình chỉ vụ án (hoặc tạm đình chỉ điều tra) có
cả ở ba giai đoạn (điều tra, truy tố, xét xử) Về mặt pháp lý tạm đình chỉ điều tra hay tạm đình chỉ vụ án đều là việc tạm dừng hoạt động tố tụng đối với vụ
án hoặc từng bị can, bị cáo trong vụ án Tùy theo từng giai đoạn tố tụng mà BLTTHS quy định “tạm đình chỉ điều tra” hay “tạm đình chỉ vụ án” Nếu vụ
án đang ở giai đoạn điều tra mà bị tạm đình chỉ thì gọi là “tạm đình chỉ điều tra vụ án”, nếu đã kết thúc giai đoạn điều tra và đã chuyển sang giai đoạn truy
tố hoặc xét xử mà vụ án bị tạm đình chỉ thì gọi là “tạm đình chỉ vụ án” Việc quy định như vậy nhằm làm rõ thẩm quyền của cơ quan ra quyết định cũng như hình thức văn bản tố tụng sử dụng để ra quyết định
Hiện nay trong BLTTHS chỉ quy định căn cứ, thẩm quyền, trình tự, thủ tục tạm đình chỉ vụ án chứ chưa đưa ra khái niệm thế nào là tạm đình chỉ
Trong Đại từ điển Tiếng Việt thì từ “tạm” có nghĩa là “chỉ trong một thời hạn ngắn và sẽ còn thay đổi” [55, tr 456] Theo Từ điển Bách khoa “Tạm đình chỉ điều tra là việc CQĐT ra quyết định ngừng việc điều tra đối với một hoặc một số bị can” [47, tr 526]
Theo Bình luận khoa học Bộ luật tố tụng hình sự Việt Nam năm 2003
thì “Quyết định tạm đình chỉ vụ án là việc cơ quan tiến hành tố tụng hình sự
quyết định tạm dùng tiến trình tố tụng hình sự đối với vụ án hoặc đối với bị can, bị cáo khi có căn cứ theo quy định của pháp luật” [1, tr 404]
Theo Giáo trình Luật tố tụng hình sự Việt Nam của Học viện An ninh
Trang 20nhân dân “Tạm đình chỉ điều tra là việc CQĐT tạm ngừng các hoạt động điều
tra đối với toàn bộ hoặc một phần vụ án khi có những căn cứ do BLTTHS quy định” [30, tr 265]
Theo Giáo trình Luật Tố tụng hình sự Việt Nam của trường Đại học Luật
Hà Nội thì “Tạm đình chỉ điều tra là tạm ngừng việc tiến hành điều tra đối với
vụ án hoặc đối với từng bị can trong một thời gian nhất định” [46, tr 316] và
“Tạm đình chỉ vụ án là quyết định tạm ngừng việc tiến hành tố tụng đối với vụ
án hoặc với từng bị can” [46, tr 340]
Theo ý kiến của chúng tôi, tạm đình chỉ vụ án có những đặc điểm sau:
Thứ nhất: Việc tạm đình chỉ vụ án hình sự phải dựa vào những căn cứ,
thẩm quyền, trình tự, thủ tục được quy định tại BLTTHS Trong quá trình giải quyết vụ án hình sự, CQTHTT phải dựa vào những căn cứ đã được quy định trong BLTTHS, chứ không thể tùy nghi áp dụng các căn cứ để ra quyết định tạm đình chỉ vụ án Đồng thời, việc tạm đình chỉ vụ án phải do người có thẩm quyền ra quyết định theo trình tự, thủ tục được quy định trong BLTTHS
Thứ hai: Việc tạm đình chỉ trong tố tụng hình sự chỉ là tạm thời, nó
không hạn chế về mặt thời gian, khi lý do tạm đình chỉ không còn nữa thì vụ
án phải được phục hồi (trừ trường hợp bị can bị bệnh tâm thần hoặc bệnh hiểm nghèo khác)
Thứ ba: Sau khi vụ án được khởi tố, điều tra mà bị tạm dừng hoạt động
tố tụng vì những lý do luật định thì ở mỗi giai đoạn cũng được kết thúc bằng văn bản tố tụng tương ứng Ví dụ, giai đoạn điều tra kết thúc bằng quyết định tạm đình chỉ điều tra của CQĐT, giai đoạn truy tố và xét xử thì sẽ kết thúc bằng quyết định tạm đình chỉ vụ án của Viện kiểm sát hoặc Tòa án
Thứ tư: Về phạm vi hiệu lực của việc tạm đình chỉ vụ án, khi các CQTHTT
ra quyết định tạm đình chỉ vụ án mà lý do tạm đình chỉ không liên quan đến tất cả bị can, bị cáo thì quyết định này có hiệu lực đối với từng bị can, bị cáo
Trang 21Từ những đặc điểm nêu trên, chúng tôi đưa ra khái niệm về tạm đình
chỉ vụ án như sau: “Tạm đình chỉ vụ án là việc CQTHTT có thẩm quyền tạm
ngừng hoạt động tố tụng hình sự đối với vụ án hoặc đối với bị can, bị cáo khi
có những căn cứ theo luật định”
1.1.3 Ý nghĩa và hậu quả pháp lý của quy định đình chỉ, tạm đình chỉ vụ án
Vấn đề đình chỉ, tạm đình chỉ vụ án mặc dù là một nội dung nhỏ được
quy định trong BLTTHS, tuy nhiên nó có ý nghĩa quan trọng về mặt chính trị,
xã hội và thực tiễn, góp phần quan trọng vào quá trình giải quyết vụ án đảm bảo khách quan, chính xác, thể hiện tinh thần nhân văn, nhân đạo của Đảng, Nhà nước ta, cụ thể như sau:
Ý nghĩa chính trị, xã hội: Việc quy định quyền đình chỉ, tạm đình chỉ
vụ án trong các giai đoạn tiến hành tố tụng góp phần đáp ứng các yêu cầu của Nhà nước pháp quyền Việt Nam, trước tiên và quan trọng nhất chính là bảo đảm tính thượng tôn pháp luật trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, trong
đó có lĩnh vực tư pháp hình sự Thượng tôn pháp luật được coi là nguyên tắc cao nhất, có tính ràng buộc đối với mọi hoạt động của cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội và công dân Nguyên tắc này được thể hiện thông qua yêu cầu bảo đảm pháp chế trong hoạt động tố tụng hình sự và trở thành nguyên tắc cơ bản của tố tụng hình sự Trong đó, đặt ra yêu cầu khách quan đối với CQTHTT, trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình phải chủ động, tích cực và thận trọng nhằm rà soát lại các hoạt động tố tụng đã diễn ra, qua đó khắc phục những sai lầm có thể xảy ra trong quá trình nhận thức của CQTHTT, người tiến hành tố tụng, để đảm bảo vụ án được xử lý khách quan, chính xác, không bỏ lọt tội phạm, không làm oan người vô tội Việc quy định đình chỉ, tạm đình chỉ vụ án trong BLTTHS đảm bảo công bằng, bình đẳng trong xã hội, bảo đảm không ai bị xử lý hình sự khi không có căn cứ, đồng
Trang 22thời còn thể hiện truyền thống nhân văn, nhân đạo của Đảng, Nhà nước ta tạm thời không xử lý hình sự đối với trường hợp bị can, bị cáo đang bị bệnh hiểm nghèo hoặc đang bị mất năng lực trách nhiệm hình sự, không còn khả năng thực hiện các hành vi tố tụng để thực hiện quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình, không có khả năng nhận thức được ý nghĩa của việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với hành vi phạm tội của họ
Ý nghĩa thực tiễn: Trong quá trình giải quyết vụ án, bên cạnh những
nguyên nhân khách quan do tính chất phức tạp của vụ án thì các CQTHTT có thể xử lý thông tin, phân tích các chứng cứ thu thập được trong quá trình tố tụng chưa khoa học, đầy đủ và thận trọng, tâm lý nóng vội, chạy theo thành tích… nên dẫn đến việc vi phạm pháp luật, điều tra, truy tố, xét xử không đúng Việc quy định căn cứ đình chỉ vụ án có ý nghĩa nhằm sửa chữa, khắc phục những sai lầm, vi phạm pháp luật của CQTHTT và đảm bảo quyền lợi hợp pháp của bị can, bị cáo Đối với quy định tạm đình chỉ vụ án, không chỉ
có ý nghĩa nhằm hạn chế tối đa khả năng kéo dài thời hạn tố tụng khi không cần thiết mà còn khắc phục hiện tượng tồn đọng án, giảm bớt nhu cầu sử dụng lực lượng và những chi phí vật chất không cần thiết cho hoạt động tố tụng này Mặt khác tạm đình chỉ vụ án còn là một giải pháp chủ động trong việc đề phòng những oan sai có thể xảy ra trong hoạt động tố tụng
Bên cạnh đó, chế định đình chỉ, tạm đình chỉ vụ án còn có ý nghĩa dưới góc độ bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của con người, bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa và đấu tranh phòng chống tội phạm
Việc đình chỉ, tạm đình chỉ vụ án đúng sẽ mang lại ý nghĩa như trên Tuy nhiên, nếu việc đình chỉ, tạm đình chỉ vụ án không đúng theo quy định của pháp luật sẽ để lại hậu quả pháp lý là xử oan người vô tội hoặc bỏ lọt tội phạm, việc đình chỉ, tạm đình chỉ vụ án không có ý nghĩa trong việc đấu tranh phòng chống tội phạm và để lại dư luận xấu cho xã hội
Trang 231.2 Lịch sử hình thành và phát triển của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam về đình chỉ, tạm đình chỉ vụ án từ năm 1945 đến trước ngà 01/7/2004
1.2.1 Đình chỉ, tạm đình chỉ vụ án trong pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam từ năm 1945 đến trước năm 1988
Năm 1945, Cách mạng tháng Tám thành công, Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa được thành lập Trong thời gian này, việc tiến hành các hoạt động tố tụng hình sự được thực hiện trên cơ sở những quy định của các văn bản pháp luật đơn hành Các văn bản này chủ yếu chỉ hướng tới việc xây dựng một hệ thống Tòa án độc lập như Sắc lệnh số 33/C về thiết lập các Tòa
án quân sự ngày 13/09/1945; Sắc lệnh 40 đặt một Tòa án Quân sự ở Nha Trang ngày 29/9/1945; Sắc lệnh 77 về đặt một Tòa án Quân sự ở Phan Thiết, Sắc lệnh số 13 ngày 24/01/1946 quy định việc thành lập Tòa án thường với sự tham gia của phụ thẩm nhân dân; Sắc lệnh số 85 ngày 22/5/1950 đổi tên Tòa
án thường thành Tòa án nhân dân
Bên cạnh đó, trong thời kỳ này đất nước ta vẫn còn chiến tranh, đời sống của nhân dân còn gặp nhiều khó khăn, vì vậy Hiến pháp và các văn bản ban hành nhằm xây dựng và củng cố chính quyền nhân dân, duy trì trật tự xã hội, chăm lo đời sống nhân dân Mọi hoạt động xây dựng pháp luật của Nhà nước ta quan tâm đặc biệt đến việc tạo cơ sở pháp lý cho tổ chức và hoạt động của bộ máy Nhà nước, xây dựng và củng cố quốc phòng, bảo vệ chế độ Do
đó, trong khoảng thời gian trước năm 1988, các quy định về đình chỉ, tạm đình chỉ vụ án chưa được chú trọng điều chỉnh
Một trong những văn bản có nhắc đến vấn đề đình chỉ vụ án là Luật tổ
chức Viện kiểm sát nhân dân năm 1960 với cụm từ “đình cứu” Tại Điều 15
Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 1960 có quy định khi kiểm sát việc
điều tra, Viện kiểm sát nhân dân có quyền “Truy tố hoặc miễn tố can phạm;
đình cứu các vụ án hình sự theo quy định của pháp luật”
Trang 24Tiếp đến, tại Thông tư liên bộ số 01/TT-LB ngày 23/01/1984 giữa Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Bộ Nội vụ về quan hệ giữa hai ngành kiểm sát và công an trong công tác điều tra và kiểm sát điều tra có quy định:
Đối với các trường hợp cần tạm đình chỉ điều tra hoặc dy lý, CQĐT làm văn bản nêu rõ lý do gửi sang Viện kiểm sát để xem xét
và quyết định; Việc truy tố và làm cáo trạng miễn tố, đình chỉ điều tra hoặc tạm đình chỉ điều tra, dy lý vụ án (nói chung đối với các loại án) đều do Viện kiểm sát quyết định và chịu trách nhiệm, Viện kiểm sát cần nghiên cứu kỹ hồ sơ và các ý kiến đề xuất của cơ quan Công an trước khi quyết định Sau khi quyết định truy tố thì Viện kiểm sát gửi sang cơ quan Công an một bản cáo trạng [7]
Như vậy, trong giai đoạn này, các văn bản quy phạm pháp luật mới dừng lại ở chỗ đưa ra quy định về thẩm quyền đình chỉ, tạm đình chỉ vụ án thuộc về Viện kiểm sát mà chưa đưa ra được khái niệm, căn cứ, trình tự, thủ tục ra quyết định đình chỉ, tạm đình chỉ vụ án
1.2.2 Đình chỉ, tạm đình chỉ vụ án trong pháp luật tố tụng hình sự từ năm 1988 đến trước ngày 01/7/2004
BLTTHS năm 1988 - BLTTHS đầu tiên của nước ta ra đời đã có những quy định rõ ràng, đầy đủ về đình chỉ, tạm đình chỉ vụ án, cụ thể như sau:
Vấn đề đình chỉ vụ án hình sự
Căn cứ đình chỉ vụ án: Phụ thuộc vào từng giai đoạn tố tụng khác nhau
mà BLTTHS năm 1988 quy định căn cứ đình chỉ vụ án Cụ thể: Ở giai đoạn điều tra: có chín căn cứ để ra quyết định đình chỉ điều tra, gồm:
(1) Không có sự việc phạm tội; (2) Hành vi không cấu thành tội phạm; (3) Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội chưa đến tuổi chịu trách nhiệm hình sự; (4) Người mà hành vi phạm tội của họ
Trang 25đã có bản án hoặc quyết đình đình chỉ vụ án có hiệu lực pháp luật; (5)
Đã hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự; (6) Tội phạm đã được đại xá; (7) Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội đã chết, trừ trường hợp cần tái thẩm đối với người khác; (8) Đã hết thời hạn điều tra mà không chứng minh được bị can đã thực hiện tội phạm; (9) Do
sự chuyển biến của tình hình mà hành vi phạm tội hoặc người phạm tội không còn nguy hiểm cho xã hội nữa [35, Điều 139]
Ở giai đoạn truy tố: BLTTHS năm 1988 không quy định hoặc dẫn chiếu căn cứ đình chỉ vụ án trong giai đoạn này
Ở giai đoạn xét xử sơ thẩm, thẩm phán ra quyết định đình chỉ vụ án khi
có căn cứ:
(1) Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội chưa đến tuổi chịu trách nhiệm hình sự; (2) Người mà hành vi phạm tội của họ đã có bản án hoặc quyết đình đình chỉ vụ án có hiệu lực pháp luật; (3) Đã hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự; (4) Tội phạm đã được đại xá; (5) Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội đã chết, trừ trường hợp cần tái thẩm đối với người khác; (6) Khi Viện kiểm sát rút quyết định truy tố trước khi mở phiên tòa [35, Điều 155]
Ở giai đoạn xét xử phúc thẩm, Tòa án cấp phúc thẩm ra quyết định đình chỉ vụ án khi có một trong các căn cứ sau:
(1) Không có sự việc phạm tội; (2) Hành vi không cấu thành tội phạm; (3) Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội chưa đến tuổi chịu trách nhiệm hình sự; (4) Người mà hành vi phạm tội của họ đã có bản án hoặc quyết đình đình chỉ vụ án có hiệu lực pháp luật; (5) Đã hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự; (6) Tội phạm
Trang 26đã được đại xá; (7) Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội đã chết, trừ trường hợp cần tái thẩm đối với người khác [35, Điều 223]
Thẩm quyền ra quyết định đình chỉ vụ án: Trong giai đoạn điều tra, Thủ
trưởng CQĐT có thẩm quyền ra quyết định đình chỉ điều tra vụ án Bên cạnh
đó, khi thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát đối với hoạt động điều tra Viện kiểm sát có thẩm quyền ra quyết định đình chỉ điều tra Trong giai đoạn truy tố Viện kiểm sát có thẩm quyền ra quyết định đình chỉ vụ án Trong giai đoạn xét xử, Thẩm phán được phân công chủ tọa phiên tòa có thẩm quyền ra quyết định đình chỉ vụ án
Nội dung, trình tự, thủ tục ra quyết định đình chỉ vụ án: Trong giai
đoạn điều tra, CQĐT phải gửi quyết định đình chỉ điều tra cho Viện kiểm sát cùng cấp và báo ngay bị can, người bị hại biết Trong giai đoạn truy tố, khi ra quyết định đình chỉ vụ án, Viện kiểm sát phải thông báo cho bị can và người bào chữa Quyết định của Toà án về đình chỉ vụ án phải được giao cho bị cáo, người bào chữa, người bị hại, người đại diện hợp pháp của bị cáo; những người khác tham gia tố tụng thì được gửi giấy báo
Quyết định đình chỉ vụ án phải ghi rõ thời gian, địa điểm ra quyết định,
lý do đình chỉ, việc huỷ bỏ biện pháp ngăn chặn, trả lại đồ vật đã tạm giữ nếu
có và những vấn đề khác có liên quan
Vấn đề tạm đình chỉ vụ án hình sự
Căn cứ tạm đình chỉ vụ án hình sự: (1) Khi bị can bị bệnh tâm thần
hoặc bệnh hiểm nghèo khác có chứng nhận của Hội đồng giám định pháp y (2) Chưa xác định được bị can hoặc không biết rõ bị can đang ở đâu khi đã hết thời hạn điều tra
Thẩm quyền ra quyết định tạm đình chỉ vụ án: Trong giai đoạn điều tra,
Thủ trưởng CQĐT có thẩm quyền ra quyết định tạm đình chỉ điều tra Bên cạnh đó, khi thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát đối với hoạt
Trang 27động điều tra Viện kiểm sát có thẩm quyền ra quyết định tạm đình chỉ điều tra Trong giai đoạn truy tố Viện kiểm sát có thẩm quyền ra quyết định tạm đình chỉ vụ án Trong giai đoạn xét xử, Thẩm phán được phân công chủ tọa phiên tòa có thẩm quyền ra quyết định tạm đình chỉ vụ án
Trình tự, thủ tục ra quyết định tạm đình chỉ vụ án: Trong giai đoạn điều
tra, khi bị can bị bệnh tâm thần hoặc bệnh hiểm nghèo khác có chứng nhận của Hội đồng giám định pháp y thì có thể tạm đình chỉ điều tra trước khi hết hạn điều tra Trong trường hợp chưa xác định được bị can hoặc không biết rõ
bị can đang ở đâu thì tạm đình chỉ điều tra khi đã hết thời hạn điều tra Nếu không biết bị can đang ở đâu thì CQĐT phải ra quyết định truy nã trước khi tạm đình chỉ điều tra CQĐT ra quyết định tạm đình chỉ điều tra phải gửi quyết định này cho Viện kiểm sát cùng cấp và thông báo cho bị can, người bị hại biết Trong giai đoạn truy tố, khi ra quyết định tạm đình chỉ vụ án, Viện kiểm sát phải thông báo cho bị can và người bào chữa Quyết định của Toà án
về tạm đình chỉ vụ án phải được giao cho bị cáo, người bào chữa, người bị hại, người đại diện hợp pháp của bị cáo; những người khác tham gia tố tụng thì được gửi giấy báo
Như vậy, khi BLTTHS năm 1988 ra đời, các quy định về đình chỉ, tạm đình chỉ vụ án lần đầu tiên được điều chỉnh trong một BLTTHS, với các các quy định về căn cứ, thẩm quyền, nội dung, trình tự, thủ tục khá rõ ràng, chi tiết Những quy định này tạo cơ sở pháp lý để cơ quan có thẩm quyền ra quyết định đình chỉ, tạm đình chỉ vụ án trong giai đoạn điều tra, truy tố, xét xử
1.3 Qu định của Bộ luật tố tụng hình sự hiện hành về đình chỉ, tạm đình chỉ vụ án
Đình chỉ, tạm đình chỉ vụ án có ý nghĩa quan trọng trong việc đảm bảo pháp chế, bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, thể hiện tinh thần nhân văn, nhân đạo của Đảng và Nhà nước ta tạm thời dừng việc xử lý hình sự
Trang 28đối với người đang bị mất năng lực trách nhiệm hình sự và người bị bệnh hiểm nghèo Quyết định đình chỉ, tạm đình chỉ vụ án được thực hiện ở cả ba giai đoạn điều tra, truy tố, xét xử BLTTHS 2003 dành 05 điều: Điều 160, 164, 169, 180
và 251 để quy định về vấn đề đình chỉ, tạm đình chỉ vụ án tương ứng với các giai đoạn điều tra, truy tố, xét xử sơ thẩm và xét xử phúc thẩm
1.3.1 Quy định của Bộ luật tố tụng hình sự hiện hành về đình chỉ, tạm đình chỉ vụ án trong giai đoạn điều tra
1.3.1.1 Quy định về đình chỉ vụ án trong giai đoạn điều tra
Đình chỉ vụ án là một hình thức kết thúc hoạt động tố tụng trong một giai đoạn tố tụng cụ thể Ở giai đoạn điều tra gọi là đình chỉ điều tra, ở giai đoạn truy tố và xét xử gọi là đình chỉ vụ án Mặc dù cách gọi đình chỉ ở giai đoạn điều tra (đình chỉ điều tra) khác với đình chỉ ở giai đoạn truy tố và xét xử (đình chỉ vụ án), tuy nhiên, về bản chất đình chỉ điều tra cũng như đình chỉ vụ
án đều là việc CQTHTT ra quyết định chấm dứt hoạt động tiến hành tố tụng đối với vụ án hoặc đối với bị can, bị cáo khi có những căn cứ theo luật định
Vấn đề đình chỉ điều tra được quy định tại Điều 164 BLTTHS
Căn cứ ra quyết định đình chỉ điều tra: Có một trong những căn cứ quy
định tại khoản 2 Điều 105 và Điều 107 của BLTTHS hoặc tại Điều 19, Điều
25 và khoản 2 Điều 69 Bộ luật hình sự (BLHS) năm 1999 được sửa đổi bổ sung năm 2009; và đã hết thời hạn điều tra mà không chứng minh được bị can
đã thực hiện tội phạm
Một trong những nguyên tắc cơ bản của tố tụng hình sự là nguyên tắc xác định sự thật vụ án, cụ thể là trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc về các CQTHTT, bị can, bị cáo có quyền nhưng không buộc phải chứng minh là mình
vô tội Trong thực tế có những người thực sự đã thực hiện hành vi phạm tội, thế nhưng CQĐT không thu thập được tài liệu để chứng minh tội trạng của họ, thì mặc nhiên theo pháp luật họ là người vô tội Ngoài ra, hoạt động điều tra có
Trang 29thời hạn theo luật định, do đó, khi đã hết thời hạn điều tra, kể cả khi đã gia hạn điều tra mà không chứng minh được bị can thực hiện tội phạm, thì Thủ trưởng hoặc Phó Thủ trưởng CQĐT phải ra quyết định đình chỉ điều tra [1, tr 360]
Thẩm quyền ra quyết định đình chỉ điều tra: Tại Điều 164 BLTTHS
quy định CQĐT ra quyết định đình chỉ điều tra trong những trường hợp
theo luật định
Tại khoản 2 và khoản 3 Điều 34 BLTTHS quy định:
2 Khi thực hiện việc điều tra vụ án hình sự, Thủ trưởng Cơ quan điều tra có những nhiệm vụ và quyền hạn sau đây:
Như vậy, người có thẩm quyền ra quyết định đình chỉ điều tra là Thủ trưởng CQĐT hoặc Phó Thủ trưởng CQĐT được phân công điều tra vụ án hình sự
Trình tự, thủ tục ra quyết định đình chỉ điều tra: Quyết định đình chỉ
điều tra là văn bản pháp lý chấm dứt toàn bộ hoạt động điều tra đang áp dụng Cụ thể:
Phải hủy bỏ ngay các biện pháp ngăn chặn nếu đang thực hiện như tạm giữ; tạm giam; cấm đi khỏi nơi cư trú; bảo lãnh, đặt tiền hoặc tài sản khác để bảo đảm;
Kiến nghị với cơ quan đã ra quyết định tạm đình chỉ chức vụ của bị can phải hủy ngay quyết định này;
Trả lại thư tín, điện tín, bưu phẩm, bưu kiện đã bị thu giữ; trả lại đồ vật, tài liệu đã tạm giữ khi khám xét;
Trang 30Hủy bỏ lệnh kê biên tài sản;
Ngoài ra, giải quyết hoặc chấm dứt những vấn đề khác có liên quan Quyết định đình chỉ điều tra phải ghi rõ thời gian, địa điểm ra quyết định, lý do và căn cứ đình chỉ điều tra
Trong vụ án đồng phạm hoặc phạm nhiều tội có nhiều bị can, nếu có căn cứ để đình chỉ điều tra một bị can nhưng không liên quan đến tất cả các bị can, thì có thể đình chỉ điều tra đối với từng bị can Căn cứ để đình chỉ điều tra bị can trong vụ án nhưng lại có ảnh hưởng đến việc điều tra đối với các bị can khác thì không được đình chỉ điều tra
CQĐT phải gửi quyết định đình chỉ điều tra cho Viện kiểm sát cùng cấp và báo cho bị can, người bị hại biết Nếu quyết định này là có căn cứ thì trong thời hạn mười lăm ngày, kể từ ngày nhận được quyết định đình chỉ điều tra, Viện kiểm sát phải trả hồ sơ vụ án cho CQĐT để giải quyết theo thẩm quyền Nếu thấy quyết định đình chỉ điều tra của CQĐT là không có căn cứ thì Viện kiểm sát hủy bỏ quyết định đình chỉ điều tra và yêu cầu CQĐT phục hồi điều tra Nếu thấy bị can đủ căn cứ để truy tố thì hủy bỏ quyết định đình chỉ điều tra và tra quyết định truy tố theo quy định của pháp luật [1, tr 360]
1.3.1.2 Quy định về tạm đình chỉ vụ án trong giai đoạn điều tra
Cũng giống như quy định về đình chỉ vụ án, vấn đề tạm đình chỉ vụ án
ở giai đoạn điều tra người ta gọi là tạm đình chỉ điều tra còn ở giai đoạn truy
tố, xét xử người ta gọi là tạm đình chỉ vụ án nhưng về bản chất tạm đình chỉ điều tra giống tạm đình chỉ vụ án đều là việc CQTHTT có thẩm quyền tạm ngừng hoạt động tố tụng hình sự đối với vụ án khi có căn cứ luật định
Điều 160 BLTTHS quy định về vấn đề tạm đình chỉ điều tra, cụ thể:
Căn cứ ra quyết định tạm đình chỉ điều tra: Khi bị can bị bệnh tâm
thần hoặc bệnh hiểm nghèo khác có chứng nhận của Hội đồng giám định pháp y; Chưa xác định được bị can hoặc không biết rõ bị can đang ở đâu khi thời hạn điều tra đã hết
Trang 31Thẩm quyền ra quyết định tạm đình chỉ điều tra: Thủ trưởng CQĐT
hoặc Phó Thủ trưởng CQĐT được phân công điều tra vụ án hình sự
Trình tự, thủ tục ra quyết định tạm đình chỉ điều tra: Mục đích của hoạt
động điều tra là thu thập tài liệu chứng cứ để xác định, chứng minh người phạm tội và làm rõ toàn bộ vụ án để xử lý đúng người, đúng tội, đúng pháp luật Bản chất của chế độ ta là ưu việt, những người ốm đau, bệnh tật thì dù
họ có tội cũng phải được chăm sóc, chữa bệnh Khi bị can bị bệnh tâm thần hoặc bệnh hiểm nghèo khác có chứng nhận của Hội đồng giám định pháp y thì có thể tạm đình chỉ điều tra trước khi hết thời hạn điều tra Chỉ có Hội đồng giám định pháp y mới có đủ chuyên môn và chức năng pháp lý để xác nhận bị can bị bệnh tâm thần hoặc bệnh hiểm nghèo khác, trên cơ sở quyết định trưng cầu giám định của CQĐT hoặc Viện kiểm sát Quá trình giám định phụ thuộc vào trình độ chuyên môn của người giám định, phương tiện kỹ thuật, nội dung, yêu cầu giám định… Ngoài ra, CQĐT còn yêu cầu giám định
bổ sung, giám định lại Do đó, nhiều trường hợp giám định cần khoảng thời gian dài mới có kết quả Trong trường hợp đã trưng cầu giám định nhưng chưa có kết quả giám định mà đã hết thời hạn điều tra, thì tạm đình chỉ điều tra nhưng việc giám định vẫn tiếp tục được tiến hành cho đến khi có kết quả
Sau khi vụ việc xảy ra, xác định có dấu hiệu tội phạm thì cơ quan chức năng tiến hành khởi tố vụ án để điều tra Trong giai đoạn điều tra ban đầu, yêu cầu cao nhất là nhanh chóng xác định người phạm tội để tiến hành khởi tố bị can Trong trường hợp chưa xác định được bị can thì chỉ tạm đình chỉ điều tra khi đã hết thời hạn điều tra Trường hợp đã xác định được bị can nhưng không tiến hành kịp thời các biện pháp ngăn chặn nên bị can đã bỏ trốn, không biết
rõ bị can đang ở đâu thì chỉ tạm đình chỉ điều tra khi đã hết thời hạn điều tra CQĐT phải ra quyết định truy nã trước khi tạm đình chỉ điều tra và phải ghi
rõ đã ra lệnh truy nã trong quyết định tạm đình chỉ điều tra
Trang 32Trong trường hợp vụ án có nhiều bị can mà lý do tạm đình chỉ điều tra không liên quan đến tất cả các bị can, thì có thể tạm đình chỉ điều tra đối với từng bị can Đó là trường hợp hành vi phạm tội của từng bị can đã được xác định cụ thể, rõ ràng, đủ cơ sở để truy tố, xét xử nhưng có bị can bị bệnh hoặc không biết rõ bị can đang ở đâu thì ra quyết định tạm đình chỉ điều tra
Để giám sát việc tạm đình chỉ điều tra được đúng luật, CQĐT ra quyết định tạm đình chỉ điều tra phải gửi quyết định này cho Viện kiểm sát cùng cấp, bị can, người bị hại [1, tr 350]
1.3.2 Quy định của Bộ luật tố tụng hình sự hiện hành về đình chỉ, tạm đình chỉ vụ án trong giai đoạn truy tố
1.3.2.1 Quy định về đình chỉ vụ án trong giai đoạn truy tố
Quy định về đình chỉ vụ án trong giai đoạn truy tố được quy định tại Điều 169 BLTTHS
Căn cứ đình chỉ vụ án: Viện kiểm sát ra quyết định đình chỉ vụ án khi
có một trong những căn cứ quy định tại khoản 2 Điều 105 và Điều 107 của
BLTTHS hoặc tại Điều 19, Điều 25 và khoản 2 Điều 69 của BLHS
Thứ nhất: Khi có căn cứ tại khoản 2 Điều 105 BLTTHS
Khoản 2 Điều 105 quy định:
2 Trong trường hợp người đã yêu cầu khởi tố rút yêu cầu trước ngày mở phiên tòa sơ thẩm thì vụ án phải được đình chỉ
Trong trường hợp có căn cứ để xác định người đã yêu cầu khởi tố rút yêu cầu khởi tố trái với ý muốn của họ do bị ép buộc, cưỡng bức thì tuy người đã yêu cầu khởi tố rút yêu cầu, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án vẫn có thể tiếp tục tiến hành tố tụng đối với vụ án
Người bị hại đã rút yêu cầu khởi tố thì không có quyền yêu cầu lại, trừ trường hợp rút yêu cầu do bị ép buộc, cưỡng bức
Trang 33Về mặt nguyên tắc, khi đủ căn cứ xác định có dấu hiệu của tội phạm thì các cơ quan có thẩm quyền phải ra quyết định khởi tố vụ án hình sự để tiến hành các hoạt động điều tra Tuy nhiên, do có yêu cầu về sự hài hòa giữa mục tiêu của cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm và lợi ích, nguyện vọng của người bị hại, cho nên BLTTHS năm 2003 quy định một số tội phạm cụ thể chỉ được khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của người bị hại
Việc khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của người bị hại chỉ áp dụng đối với một số tội phạm thuộc nhóm xâm phạm sức khỏe, nhân phẩm, danh
dự của con người hoặc lợi ích kinh tế Cụ thể hành vi phạm tội được quy định tại khoản 1 các Điều 104 (Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác), 105 (Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe của người khác trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh), 106 (Tội
cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe của người khác do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng), 108 (Tội vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác), 109 (Tội vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe của người khác do vi phạm quy tắc nghề nghiệp hoặc quy tắc hành chính), 111 (Tội hiếp dâm), 113 (Tội cưỡng dâm), 121 (Tội làm nhục người khác), 122 (Tội vu khống), 131 (Tội xâm phạm quyền tác giả - tội này
đã bị hủy bỏ theo luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2009) và
171 (Tội xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp) của BLHS năm 1999 chỉ được khởi tố khi có yêu cầu của người bị hại hoặc của người đại diện hợp pháp của người bị hại là người chưa thành niên, người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất (Người có nhược điểm về tâm thần biểu hiện như không có khả năng nhận thức, bị các bệnh về tâm thần… Nhược điểm về thể chất như tật nguyền, câm, ngọng, điếc… Người đại diện hợp pháp của họ như bố, mẹ, ông, bà …) [1, tr 234]
Theo Nghị quyết số 33/2009/NQ-QH12 ngày 19/6/2009 của Quốc hội
Trang 34về việc thi hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS, thì tội xâm phạm quyền tác giả quy định tại Điều 131 BLHS đã bị loại bỏ và không xử lý hình sự các hành vi xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp quy định tại Điều
171 BLHS, trừ hành vi xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu và chỉ dẫn địa lý
Việc quy định khởi tố vụ án theo yêu cầu của người bị hại là một quy định cần thiết trước hết nhằm bảo vệ quyền lợi của người bị hại và cũng thông qua đó hạn chế bớt một số trường hợp phạm tội gây nguy hại không lớn cho
xã hội không nhất thiết phải giải quyết bằng việc truy cứu trách nhiệm hình sự nhưng vẫn bảo đảm tuân thủ pháp chế BLTTHS không chỉ quy định quyền yêu cầu khởi tố của người bị hại, người đại diện hợp pháp của họ mà còn quy định quyền rút yêu cầu khởi tố vụ án của họ cũng xuất phát từ chính việc bảo
vệ quyền lợi của người bị hại Khi người đã yêu cầu khởi tố tự nguyện rút yêu cầu khởi tố của mình cũng chính là lúc họ nhân thức việc tiếp tục tiến hành tố tụng đối với vụ án sẽ ảnh hưởng xấu tới quyền lợi của người bị hại Do đó, căn cứ vào thời điểm họ thực hiện quyền này, để bảo vệ quyền lợi của người
bị hại, các CQTHTT ở thời điểm đó phải chấm dứt việc tiến hành tố tụng đối với vụ án Đây chính là căn cứ để ra quyết định đình chỉ điều tra trong giai đoạn điều tra, quyết định đình chỉ vụ án trong giai đoạn truy tố và xét xử
Về hậu quả của việc rút yêu cầu khởi tố vụ án hình sự và tính khả thi của quy định này trong thực tiễn tố tụng nếu so với quy định tại Điều 88 BLTTHS năm 1988 thì quy định của Điều 105 BLTTHS năm 2003 cụ thể, chính xác và đầy đủ, dễ hiểu và dễ áp dụng thống nhất hơn Theo BLTTHS năm 2003, chủ thể rút yêu cầu là người đã yêu cầu, chứ không chỉ là người bị hại như BLTTHS năm 1988 quy định Bởi người bị hại có thể là người chưa thành niên, người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất nên ngoài việc người này thực hiện quyền yêu cầu khởi tố, có thể người đại diện hợp pháp
Trang 35cũng yêu cầu hoặc rút yêu cầu khởi tố nếu xét thấy cần bảo vệ quyền lợi của người bị hại và quyền này của người đại diện hợp pháp của người bị hại là độc lập, không phụ thuộc vào ý chí của người bị hại
Những quy định về trường hợp rút yêu cầu của người đã yêu cầu khởi tố
vụ án trong BLTTHS hiện hành đánh dấu bước tiến bộ về kỹ thuật lập pháp tố tụng hình sự, quy định này xuất phát từ tính chất của vụ án và từ chính lợi ích của người bị hại Nếu CQTHTT khởi tố vụ án hình sự trong trường hợp này có thể gây thêm những tổn thất về tinh thần cho người bị hại như gây khó khăn trong việc hòa giải, lộ bí mật đời tư, do vậy, người bị hại (hoặc người đại diện hợp pháp của người bị hại) có quyền lựa chọn yêu cầu khởi tố vụ án hình sự hoặc thỏa thuận, tha thứ cho người phạm tội Nếu người bị hại (hoặc người đại diện hợp pháp của người bị hại) đã yêu cầu khởi tố vụ án sau đó họ lại rút đơn yêu cầu thì CQTHTT phải đình chỉ mọi hoạt động tố tụng đối với vụ án
Tuy nhiên để bảo đảm pháp chế, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị hại, BLTTHS còn có quy định trong trường hợp có căn cứ để xác định người đã yêu cầu khởi tố rút yêu cầu khởi tố trái với ý muốn của họ do bị
ép buộc, cưỡng bức thì tuy người đã yêu cầu khởi tố rút yêu cầu, CQĐT, Viện kiểm sát hoặc Tòa án vẫn có thể tiếp tục tiến hành tố tụng đối với vụ án Đồng thời quy định người bị hại đã rút yêu cầu khởi tố thì không có quyền yêu cầu lại, trừ trường hợp rút yêu cầu do bị ép buộc, cưỡng bức nhằm nâng cao trách nhiệm của người đã yêu cầu khởi tố trong việc cân nhắc, xem xét trước khi đưa ra yêu cầu hoặc rút yêu cầu khởi tố vụ án [12, tr 24]
Thứ hai: Khi có căn cứ quy định tại Điều 107 BLTTHS
Điều 107 BLTTHS quy định những căn cứ không được khởi tố vụ án hình sự như sau:
Không được khởi tố vụ án hình sự khi có một trong những căn cứ sau đây:
Trang 361 Không có sự việc phạm tội;
2 Hành vi không cấu thành tội phạm;
3 Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội chưa đến tuổi chịu trách nhiệm hình sự;
4 Người mà hành vi phạm tội của họ đã có bản án hoặc quyết định đình chỉ vụ án có hiệu lực pháp luật;
5 Đã hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự;
6 Tội phạm đã được đại xá;
7 Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội đã chết, trừ trường hợp cần tái thẩm đối với người khác
CQTHTT ra quyết định đình chỉ vụ án khi có một trong những căn cứ không được khởi tố vụ án hình sự
Không có sự việc phạm tội Không có sự việc phạm tội là sự việc mà cơ
quan có thẩm quyền tiếp nhận và xác định không thỏa mãn các dấu hiệu tội phạm được quy định trong BLHS và do đó không có căn cứ để quyết định
khởi tố vụ án hình sự [22, tr 298]
Sự việc phạm tội là sự việc do hành vi nguy hiểm cho xã hội gây ra Qua những nguồn tin ban đầu như tin báo, tin tố giác về tội phạm, tin báo trên các phương tiện thông tin đại chúng… CQTHTT đã ghi nhận những thông tin ban đầu và tiến hành kiểm tra, xác minh nguồn tin đó nhằm xác định sự việc được phản ánh trong các nguồn tin đó có xảy ra trong thực tế hay không ? Nếu có sự việc xảy ra thì xác định xem có hay không có dấu hiệu của tội phạm, nếu có thì phản ánh dấu hiệu của tội gì, quy định tại điều khoản nào của BLHS Khi xác định sự việc có dấu hiệu của tội phạm cần thiết phải truy cứu trách nhiệm hình sự thì phải ra quyết định khởi tố vụ án hình sự để tiến hành điều tra làm rõ tội phạm và người phạm tội
Trong giai đoạn đầu của quá trình giải quyết vụ án khi CQĐT ra quyết
Trang 37định khởi tố vụ án dựa trên nguồn tin nhận được, có thể do thông tin thu thập chưa đầy đủ, quá trình xử lý, kiểm tra xác minh các thông tin về tội phạm được tiến hành trong khoảng thời gian tương đối ngắn (hai mươi ngày kể từ khi tiếp nhận các thông tin về tội phạm hoặc hai tháng trong trường hợp vụ việc có tính chất phức tạp) nên kết quả xác minh trong nhiều trường hợp chưa bảo đảm tính chính xác, nên khi kết thúc điều tra có thể nhận định sai về vụ
án Vì vậy, đến giai đoạn truy tố, khi Viện kiểm sát nghiên cứu hồ sơ để quyết định việc truy tố, quá trình xem xét, đánh giá lại chứng cứ đã thu thập trong
hồ sơ cũng như chứng cứ mới do Viện kiểm sát thu thập trong giai đoạn truy
tố lại xác định không có sự việc phạm tội xảy ra như kết luận điều tra của CQĐT đã xác định
Ví dụ như khởi tố vụ án dựa trên tin báo của công dân về việc phát hiện xác chết trong nhà, trong khách sạn… kết luận giám định xác định nguyên nhân chết không chính xác nên đã quyết định khởi tố, điều tra, đến giai đoạn truy tố thì có yêu cầu giám định lại, trên cơ sở kết luận khi giám định lại xác định người chết do tử tử Trong trường hợp này Viện kiểm sát phải ra quyết định đình chỉ vụ án vì không có sự việc phạm tội xảy ra
Như vậy, không có sự việc phạm tội xảy ra có thể là không có hành vi phạm tội xảy ra do các nguồn tin về tội phạm đã nhận là kết quả của sự nhầm lẫn, giả mạo, vu khống…; có thể là sự việc xảy ra nhưng không phải do hành vi nguy hiểm cho xã hội của con người thực hiện Việc xác định có sự việc phạm tội hay không là trách nhiệm của CQTHTT, tùy vào từng giai đoạn tố tụng khi phát hiện không có sự việc phạm tội xảy ra thì vụ án phải được đình chỉ
Hành vi không cấu thành tội phạm Cấu thành tội phạm là tổng hợp
những dấu hiệu được quy định trong luật hình sự đặc trưng cho một loại tội phạm cụ thể Cấu thành của một loại tội phạm cụ thể được tạo thành bởi tổng hợp các dấu hiệu khách quan và chủ quan đặc trưng cho khách thể, mặt khách
Trang 38quan, chủ thể, mặt chủ quan của tội phạm Các dấu hiệu của cấu thành tội phạm quan hệ gắn bó hữu cơ với nhau, mỗi dấu hiệu là một bộ phận của sự vật thống
nhất, thiếu một dấu hiệu nào đó sẽ không có cấu thành tội phạm [20, tr 124]
Theo khoa học luật hình sự Việt Nam thì tội phạm được cấu thành bởi bốn yếu tố là chủ thể, khách thể, mặt chủ quan, mặt khách quan Một hành vi chỉ bị coi là tội phạm khi hành vi đó thỏa mãn các dấu hiệu của một cấu thành tội phạm cụ thể được quy định trong BLHS Nếu hành vi không có hoặc có nhưng không đầy đủ những yếu tố cấu thành của một tội phạm nào thì hành vi ấy không phải là tội phạm và người thực hiện hành vi ấy không
bị truy cứu trách nhiệm hình sự BLHS năm 1999 quy định “Chỉ người nào
phạm một tội đã được Bộ luật hình sự quy định mới phải chịu trách nhiệm hình sự” [37, Điều 2], do đó khi áp dụng pháp luật không thể bỏ qua bất kỳ
yếu tố nào của cấu thảnh tội phạm để xác định một hành vi có thỏa mãn các yếu tố cấu thành tội phạm hay không
Hành vi không cấu thành tội phạm thường biểu hiện ở các trường hợp sau đây:
Một là, hành vi đó tuy về hình thức có đủ các dấu hiệu của tội phạm nhưng tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội không đáng kể thì không phải
là tội phạm, ví dụ như hành vi lần đầu trộm cắp tài sản mà giá trị tài sản chiếm đoạt dưới hai triệu đồng
Hai là, hành vi đã có những tình tiết loại trừ tính nguy hiểm cho xã hội như sự kiện bất ngờ, phòng vệ chính đáng, tình thế cấp thiết… trường hợp này mặc dù có hậu quả nguy hiểm cho xã hội xảy ra nhưng do người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội hoàn toàn không có lỗi nên hành vi đó không đủ yếu tố cấu thành tội phạm
Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội chưa đến tuổi chịu trách nhiệm hình sự Về mặt sinh học, tuổi của con người phản ánh trình độ phát
Trang 39triển của thể chất và tâm thần, các yếu tố quan trọng nhất đối với sự hình thành và phát triển nhân cách cũng như khả năng nhận thức và khả năng điều khiển hành vi của họ Đến độ tuổi nhất định thì con người mới có khả năng nhận thức được tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi và mới điều khiển được hành vi của mình Vì thế, chỉ đến độ tuổi đó con người mới phải chịu
trách nhiệm hình sự về những hành vi nguy hiểm cho xã hội do mình gây ra
Như vậy, theo quy định của pháp luật hình sự hiện hành, người chưa đủ
14 tuổi nếu thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội thì không phải chịu trách nhiệm hình sự, người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi nếu thực hiện hành vi có dấu hiệu của tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng hoặc tội phạm rất nghiêm trọng do vô ý thì không phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi
do mình gây ra Trong những trường hợp này, cơ quan có thẩm quyền không được khởi tố vụ án để truy cứu trách nhiệm hình sự những người chưa đến tuổi chịu trách nhiệm hình sự Trường hợp CQTHTT đã khởi tố vụ án và khởi
tố bị can nhưng sau đó CQTHTT phát hiện ra căn cứ này thì sẽ ra quyết định đình chỉ vụ án
Nếu trong vụ án có nhiều bị can mà có bị can chưa đến tuổi chịu trách nhiệm hình sự thì Viện kiểm sát chỉ ra quyết định đình chỉ vụ án đối với bị can chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự đó, còn các bị can khác vẫn tiếp tục tiến hành tố tụng bình thường
Trang 40Người mà hành vi phạm tội của họ đã có bản án hoặc quyết định đình chỉ vụ án có hiệu lực pháp luật Tòa án là cơ quan xét xử của nước Cộng hòa
xã hội chủ nghĩa Việt Nam Tòa án ra bản án nhân danh Nhà nước để quyết định việc bị cáo phạm tội hay không phạm tội, hình phạt và các biện pháp tư pháp khác Nếu có căn cứ để đình chỉ vụ án, Tòa án ra quyết định đình chỉ vụ
án Khi Tòa án đã ra bản án hoặc ra quyết định đình chỉ vụ án đối với sự việc nào đó thì có nghĩa là sự việc đó đã được giải quyết và không ai có quyền
khởi tố lại sự việc đã được giải quyết Hiến pháp năm 2013 quy định “Bản án,
quyết định của Tòa án nhân dân có hiệu lực pháp luật phải được cơ quan, tổ chức, cá nhân tôn trọng; cơ quan, tổ chức, cá nhân hữu quan phải nghiêm chỉnh chấp hành” [40, Điều 106]
Vì vậy, khi người có hành vi phạm tội mà Tòa án đã ra bản án hoặc quyết định đình chỉ vụ án đã có hiệu lực pháp luật thì CQĐT, Viện kiểm sát không được khởi tố vụ án đó nữa Nếu có lý do xác định bản án hoặc quyết định đình chỉ vụ án đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án không đúng thì Viện kiểm sát kháng nghị theo quy định của pháp luật Khi thực hành quyền công
tố và kiểm sát các hoạt động điều tra, Viện kiểm sát phải đảm bảo mọi hoạt động điều tra được tiến hành theo đúng quy định của pháp luật, bảo đảm việc truy cứu trách nhiệm hình sự có căn cứ và hợp pháp Do đó, Viện kiểm sát có quyền quyết định đình chỉ vụ án để chấm dứt việc giải quyết vụ án khi có những căn cứ do pháp luật quy định, khi đó không được tố lại đối với sự việc
đã được ghi trong quyết định đình chỉ vụ án [46, tr 258]
Đã hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự Thời hiệu trong luật
hình sự là một chế định phản ánh nguyên tắc nhân đạo của luật hình sự và được thể hiện bằng việc quy định trong pháp luật hình sự một thời hạn nhất định mà khi hết thời hạn đó, thì người phạm tội không bị truy cứu trách nhiệm hình sự, còn người bị kết án thì không phải chấp hành bản án kết tội có hiệu
lực pháp luật do Tòa án tuyên [21, tr 720]