1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Tài liệu Đề Cương Triết học MacLênin

86 17 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Triết Học Và Vai Trò Của Nó Trong Đời Sống Xã Hội
Trường học Trường Đại Học Khoa Học Xã Hội Và Nhân Văn
Chuyên ngành Triết Học
Thể loại Bài Tập
Năm xuất bản 2020
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 86
Dung lượng 444,75 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Microsoft Word BAI TAP TRIET HOC MAC LENIN (Q Hoa) (19x27) doc TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN KHOA TRIẾT HỌC BÀI TẬP TRIẾT HỌC MÁC LÊNIN HÀ NỘI 2020 ( 46 ) ( 47 ) Chương 1 TRIẾT HỌC VÀ VAI TRÒ CỦA NÓ TRONG ĐỜI SỐNG XÃ HỘI A LÝ THUYẾT I TRIẾT HỌC VÀ VẤN ĐỀ CƠ BẢN CỦA TRIẾT HỌC 1 Khái lược về triết học 1 1 Nguồn gốc của triết học Triết học ra đời từ thực tiễn, do nhu cầu thực tiễn nhận thức và giải thích thế giới Triết học có nguồn gốc nhận thức và nguồn gốc xã hội Nguồn gốc nhận thức.

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

KHOA TRIẾT HỌC

BÀI TẬP TRIẾT HỌC MÁC - LÊNIN

HÀ NỘI - 2020

Trang 2

Chương 1

TRIẾT HỌC VÀ VAI TRÒ CỦA NÓ TRONG ĐỜI SỐNG XÃ HỘI

A- LÝ THUYẾT

I- TRIẾT HỌC VÀ VẤN ĐỀ CƠ BẢN CỦA TRIẾT HỌC

1 Khái lược về triết học

1.1 Nguồn gốc của triết học

Triết học ra đời từ thực tiễn, do nhu cầu thực tiễn nhận thức và giải thích thếgiới Triết học có nguồn gốc nhận thức và nguồn gốc xã hội

- Nguồn gốc nhận thức:

Tư duy con người đã đạt tới trình độ trừu tượng hóa, khái quát hóa thànhcác khái niệm, phạm trù, quy luật và hệ thống hóa chúng thành các họcthuyết, lý luận

- Nguồn gốc xã hội:

Triết học ra đời khi xã hội đã phân chia giai cấp, có sự phân chia giữa laođộng trí óc và lao động chân tay; tầng lớp trí thức ít nhiều đã được trọng vọng, cóđiều kiện và nhu cầu tập trung nghiên cứu và giải thích về bản chất của thế giới

1.2 Khái niệm triết học

- Quan niệm phương Đông và phương Tây về triết học:

+ Triết học ở phương Đông và phương Tây gần như ra đời cùng một thời giankhoảng từ thế kỷ VIII đến thế kỷ VI trước Công nguyên

+ Ở phương Tây: Triết học (philosophy) có nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp, có nghĩa

là yêu thích (Philos) sự thông thái (Sophia).

+ Ở phương Đông cổ đại:

 Ở Trung Quốc, người ta dùng từ “triết” để chỉ hệ thống tư duy, là sự truy tìm bản chất của đối tượng, triết học chính là trí tuệ

Ở Ấn Độ, người ta dùng thuật ngữ Darsana cũng là chỉ hệ thống tư duy triết

Trang 3

học, là sự hiểu biết sâu sắc của con người Darsana nghĩa là chiêm ngưỡng, là

tri thức dựa trên lý trí, là con đường suy ngẫm để dẫn dắt con người tới lẽ phải.Như vậy, cho dù ở phương Đông hay phương Tây, ngay từ đầu triết học đã

là hoạt động tinh thần biểu hiện khả năng nhận thức bản chất, quy luật và lýgiải thế giới của con người Nó tồn tại với tư cách một hình thái ý thức xã hội,thể hiện và kết tinh năng lực tư duy của một thời đại

- Khái niệm: Triết học là hệ thống các quan điểm lý luận chung nhất về thế giới và vị trí của con người trong thế giới đó, là khoa học về những quy luật vận động, phát triển chung nhất của tự nhiên, xã hội và tư duy.

1.3 Vấn đề đối tượng của triết học trong lịch sử

Đối tượng của triết học là các quan hệ phổ biến và các quy luật chung nhất của toàn bộ tự nhiên, xã hội và tư duy; trong đó trung tâm nhất là mối quan hệ giữa tư duy và tồn tại, hay nói cách khác là giữa nội dung ý thức của con người với thế giới sự vật hiện tượng bên ngoài Những vấn đề trung tâm này biểu hiện

khác nhau ở những nền văn hóa và giai đoạn phát triển khác nhau của lịch sửnhân loại

- Thời cổ đại: Triết học nghiên cứu mọi lĩnh vực của thế giới, song về đại thể

thì triết học phương Đông dành nhiều sự quan tâm hơn cho những vấn đề về conngười và xã hội, còn triết học phương Tây quan tâm nhiều hơn đến những vấn đề

về giới tự nhiên

- Thời trung cổ: Triết học Tây Âu trở thành bộ môn của thần học, cụ thể là

Thần học Thiên Chúa giáo (bộ môn lý luận về Thiên Chúa và mối quan hệ giữacon người với Thiên Chúa mà một hình thức đặc thù nhất của nó là đức tin tôngiáo) Triết học lúc này có nhiệm vụ lý giải và chứng minh cho sự đúng đắn củaKinh Thánh

- Thời Phục hưng đến thế kỷ XVIII: Triết học Tây Âu từng bước thoát khỏi ách

thống trị của thần học, đề cao chủ nghĩa nhân đạo và gắn với những thành tựucủa khoa học tự nhiên, quan tâm và ảnh hưởng một cách sâu sắc đến nhữngquá trình lịch sử - xã hội

- Từ thế kỷ XIX đến nay: Triết học được nhìn nhận như một lĩnh vực học thuật

nghiên cứu những quy luật chung nhất của tự nhiên, xã hội và tư duy với nhiềutrường phái và hướng tiếp cận khác nhau

1.4 Triết học - hạt nhân lý luận của thế giới quan

- Thế giới quan là gì?

Thế giới quan là khái niệm triết học chỉ hệ thống các tri thức, quan điểm, tình cảm, niềm tin, lý tưởng xác định về thế giới và về vị trí của con người (bao gồm cá

Trang 4

nhân, xã hội và cả nhân loại) trong thế giới đó Thế giới quan quy định các nguyên tắc, thái độ, giá trị trong định hướng nhận thức và hoạt động thực tiễn của con người Thế giới quan ra đời từ cuộc sống, nó là kết quả trực tiếp của quá

trình nhận thức, song suy đến cùng, nó được hình thành trong quá trình hoạt

động thực tiễn vànhận thức của con người và phản ánh hiện thực khách quan

Thế giới quan có cấu trúc phức tạp nhưng có 2 yếu tố cơ bản là tri thức và niềm tin, hay lý trí và tình cảm

Có nhiều cách phân loại thế giới quan, nhưng sự phát triển của thế giới quan

có thể biểu hiện dưới 3 hình thức cơ bản:

+ Thế giới quan huyền thoại

+ Thế giới quan tôn giáo

+ Thế giới quan triết học

- Triết học - hạt nhân lý luận của thế giới quan:

+ Bản thân triết học chính là thế giới quan

+ Trong số các loại thế giới quan phân chia theo các cơ sở khác nhau thì nộidung triết học bao giờ cũng là thành phần quan trọng, đóng vai trò là nhân tố cốtlõi

+ Triết học bao giờ cũng có ảnh hưởng và chi phối các thế giới quan khácnhư: thế giới quan tôn giáo, thế giới quan kinh nghiệm, thế giới quan thôngthường

+ Thế giới quan triết học quy định mọi quan niệm khác của con người

- Vai trò của thế giới quan:

Thế giới quan có vai trò đặc biệt quan trọng trong cuộc sống của con người

2 Vấn đề cơ bản của triết học

“Vấn đề cơ bản lớn của mọi triết học, đặc biệt là của triết học hiện đại, là vấn đề quan hệ giữa tư duy và tồn tại” 1

2.1 Nội dung vấn đề cơ bản của triết học

- Vấn đề này nảy sinh cùng với sự ra đời của triết học và là sự quan tâmchung của hầu hết các trường phái triết học cho tới tận ngày nay

Trang 5

1 C Mác và Ph Ăngghen: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.21,

tr.403

Trang 6

- Triết học là sản phẩm của sự phát triển cao của năng lực tư duy của con

người với tư cách là sinh vật có ý thức, vì vậy vấn đề cơ bản mà nó quan tâmcũng gắn liền với ý thức và năng lực tư duy của con người: ý thức và tư duycủa con người có mối quan hệ như thế nào với thế giới sự vật, hiện tượng ởbên ngoài mà nó nhận thức và khái quát? Về mặt bản chất, sự tồn tại của thếgiới, vấn đề mối quan hệ giữa tư duy và tồn tại biểu hiện ra là mối quan hệgiữa vật chất và ý thức, tức là mối quan hệ giữa những tồn tại vật lý hữu hình

và những tồn tại vô hình trong ý thức của con người Điều này đặc biệt đượcnhấn mạnh trong bối cảnh triết học hiện đại từ cuối thế kỷ XIX đến nay, khikhoa học tự nhiên có nhiều khám phá bước ngoặt về những kết cấu vật chất,

hệ thần kinh và năng lực ý thức của con người

Có thể phân tích vấn đề cơ bản của triết học theo 2 nội dung (2 mặt) như sau:

+ Mặt thứ nhất, hay còn gọi là mặt bản thể luận: giữa vật chất và ý thức cái

nào có trước, cái nào có sau, cái nào quyết định cái nào?

+ Mặt thứ hai, hay còn gọi là mặt nhận thức luận: con người có khả năng

nhận thức được thế giới hay không?

Việc trả lời hai câu hỏi trên như thế nào liên quan mật thiết đến việc xácđịnh lập trường của các trường phái triết học và các học thuyết về nhận thứccủa triết học Dựa trên cách trả lời câu hỏi về bản thể luận có thể phân chia haitrường phái triết học cơ bản là triết học duy vật và triết học duy tâm Dựa trêncách trả lời câu hỏi về nhận thức luận có thể chia các trường phái triết họcthành khả tri và bất khả tri

2.2 Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm

Về mặt bản thể luận:

- Những người cho rằng vật chất có trước, ý thức có sau, vật chất quyết định ý

thức thì được coi là những người theo chủ nghĩa duy vật Chủ nghĩa duy vật có 3

- Những người cho rằng ý thức có trước, vật chất có sau, ý thức quyết định

vật chất thì được coi là những người theo chủ nghĩa duy tâm Chủ nghĩa duy

tâm có 2 loại:

Trang 7

+ Chủ nghĩa duy tâm khách quan: cho rằng có một thực thể tinh thần khôngnhững tồn tại trước, tồn tại bên ngoài, độc lập với con người và với thế giới vậtchất mà còn sản sinh ra và quyết định tất cả các quá trình của thế giới vật chất.+ Chủ nghĩa duy tâm chủ quan: cho rằng cảm giác ý thức là cái có trước vàtồn tại sẵn trong con người, trong chủ thể nhận thức, còn các sự vật bên ngoàichỉ là phức hợp của các cảm giác ấy mà thôi.

2.3 Thuyết có thể biết (thuyết khả tri) và thuyết không thể biết

(thuyết bất khả tri)

Về mặt nhận thức luận:

- Thuyết khả tri: Khẳng định con người về nguyên tắc có thể hiểu được bản

chất của sự vật; những cái mà con người biết về nguyên tắc là phù hợp với chính

sự vật

- Thuyết bất khả tri: Con người không thể hiểu được bản chất thật sự của đối

tượng; các hiểu biết của con người về tính chất, đặc điểm của đối tượng dù cótính xác thực trong chừng mực nhất định cũng không đồng nhất với bản chất thực

sự của đối tượng

3 Biện chứng và siêu hình

3.1 Khái niệm biện chứng và siêu hình trong lịch sử

Biện chứng và siêu hình là hai phương pháp tư duy phổ biến trong lịch sử

triết học

- Phương pháp siêu hình:

+ Nhận thức đối tượng trong trạng thái tĩnh tại, cô lập, tách rời

+ Là phương pháp được đưa từ toán học và vật lý học cổ điển vào các khoa học thực nghiệm và triết học

+ Có vai trò to lớn trong việc giải quyết các vấn đề của cơ học nhưng hạn chế khi giải quyết các vấn đề có tính vận động và tương liên

- Phương pháp biện chứng:

+ Nhận thức đối tượng trong các mối liên hệ phổ biến, trong quá trình vậnđộng, phát triển

+ Là phương pháp giúp con người không chỉ thấy sự tồn tại của các sự vật

mà còn thấy cả sự sinh thành, phát triển và tiêu vong của chúng

+ Phương pháp tư duy biện chứng trở thành công cụ hữu hiệu, đặc biệt là trong triết học và khoa học xã hội, giúp con người nhận thức và cải tạo thế giới

3.2 Các hình thức của phép biện chứng trong lịch sử

- Phép biện chứng tự phát thời cổ đại: Các nhà biện chứng đã thấy được các

sự vật, hiện tượng trong vũ trụ vận động trong sự sinh thành, biến hóa vô cùng,vô

Trang 8

tận Tuy nhiên, đó chỉ là trực kiến, quan sát, chưa có kết quả nghiên cứu và thựcnghiệm khoa học minh chứng.

- Phép biện chứng duy tâm: đỉnh cao là triết học cổ điển Đức Các nhà triết

học cổ điển Đức đã trình bày một cách có hệ thống những nội dung quan trọngnhất của phương pháp biện chứng Họ cho rằng thế giới hiện thực chỉ là sự phảnánh biện chứng của ý niệm nên biện chứng của họ là biện chứng duy tâm

- Phép biện chứng duy vật: do C Mác và Ph Ăngghen xây dựng, sau đó được

V.I Lênin phát triển, đã kế thừa những hạt nhân hợp lý trong phép biệnchứng duy tâm để xây dựng nên phép biện chứng duy vật, tạo ra được sựthống nhất giữa chủ nghĩa duy vật với phép biện chứng trong lịch sử pháttriển triết học nhân loại

II- TRIẾT HỌC MÁC - LÊNIN VÀ VAI TRÒ CỦA NÓ

TRONG ĐỜI SỐNG XÃ HỘI

1 Sự ra đời và phát triển triết học Mác - Lênin

1.1 Những điều kiện lịch sử của sự ra đời triết học Mác - Lênin

a Điều kiện kinh tế - xã hội

- Sự củng cố và phát triển của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa trong điều kiện cách mạng công nghiệp: Chủ nghĩa Mác ra đời ở Tây Âu những năm

40 của thế kỷ XIX Đây là thời kỳ mà chủ nghĩa tư bản đã phát triển mạnh mẽtrên nền tảng của các cuộc cách mạng công nghiệp Sự phát triển ấy, một mặtlàm thay đổi bộ mặt kinh tế của xã hội, mặt khác, sự phát triển về mặt sản xuấtnày cũng tạo ra những biến đổi sâu sắc và đào sâu hơn nữa mâu thuẫn vốn có

Hàng loạt phong trào đấu tranh của giai cấp vô sản xảy ra nhưng đều lần lượt

bị thất bại mà nguyên nhân chính là do thiếu lý luận mang tính khoa học và cáchmạng để định hướng, soi đường Chủ nghĩa Mác ra đời là nhằm đáp ứng nhu cầu

về lý luận đó của phong trào công nhân Thực tiễn cách mạng của giai cấp vô sản là cơ sở chủ yếu nhất cho sự ra đời triết học Mác.

Trang 9

b Nguồn gốc lý luận

- Triết học cổ điển Đức: C Mác và Ph Ăngghen đã kế thừa phép biện chứng

trong triết học của Hêghen và quan điểm duy vật trong triết học của Phoiơbắc đểhình thành nên hệ thống triết học mới: triết học duy vật biện chứng

- Kinh tế chính trị học cổ điển Anh: C Mác và Ph Ăngghen đã kế thừa

những yếu tố khoa học trong lý luận về kinh tế chính trị học của A Smít và Đ.Ricácđô, đồng thời xây dựng học thuyết giá trị thặng dư, chỉ ra bản chất bóc lộtcủa giai cấp tư sản

- Chủ nghĩa xã hội không tưởng Pháp: C Mác và Ph Ăngghen đã kế thừa tư

tưởng nhân đạo trong lý thuyết cộng sản chủ nghĩa của H Xanhximông, S Phuriê

và R Ôwen, đồng thời sáng tạo nên chủ nghĩa xã hội khoa học

c Tiền đề khoa học tự nhiên

Sự ra đời của chủ nghĩa Mác - Lênin còn gắn liền với những phát minh khoahọc, tiêu biểu như:

- Định luật bảo toàn và chuyển hóa năng lượng: chứng minh sự chuyển hóa

và bảo toàn năng lượng Phát minh khoa học này là cơ sở để C Mác và Ph.Ăngghen xây dựng quan niệm duy vật mới, khẳng định tính thống nhất vật chấtcủa thế giới

- Thuyết tiến hóa của Đácuyn: chứng minh tính thống nhất về nguồn gốc của

các loài và sự phát sinh, phát triển của chúng từ thấp đến cao

- Thuyết tế bào: chứng minh tính thống nhất của toàn bộ sự sống.

d Nhân tố chủ quan trong sự ra đời triết học Mác

- Không xuất thân từ tầng lớp cần lao nhưng C Mác và Ph Ăngghen đềutích cực tham gia hoạt động dân chủ, đấu tranh cho lợi ích của người lao động

- C Mác và Ph Ăngghen hiểu sâu sắc cuộc sống khốn khổ và những hạnchế của giai cấp công nhân trong nền sản xuất tư bản chủ nghĩa nên đã đứng vềphía giai cấp công nhân, xây dựng hệ thống lý luận để cung cấp cho giai cấpcông nhân một công cụ sắc bén để nhận thức và cải tạo thế giới, thực hiện lýtưởng giải phóng giai cấp, con người và nhân loại nói chung

1.2 Những thời kỳ chủ yếu trong sự hình thành và phát triển của triết học Mác (giai đoạn Mác - Ăngghen)

- Thời kỳ 1841 - 1844: Hình thành tư tưởng triết học với bước chuyển từ chủ

nghĩa duy tâm và dân chủ cách mạng sang chủ nghĩa duy vật và lập trường giai

Trang 10

cấp vô sản Thời kỳ này, các ông đã viết các tác phẩm Góp phần phê phán triết học

Trang 11

pháp quyền của Hêghen và Lời nói đầu cho tác phẩm này nhằm phê phán những

quan niệm duy tâm của Hêghen (1843)

- Thời kỳ 1844 - 1848: Đề xuất những nguyên lý triết học duy vật biện chứng

và duy vật lịch sử Đây là thời kỳ C Mác và Ph Ăngghen, sau khi tự giải phóngmình khỏi hệ thống triết học cũ, bắt đầu xây dựng những nguyên lý nền tảng chomột triết học mới Thời kỳ này, các ông đã viết các tác phẩm:

+ Bản thảo kinh tế - triết học (1844).

+ Gia đình thần thánh (1845).

+ Luận cương về Phoiơbắc (1845).

+ Hệ tư tưởng Đức (1845 - 1846).

+ Sự khốn cùng của triết học (1847).

+ Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản (1848): tác phẩm đánh dấu sự ra đời của Chủ

nghĩa Mác với tư cách một hệ thống

- Thời kỳ 1848 - 1895: C Mác và Ph Ăngghen bổ sung và phát triển toàn

diện lý luận triết học Đây là thời kỳ học thuyết Mác tiếp tục được bổ sung và pháttriển toàn diện trong sự gắn bó mật thiết hơn nữa với thực tiễn cách mạng của giaicấp công nhân Bằng hoạt động lý luận của mình, C Mác và Ph Ăngghen đãđưa phong trào công nhân từ tự phát thành tự giác và ngày càng phát triểnmạnh mẽ Thời kỳ này, các ông đã viết các tác phẩm:

+ Đấu tranh giai cấp ở Pháp (1850).

+ Ngày 18 tháng Sương Mù của Lui Bônapactơ (1852).

+ Tư bản luận, tập 1 (1865): Tác phẩm quan trọng và công phu nhất của

C Mác, trong đó trình bày học thuyết giá trị thặng dư và đặt nền tảng cho khoaKinh tế chính trị học Mác - Lênin Hai tập còn lại được Ph Ăngghen biên tập, bổsung và xuất bản dựa trên bản thảo của C Mác sau khi ông mất

+ Nội chiến ở Pháp (1871).

+ Phê phán Cương lĩnh Gôta (1875).

+ Chống Đuyrinh (1878).

+ Biện chứng của tự nhiên (1773 - 1986).

+ Sự phát triển của chủ nghĩa xã hội từ không tưởng đến khoa học (1880).

1.3 Thực chất và ý nghĩa cuộc cách mạng trong triết học do C Mác

và Ph Ăngghen thực hiện

- C Mác và Ph Ăngghen đã khắc phục tính chất trực quan, siêu hình củachủ nghĩa duy vật cũ và khắc phục tính chất duy tâm, thần bí của phép biệnchứng duy tâm Đức, phát triển một triết học duy vật hoàn bị là chủ nghĩa duyvật biện chứng

Trang 12

- C Mác và Ph Ăngghen đã vận dụng và mở rộng quan điểm duy vật biệnchứng vào nghiên cứu lịch sử xã hội, sáng tạo ra chủ nghĩa duy vật lịch sử - nộidung chủ yếu tạo ra bước ngoặt cách mạng trong triết học.

- C Mác và Ph Ăngghen đã sáng tạo ra một triết học chân chính khoa học

và thực tiễn với những đặc tính mới của triết học duy vật biện chứng

1.4 Giai đoạn V.I Lênin trong sự phát triển triết học Mác

a Bối cảnh lịch sử và nhu cầu bảo vệ, phát triển chủ nghĩa Mác

- Cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, chủ nghĩa tư bản chuyển sang giai đoạnchủ nghĩa đế quốc:

+ Mâu thuẫn giữa tư sản với vô sản ngày càng gay gắt

+ Cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc tại các nước thuộc địa diễn ra sôinổi, trung tâm là nước Nga dưới sự lãnh đạo của Đảng Bônsêvích đã trở thành ngọn

cờ đầu của cách mạng thế giới

- Khoa học tự nhiên phát triển mạnh, một số nhà khoa học tự nhiên rơi vàotình trạng khủng hoảng về thế giới quan và bị chủ nghĩa duy tâm lợi dụng gâyảnh hưởng đến nhận thức và hành động của phong trào cách mạng

- Xuất hiện những trào lưu tư tưởng mới như chủ nghĩa kinh nghiệm phêphán, chủ nghĩa thực dụng, chủ nghĩa xét lại đã xuyên tạc và phủ nhận chủnghĩa Mác

b Vai trò của V.I Lênin đối với việc phát triển và bảo vệ chủ nghĩa Mác

- Thời kỳ 1893 - 1907: V.I Lênin bảo vệ, phát triển triết học Mác và chuẩn

bị thành lập đảng mácxít ở Nga, hướng tới cuộc cách mạng dân chủ tư sản lần

thứ nhất Tác phẩm tiêu biểu: Những “người bạn dân” là thế nào và họ đấu tranh chống những người dân chủ - xã hội ra sao? (1894).

- Thời kỳ 1907 - 1917: V.I Lênin phát triển toàn diện triết học Mác và lãnh

đạo phong trào công nhân Nga, chuẩn bị và thực hiện cuộc cách mạng xã hộichủ nghĩa đầu tiên trên thế giới Các tác phẩm tiêu biểu:

+ Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa kinh nghiệm phê phán (1908).

+ Bút ký triết học (1914 - 1916).

+ Nhà nước và cách mạng (1917).

- Thời kỳ 1917 - 1924: V.I Lênin tổng kết kinh nghiệm thực tiễn cách mạng,

bổ sung, hoàn thiện triết học Mác, gắn liền với việc nghiên cứu các vấn đề xây

dựng chủ nghĩa xã hội Tác phẩm tiêu biểu: Sáng kiến vĩ đại (1919).

- Thời kỳ từ năm 1924 đến nay: Triết học Mác - Lênin tiếp tục được các đảng

cộng sản và giai cấp công nhân bổ sung, phát triển

Trang 13

2 Đối tượng và chức năng của triết học Mác - Lênin

2.1 Khái niệm triết học Mác - Lênin

Triết học Mác - Lênin là hệ thống quan điểm duy vật biện chứng về tự nhiên,

xã hội và tư duy, là thế giới quan và phương pháp luận khoa học, cách mạng giúp giai cấp công nhân, nhân dân lao động trong nhận thức và cải tạo thế giới.

2.2 Đối tượng của triết học Mác - Lênin

- Triết học Mác - Lênin giải quyết mối quan hệ giữa vật chất và ý thức trênlập trường duy vật biện chứng và nghiên cứu những quy luật vận động, pháttriển chung nhất của tự nhiên, xã hội và tư duy

- Triết học Mác - Lênin phân biệt rõ ràng đối tượng của triết học và đốitượng của các khoa học cụ thể

- Triết học Mác - Lênin có mối quan hệ gắn bó chặt chẽ với các khoa học cụ thể

2.3 Chức năng của triết học Mác - Lênin

- Chức năng thế giới quan:

+ Giúp con người nhận thức đúng đắn thế giới và bản thân để từ đó nhận thứcđúng bản chất của tự nhiên và xã hội, giúp con người hình thành quan điểm khoahọc, xác định thái độ và cách thức hoạt động của bản thân

+ Thế giới quan duy vật biện chứng nâng cao vai trò tích cực, sáng tạo củacon người

+ Thế giới quan duy vật biện chứng có vai trò là cơ sở khoa học để đấu tranhvới các loại thế giới quan duy tâm, tôn giáo, phản khoa học

- Chức năng phương pháp luận:

+ Phương pháp luận là hệ thống những quan điểm, những nguyên tắc xuấtphát có vai trò chỉ đạo việc sử dụng các phương pháp trong hoạt động nhận thức

và hoạt động thực tiễn nhằm đạt kết quả tối ưu Phương pháp luận cũng có nghĩa

và kinh nghiệm hoạt động thực tiễn xã hội

Trang 14

3 Vai trò của triết học Mác - Lênin trong đời sống xã hội và trong sự nghiệp đổi mới ở Việt Nam hiện nay

- Triết học Mác - Lênin là thế giới quan, phương pháp luận khoa học và cáchmạng cho con người Việt Nam trong nhận thức và thực tiễn

- Triết học Mác - Lênin là cơ sở thế giới quan và phương pháp luận khoa học

và cách mạng để phân tích xu hướng phát triển của xã hội trong điều kiện cuộccách mạng khoa học và công nghệ hiện đại phát triển mạnh mẽ

- Triết học Mác - Lênin là cơ sở lý luận khoa học của công cuộc xây dựng chủnghĩa xã hội trên thế giới và sự nghiệp đổi mới theo định hướng xã hội chủ nghĩa ởViệt Nam hiện nay

- Chủ nghĩa duy vật thời cổ đại: Ở Hy Lạp - La Mã, Trung Quốc, Ấn Độ đồng

nhất vật chất với những sự vật cụ thể, hữu hình (thuyết Ngũ hành cho rằng vậtchất là 5 yếu tố: kim, mộc, thủy, hỏa, thổ; Lơxíp và Đêmôcrít cho rằng vật chất lànguyên tử; Talét cho rằng vật chất là nước ) Những quan niệm như vậy mangtính trực quan, thô sơ, mộc mạc, tự phát và phỏng đoán

+ Ưu điểm: Các nhà triết học duy vật thời cổ đại đã coi vật chất là cơ sở,

bản nguyên của mọi sự vật, hiện tượng trong thế giới; xuất phát từ chính thếgiới vật chất để giải thích thế giới (đối lập với quan niệm duy tâm, tôn giáo vềthế giới)

+ Hạn chế: Đồng nhất vật chất với vật thể.

- Chủ nghĩa duy vật siêu hình thế kỷ XV - XVIII: Bắt đầu từ thời kỳ Phục

hưng (thế kỷ XV), khoa học tự nhiên - thực nghiệm ở châu Âu phát triển rất

Trang 15

mạnh Tuy nhiên, cơ học cổ điển phát triển nhất, do vậy, ở thời kỳ này, quanniệm siêu hình chi phối những hiểu biết triết học về thế giới: nguyên tử vẫn tiếptục được coi là phần tử vật chất nhỏ nhất, không thể phân chia Vận động củavật chất chỉ được coi là vận động cơ học, nguồn gốc của vận động nằm ngoài

sự vật, thừa nhận cú hích của Thượng đế

+ Ưu điểm lớn nhất của chủ nghĩa duy vật thời kỳ này là quan niệm về vật

chất dựa trên cơ sở khoa học phân tích thế giới vật chất Đó chính là bước tiếnlớn của chủ nghĩa duy vật so với thời cổ đại (chỉ dựa trên sự quan sát bề ngoài

Trang 16

thế giới vật chất) Đồng thời, cũng như chủ nghĩa duy vật thời cổ đại, quan niệm này đã xuất phát từ chính bản thân thế giới để giải thích thế giới.

+ Hạn chế: Siêu hình, máy móc, đồng nhất vật chất với một dạng tồn tại

cụ thể (nguyên tử) hoặc một thuộc tính cụ thể (khối lượng) của vật chất

1.2 Cuộc cách mạng về khoa học tự nhiên cuối thế kỷ XIX đầu thế

kỷ XX và sự phá sản của các quan niệm duy vật siêu hình về vật chất

Vật lý học hiện đại, nhất là vật lý vi mô đã có những phát hiện mới về cấu trúccủa vật chất, làm biến đổi sâu sắc quan niệm về nguyên tử

- Năm 1895: Rơnghen tìm ra tia X - một loại sóng điện từ có bước sóng cựcngắn

- Năm 1896: Béccơren phát hiện ra hiện tượng phóng xạ chứng tỏ quan niệm

về sự bất biến của nguyên tử là không chính xác

- Năm 1897: Tômxơn phát hiện ra điện tử và chứng minh được điện tử là mộttrong những thành phần cấu tạo nên nguyên tử

- Năm 1901: Kaufman đã phát hiện ra khối lượng của điện tử tăng khi vận tốcchuyển động của nó tăng

Những phát hiện nói trên của vật lý đã bác bỏ quan niệm về vật chất của chủnghĩa duy vật thế kỷ XVII - XVIII Chủ nghĩa duy tâm đã lợi dụng tình hình đó đểtuyên truyền quan điểm duy tâm: vật chất “tiêu tan”, vật chất “biến mất” Triết họcduy vật đứng trước yêu cầu phải tổng kết thực tiễn, xây dựng một quan niệm mới,cao hơn về vật chất để khắc phục cuộc khủng hoảng trong khoa học tự nhiên và

sự bất lực của chủ nghĩa duy vật siêu hình về vật chất

1.3 Quan niệm của triết học Mác - Lênin về vật chất

Trước bối cảnh lịch sử đó, V.I Lênin đã tổng kết những thành tựu của khoa

học tự nhiên, đấu tranh chống chủ nghĩa duy tâm và đưa ra định nghĩa: “Vật chất là một phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách quan được đem lại cho con người trong cảm giác, được cảm giác của chúng ta chép lại, chụp lại, phản ánh và tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác”1

- Phân tích nội dung định nghĩa:

+ Phương pháp định nghĩa: Vật chất là một phạm trù triết học, một phạmtrù rộng nhất, cho nên không thể định nghĩa bằng phương pháp thông thường,

V.I Lênin định nghĩa bằng phương pháp đặc biệt: đối lập vật chất với ý thức.

+ Phân biệt vật chất với tư cách là phạm trù triết học với quan niệm về vậtchất trong các ngành khoa học tự nhiên Vật chất với tư cách là phạm trù triếthọc chỉ

Trang 17

1 V.I Lênin: Toàn tập, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva, 1980, t.18, tr.151.

Trang 18

vật chất nói chung, vô cùng, vô tận, không sinh ra, không mất đi; còn các dạng vật chất cụ thể là hữu hạn, có sinh ra và có mất đi.

+ Vật chất là thực tại khách quan - cái tồn tại hiện thực bên ngoài, không

phụ thuộc vào ý thức  thuộc tính khách quan.

+ Vật chất là cái gây nên cảm giác ở con người khi trực tiếp hoặc gián tiếp tác

động lên các giác quan của con người  thuộc tính phản ánh.

+ Vật chất là cái mà ý thức chẳng qua chỉ là sự phản ánh của nó (vật chất có trước, ý thức có sau)

- Ý nghĩa khoa học của định nghĩa:

+ Định nghĩa vật chất của V.I Lênin đã chống lại quan niệm duy tâm chủquan, duy tâm khách quan và khắc phục được những hạn chế trong quan niệmcủa chủ nghĩa duy vật cũ về vật chất

+ Thông qua định nghĩa vật chất, V.I Lênin đã giải quyết vấn đề cơ bảncủa triết học trên lập trường duy vật và khả tri

+ Định nghĩa vật chất của V.I Lênin đã định hướng cho các nhà khoa học tựnhiên trong việc tìm kiếm, khám phá ra những dạng và những cấu trúc vật chấtmới

+ Định nghĩa vật chất của V.I Lênin là cơ sở khoa học cho việc xác định vậtchất trong lĩnh vực xã hội theo quan điểm của triết học Mác - Lênin

1.4 Các hình thức tồn tại của vật chất

a Vận động

Theo Ph Ăngghen: “Vận động, hiểu theo nghĩa chung nhất, - tức được hiểu

là một phương thức tồn tại của vật chất, là một thuộc tính cố hữu của vật chất, thì bao gồm tất cả mọi sự thay đổi và mọi quá trình diễn ra trong vũ trụ, kể từ sự thay đổi vị trí giản đơn cho đến tư duy”1

-Như vậy, vận động theo quan điểm duy vật biện chứng không bị quy về

hình thức giản đơn là sự di chuyển vị trí của vật thể trong không gian, mà chỉmọi sự biến đổi nói chung Với cách hiểu như thế, vận động là hình thức tồn tạicủa vật chất, nhờ vận động và thông qua vận động mà vật chất biểu hiện sựtồn tại của mình Vận động của vật chất là tự thân vận động, là tuyệt đối, vĩnhviễn

Các hình thức vận động cơ bản của vật chất: Dựa vào các thành tựu khoa học,

Ph Ăngghen chia vận động thành 5 hình thức cơ bản:

- Vận động cơ học: sự di chuyển vị trí của sự vật trong không gian

1 C Mác và Ph Ăngghen: Toàn tập, Sđd, t.20, tr.519.

Trang 19

- Vận động vật lý: sự vận động của các phân tử, điện tử, các hạt cơ bản, củacác quá trình nhiệt, điện

- Vận động hóa học: sự hóa hợp và phân giải của các chất

- Vận động sinh vật: sự biến đổi gen, trao đổi chất giữa cơ thể sinh vật vớimôi trường

- Vận động xã hội: sự biến đổi trong các lĩnh vực của xã hội, sự thay thế nhaucác hình thái kinh tế - xã hội

Mỗi hình thức vận động cơ bản trên khác nhau về chất, nhưng giữa chúng lại

có mối quan hệ hữu cơ với nhau, trong đó hình thức vận động cao xuất hiện trên

cơ sở của hình thức vận động thấp hơn, bao hàm trong nó những hình thức vậnđộng thấp hơn và các hình thức vận động có thể chuyển hóa cho nhau

Đứng im là một trạng thái đặc biệt của vận động, vận động trong trạng thái

cân bằng, trong sự ổn định tương đối, nói lên sự vật còn là nó mà chưa chuyểnhóa thành cái khác Không có đứng im tuyệt đối, sự vật, hiện tượng chỉ đứng imtrong một mối tương quan hoặc một hình thức vận động nhất định

b Không gian, thời gian

- Không gian là hình thức tồn tại của vật chất xét về mặt quảng tính (chiều

cao, chiều rộng, chiều dài), sự cùng tồn tại, trật tự (trước hay sau, trên haydưới, bên phải hay bên trái) và sự tác động lẫn nhau

- Thời gian là hình thức tồn tại của vật chất, xét về mặt độ dài diễn biến, sự

kế tiếp nhau của các quá trình vật chất (lâu, mau, nhanh, chậm)

- Không gian và thời gian có tính khách quan, vĩnh cửu và vô tận Khônggian có tính ba chiều (chiều dài, chiều rộng, chiều cao); thời gian có tính mộtchiều (quá khứ - hiện tại - tương lai)

1.5 Tính thống nhất vật chất của thế giới

- Tồn tại là phạm trù dùng để chỉ tính có thực của thế giới xung quanh

con người

- Chỉ có một thế giới duy nhất tồn tại khách quan, đó là thế giới vật chất

- Thế giới vật chất tồn tại vĩnh viễn, vô hạn và vô tận, không được sinh ra vàkhông bị mất đi, có trước và độc lập với ý thức con người, được ý thức con ngườiphản ánh

- Mọi bộ phận của thế giới có mối quan hệ vật chất thống nhất với nhau,biểu hiện ở chỗ chúng đều là những dạng cụ thể của vật chất, là sản phẩm củavật chất, cùng chịu sự chi phối của những quy luật khách quan, phổ biến củathế giới vật chất

- Tính thống nhất vật chất của thế giới gắn liền với tính đa dạng của nó

Trang 20

2 Nguồn gốc, bản chất và kết cấu của ý thức

2.1 Nguồn gốc của ý thức

a Nguồn gốc tự nhiên

- Ý thức là thuộc tính của một dạng vật chất có tổ chức cao là bộ não người

- Bộ não người là khí quan vật chất của ý thức Ý thức là chức năng của

bộ não người

- Bộ não người và sự phản ánh thế giới khách quan vào trong bộ não ngườichính là nguồn gốc tự nhiên của ý thức

Thuộc tính phản ánh và sự hình thành ý thức:

- Phản ánh là thuộc tính của mọi dạng vật chất

- Phản ánh là sự tái tạo những đặc điểm của một hệ thống vật chất này ởmột hệ thống vật chất khác trong quá trình tác động qua lại giữa chúng

- Cấu tạo vật chất khác nhau sẽ có khả năng phản ánh khác nhau Do đó,

có thể phân chia các hình thức phản ánh của vật chất từ thấp đến cao nhưsau: Phản ánh vật lý và hóa học, phản ánh sinh học, phản ánh tâm lý, phảnánh ý thức

- Phản ánh ý thức là hình thức phản ánh cao nhất, chỉ có ở con người

b Nguồn gốc xã hội

Sự phát triển của giới tự nhiên mới tạo ra tiền đề vật chất có năng lực phảnánh, tuy nhiên đó chỉ là nguồn gốc sâu xa và điều kiện cần cho sự hình thành ý

thức Hoạt động thực tiễn của loài người, cơ bản nhất là lao động và ngôn ngữ

mới là nguồn gốc trực tiếp và điều kiện đủ quyết định sự ra đời của ý thức

- Lao động:

+ Lao động giúp giải phóng hai chi trước của con người để thực hiện nhữngđộng tác tinh vi hơn, mặt khác cũng giúp con người có khả năng sáng tạo racông cụ lao động và sử dụng công cụ ấy phục vụ mục đích sống của con người.+ Việc sử dụng công cụ trong lao động giúp con người ngày càng tìm đượcnhiều nguồn thức ăn hơn và có nhiều chất dinh dưỡng hơn Mặt khác, con người

đã tìm ra lửa để nấu chín thức ăn khiến cơ thể dễ hấp thu hơn Điều đó đã giúp bộnão con người ngày càng phát triển, hoàn thiện về mặt sinh học

+ Thông qua lao động, con người ngày càng tương tác nhiều hơn với thế giớikhách quan, làm biến đổi thế giới đó và ngược lại, làm biến đổi chính bản thâncon người, ngày càng làm sâu sắc và phong phú thêm phản ánh ý thức củamình

Trang 21

+ Lao động ngay từ đầu đã mang tính xã hội, từ đó nảy sinh nhu cầu hìnhthành ngôn ngữ.

2.2 Bản chất của ý thức

- Ý thức là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan:

Ý thức phản ánh thế giới khách quan, nhưng thế giới đó đã được cải biếnthông qua lăng kính chủ quan của con người (chịu tác động của các yếu tố như:tâm tư, tình cảm, nguyện vọng, nhu cầu, tri thức, kinh nghiệm ) Ý thức là sựphản ánh năng động, sáng tạo thế giới khách quan của bộ óc người, là hình ảnhchủ quan của thế giới khách quan

- Tính chất năng động, sáng tạo của phản ánh ý thức:

+ Ý thức phản ánh thế giới khách quan không rập khuôn, máy móc mà trên cơ

sở tiếp thu, xử lý thông tin có chọn lọc, có định hướng

+ Phản ánh ý thức không dừng lại ở vẻ bề ngoài, mà còn khái quát bảnchất, quy luật của sự vật, hiện tượng

+ Ý thức có khả năng mô hình hóa đối tượng trong tư duy dưới dạng hình ảnhtinh thần và chuyển mô hình từ trong tư duy ra hiện thực khách quan thông quahoạt động thực tiễn

+ Trên cơ sở những tri thức đã có, con người sáng tạo ra những tri thức mới

- Ý thức là một hiện tượng xã hội và mang bản chất xã hội:

+ Sự ra đời và phát triển của ý thức gắn liền với hoạt động thực tiễn của conngười, chịu chi phối không chỉ của các quy luật tự nhiên mà còn (và chủ yếu là)của các quy luật xã hội

+ Ý thức là hình thức phản ánh cao nhất riêng có của con người về hiện thựckhách quan trên cơ sở thực tiễn xã hội - lịch sử

Trang 22

2.3 Kết cấu của ý thức

- Các thành tố của ý thức: Khi xem xét từ góc độ cấu trúc hợp thành, ý thức

gồm nhiều yếu tố quan hệ mật thiết với nhau, trong đó cơ bản nhất là tri thức, tìnhcảm, niềm tin, ý chí

- Các cấp độ của ý thức: Khi xem xét ý thức theo chiều sâu của thế giới nội

tâm con người, ý thức bao gồm: tự ý thức, tiềm thức và vô thức

3 Mối quan hệ giữa vật chất và ý thức

3.1 Quan điểm của chủ nghĩa duy tâm và chủ nghĩa duy vật siêu hình

- Chủ nghĩa duy tâm: Ý thức, tinh thần của con người đã bị trừu tượng hóa,

tách khỏi con người thành một lực lượng thần bí, độc lập, sản sinh ra sự vật, hiệntượng vật chất

- Chủ nghĩa duy vật siêu hình: Tuyệt đối hóa yếu tố vật chất, chỉ nhấn mạnh

một chiều vai trò của vật chất sinh ra ý thức, quyết định ý thức; phủ nhận tính độclập tương đối của ý thức

3.2 Quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng

- Vật chất quyết định ý thức:

Chủ nghĩa duy vật biện chứng khẳng định: Vật chất có trước, ý thức có sau,vật chất là nguồn gốc của ý thức, quyết định ý thức Vật chất quyết định ý thứcthể hiện ở 4 phương diện sau:

+ Vật chất quyết định nguồn gốc của ý thức

+ Vật chất quyết định nội dung của ý thức

+ Vật chất quyết định bản chất của ý thức

+ Vật chất quyết định sự vận động, phát triển của ý thức

- Ý thức có tính độc lập tương đối và tác động trở lại vật chất:

+ Ý thức do vật chất sinh ra, nhưng sau khi hình thành, ý thức có đời sốngriêng, có quy luật vận động, phát triển riêng Ý thức có thể không song hành vớihiện thực mà thay đổi nhanh hoặc chậm hơn

+ Sự tác động của ý thức đối với vật chất phải thông qua hoạt động thực tiễncủa con người

+ Vai trò của ý thức thể hiện nó có chỉ đạo hoạt động thực tiễn của con người.Khi phản ánh đúng hiện thực, nó có thể dự báo, tiên đoán đúng hiện thực trongtương lai, hình thành nên những học thuyết lý luận có tính định hướng

+ Xã hội càng phát triển thì vai trò của ý thức ngày càng to lớn, nhất làtrong thời đại thông tin, thời đại kinh tế tri thức, thời đại cách mạng côngnghiệp 4.0

Trang 23

3.3 Ý nghĩa phương pháp luận

- Ý nghĩa phương pháp luận chủ đạo: Tôn trọng tính khách quan kết hợp với

phát huy tính năng động chủ quan

+ Tôn trọng tính khách quan: Vật chất quyết định ý thức, do đó mọi suy nghĩ

và hành động đều phải xuất phát từ hiện thực khách quan, chống chủ quan duy ýchí Mọi chủ trương, đường lối, kế hoạch đều phải xuất phát từ điều kiện, tiền đềvật chất hiện có

+ Phát huy tính năng động chủ quan: Vì ý thức có vai trò tác động trở lại đối

với vật chất, cho nên trong nhận thức và hoạt động thực tiễn, chúng ta phải biếtphát huy tính năng động, sáng tạo của ý thức, phát huy vai trò nhân tố conngười, chống tư tưởng thụ động, coi trọng công tác tư tưởng và giáo dục tư tưởng

- Muốn thực hiện tốt nguyên tắc tôn trọng tính khách quan kết hợp với phát huy tính năng động chủ quan, cần nhận thức và giải quyết đúng đắn các quan hệ

lợi ích giữa cá nhân, tập thể, xã hội; có động cơ trong sáng, không vụ lợi, có thái

độ thật sự khách quan, khoa học trong nhận thức và hoạt động thực tiễn

II- PHÉP BIỆN CHỨNG DUY VẬT

“Phép biện chứng là môn khoa học về những quy luật phổ biến của sự vận động và sự phát triển của tự nhiên, của xã hội loài người và của tư duy” 1

Nghiên cứu nội dung của phép biện chứng duy vật sẽ giúp chúng ta hình thành phương pháp luận trong nhận thức khoa học và hoạt động thực tiễn

1 Hai loại hình biện chứng và phép biện chứng duy vật

1.1 Biện chứng khách quan và biện chứng chủ quan

- Khái niệm biện chứng được sử dụng để chỉ những mối liên hệ, tương tác,

chuyển hóa và vận động, phát triển theo quy luật của các sự vật, hiện tượng, quátrình trong giới tự nhiên, xã hội và tư duy

- Biện chứng bao gồm biện chứng khách quan và biện chứng chủ quan:

+ Biện chứng khách quan là cái biện chứng vốn có của chính bản thân thế

giới vật chất, tồn tại khách quan, độc lập với ý thức con người

+ Biện chứng chủ quan là cái phản ánh của biện chứng khách quan vào trong

đầu óc con người, là tư duy biện chứng

1 C Mác và Ph Ăngghen: Toàn tập, Sđd, t.20, tr.201.

Trang 24

1.2 Khái niệm phép biện chứng duy vật

Phép biện chứng là học thuyết nghiên cứu về bản chất biện chứng của thếgiới, khái quát thành một hệ thống các nguyên lý, phạm trù, quy luật khoa học

Từ đó xây dựng hệ thống các nguyên tắc phương pháp luận của nhận thức vàthực tiễn

Phép biện chứng duy vật là thành tựu triết học của C Mác và Ph Ăngghentrên cơ sở kết hợp một cách có tính phê phán giữa phép biện chứng của Hêghen

và thế giới quan duy vật của Phoiơbắc Đặc điểm của phép biện chứng duy vật:

- Phép biện chứng duy vật hình thành từ sự thống nhất hữu cơ giữa thế giớiquan duy vật và phương pháp luận biện chứng, giữa lý luận nhận thức và lôgicbiện chứng

- Về vai trò của phép biện chứng duy vật: là phương pháp luận khoa học chonhận thức và hoạt động thực tiễn

2 Nội dung của phép biện chứng duy vật

Phép biện chứng duy vật gồm có:

- Hai nguyên lý cơ bản

- Sáu cặp phạm trù cơ bản

- Ba quy luật cơ bản

2.1 Hai nguyên lý của phép biện chứng duy vật

Nguyên lý là những khởi điểm (điểm xuất phát đầu tiên) hay những luận điểm

cơ bản nhất có tính chất tổng quát của một học thuyết, chi phối sự vận hành củatất cả các đối tượng thuộc lĩnh vực quan tâm nghiên cứu của nó

a Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến

* Khái niệm “mối liên hệ” và “mối liên hệ phổ biến”:

- Mối liên hệ là khái niệm dùng để chỉ sự quy định, sự tác động và chuyển

hóa lẫn nhau giữa các sự vật, hiện tượng hoặc giữa các mặt, các yếu tố trongcùng một sự vật, hiện tượng trong thế giới

- Mối liên hệ phổ biến là khái niệm dùng để chỉ các mối liên hệ có tính phổ

biến của các sự vật, hiện tượng của thế giới, trong đó những mối liên hệ phổ biếnnhất là những mối liên hệ tồn tại ở mọi sự vật, hiện tượng của thế giới, chúng làđối tượng nghiên cứu của phép biện chứng duy vật

* Các tính chất của mối liên hệ phổ biến:

- Tính khách quan: Các sự vật, hiện tượng trong thế giới tồn tại khách quan,độc lập, không phụ thuộc vào ý thức con người, do đó tự chúng có mối liên hệ,tác động qua lại với nhau

Trang 25

- Tính phổ biến: Bất cứ sự vật, hiện tượng nào trong tự nhiên, xã hội và tưduy, ý thức con người, cũng như các mặt trong các sự vật, hiện tượng đều cóliên hệ với nhau.

- Tính đa dạng, phong phú: Mối liên hệ của mỗi sự vật, hiện tượng trong mỗilĩnh vực khác nhau có đặc điểm, vị trí, vai trò khác nhau

* Ý nghĩa phương pháp luận:

- Quan điểm toàn diện:

+ Khi nhận thức sự vật, chúng ta phải xem xét sự vật trong mối quan hệbiện chứng qua lại giữa các bộ phận, các yếu tố, các mặt của chính sự vật vàtrong sự tác động qua lại giữa sự vật đó với sự vật khác

+ Phải phân loại, đánh giá vị trí, vai trò của từng mối liên hệ đối với sự vậnđộng, phát triển của sự vật Chú trọng đến những mối liên hệ phổ biến, tất yếucủa sự vật, hiện tượng

- Quan điểm lịch sử - cụ thể: đòi hỏi chúng ta khi xem xét sự vật, hiện tượng

phải xác định được vị trí, vai trò của từng mối liên hệ trong không gian, thời giannhất định

b Nguyên lý về sự phát triển

* Khái niệm phát triển:

- Phát triển là quá trình vận động có quy luật của sự vật từ thấp đến cao, từkém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn, từ chất cũ đến chất mới ở trình độ cao hơn

- Phân biệt sự khác nhau giữa phát triển và vận động: Vận động là bao hàm mọi biến đổi nói chung, còn phát triển biểu hiện tính quy luật, tính khuynh hướng

của vận động: vận động theo khuynh hướng tiến lên làm cho sự vật ngày cànghoàn thiện hơn

* Các tính chất cơ bản của sự phát triển:

- Tính khách quan: Sự phát triển của sự vật, hiện tượng trong thế giới là doviệc giải quyết mâu thuẫn vốn có ở bên trong tạo ra chứ không phụ thuộc vào ýthức con người

- Tính phổ biến: Mọi sự vật, hiện tượng trong tự nhiên, xã hội và tư duy ý thứccon người đều nằm trong khuynh hướng phát triển

- Tính đa dạng, phong phú: Mỗi sự vật, hiện tượng ở mỗi lĩnh vực phát triểnkhác nhau qua từng giai đoạn cụ thể thì sự phát triển có những đặc điểm khácnhau

* Ý nghĩa phương pháp luận:

Cần có quan điểm phát triển khi nghiên cứu, xem xét các sự vật, hiện tượng:

- Quan điểm phát triển đòi hỏi chúng ta khi xem xét sự vật phải đặt nó trongkhuynh hướng tiến lên, có cái mới, cái tiến bộ ra đời thay thế cái cũ Tuy nhiên,

Trang 26

cũng phải nhận thấy rằng sự phát triển của sự vật không diễn ra theo đường thẳng

mà quanh co, phức tạp

Trang 27

- Quan điểm phát triển là cơ sở khoa học giúp chúng ta khắc phục tư tưởngbảo thủ, trì trệ, ngại đổi mới trong nhận thức và hoạt động thực tiễn.

- Nghiên cứu các quá trình phát triển phải phân kỳ lịch sử phát triển củachúng vì sự vật có những tính chất khác nhau trong mỗi giai đoạn phát triểnkhác nhau

2.2 Các cặp phạm trù cơ bản của phép biện chứng duy vật

- Khái niệm là những tri thức của con người phản ánh đúng đắn bản chất

của sự vật, hiện tượng, là kết quả của quá trình nhận thức và kết quả của sựkhái quát trong tư duy

- Phạm trù là những khái niệm chung nhất, phản ánh những mặt, thuộc

tính, mối liên hệ chung, cơ bản nhất của các sự vật, hiện tượng trong một lĩnhvực nhất định

Như vậy, cả “khái niệm” và “phạm trù” đều là tri thức của con người, là kếtquả của quá trình nhận thức, quá trình khái quát hóa, trừu tượng hóa trong tưduy

- Các phạm trù triết học là những khái niệm chung nhất, phản ánh những

mặt, những thuộc tính, những mối liên hệ cơ bản nhất, phổ biến nhất trong cả tựnhiên, xã hội và tư duy

2.2.1 Cái riêng và cái chung

* Định nghĩa “cái riêng”, “cái chung” và “cái đơn nhất”:

- Phạm trù cái riêng dùng để chỉ một sự vật, hiện tượng, quá trình riêng lẻ

nhất định

- Phạm trù cái chung dùng để chỉ những mặt, những thuộc tính, những yếu

tố, những quan hệ lặp lại phổ biến ở nhiều sự vật, hiện tượng

- Phạm trù cái đơn nhất là những mặt, những thuộc tính, những yếu tố,

những quan hệ chỉ tồn tại ở một sự vật, hiện tượng nào đó mà không lặp lại

ở các sự vật, hiện tượng khác

* Mối liên hệ biện chứng giữa cái riêng, cái chung và cái đơn nhất:

- Cả cái chung và cái riêng đều tồn tại khách quan, giữa chúng có mốiquan hệ biện chứng với nhau

+ Cái chung chỉ tồn tại trong cái riêng, thông qua cái riêng mà biểu hiện sựtồn tại của mình Nghĩa là không có cái chung nào tồn tại thuần túy tách rời cáiriêng Sở dĩ cái chung được gọi là cái chung vì nó được khái quát từ những cáiriêng

+ Cái riêng chỉ tồn tại trong mối liên hệ với cái chung Nghĩa là không có cáiriêng nào tồn tại tuyệt đối độc lập mà lại không có mối liên hệ với cái chung Sở

dĩ cái riêng được gọi là cái riêng vì nó được xem xét trong quan hệ với cái chung

Trang 28

+ Cái riêng là cái toàn bộ, phong phú hơn cái chung; còn cái chung là cái bộphận nhưng sâu sắc hơn cái riêng Cái chung sâu sắc hơn cái riêng vì nó phản ánh

Trang 29

những thuộc tính chung bản chất lặp đi lặp lại ở nhiều sự vật Còn cái riêng phong phú hơn cái chung vì nó là cái tổng hợp của cái chung và cái đơn nhất.

- Cái chung và cái đơn nhất có thể chuyển hóa cho nhau trong những điều kiện nhất định

+ Cái chung có thể chuyển hóa thành cái đơn nhất, đó là quá trình tồn tại và tiêu vong dần dần của cái cũ

+ Cái đơn nhất chuyển hóa thành cái chung, đó là quá trình ra đời và phát triển của cái mới

* Ý nghĩa phương pháp luận:

- Vì cái chung chỉ tồn tại trong cái riêng, nên muốn tìm cái chung phảixuất phát từ quan sát những cái riêng

- Vì cái chung thường thể hiện thuộc tính bản chất của cái riêng nên phải dựavào nhận thức cái chung để cải tạo cái riêng và khi vận dụng cái chung vào cáiriêng, phải cá biệt hóa cho phù hợp với đặc điểm của từng cái riêng

- Trong hoạt động thực tiễn, cần tạo điều kiện để cái chung bất lợi và cái đơnnhất có lợi có thể chuyển hóa cho nhau

2.2.2 Nguyên nhân và kết quả

* Định nghĩa “nguyên nhân” và “kết quả”:

- Phạm trù nguyên nhân dùng để chỉ sự tác động lẫn nhau giữa các mặt

trong một sự vật, hiện tượng, hoặc giữa các sự vật, hiện tượng với nhau tạo ra sựbiến đổi nhất định

- Phạm trù kết quả dùng để chỉ những biến đổi xuất hiện do sự tác động giữa

các mặt, các yếu tố trong một sự vật, hiện tượng hoặc giữa các sự vật, hiện tượng

* Mối quan hệ biện chứng giữa nguyên nhân và kết quả:

Mối quan hệ giữa nguyên nhân và kết quả biểu hiện mối quan hệ khách quancủa sự vật, hiện tượng Theo quan điểm biện chứng, nguyên nhân và kết quả cómối liên hệ với nhau, cụ thể như sau:

- Nguyên nhân sinh ra kết quả, nên nguyên nhân luôn có trước kết quả, cònkết quả chỉ xuất hiện sau khi đã có nguyên nhân tác động

- Tính phức tạp của mối quan hệ nhân - quả:

+ Một nguyên nhân sinh ra một hoặc nhiều kết quả

+ Nhiều nguyên nhân sinh ra một hoặc nhiều kết quả Trong trường hợp này

có thể xảy ra hai khả năng:

 Nếu các nguyên nhân tác động cùng chiều nhau, chúng sẽ ảnh hưởng đến sựhình thành kết quả nhanh hơn

 Nếu các nguyên nhân tác động ngược chiều nhau, chúng sẽ làm suy yếulẫn nhau và ngăn chặn sự xuất hiện của kết quả

Trang 30

- Nguyên nhân và kết quả có thể thay đổi vị trí cho nhau Điều này có nghĩalà: Một sự vật, hiện tượng nào đó trong mối quan hệ này là nguyên nhân thìtrong mối quan hệ khác, nó lại là kết quả và ngược lại.

- Kết quả có khả năng tác động trở lại nguyên nhân theo hướng tích cực hoặctiêu cực

* Ý nghĩa phương pháp luận:

- Mối liên hệ nhân - quả có tính khách quan, phổ biến, nghĩa là nhiệm vụcủa nhận thức khoa học là phải tìm ra được nguyên nhân khách quan, tất yếucủa những sự vật, hiện tượng trong tự nhiên, xã hội và tư duy để giải thích vàcải biến được hiện tượng đó

- Mối liên hệ nhân - quả có tính phức tạp, đa dạng nên cần phân biệt chínhxác các loại nguyên nhân để có phương pháp giải quyết cho phù hợp

- Một nguyên nhân có thể có nhiều kết quả và ngược lại, nên trong nhận thức

và hoạt động thực tiễn phải có quan điểm toàn diện và quan điểm lịch sử - cụ thể

để giải quyết và ứng dụng nó

2.2.3 Tất nhiên và ngẫu nhiên

* Định nghĩa “tất nhiên” và “ngẫu nhiên”:

- Tất nhiên là phạm trù chỉ mối liên hệ bản chất, do nguyên nhân cơ bản bên

trong sự vật, hiện tượng quy định và trong điều kiện nhất định phải xảy ra đúngnhư thế chứ không thể khác

- Ngẫu nhiên là phạm trù chỉ mối liên hệ không bản chất, do nguyên nhân,

hoàn cảnh bên ngoài quy định nên có thể xuất hiện, có thể không xuất hiện; cóthể xuất hiện thế này hoặc có thể xuất hiện thế khác

Lưu ý: Cả cái tất nhiên và ngẫu nhiên đều có nguyên nhân của nó, chúng chỉ

khác nhau ở phương thức biểu hiện

* Mối quan hệ biện chứng giữa tất nhiên và ngẫu nhiên:

- Tất nhiên và ngẫu nhiên đều tồn tại khách quan và đều có vai trò nhấtđịnh trong quá trình phát triển của sự vật, trong đó tất nhiên giữ vai trò quyếtđịnh

- Cái tất nhiên và ngẫu nhiên đều tồn tại trong sự thống nhất biện chứngvới nhau; không có cái tất nhiên thuần túy và ngẫu nhiên thuần túy

- Tất nhiên và ngẫu nhiên có thể chuyển hóa cho nhau Cả tất nhiên và ngẫunhiên không nằm yên ở trạng thái cũ mà chúng cũng luôn vận động, biến đổicùng với sự biến đổi của sự vật và trong những điều kiện nhất định có thể chuyểnhóa cho nhau

* Ý nghĩa phương pháp luận:

- Cả tất nhiên và ngẫu nhiên đều tồn tại khách quan, nhưng tất nhiên

không tồn tại dưới dạng thuần túy nên trong hoạt động nhận thức chỉ có thể

Trang 31

chỉ ra được tất nhiên bằng cách nghiên cứu những ngẫu nhiên mà tất nhiênphải đi qua.

Trang 32

- Về căn bản trong hoạt động nhận thức và thực tiễn, chúng ta phải dựavào cái tất nhiên chứ không dựa vào cái ngẫu nhiên để cải tạo sự vật Nhưngmặt khác, cũng phải chú ý tới cái ngẫu nhiên bởi chúng có thể gây thay đổiđột biến ở sự vật, hiện tượng.

- Tất nhiên và ngẫu nhiên có thể chuyển hóa cho nhau Vì vậy, cần tạo điềukiện nhất định để cản trở hoặc thúc đẩy sự chuyển hóa của chúng theo mục đíchnhất định

2.2.4 Nội dung và hình thức

* Định nghĩa “nội dung” và “hình thức”:

- Phạm trù nội dung dùng để chỉ sự tổng hợp tất cả những mặt, yếu tố,quá trình tạo nên sự vật, hiện tượng

- Phạm trù hình thức dùng để chỉ phương thức tồn tại, phát triển của sự vật,hiện tượng đó, là hệ thống các mối liên hệ tương đối bền vững giữa các yếu tố cấuthành nội dung của nó

* Mối quan hệ biện chứng giữa nội dung và hình thức:

- Sự thống nhất giữa nội dung và hình thức:

+ Thống nhất: Nội dung và hình thức gắn bó với nhau trong một chỉnh thểthống nhất Không có hình thức nào tồn tại thuần túy mà không có nội dung vàngược lại không nội dung nào lại không tồn tại trong một hình thức nhất định Nộidung nào hình thức đó

+ Mâu thuẫn: Tuy nhiên không phải bao giờ nội dung và hình thức cũng phùhợp với nhau hoàn toàn Trong quá trình phát triển của sự vật, có thể có hai trườnghợp sau:

 Cùng một hình thức có thể chứa đựng những nội dung khác nhau

 Cùng một nội dung có thể thể hiện ở nhiều hình thức khác nhau

- Nội dung giữ vai trò quyết định hình thức, hình thức tác động trở lại nội dung:

+ Vai trò của nội dung: Khuynh hướng chủ đạo của nội dung là biến đổi,khuynh hướng chủ đạo của hình thức là tương đối bền vững, biến đổi chậm hơn

so với nội dung Nhưng khi các yếu tố của nội dung biến đổi, cách thức liên hệgiữa chúng sớm muộn cũng thay đổi theo, như vậy nội dung giữ vai trò quyếtđịnh đối với hình thức

+ Vai trò của hình thức:

 Nếu hình thức phù hợp với nội dung sẽ thúc đẩy nội dung phát triển

 Nếu hình thức không phù hợp với nội dung sẽ kìm hãm sự phát triển củanội dung

Trang 33

* Ý nghĩa phương pháp luận:

- Vì nội dung và hình thức gắn bó với nhau, nên trong nhận thức không táchrời, tuyệt đối hóa giữa nội dung và hình thức, chống chủ nghĩa hình thức

- Để cải tạo và biến đổi sự vật, trước hết cần căn cứ vào nội dung, song cũngphải chú ý tới hình thức, theo dõi sự phù hợp hoặc không phù hợp giữa nội dung

và hình thức để kịp thời điều chỉnh sự can thiệp của con người vào quá trình biếnđổi sự vật

- Vì nội dung có thể có nhiều hình thức thể hiện và ngược lại, nên muốn cảitạo, biến đổi sự vật, có thể sử dụng nhiều hình thức khác nhau

- Phạm trù hiện tượng dùng để chỉ sự biểu hiện của những mặt, những mối

liên hệ tất nhiên, tương đối ổn định đó ra bên ngoài; là mặt dễ biến đổi hơn và

là hình thức thể hiện của bản chất đối tượng

* Mối quan hệ biện chứng giữa bản chất và hiện tượng:

Bản chất và hiện tượng đều tồn tại khách quan, là hai mặt vừa thống nhất,vừa

đối lập nhau

- Sự thống nhất giữa bản chất và hiện tượng:

+ Bản chất luôn bộc lộ qua hiện tượng; còn hiện tượng nào cũng là biểu hiệncủa bản chất nào đó ở mức độ nhất định Không có bản chất nào tồn tại thuần túyngoài hiện tượng và ngược lại cũng không có hiện tượng nào hoàn toàn khôngphải là biểu hiện của bản chất

+ Khi bản chất thay đổi thì hiện tượng biểu hiện của nó sớm muộn cũng thayđổi theo Bản chất mất thì hiện tượng của nó cũng mất theo

- Sự đối lập giữa bản chất và hiện tượng:

+ Bản chất thể hiện cái chung, cái tất yếu, quyết định sự phát triển của sự vật,còn hiện tượng phản ánh cái riêng, cái cá biệt ở bên ngoài sự vật Vì vậy, cùngmột bản chất có thể biểu hiện bằng những hiện tượng khác nhau, tùy theo sựthay đổi của điều kiện và hoàn cảnh, còn hiện tượng thì phong phú và đa dạng.+ Bản chất là mặt bên trong, ẩn giấu sâu xa hiện thực khách quan, còn hiệntượng là biểu hiện bên ngoài của hiện thực khách quan đó Bản chất không biểuhiện ở một hiện tượng mà ở nhiều hiện tượng Còn hiện tượng chỉ biểu hiện mộtkhía cạnh nào đó của bản chất

Trang 34

+ Bản chất là cái tương đối ổn định, còn hiện tượng là cái thường xuyên biếnđổi.

Trang 35

* Ý nghĩa phương pháp luận:

- Muốn hiểu được bản chất của sự vật phải thông qua nhiều hiện tượng, phảiphân tích tổng hợp sự biến đổi của nhiều hiện tượng, nhất là những hiện tượngđiển hình mới làm rõ bản chất sự vật

- Trong nhận thức không dừng lại ở hiện tượng mà phải tiến tới bản chất

sự vật Còn trong hoạt động thực tiễn, phải dựa vào bản chất sự vật để đưa rađược phương thức cải tạo, biến đổi sự vật

- Một hiện tượng có thể là biểu hiện của nhiều bản chất khác nhau, do đócần phải cẩn thận với những giả tượng, những sự gán ghép sai lầm một hiệntượng với một bản chất nhất định trong khi thực tế nó lại là biểu hiện của bảnchất khác

2.2.6 Khả năng và hiện thực

* Định nghĩa “khả năng” và “hiện thực”:

- Khả năng là tổng thể các tiền đề của sự biến đổi, sự hình thành của hiện thựcmới, là cái có thể, nhưng ngay lúc này còn chưa có

- Hiện thực là kết quả sinh thành, là sự thực hiện khả năng, là cái đang có,đang tồn tại thực sự và là cơ sở để định hình những khả năng mới

* Mối quan hệ biện chứng giữa khả năng và hiện thực:

- Khả năng và hiện thực tồn tại trong mối quan hệ biện chứng không tách rờinhau và luôn chuyển hóa cho nhau Trong sự vật, hiện tượng đang tồn tại đãchứa đựng khả năng và sự vận động, phát triển của sự vật chính là quá trìnhchuyển hóa từ khả năng thành hiện thực và ngược lại

- Ở cùng một sự vật, trong cùng điều kiện nhất định, có thể tồn tại nhiều khảnăng, chứ không phải chỉ có một khả năng Ngoài những khả năng vốn có, khi cóthêm điều kiện mới thì sự vật sẽ xuất hiện những khả năng mới, đồng thời bảnthân mỗi khả năng cũng thay đổi theo sự thay đổi của điều kiện

- Để khả năng biến đổi thành hiện thực thường không chỉ cần một điều kiện

mà là một tập hợp các điều kiện cần và đủ

- Trong xã hội, hoạt động có ý thức của con người có vai trò rất quan trọng

để biến khả năng thành hiện thực Hoạt động có ý thức của con người có thể thúcđẩy hoặc kìm hãm khả năng phát triển theo hướng này hoặc hướng khác để tạo rahiện thực nhanh hoặc chậm

* Ý nghĩa phương pháp luận:

- Trong hoạt động thực tiễn cần dựa vào hiện thực chứ không chỉ thuần túy dựavào khả năng để xác định chủ trương, phương hướng, mục đích hành động của mình

- Tuy không dựa vào khả năng nhưng cũng phải tính đến các khả năng để cóthể xác định được khả năng tối ưu, đề ra phương hướng hành động phù hợp vớiyêu cầu cải tạo, biến đổi sự vật

Trang 36

- Trong xã hội, muốn khả năng biến thành hiện thực phải phát huy tối đa vaitrò của nhân tố chủ quan.

2.3 Các quy luật cơ bản của phép biện chứng duy vật

* Khái niệm quy luật:

Quy luật là những mối liên hệ khách quan, bản chất, tất yếu, phổ biến vàlặp lại giữa các mặt, yếu tố, thuộc tính bên trong sự vật, hay giữa các sự vật,hiện tượng với nhau

* Phân loại quy luật:

- Căn cứ vào phạm vi hoạt động, quy luật được chia ra:

+ Quy luật riêng: tác động trong một lĩnh vực nhất định

+ Quy luật chung: tác động trong một số lĩnh vực

+ Quy luật phổ biến (chung nhất): tác động trong cả tự nhiên, xã hội và tư duy Các quy luật này do phép biện chứng duy vật nghiên cứu

- Căn cứ vào lĩnh vực tác động, quy luật được chia ra:

+ Quy luật tự nhiên: hình thành và tác động một cách tự phát trong tự nhiên.+ Quy luật xã hội: hình thành và tác động thông qua hoạt động của con người

có ý thức, nhưng vẫn mang tính khách quan

+ Quy luật tư duy: là những mối liên hệ của khái niệm, phán đoán, suy luận, phản ánh những quy luật của hiện thực khách quan vào trong đầu óc con người.Phép biện chứng duy vật nghiên cứu những quy luật chung nhất của tự nhiên,

xã hội và tư duy

2.3.1 Quy luật chuyển hóa từ những sự thay đổi về lượng thành những sự thay đổi về chất và ngược lại

Vị trí, vai trò: Quy luật này chỉ ra cách thức chung nhất của sự vận động, phát

triển của sự vật, hiện tượng

a Khái niệm “chất” và “lượng”

* Khái niệm “chất”:

- Chất dùng để chỉ tính quy định khách quan vốn có của sự vật, hiện tượng;

là sự thống nhất hữu cơ của các thuộc tính làm cho sự vật là nó, phân biệt nó với

sự vật khác

- Mối quan hệ giữa chất và thuộc tính:

+ Mỗi sự vật có nhiều thuộc tính cơ bản và không cơ bản, chỉ những thuộctính cơ bản mới hợp thành chất của sự vật, khi nào chúng thay đổi thì chất thay

Trang 37

đổi; còn các thuộc tính không cơ bản thay đổi thì chưa dẫn đến sự thay đổi vềchất của sự vật.

+ Tuy nhiên, sự phân chia này chỉ có ý nghĩa tương đối, được xét trong từng mốiquan hệ cụ thể

- Chất và các phương thức liên kết: Chất của sự vật không chỉ được quy địnhbởi chất của các yếu tố tạo thành mà còn bởi phương thức liên kết của các yếu tố

đó, hay là kết cấu của sự vật

- Kết luận: Muốn thay đổi chất của sự vật có thể bằng ba cách:

+ Thay đổi yếu tố (thuộc tính) cơ bản

+ Thay đổi phương thức liên kết các yếu tố đó

+ Thay đổi cả yếu tố và phương thức liên kết yếu tố đó

* Khái niệm “lượng”:

- Lượng dùng để chỉ tính quy định khách quan vốn có của sự vật về các

phương diện: số lượng các yếu tố cấu thành, quy mô của sự tồn tại, tốc độ, nhịpđiệu của các quá trình vận động, phát triển của sự vật

- Một sự vật có thể tồn tại nhiều lượng khác nhau, xác định bằng các phươngthức khác nhau, phù hợp với từng loại lượng cụ thể của sự vật

- Lượng cũng có tính khách quan, là cái vốn có của sự vật, quy định sự vật đó

- Trong một số trường hợp của xã hội và nhất là trong tư duy lượng khó đođược bằng số liệu cụ thể mà chỉ có thể nhận biết được bằng năng lực trừu tượnghóa

- Sự phân biệt giữa chất và lượng chỉ có ý nghĩa tương đối được xét trongtừng mối quan hệ cụ thể

b Quan hệ biện chứng giữa chất và lượng

* Quá trình chuyển hóa từ những sự thay đổi về lượng thành những sự thay đổi về chất:

- Sự thay đổi về lượng đến một thời điểm nhất định thì tạo ra sự thay đổi vềchất, thời điểm đó gọi là “điểm nút”

“Điểm nút” là phạm trù triết học dùng để chỉ thời điểm mà ở đó sự thay đổi về lượng đã đủ làm thay đổi về chất của sự vật

Trang 38

- Sự vật tích lũy đủ về lượng tại điểm nút sẽ tạo ra “bước nhảy”.

Trang 39

“Bước nhảy” là phạm trù triết học dùng để chỉ sự chuyển hóa về chất của

sự vật do sự thay đổi về lượng trước đó tạo ra

Như vậy, bước nhảy là sự kết thúc một giai đoạn phát triển, đồng thời lại

mở đầu cho giai đoạn phát triển mới tiếp theo, nó là sự gián đoạn trong quátrình phát triển liên tục của sự vật Cứ như vậy cái mới ra đời thay thế cái cũ

* Chất mới ra đời tác động trở lại lượng của sự vật:

Khi chất mới ra đời, nó có tác động trở lại đối với lượng của sự vật, có thểlàm thay đổi quy mô, kết cấu, trình độ, nhịp điệu vận động của sự vật

Khái quát nội dung quy luật: Bất cứ sự vật, hiện tượng nào cũng là sự thống

nhất biện chứng giữa hai mặt chất và lượng Sự thay đổi dần dần về lượng tớiđiểm nút sẽ dẫn đến sự thay đổi về chất thông qua bước nhảy Chất mới ra đờitác động đến sự thay đổi của lượng mới Quá trình đó diễn ra liên tục tạo thànhphương thức phổ biến của các quá trình vận động, phát triển của tự nhiên, xãhội và tư duy

c Ý nghĩa phương pháp luận

- Trong nhận thức và hoạt động thực tiễn, chúng ta phải chú ý cả hai mặt chất

và lượng, tạo nên sự nhận thức toàn diện về sự vật

- Cần chú ý từng bước tích lũy về lượng để tạo ra sự biến đổi về chất; đồng thờiphát huy tác động của chất mới để làm thay đổi lượng mới

- Quy luật này là cơ sở khoa học để chúng ta khắc phục hai biểu hiện tư tưởng sai lầm sau đây:

+ Tư tưởng nóng vội, chủ quan, duy ý chí, muốn tạo nhanh sự biến đổi về chất

mà chưa có sự tích lũy đủ về lượng

+ Tư tưởng bảo thủ, trì trệ, ngại đổi mới, coi sự phát triển chỉ là sự tăng lên đơn thuần về lượng mà không chủ động tạo ra sự biến đổi về chất khi có điều kiện

- Trong hoạt động thực tiễn cần vận dụng linh hoạt các bước nhảy và sử dụngkết hợp các bước nhảy để cải tạo, biến đổi sự vật

2.3.2 Quy luật thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập

Vị trí, vai trò: Quy luật thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập (quy

luật mâu thuẫn) chỉ ra nguồn gốc vận động, phát triển của sự vật, hiện tượngtrong tự nhiên, xã hội và tư duy

a Khái niệm mâu thuẫn và các tính chất chung của mâu thuẫn

* Khái niệm “mâu thuẫn” và “mâu thuẫn biện chứng”:

- Khái niệm mặt đối lập dùng để chỉ những mặt, những thuộc tính, những

khuynh hướng vận động trái ngược nhau của sự vật, hiện tượng

Trang 40

- Khái niệm mâu thuẫn dùng để chỉ mối liên hệ giữa các mặt đối lập của một

sự vật, hiện tượng hoặc giữa các sự vật, hiện tượng với nhau Theo cách hiểuthông thường, mâu thuẫn thường nhấn mạnh khía cạnh vận động trái ngược vàxung đột lẫn nhau của các mặt đối lập

- Các mặt đối lập nằm trong sự liên hệ, tác động qua lại và chuyển hóa lẫn

nhau tạo thành mâu thuẫn biện chứng.

* Các tính chất chung của mâu thuẫn biện chứng:

- Tính khách quan: Mâu thuẫn của sự vật, hiện tượng trong thế giới tồn tạiđộc lập, không phụ thuộc vào ý thức con người; nói cách khác, mâu thuẫn là cáivốn có của bản thân sự vật, hiện tượng

- Tính phổ biến: Mọi sự vật, hiện tượng trong mọi lĩnh vực của tự nhiên, xãhội và tư duy đều tồn tại mâu thuẫn Chỉ có sự khác nhau giữa mâu thuẫn đãphát hiện ra và mâu thuẫn chưa phát hiện ra

- Tính đa dạng: Mỗi sự vật, hiện tượng trong mỗi lĩnh vực khác nhau, quatừng giai đoạn phát triển, mâu thuẫn có đặc điểm, vị trí, vai trò khác nhau đối với

sự vận động, phát triển của sự vật Đó là mâu thuẫn cơ bản và không cơ bản,mâu thuẫn bên trong và bên ngoài, mâu thuẫn chủ yếu và thứ yếu

b Quá trình vận động của mâu thuẫn

- Trong mỗi mâu thuẫn, các mặt đối lập vừa thống nhất, vừa đấu tranhvới nhau:

+ Khái niệm thống nhất của các mặt đối lập dùng để chỉ sự liên hệ, nương

tựa, ràng buộc, làm tiền đề tồn tại cho nhau của các mặt đối lập Sự thống nhấtcủa các mặt đối lập bao hàm sự đồng nhất của nó

+ Khái niệm đấu tranh của các mặt đối lập dùng để chỉ khuynh hướng tác

động qua lại, bài trừ, phủ định nhau của các mặt đối lập

+ Trong mối quan hệ giữa thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập thì sựđấu tranh giữa chúng là tuyệt đối, nói lên sự vận động tuyệt đối của sự vật; còn sựthống nhất của các mặt đối lập là tương đối, là sự đứng im tương đối của sự vật

- Sự phát triển và giải quyết mâu thuẫn:

+ Khi mới xuất hiện, mâu thuẫn biểu hiện ở sự khác biệt giữa hai thuộc tính,hai yếu tố nào đó và dần dần phát triển thành hai mặt đối lập Hai mặt đối lập đótồn tại trong cùng một sự vật, vừa thống nhất, vừa đấu tranh với nhau

+ Theo thời gian, sự khác nhau của hai mặt đối lập phát triển thành sự đối lập.+ Khi hai mặt đối lập của mâu thuẫn xung đột với nhau gay gắt và nếu gặp

điều kiện thích hợp thì hai mặt đối lập sẽ chuyển hóa lẫn nhau, mâu thuẫn

được giải quyết làm cho sự vật cũ mất đi, sự vật mới ra đời

Ngày đăng: 28/05/2022, 18:21

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

+ Hoạt động sản xuất vật chất là cơ sở hình thành nên tất cả các hình thức quan hệ xã hội khác. - Tài liệu Đề Cương Triết học MacLênin
o ạt động sản xuất vật chất là cơ sở hình thành nên tất cả các hình thức quan hệ xã hội khác (Trang 45)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w