1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đánh giá thực trạng suy thoái tài nguyên thiên nhiên ở Việt Nam hiện nay

19 16 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đánh giá thực trạng suy thoái tài nguyên thiên nhiên ở Việt Nam hiện nay
Trường học Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, Hà Nội
Chuyên ngành Khoa học Môi trường
Thể loại Bài tập lớn kết thúc học phần
Năm xuất bản 2022
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 19
Dung lượng 54,97 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tài nguyên thiên nhiên là một món quà vô giá mà thiên nhiên ban tặng cho mỗi quốc gia, đó là một lợi thế để các quốc gia có điều kiện thuận lợi hơn trong việc khai thác và phát triển kinh tế. Tài nguyên thiên nhiên được xem là một yếu tố quan trọng trong quá trình sản xuất. Xét trên phạm vi toàn cầu, nếu không có nguồn tài nguyên thiên nhiên thì không thể có sự tồn tại của con người chúng ta. Có thể thấy được tài nguyên thiên nhiên có vai trò đặc biệt trong quá trình phát triển của các ngành công nghiệp chế biến, khai thác và cung cấp nguyên, nhiên liệu cho các lĩnh vực khác của xã hội, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong nước. Sự dồi dào về tài nguyên thiên nhiên sẽ giúp các quốc gia hạn chế sự lệ thuộc vào quốc gia khác và góp phần giữ vững sự ổn định, độc lập trong sản xuất, phát triển kinh tế. Tuy nhiên, tài nguyên thiên nhiên trên thế giới nói chung và ở Việt Nam nói riêng đang bị suy thoái trầm trọng. Với Việt Nam, nguồn tài nguyên thiên nhiên bị suy giảm cả về mặt số lượng và chất lượng. Nguyên nhân trực tiếp là do hoạt động khai thác một cách bừa bãi và sử dụng nguồn tài nguyên thiên nhiên một cách lãng phí của con người. Với mong muốn nâng cao nhận thức của mọi người về vai trò của tài nguyên thiên nhiên, từ đó đẩy mạnh hoạt động bảo vệ nguồn tài nguyên, em lựa chọn chủ đề: “Đánh giá thực trạng suy thoái tài nguyên thiên nhiên ở Việt Nam hiện nay” làm đề tài nghiên cứu.

Trang 1

TÊN ĐỀ TÀI: ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG SUY THOÁI

TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

BÀI TẬP LỚN KẾT THÚC HỌC PHẦN Học phần: MÔI TRƯỜNG VÀ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG

Mã phách:………

Hà Nội – 2022

Trang 2

MỤC LỤC

PHẦN 1: MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu 2

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2

4 Phương pháp nghiên cứu 2

5 Ý nghĩa của việc nghiên cứu đề tài 3

PHẦN 2: NỘI DUNG 4

CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VÂN ĐỀ LÍ LUẬN CHUNG VỀ SUY THOÁI TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN 4

1.1 Khái niệm tài nguyên thiên nhiên 4

1.2 Các dạng tài nguyên thiên nhiên 4

1.3 Khái niệm suy thoái tài nguyên thiên nhiên 5

CHƯƠNG 2: ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG SUY THOÁI TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 6

2.1 Suy thoái tài nguyên đất ở Việt Nam hiện nay 6

2.2 Suy thoái tài nguyên nước ở Việt Nam hiện nay 9

2.3 Suy thoái tài nguyên rừng ở Việt Nam hiện nay 11

PHẦN 3: KẾT LUẬN 15

PHẦN 4: DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 16

Trang 3

PHẦN 1: MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Tài nguyên thiên nhiên là một món quà vô giá mà thiên nhiên ban tặng cho mỗi quốc gia, đó là một lợi thế để các quốc gia có điều kiện thuận lợi hơn trong việc khai thác và phát triển kinh tế Tài nguyên thiên nhiên được xem là một yếu tố quan trọng trong quá trình sản xuất Xét trên phạm vi toàn cầu, nếu không có nguồn tài nguyên thiên nhiên thì không thể có sự tồn tại của con người chúng ta

Có thể thấy được tài nguyên thiên nhiên có vai trò đặc biệt trong quá trình phát triển của các ngành công nghiệp chế biến, khai thác và cung cấp nguyên, nhiên liệu cho các lĩnh vực khác của xã hội, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong nước Sự dồi dào về tài nguyên thiên nhiên sẽ giúp các quốc gia hạn chế sự lệ thuộc vào quốc gia khác và góp phần giữ vững sự ổn định, độc lập trong sản xuất, phát triển kinh tế

Tuy nhiên, tài nguyên thiên nhiên trên thế giới nói chung và ở Việt Nam nói riêng đang bị suy thoái trầm trọng Với Việt Nam, nguồn tài nguyên thiên nhiên bị suy giảm cả về mặt số lượng và chất lượng Nguyên nhân trực tiếp là do hoạt động khai thác một cách bừa bãi và sử dụng nguồn tài nguyên thiên nhiên một cách lãng phí của con người

Với mong muốn nâng cao nhận thức của mọi người về vai trò của tài nguyên thiên nhiên, từ đó đẩy mạnh hoạt động bảo vệ nguồn tài nguyên, em

lựa chọn chủ đề: “Đánh giá thực trạng suy thoái tài nguyên thiên nhiên ở Việt Nam hiện nay” làm đề tài nghiên cứu.

Trang 4

2 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

2.1 Mục tiêu nghiên cứu

Đề tài được thực hiện nhằm nâng cao nhận thức của mọi người về vai trò của tài nguyên thiên nhiên và đưa ra một số giải pháp hạn chế tình trạng suy thoái tài nguyên thiên nhiên ở Việt Nam

2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Một là, phân tích tình trạng suy thoái tài nguyên thiên nhiên ở Việt Nam hiện nay

Hai là, từ thực trạng vừa phân tích, đưa ra một số giải pháp hạn nhằm chế tình trạng suy thoái tài nguyên thiên nhiên ở nước ta

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đề tài nghiên cứu về sự suy giảm của một số loại tài nguyên thiên nhiên tiêu biểu ở Việt Nam: tài nguyên đất, tài nguyên nước, tài nguyên rừng 3.2 Phạm vi nghiên cứu

Về không gian: đề tài tập trung nghiên cứu trong pham vi không gian lãnh thổ đất nước Việt Nam

Về thời gian: chủ yếu nghiên cứu sự suy thoái tài nguyên thiên nhiên từ giai đoạn 2000 – nay

Về nội dung: Đề tài chỉ tập trung vào một số nguồn tài nguyên thiên nhiên tiêu biểu bị suy thoái mà ảnh hưởng lớn đến đời sống con người

4 Phương pháp nghiên cứu

4.1 Phương pháp phân tích và tổng hợp

Phân chia đối tượng thành những bộ phận, những mặt, những yếu tố đơn giản hơn để phân tích, phát hiện ra bản chất, thuộc tính, quy luật của từng

Trang 5

bộ phận nhận của đối tượng nghiên cứu để từ đó hiểu rõ hơn đối tượng nghiên cứu

Tổng hợp là quá trình đi ngược lại với phân tích từ kết quả phân tính những phần, bộ phận sau khi đã bóc tách để nhìn thấy được cái bao quát, cái chung từ đó tìm ra bản chất, quy luật của đối tượng nghiên cứu

4.2 Phương pháp lịch sử và logic

Phương pháp lịch sử là tìm hiểu, xem xét vấn đề một cách cụ thể, các

sự kiện diễn ra trong một bối cảnh cụ thể theo trình tự thời gian liên tục kể từ khi bắt đầu đến khi kết thúc trong mối quan hệ của nó với sự kiện khác nhằm chỉ ra điểm đặc trưng, khác biệt của nó với các sự vật, hiện tượng khác

Khác với phương pháp lịch sử, phương pháp logic không chỉ quan sát

sự biến động của sự vật, hiện tượng theo sự vận động của thời gian mà còn đi sâu phân tích, tổng hợp để tìm ra bản chất, quy luật nằm nằm ẩn giấu trong sự kiện, hiện tượng đó

4.3 Phương pháp quan sát khoa học

Đây là phương pháp thu thập thông tin về đối tượng nghiên cứu bằng cách tri giác, quan sát xung quanh các vận động hay sự tác động đối với chủ thể Việc quan sát mang đến tổng thể trong phản ánh, đánh giá sự cập nhật kịp thời và phản ánh đối tượng ngay tại thời điểm phân tích

5 Ý nghĩa của việc nghiên cứu đề tài

Đề tài có ý nghĩa nâng cao nhận thức của mọi người về tình trạng suy thoái tài nguyên thiên nhiên ở Việt Nam hiện nay và phát huy vai trò trách nhiệm của con người trong việc bảo vệ và phát triển môi trường bền vững

Trang 6

PHẦN 2: NỘI DUNG CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VÂN ĐỀ LÍ LUẬN CHUNG VỀ SUY THOÁI TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN

1.1 Khái niệm tài nguyên thiên nhiên

Theo bách khoa toàn thư mở Wikipedia, ta có khái niệm sau về “tài

nguyên thiên nhiên”: Tài nguyên thiên nhiên là những của cải vật chất có sẵn trong tự nhiên mà con người có thể khai thác, chế biến, sử dụng, phục vụ cuộc sống của con người (rừng cây, các động vật, thực vật quý hiếm, các mỏ khoáng sản, các nguồn nước, đất đai, dầu, khí ) Tài nguyên thiên nhiên, hay

còn gọi là tài nguyên môi trường là một bộ phận thiết yếu của môi trường, có quan hệ chặt chẽ với môi trường

Như vậy, tài nguyên thiên nhiên chính là các dạng vật chất được tạo thành trong suốt quá trình hình thành và phát triển của tự nhiên và sinh vật Các dạng vật chất đó cung cấp nguyên, vật liệu do tự nhiên tạo ra mà con người có thể khai thác và sử dụng trong sản xuất và đời sống, là những điều kiện cần thiết cho sự tồn tại của xã hội loài người

1.2 Các dạng tài nguyên thiên nhiên

Hằng năm, con người khai thác từ môi trường tự nhiên khoảng 40 – 45

tỉ tấn nguyên vật liệu Các dạng tài nguyên thiên nhiên chủ yếu bao gồm: các nguồn năng lượng (năng lượng gió, năng lượng thủy triều, năng lượng hạt nhân, năng lượng nhiệt, năng lượng Mặt Trời,…), nguồn nước, không khí, đất đai, tài nguyên rừng, khoáng sản, nguồn sinh vật (động vật, thực vật),…

Tài nguyên thiên nhiên là tư liệu sản xuất bao quát nhất, là điều kiện không thể không có của hoạt động sản xuất trong xã hội Tài nguyên thiên nhiên có thể được phân chia thành nhiều loại khác nhau tùy thuộc vào đặc

Trang 7

tính, tính chất và mục đích sử dụng của chúng Trong phạm vi bài tiểu luận,

em phân chia tài nguyên thiên nhiên thành các dạng như sau:

Thứ nhất, tài nguyên tái tạo như nước ngọt, đất, sinh vật,… là tài nguyên có thể tự duy trì hoặc tự bổ sung một cách liên tục khi được quản lý một cách hợp lý Tuy nhiên, nếu sử dụng không hợp lý, tài nguyên tái tạo được có thể bị suy thoái không thể tái tạo Ví dụ: tài nguyên nước có thể bị ô nhiễm, tài nguyên đất có thể bị mặn hoá, bạc màu, xói mòn v.v

Thứ hai, tài nguyên không tái tạo là loại tài nguyên tồn tại hữu hạn, sẽ mất đi hoặc biến đổi sau quá trình sử dụng Ví dụ như tài nguyên khoáng sản của một mỏ có thể cạn kiệt sau khi khai thác

Thứ ba, tài nguyên năng lượng vĩnh cửu như năng lượng mặt trời, gió, sóng, thủy triều, đang được nghiên cứu sử dụng ngày một nhiều, thay thế dần các năng lượng đang bị cạn kiệt và hạn chế được tình trạng ô nhiễm môi trường

Tài nguyên là những nguồn có sẵn, dùng để khai thác từ đó tạo ra các sản phẩm vật chất khác phục vụ cho nhu cầu sử dụng hoặc xuất khẩu Ví dụ: Nguồn tài nguyên nước sau khi qua xử lý (tiệt trùng, đóng chai,…) và mang

ra thị trường; Nguồn tài nguyên rừng: sau khi đốn cây và qua xử lý, cây sẽ được tái tạo thành gỗ, sản xuất giấy,…

Tài nguyên không bao gồm các sản phẩm tái chế, các sản phẩm thuộc phân khúc rác thải, lương thực đã chế biến, các sản phẩm công - nông nghiệp như cá, tôm, nhựa, giấy, gạo, các sản phẩm từ ngành công nghiệp nói chung

1.3 Khái niệm suy thoái tài nguyên thiên nhiên

Từ những tìm hiểu về tài nguyên thiên nhiên, ta có khái niệm về “suy

thoái tài nguyên thiên nhiên như sau: Suy thoái tài nguyên thiên nhiên là sự làm thay đổi chất lượng và số lượng của thành phần môi trường, gây ảnh hưởng tiêu cực đến đời sống của con người và thiên nhiên, phá hủy thành

Trang 8

phần các hệ sinh thái và làm tuyệt chủng các loài sinh vật hoang dã, quý hiếm.

Trong suy thoái tài nguyên thiên nhiên, thành phần môi trường được hiểu và các yếu tố cấu thành nên môi trường, bao gồm: đất đai, nguồn nước, không khí, ánh sáng, rừng, núi, các hệ sinh thái, danh lam thắng cảnh, cảnh quan thiên nhiên, sinh vật,…

CHƯƠNG 2: ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG SUY THOÁI TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

2.1 Suy thoái tài nguyên đất ở Việt Nam hiện nay

2.1.1 Thực trạng suy thoái tài nguyên đất

Khi nói đến suy thoái tài nguyên đất, người ta thường đề cập đến suy thoái chức năng phục vụ sản xuất nông nghiệp của nó Đất bị suy thoái là những loại đất đã bị tác động nhất định theo thời gian đã và đang mất đi những đặc tính và tính chất vốn có ban đầu trở thành các loại đất mang đặc tính và tính chất không có lợi cho sinh trưởng và phát triển của các loại cây trồng nông và lâm nghiệp

Nằm trong vùng ảnh hưởng của vòng xoáy công nghiệp hoá, hiện đại hoá, đất đai ở Việt Nam đang trong tình trạng bị suy thoái rất nghiêm trọng Ở nước ta, tài nguyên đất được xem là một dạng tài nguyên vật liệu cho con người phục vụ các chức năng như: làm nhà, nơi ở, nơi xây dựng cơ sở hạ tầng cho con người; làm nguyên liệu sản xuất và là mặt bằng để canh tác, sản xuất nông, lâm nghiệp

Sự hình thành đất đai ở Việt Nam nói riêng và đất đai trên thế giới nói chung là một quá trình lâu dài có liên quan mật thiết tới địa hình, khí hậu, thực vật, động vật, đá mẹ và con người Đất là một hệ sinh thái hoàn chỉnh nên thường bị ô nhiễm bởi các hoạt động của con người

Trang 9

Sự bùng nổ các hoạt động xây dựng cơ sở hạ tầng, tốc độ đô thị hóa cao

ở nước ta, việc chuyển đổi một diện tích lớn đất nông nghiệp và ao hồ thành đất xây dựng đô thị ảnh hưởng đến phát triển nông nghiệp, an ninh lương thực,… cũng như làm giảm một phần không nhỏ diện tích đất nông nghiệp, gây suy thoái tài nguyên đất

Những dự án khu đô thị, khu công nghiệp, sân golf ở các đô thị của Việt Nam vẫn ngày một mở rộng, một phần không nhỏ đất nông nghiệp vẫn

bị thu hồi Khi đất nông nghiệp bị chuyển đổi mục đích sử dụng, sẽ dẫn đến tình trạng kết cấu đất thay đổi trên diện rộng Bên cạnh đó, chất thải từ các khu công nghiệp, thuốc diệt cỏ sẽ gây nên tình trạng xói mòn, xói lở, sa mạc hóa,…

Diện tích đất nông nghiệp trên đầu người ở nước ta ngày càng giảm, hiện còn 0,448 ha/người, bằng khoảng 1/6 mức trung bình trên thế giới Suy thoái đất đặc biệt nghiêm trọng ở vùng đồi núi Hiện nay, nhóm đất có vấn đề của nước ta gồm 1,8 triệu ha đất phèn; 4,8 triệu ha đất bạc màu và xói mòn ở trung du và miền núi; 0,5 triệu ha đất cát; 2,5 triệu ha đất xám bạc màu thoái hoá

Lượng đất đai bị mất do xói mòn còn phụ thuộc vào độ dốc, chiều dài sườn dốc, thực trạng lớp phủ thực vật, dao động từ 100 – 500 tấn/ha/năm Trung bình lượng chất dinh dưỡng của đất hằng năm bị mất đi là: chất hữu cơ

5600 tấn/năm, nitơ 199,2 kg/năm, lân 163 kg/năm, Ca và Mg 33 kg/năm

Hiện tượng sa mạc hóa là sản phẩm cuối cùng của suy thoái tài nguyên đất xảy ra ở vùng khô hạn và bán khô hạn Việt Nam có sa mạc cụ bộ là các dải dẹp ven biển miền Trung, tập trung ở Quảng Bình đến Bình Thuận với khoảng 419.000 ha, đồng bằng sông Cửu Long khoảng 43.000 ha Hiện tượng

sa mạc hoá đang tăng cường kèm theo các quá trình tai biến trường điện như

Trang 10

rửa trôi, xói mòn, mặn hoá, phèn hoá, ô nhiễm, bồi tụ không mong đợi, hạn hán, hoang hoá, úng lụt, thoái hoá hữu cơ, xói lở bờ sông, bờ biển

2.1.2 Nguyên nhân gây suy thoái tài nguyên đất

Xét về yếu tố tự nhiên, suy thoái tài nguyên đất có thể do sự vận động địa chất của Trái Đất: động đất, sóng thần, sông suối bị thay đổi dòng chảy,

do hoạt động của núi lửa, nước biển xâm nhập,…

Ngoài ra, nguyên nhân tự nhiên có thể do sự thay đổi khí hậu, thời tiết như: mưa, nắng, gió, bão, nhiệt độ môi trường,…

Xét về yếu tố con người, suy thoái tài nguyên đất có thể gây ra từ hoạt động chặt phá rừng làm nương rẫy của người dân, suy thoái do ô nhiễm môi trường đất từ nước thải, chất thải rắn, ô nhiễm dầu, hóa chất độc hại hoặc thuốc trừ sâu,…

Mặt khác, hoạt động canh tác trên đất dốc với phương thức lạc hậu của nông dân Việt Nam như cạo sạch đồi, chọc lỗ bỏ hạt, không có biện pháp chống xói mòn, không luân canh,…Bên cạnh đó, chế độ canh tác độc canh,

bỏ hoang hóa, không bón phân hoặc bón phân không hợp lý, phun thuốc trừ sâu, diệt cỏ cũng là nguyên nhân chính gây nên tình trạng xuống cấp của tài nguyên đất ở nước ta

2.1.3 Biện pháp hạn chế suy thoái tài nguyên đất

Thứ nhất, để hạn chế được tình trạng suy thoái đất ở các vùng đồi núi, người dân nên chuyển đổi phương thức canh tác sang làm ruộng bậc thang

Thứ hai, đẩy mạnh các biện pháp lâm nghiệp như:

- Giao đất trồng rừng

- Bảo vệ rừng, nhất là rừng đầu nguồn, rừng hành lang, rừng phòng hộ môi trường để đất đai được bao bọc tốt

- Trồng rừng phủ xanh đất trống, đồi trọc

Trang 11

Thứ ba, thực hiện các biện pháp cải tạo đối với từng loại đất suy thoái như sau:

- Đối với đất bị xói mòn: Trồng cây là biện pháp tốt nhất để cải tạo đất xói mòn, che phủ mặt đất bằng thực vật, trồng cây có rễ sâu,…Ngoài ra, người dân cần bón phân vi sinh, phân hữu cơ để tăng hàm lượng dinh dưỡng trong đẩ và tăng kết cấu đất

- Đối với đẩ bị mặn: Cần thực hiện bón vôi; xây dựng hệ thống đê biển

để nước mặn không xâm nhập vàp, đồng thời dẫn nước ngọt rửa mặn cho đất thường xuyên

- Đối với đất phèn: Cần sử sụng nước ngọt để rửa phèn, đất phèn sau khi vỡ hoang cho ngập một vài vụ có thể tiến hành khai thác, thực hiện bón vôi giảm độc chất Fe, Al, Mn,…Ngoài ra, có thể bón phân lân nung chảy

2.2 Suy thoái tài nguyên nước ở Việt Nam hiện nay

2.2.1 Thực trạng suy thoái tài nguyên nước

Việt Nam có tổng lượng nước là 880 tỷ m3, nhưng lượng nước có trong nội địa chỉ là 325 tỷ m3 Như vậy có thể khẳng định rằng Việt Nam phụ thuộc quá nhiều vào nguồn nước quá cảnh, chảy từ các nước láng giềng tới Điều này đòi hỏi một chiến lược hợp tác quản lý và sử dụng hợp lý lưu vực với các nước láng giềng

Nguồn nước ngầm cũng đang ở trong tình trạng bị suy thoái trầm trọng Đặc biệt là hàm lượng asen trong các mẫu nước ngầm điển hình như khu vực đồng bằng Bắc Bộ nói chung đều cao hơn nhiều so với tiêu chuẩn cho pháp Trong khi đó, việc khai thác nước ngầm cũng chưa có quy hoạch hoàn chỉnh, tình trạng người dân tự khoan giếng diễn ra khắp nơi nên tình trạng ô nhiễm ngày càng nghiêm trọng

Tất cả các dòng sông đều đã bị nhiễm bẩn, đặc biệt là sông Cầu và sông Vàm Cỏ Đông đã bị ô nhiễm nặng Sông Đồng Nai thuộc mức ô nhiễm trung

Ngày đăng: 27/05/2022, 20:51

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w