1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Bài giảng lâm sinh học ĐH NÔNG LÂM TPHCM

78 7 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Cơ Sở Chung Về Lâm Nghiệp
Trường học Đại Học Nông Lâm TPHCM
Chuyên ngành Lâm Sinh Học
Thể loại Bài Giảng
Thành phố TPHCM
Định dạng
Số trang 78
Dung lượng 129,6 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

CHƯƠNG I CƠ SỞ CHUNG VỀ LÂM NGHIỆP 1 1 Khái niệm lâm nghiệp và đặc điểm sản xuất lâm nghiệp 1 1 1 Khái niệm lâm nghiệp Lâm nghiệp là ngành sản xuất vật chất trong nền kinh tế quốc dân, có nhiệm vụ trồng cây gây rừng, chăm sóc, nuôi dưỡng, bảo vệ rừng, khai thác, vận chuyển và chế biến lâm sản Theo khái niệm này, lâm nghiệp vừa có chức năng tạo rừng, quản lý rừng vừa có chức năng sử dụng rừng và đáp ứng nhu cầu tiêu dùng cuối cùng về sản phẩm rừng cho nền kinh tế quốc dân và đời sống xã hội Tuy n.

Trang 1

CHƯƠNG I: CƠ SỞ CHUNG VỀ LÂM NGHIỆP

1.1 Khái niệm lâm nghiệp và đặc điểm sản xuất lâm nghiệp

1.1.1.Khái niệm lâm nghiệp: Lâm nghiệp là ngành sản xuất vật chất trong nền

kinh tế quốc dân, có nhiệm vụ trồng cây gây rừng, chăm sóc, nuôi dưỡng, bảo

vệ rừng, khai thác, vận chuyển và chế biến lâm sản.

Theo khái niệm này, lâm nghiệp vừa có chức năng tạo rừng, quản lý rừng vừa cóchức năng sử dụng rừng và đáp ứng nhu cầu tiêu dùng cuối cùng về sản phẩm rừngcho nền kinh tế quốc dân và đời sống xã hội Tuy nhiên, theo quan điểm này đã đặt

ra hàng loạt các vấn đề cần nghiên cứu, giải quyết đối với ngành lâm nghiệp như vấn

đề đầu tư, tổ chức quản lý, áp dụng tiến bộ khoa học công nghệ, đánh giá hiệu quảlâm nghiệp, chính sách phát triển lâm nghiệp…

1.1.2 Đặc điểm của sản xuất lâm nghiệp

Đối tượng của sản xuất lâm nghiệp là rừng và đất rừng Từ đó lâm nghiệp có một sốđặc điểm chính sau:

1.1.2.1 Chu kỳ sản xuất lâm nghiệp tương đối dài (hàng chục năm)

Cây rừng có quy luật sinh trưởng và phát triển khác nhau tùy thuộc vào đặc tính sinhvật học của chúng Dù cây rừng có khác nhau nhưng nhìn chung chu kỳ sinh trưởng

và phát triển của chúng tương đối dài cho nên làm cho chu kỳ sản xuất trong lâmnghiệp cũng tương đối dài Do đó ảnh hưởng đến vấn đề đầu tư, tích lũy và tái sảnxuất mở rộng quy mô sản xuất lâm nghiệp

1.1.2.2 Quá trình tái sản xuất kinh tế xen kẽ với quá trình tái sản xuất tự nhiên trong đó quá trình tái sản xuất tự nhiên là chủ yếu và có tác dụng quyết định

Tài nguyên rừng có khả năng tự lớn lên theo thời gian và kể cả khi không cần tácđộng biện pháp kỹ thuật của con người Đây chính là quá trình tái sản xuất tự nhiênnhưng nếu chỉ chú ý đến quá trình tái sản xuất tự nhiên mà không chú ý đến tái sảnxuất kinh tế thì hiệu quả sẽ thấp như cứ đế tái sinh tự nhiên sử dụng giống cũ thoáihóa năng suất sẽ thấp không phù hợp với nhu cầu của con người, thị trường, ngượclại nếu chỉ chú ý đến tái sản xuất kinh tế đặc biệt là trong điều kiện kinh tế thịtrường, lợi nhuận là mục tiêu của các doanh nghiệp, chỉ chú ý đến cây trồng, năngsuất cao, giống mới mà không quan tâm đến điều kiện đất đai, khí hậu thì có thể lạiđem lại năng suất thấp và thậm chí không có sản phẩm Từ đặc điểm này cho thấy

Trang 2

cây trồng nhạy cảm với các yếu tố ngoại cảnh Mọi sự thay đổi về thời tiết, khí hậuđều tác động trực tiếp đến sự sinh trưởng phát triển, phát dục của cây trồng, đến kếtquả thu hoạch sản phẩm và gặp nhiều rủi ro trong sản xuất lâm nghiệp

1.1.2.3 Sản xuất lâm nghiệp có tính thời vụ: Đặc điểm này thể hiện ở những khía

cạnh sau: Cây rừng có quan hệ chặt chẽ với điều kiện khí hậu, đất đai, sinh trưởng vàphát triển phải tuân theo những quy luật nhất định Mọi tác động kỹ thuật vào câyrừng đều phải phù hợp với đặc điểm loài cây và mối quan hệ của nó với môi trườngkhí hậu đất đai Quá trình ra hoa kết quả, gieo ươm, trồng cây là những quá trìnhsinh học phụ thuộc nhiều vào thời tiết, khí hậu Sự biến thiên của thời tiết khí hậu đãlàm cho mỗi loài cây trồng có sự thích ứng nhất định với điều kiện đó Mùa trồngphải là mùa mưa, trái lại mùa khai thác phải là mùa khô

1.1.2.4 Sản xuất lâm nghiệp có tác dụng nhiều mặt Quá trình sản xuất lâm nghiệp

tạo ra rừng, rừng đến tuổi thành thục công nghệ có tác dụng cung cấp lâm đặc sảncho nền kinh tế quốc dân và đời sống xã hội Rừng đang ở giai đoạn sinh trưởng vàphát triển như rừng non, rừng sào… có tác dụng phòng hộ và bảo vệ môi trường,cảnh quan văn hóa xã hội

1.1.2.5 Sản xuất lâm nghiệp tiến hành trên địa bàn rộng lớn có kết cấu hạ tầng thấp

và nhân dân sống xen kẽ trong rừng: Sản xuất lâm nghiệp chủ yếu thực hiện ở các

vùng trung du, miền núi, có cơ sở hạ tầng dịch vụ sản xuất và đời sống thấp, trình độdân trí không cao đã ảnh hưởng đến việc chuyển giao khoa học công nghệ và pháttriển sản xuất Trên diện tích đất lâm nghiệp có hàng triệu người dân sinh sống vàsản xuất Đời sống của họ dựa vào rừng là chủ yếu, đó là nhân tố tác động tiêu cựcdến rừng nhưng cũng là nhân tố trung tâm nhằm tái tạo rừng nếu có chính sách hợplòng dân

1.1.2.6 Sản xuất lâm nghiệp có nhiều thành phần kinh tế tham gia: như thành phần

kinh tế hộ gia đình, nhóm hộ, cộng đồng, công ty lâm nghiệp, doanh nghiệp và nhànước cho nên cần có chính sách thích hợp nhằm tạo ra môi trường thuận lợi cho cácthành phần kinh tế tồn tại và cạnh tranh cùng phát triển, đồng thời khai thác thếmạnh của mỗi thành phần kinh tế

Trang 3

1.2 Phát triển lâm nghiệp

Phát triển lâm nghiệp hiểu theo nghĩa chung nhất là quá trình nâng cao đời sống vậtchất, tinh thần cho con người bằng phát triển lực lượng sản xuất, thay đổi quan hệsản xuất và phát triển các điều kiện văn hóa xã hội cho người làm nghề rừng Pháttriển lâm nghiệp bao gồm: Phát triển kinh tế, phát triển dân trí, giáo dục, phát triển y

tế Để đánh giá phát triển lâm nghiệp người ta thường dựa vào chỉ số phản ánh sựphát triển kinh tế lâm nghiệp và các chỉ số xã hội

1.2.1 Các chỉ số phản ánh sự phát triển kinh tế lâm nghiệp

Các chỉ số phản ánh sự phát triển kinh tế lâm nghiệp gồm có: Chỉ số phán ánh sựtăng trưởng kinh tế và các chỉ số về cơ cấu kinh tế -xã hội

1.2.1.1 Các chỉ số phản ánh sự tăng trưởng kinh tế: Có 2 chỉ số cơ bản là Tổng thu

nhập và chỉ số thu nhập bình quân đầu người

Tổng thu nhập: Phản ánh quy mô sản lượng hàng hóa dịch vụ đã làm ra trongnăm gồm (1) Tổng sản phẩm trong nước hay tổng sản phẩm quốc nội (GDP) đượchiểu là toàn bộ sản phẩm và dịch vụ mới được tạo ra trong năm của tất cả các đơn vịthường trú ở trong nước (2) Tổng sản phẩm quốc dân (GNP) là toàn bộ sản phẩm,dịch vụ cuối cùng mà tất cả công dân một nước tạo ra và có thể thu nhập trong nămkhông phân biệt sản xuất được thực hiện trong nước hay nước ngoài (3) Sản phẩmquốc dân dòng (NNP) phản ánh phần của cải thực sự mới tạo ra hàng năm (4) chỉtiêu thu nhập quốc dân (NI) nói lên thực chất kết quả hoạt động kinh tế bởi sự huyđộng nguồn lực cho nền kinh tế từ mọi bộ phận trong xã hội

Chỉ số thu nhập bình quân đầu người: Thông thường sử dụng chỉ số GNP bìnhquân đầu người và GDP bình quân đầu người

1.2.1.2 Các chỉ số về cơ cấu kinh tế - xã hội

Có các chỉ số như: (1) Chỉ số cơ cấu ngành trong tổng sản phẩm quốc nội, chỉ số nàyphản ánh GDP của lâm nghiệp chiếm tỷ lệ bao nhiêu phần trăm trong GDP của toànquốc (2) Chỉ số về cơ cấu hoạt động ngoại thương xuất khẩu (xuất khẩu ròng) phảnánh sự mở cửa của nền kinh tế lâm nghiệp (3) Chỉ số về sự liên kết kinh tế biểu hiện

ở mối quan hệ trong sản xuất và giao lưu kinh tế giữa ngành Lâm nghiệp với cácngành khác…

1.2.2 Các chỉ số xã hội của phát triển lâm nghiệp

Trang 4

Có các chỉ số: Tuổi thọ bình quân, mức tăng dân số hàng năm, số calo bình quânđầu người, tỷ lệ người biết chữ trong dân số, số bệnh viện, số giường bệnh…

1.2.3 Các chỉ số môi trường trong phát triển lâm nghiệp

Có các chỉ số: Tỷ lệ che phủ rừng hàng năm, độ tàn che, diện tích rừng được trồngmới, diện tích rừng được bảo vệ- quản lý…

1.3 Vai trò lâm nghiệp trong nền kinh tế quốc dân và đời sống xã hội

1.3.1 Vai trò cung cấp: Lâm nghiệp là ngành sản xuất vật chất tham gia vào tái sản

xuất tổng sản phẩm xã hội Hàng năm, một phần trong tổng số sản phẩm do lâmnghiệp sản xuất dưới dạng hàng hóa đáp ứng cho nhu cầu tiêu dung của nền kinh tếquốc dân và đời sống xã hội như gỗ và lâm sản trong khai thác chính, gỗ chặt tronggiai đoạn tỉa thưa, nuôi dưỡng rừng, vệ sinh rừng… hạt giống, cây con, lâm sảnngoài gỗ như nấm, mật ong rừng, rau rừng, dược liệu… Trong các sản phẩm nàyphải kể đến gỗ Gỗ cung cấp cho hầu hết các ngành công nghiệp, xây dựng, giaothông vận tải và trong mỗi gia đình Ngày nay hầu như không có một ngành nàokhông dùng đến gỗ vì nó là nguyên liệu phổ biến, dễ gia công chế biến, có tính thẩm

mỹ cao và được nhiều người ưa chuộng Cùng với sự phát triển của xã hội dưới tácđộng của khoa học kỹ thuật chúng ta đã sản xuất ra nhiều sản phẩm thay thế gỗ tuynhiên nhu cầu về gỗ và sản phẩm từ gỗ vẫn không ngừng tăng lên cả về số lượng vàchất lượng Ngoài sản phẩm gỗ, lâm nghiệp còn cung cấp các sản phẩm ngoài gỗ nhưTre, nứa, đặc sản rừng, động vật có giá trị cho tiêu dùng và xuất khẩu Lâm nghiệpphát triển có ảnh hưởng đến sự phát triển của nhiều ngành công nghiệp vì lâmnghiệp cung cấp nguyên liệu cho các ngành kinh tế đó

1.3.2 Vai trò bảo vệ môi trường sống, cảnh quan văn hóa xã hội: Lâm nghiệp thực

hiện tái sản xuất tài nguyên rừng Rừng không chỉ có giá trị về mặt cung cấp lâm sản

mà đang trong quá trình sinh trưởng và phát triển rừng có vai trò bảo vệ môi trườngsống, cảnh quan văn hóa xã hội, là cơ sở bền vững để bảo vệ môi trường chung nhưrừng có tác dụng bảo vệ đất chống xói mòn, rửa trôi, điều hòa nguồn nước, làm sạchkhông khí, làm giảm sức phá hủy của gió bão, bảo tồn sự đa dạng sinh học, giảmtiếng ồn…Ví dụ Rừng làm giảm biên độ biến động nhiệt độ ngày đêm của không khí

và đất Vào lúc giữa trưa hè nhiệt độ ngoài chỗ trống có thể cao hơn nhiệt độ trongrừng từ 50C đến 100C, về ban đêm do rừng có khả năng bảo vệ mặt đất khỏi sự phát

Trang 5

xạ nhiệt nên không khí trong rừng ấm hơn ngoài chỗ trống 2 -50C Về mùa đông,chênh lệch nhiệt độ trong rừng và ngoài chỗ trống ít hơn, nhiệt độ trong rừng ấm hơnnhiệt độ ngoài chỗ trống từ 2 -50C vì rừng có khả năng làm giảm tốc độ gió làm cho

sự tỏa nhiệt từ cơ thể con người yếu đi hoặc trong một ngày mùa hè thuận lợi 1 harừng tạo ra 120 -150kg sinh khối tương ứng hấp thu 220 – 275kg CO2 và giải phóng

ra 180 -215kg O2 số lượng oxi này đủ cung cấp cho 450 -500 người sống trong vòng

10 giờ đồng hồ Cứ 4 -5 cây gỗ trưởng thành sẽ cung cấp đủ O2 cho một người trongvòng 24 giờ Trong vai trò làm sạch không khí vai trò vệ sinh của rừng biểu hiện ởchỗ chúng có khả năng làm giảm các khí độc hại như H2S, NO2, NO, CO,HCL…,ngăn cản và hấp phụ một số bụi, chất phóng xạ, hơi độc… ví dụ 1 ha rừng quanhthành phố có thể hấp thu được 8kg H2CO2 trong một giờ bằng lượng CO2 do 200người thải ra trong một ngày Rừng môi sinh và hệ thống cây xanh đô thị có thể hấpthụ 70 -80 tấn bụi/năm hay giảm 30 -40% bụi trong không khí

Trên những vùng đất bị úng nước chua phèn, rừng tràm có tác dụng cải tạodần dần vùng đất hoang này thành các vùng sản xuất như nuôi tôm, trồng lúa thuậnlợi Trên các giải cát ven biển, rừng đã hạn chế gió bão, ngăn chặn sự di động củacồn cát phủ lấp đồng ruộng và các công trình khác Rừng cây ngập mặn là yếu tố bảo

vệ đất đai ven biển, cố định phù sa, chắn song và bảo vệ đê biển Rừng đầu nguồnlàm chức năng điều tiết nước, cung cấp nước cho các dòng sông, bảo vệ đất đai…Mất rừng dân tới hiện tượng sa mạc hóa, mất môi trường sống của động vật, thực vật

Trang 6

lâm sản góp phần vào việc tạo công ăn việc làm cho người lao động, nâng cao đờisống nhân dân đặc biệt là người dân tộc thiểu số, vùng cao.

1.4 Hệ thống tổ chức, quản lý nhà nước chuyên ngành Lâm nghiệp

Ngày 14 tháng 11 năm 1945, Hội đồng chính phủ ban hành nghị quyết thành lập BộCanh Nông và đến tháng 2/1955, Hôi đồng chính phủ ban hành nghị quyết đổi tênthành Bộ Nông Lâm Ngày 28 tháng 4 năm 1960 Quốc hội tán thành nghị quyết củahội đồng chính phủ về tổ chức lại Bộ Nông Lâm thành 4 tổ chức: Bộ Nông nghiệp,

Bộ Nông Trường Tổng cục Lâm nghiệp và Tổng cục Thủy sản Đến tháng 7/1976,tổng cục lâm nghiệp chuyển thành Bộ Lâm nghiệp Bộ Lâm nghiệp quản lý thốngnhất: Tổng cục lâm nghiệp ở Miền Bắc, Ban Lâm nghiệp ở Trung trung bộ, Tổng cụclâm nghiệp Miền Nam Tháng 10/1995, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩaViệt Nam có nghị quyết sáp nhập 3 bộ: Bộ Lâm nghiệp, Nông nghiệp và Côngnghiệp thực phẩm và thủy lợi thành Bộ Nông nghiệp và PTNT Hệ thống tổ chứcnghành Lâm nghiệp trong nghành nông nghiệp và PTNT được mô tả tóm tắt như sau

1.4.1 Ở trung ương

1.4.1.1 Tổng cục Lâm nghiệp

Là cơ quan trực thuộc Bộ NN & PTNT thực hiện chức năng quản lý nhà nướcchuyên ngành lâm nghiệp trong phạm vi cả nước Trụ sở của tổng cục Lâm nghiệpđặt tại số 2 Ngọc Hà – Hà nội Bộ máy quản lý của tổng cục Lâm nghiệp gồm:Phòng hành chính – tổng hợp, phòng kế hoạch, phòng điều tra cơ bản lâm nghiệp,phòng lâm sinh, phòng quản lý sử dụng rừng

Trang 7

Các cục quản lý nhà nước chuyên nghành liên quan: Cục Nông nghiệp, Cục chế biếnnông lâm sản và nghề muối, Cục hợp tác xã và phát triển nông thôn.

Các vụ quản lý tổng hợp của Bộ trưởng liên quan trong lĩnh vực Lâm nghiệp như vụ:

Kế hoạch, Hợp tác quốc tế, Pháp chế, Tổ chức cán bộ, Tài chính

1.4.2.Cấp tỉnh: Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn

Chi cục phát triển lâm nghiệp: Đến nay, cả nước có 29 tỉnh thành lập Chi cụcphát triển lâm nghiệp trực thuộc Sở Nông nghiệp và PTNT

Chi cục kiểm lâm: Hiện nay có 42 tỉnh thành lập Chi cục kiểm lâm trực thuộcUBND tỉnh, 15 tỉnh Chi cục kiểm lâm trực thuộc Sở NN & PTNT, 1 Hạt Kiểm lâmcấp tỉnh trực thuộc Sở Nông nghiệp và PTNT ( tỉnh Hưng Yên), 3 tỉnh Thái Bình,Tiền Giang, Vĩnh Long không thành lập tổ chức Kiểm lâm riêng, chức năng nhiệm

vụ được giao cho các tổ chức thuộc Sở Nông nghiệp và PTNT đảm nhiệm

1.4.3 Cấp huyện gồm có (1) Phòng Nông nghiệp và PTNT, (2) Hạt kiểm lâm: Trên

cả nước đã thành lập được 421 hạt kiểm lâm ở 421 huyện hoặc liên huyện có rừng.54

hạt phúc kiểm lâm sản, 54 đội kiểm lâm cơ động

1.4.4 Cấp xã: Ủy viên, Ủy ban xã, Kiểm lâm viên phụ trách địa bàn

1.4.5.Các đơn vị sự nghiệp trực thuộc Bộ

1.4.5.1.Hệ thống nghiên cứu: Viện Khoa học lâm nghiệp Việt Nam ( có 1 phân viện

miền Nam và 7 trung tâm nghiên cứu ở nhiều tỉnh trong cả nước), Viện Khoa học kỹthuật Nông Lâm nghiệp Tây nguyên

1.4.5.2.Hệ thống đào tạo: Gồm hệ thống các trường thuộc hệ Đại học đào tạo về lâm

nghiệp: Đại học Lâm nghiệp Việt Nam, Đại học Tây nguyên, Đại học Nông lâmTPHCM, Đại học Huế, Đại học Nông lâm Thái nguyên , cao đẳng, trung học, côngnhân học nghề và Hai trường cán bộ quản lý nông nghiệp và phát triển nông thôn I(Hà nội) và II (TP Hồ Chí Minh), Trường Cao đẳng Nông lâm nghiệp (Bắc Giang),

Ba trương trung học lâm nghiệp I (Quảng Ninh), II ( Đồng Nai) và Pleiku Tâynguyên 5 trường đào tạo công nhân kỹ thuật lâm nghiệp gồm trường công nhân kỹthuật lâm nghiệp I (Lạng Sơn), II ( Bình Định), III (Bình Dương), IV ( Phú Thọ) vàtrường Công nhân kỹ thuật chế biến gỗ Trung ương (Hà Nam)

1.4.5.3.Hệ thống sự nghiệp khác: Viện điều tra quy hoạch rừng (Hà nội), 8 vườn

quốc gia thuộc Bộ, Ban quản lý các dự án Lâm nghiệp

Trang 8

1.4.5.4 Các đơn vị sản xuất, kinh doanh: Tổng công ty lâm nghiệp Việt Nam với 45

doanh nghiệp thành viên, khoảng 400 lâm trường quốc doanh trực thuộc Tổng công

ty Lâm nghiệp Việt nam, Tổng công ty giấy là doanh nghiệp Nhà nước hoạt độngcông ích, Hệ thống các doanh nghiệp chế biến gỗ và lâm sản trực thuộc tỉnh

1.5.Những tồn tại và hạn chế trong phát triển lâm nghiệp

1.5.1 Trong thời gian dài, ngành lâm nghiệp không có chiến lược phát triển lâm nghiệp dài hạn nên gặp khó khan trong việc đầu tư, tổ chức hoạt động bảo vệ và phát triển rừng.

Ngành Lâm nghiệp được thành lập năm 1960 nhưng tới năm 1989 Dự án tổng quan

về Lâm nghiệp giai đoạn 1991 -2000 mới được xây dựng nhưng đây chưa được coi

là chiến lược phát triển lâm nghiệp Năm 2002, Bộ NN & PTNY mới phê duyệtChiến lược phát triển Lâm nghiệp giai đoạn 2001 -2010 Tình trạng trên đã gâykhông ít khó khăn cho ngành Lâm nghiệp trong việc đầu tư, tổ chức các hoạt độngbảo vệ và phát triển rừng

1.5.2 Quy hoạch sử dụng đất lâm nghiệp ở cấp vĩ mô chưa ổn định dẫn đến việc phân chia 3 loại rừng trên thực địa chưa hợp lý và gặp nhiều khó khăn Chưa có quy hoạch tổng thể vùng nguyên liệu gắn với công nghiệp chế biến mang tính chiến lược

Phân loại rừng và đất lâm nghiệp chậm trễ và thiếu đồng bộ với quy hoạch sử dụngđất, tiêu chí không rõ ràng, đầy đủ nên quy hoạch thường xuyên phải bổ sung, điềuchỉnh gây mất ổn định trong chỉ đạo, quản lý và nảy sinh các mâu thuẫn về bố trí sửdụng đất Việc phân chia 3 loại rừng chủ yếu mới xác định đối với lâm phận rừngđặc dụng còn rừng phòng hộ và rừng sản xuất chưa phân định rõ ranh giới trên cảbản đồ và thực địa Chưa có quy hoạch tổng thể vùng nguyên liệu gắn với các nhàmáy chế biến, chưa có sự phối hợp chặt chẽ giữa quy hoạch lâm nghiệp với quyhoạch vùng lãnh thổ và quy hoạch ngành kinh tế nên hiệu quả phương án quy hoạchthấp

1.5.3 Tài nguyên rừng toàn quốc, nhìn chung vẫn có xu hướng bị giảm sút cả về diện tích và chất lượng

Năm 1943, Việt Nam có 14 triệu ha rừng, độ che phủ 43%, đến năm 1995, diện tíchrừng chỉ còn 9,3 triệu ha với độ che phủ rừng chỉ còn 28,2 %, Năm 2003, diện tích

Trang 9

rừng tăng lên 12,1 triệu ha với độ che phủ là 36% Tuy độ che phủ đã tăng nhưngchất lượng rừng vẫn bị suy giảm Trữ lượng bình quân của rừng tự nhiên chỉ đạt76,3m3/ha, rừng trồng chỉ đạt 20,8m3/ha Các loại gỗ quý hiếm ngày càng bị ít đi, sảnlượng và chất lượng gỗ rừng trồng chưa thay thế được gỗ rừng tự nhiên trong đó nhucầu về lâm sản vẫn tăng

1.5.4 Nguồn lực về tài chính hạn hẹp trong khi nhu cầu đầu tư phát triển rất lớn

đã ảnh hưởng không nhỏ đến tiến trình thực thi chiến lược phát triển lâm nghiệp

Để có được 16 triệu ha rừng vào năm 2010 cần có nguồn tài chính rất lớn không kểchi phí cho việc đầu tư trồng rừng và các chi phí khác, chỉ riêng chi cho việc bảo vệ

2 triệu ha rừng đặc dụng và 6 triệu ha rừng phòng hộ với mức 50.000đồng/ha và naytăng lên 100.000đ/ha/năm thì mỗi năm Nhà nước phải đầu tư hàng trăm tỷ đồng.Trong khi đó dự kiến chi từ nguồn ngân sách nhà nước cho dự án 661 của năm 2003

là 375 tỷ đồng Đối với các doanh nghiệp lâm nghiệp do thiếu vốn nên việc đầu tưthâm canh rừng và đổi mới công nghệ chậm được thực hiện Như vậy bên cạnh tăngngân sách Nhà nước cho phát triển lâm nghiệp đòi hỏi phải có chính sách phù hợpnhằm huy động mọi nguồn lực kể cả trong và ngoài nước mới có thể thực hiện đượcmục tiêu chiến lược đã đề ra

1.5.5 Các lâm trường quốc doanh mà nay là các công ty lâm nghiệp được nhà nước giao phần lớn diện tích rừng và đất rừng nhưng đa số các lâm trường chưa xây dựng được phương án sử dụng đất hợp lý nên hiệu quả sử dụng đất thấp Vốn rừng tự nhiên giao cho các lâm trường bị suy giảm cả về diện tích và trữ lượng.

Năm 2002 cả nước có 368 lâm trường quốc doanh được nhà nước giao 5.000 hachiếm 15,2% diện tích tự nhiên của cả nước và bằng 31,2 % diện tích đất quy hoạchcho ngành lâm nghiệp đến năm 2010 Không ít công ty lâm nghiệp chưa xác định rõranh giới đất được giao nên tình trạng xen canh, xen cư, lấn chiếm, tranh chấp đấtđai xảy ra, một số công ty lâm nghiệp chưa thực sự gắn trách nhiệm quản lý và khaithác có hiệu quả tài nguyên rừng và đất được giao, công tác quản lý bị xem nhẹ Cáccông ty lâm nghiệp chưa thực sự mạnh dạn, nhanh nhạy trong việc đổi mới tổ chứcquản lý và chuyển đổi cơ cấu sản xuất kinh doanh, đầu tư thâm canh trên đất rừngđược giao nên năng suất gỗ rừng trồng thấp chỉ đạt 7 -10m3/ha/năm, diện tích và chấtlượng rừng tự nhiên bị suy giảm, hiệu quả sản xuất kinh doanh thấp nhiều công ty

Trang 10

lâm nghiệp làm ăn thua lỗ Thiếu sự định hướng từ cấp vĩ mô đối với hệ thống công

ty lâm nghiệp nên trong quá trình chuyển đổi nền kinh tế các công ty lâm nghiệp đãgặp nhiều khó khăn

1.5.6 Chưa có những tiến bộ đáng kể trong lĩnh vực tạo giống, kỹ thuật thâm canh rừng và chế biến lâm sản

Chưa xác định được các tập đoàn cây trồng chủ lực phù hợp với từng tiểu vùng lậpđịa Năng suất rừng trồng thấp so với các nước trong khu vực Trong khai thác vàchế biến lâm sản còn lãng phí do quy mô nhỏ, phân tán, công nghệ và thiết bị lạchậu, sản phẩn chưa đa dạng, chất lượng kém giá thành sản phẩm cao so với khu vựcnên sức cạnh tranh kém

1.5.7 Trình độ đội ngũ cán bộ quản lý, cán bộ khoa học kỹ thuật lâm nghiệp chưa tiếp cận được với trình độ quản lý và khoa học kỹ thuật của khu vực và thế giới

Đội ngũ cán bộ quản lý tuy được đào tạo có hệ thống có kinh nghiệm thực tiễn songnăng lực và trình độ quản lý chưa đáp ứng trước những đổi mới về kinh tế thị trường.Đội ngũ cán bộ khoa học được đào tạo có hệ thống, có kinh nghiệm thực tiễn và cókhả năng tiếp thu công nghệ mới nhưng ít được tiếp cận về phương pháp và kỹ thuậtcủa khu vực và thế giới nhất là về công nghệ mới Trình độ sử dụng các phương tiện,trang thiết bị hiện đại, vốn ngoại ngữ rất yếu Đội ngũ công nhân kỹ thuật có sốlượng lớn nhưng lực lượng này còn mất cân đối trong cơ cấu ngành nghề, hạn chế vềkiến thức, chuyên môn kỹ thuật, về trình độ tay nghề

1.5.8 Công tác quản lý Nhà nước của các cơ quan chuyên ngành từ Trung ương đến địa phương còn chồng chéo về chức năng Cơ quan nhà nước về lâm nghiệp

ở cấp huyện, xã vừa thiếu vừa yếu

Ở cấp Bộ, Cục Lâm nghiệp và Cục Kiểm lâm còn chồng chéo về chức năng vànhiệm vụ Cục Kiểm lâm vừa làm chức năng là cơ quan thừa hành pháp luật về bảo

vệ rừng nhưng đồng thời vẫn được giao một số công việc quản lý, phát triển rừng.Chi cục Kiểm lâm và chi cục Lâm nghiệp ở các địa phương không được tổ chức theomột mô hình thống nhất trong cả nước

1.5.9 Chính sách Nhà nước còn thiếu đồng bộ, một số chính sách còn bất cập và luôn thay đổi, chưa tạo động lực mạnh thu hút người dân và cộng đồng địa phương tham gia quản lý bảo vệ và phát triển rừng

Trang 11

1.6 Những thách thức đối với ngành Lâm nghiệp

1.6.1 Địa bàn hoạt động của ngành Lâm nghiệp rộng lớn có địa hình chia cắt phức tạp, nền kinh tế trong vùng có nhiều đất lâm nghiệp phổ biến là sản xuất nhỏ, tự cấp tự túc mang nặng dấu ấn của nền kinh tế tự nhiên, sự đói nghèo và trình độ dân trí của dân cư địa phương thấp đang là thách thức lớn trong quá trình phát triển lâm nghiệp

Diện tích rừng phân bố rất khác nhau giữa các tỉnh, có tỉnh diện tích rừng tới hàngtrăm ngàn ha như Gia lai (758975 ha) nhưng có tỉnh chỉ có vài ngàn ha như Bắc ninh(695 ha), Phần lớn rừng phân bố ở vùng sâu vùng xa, biên giới, hải đảo Cơ cấu kinh

tế của các tỉnh trung du, miền núi chủ yếu là nông lâm nghiệp, các ngành tiểu thủcông nghiệp, dịch vụ kém phát triển Một bộ phận dân cư còn dựa vào rừng để giảiquyết nhu cầu bức xúc hàng ngày do đó an ninh lương thực cho cộng đồng cư dânsống ở vùng sâu vùng xa còn là một thách thức lớn và có ảnh hưởng không nhỏ đếnbảo tồn rừng Hàng triệu người nghèo của Việt Nam sống trong rừng hoặc gần rừng.Hiện nay, trong khu vực có đất lâm nghiệp có khoảng 25 triệu người sinh sống trong

đó 70% dân số sống dựa vào sản xuất nông lâm nghiệp, lao động chưa qua đào tạochiếm tới 98%, khoảng 30 % lao động chưa biết chữ

1.6.2 Đất chưa sử dụng quy hoạch vào mục đích lâm nghiệp còn nhiều tuy nhiên phần lớn phân bố ở vùng sâu, vùng xa, độ phì của đất giảm sút, đòi hỏi vốn đầu

tư lớn không hấp dẫn người dân và các tổ chức nhận đất trồng rừng

Đất đồi núi chưa sử dụng còn nhiều, chất lượng xấu, phân bố ở các điều kiện tựnhiên khắc nghiệt, cơ sở hạ tầng thấp kém, dân cư ít, thiếu lao động

1.6.3 Cơ sở hạ tầng ở các tỉnh có nhiều đất lâm nghiệp rất yếu kém làm cho thế mạnh về rừng không được khai thác tốt, tiếp cận thị trường khó khăn và làm chậm quá trình hình thành các vùng kinh tế lâm nghiệp để phát huy lợi thế của vùng.

Các tỉnh miền núi, biên giới xa các trung tâm kinh tế lớn, hệ thống cơ sở hạ tang vềgiao thông, thủy lợi, điện lưới quốc gia, nước sản xuất và nước sạch đã được đầu tưxây dựng nhưng chưa đáp ứng được yêu cầu khai thác, sử dụng đất và phát triển kinh

tế xã hội Vùng trung du miền núi Bắc bộ có 19% xã chưa có đường ô tô đến xã, chỉ

Trang 12

có 33% diện tích được tưới bằng công trình thủy lợi, 37% xã có điện… từ đó làmmất đi lợi thế về điều kiện tự nhiên trong quá trình phát triển lâm nghiệp.

1.6.4 Mâu thuẫn giữa bảo tồn rừng với phát triển kinh tế trong vùng lâm nghiệp

Do sự gia tăng về dân số và chính sách khai thác lợi dụng rừng, việc chuyển mụcđích rừng tự nhiên sang mục đích khác nên diện tích rừng và chất lượng rừng tựnhiên bị suy giảm Diện tích rừng từ 14 triệu ha năm 1943 xuống còn 9,1 triệu hanăm 1995 Trước năm 1950 cả nước có 250000 ha rừng ngập mặn đến năm 1980còn 137.000 ha, năm 1992 còn 78.000ha, năm 2000 còn 71.000 ha… Trong quá trìnhphát triển hình thành các tuyến giao thông, các hồ đập thủy lợi, thủy điện… đã lấy đimột diện tích lớn đất rừng Dân số tăng nhanh, du canh du cư tự do vẫn diễn ra đedọa đến việc bảo tồn và phát triển rừng, diện tích đất canh tác tăng lên dẫn tới phárừng làm nương rẫy, lấy đất sản xuất nông nghiệp, trồng café…

1.6.5 Khả năng sinh lời của đồng vốn đầu tư trong lâm nghiệp thấp, rủi ro cao, thời hạn thu hồi vốn dài không hấp dẫn các nhà đầu tư trong và ngoài nước đầu

tư vồn vào lâm nghiệp, thiếu vốn làm chậm lại quá trình phát triển lâm nghiệp 1.6.6 Sau khi hội nhập quốc tế, tham gia AFTA sẽ có cạnh tranh gay gắt trong việc sản xuất kinh doanh lâm nghiệp nhất là các sản phẩm ván nhân tạo.

Việt nam đã gia nhập ASEAN, khu mậu dịch tự do của ASEAN (AFTA) theo chươngtrình này thuế nhập khẩu của hầu hết các mặt hàng sẽ giảm xuống còn từ 0 -5%, xóa

bỏ cơ chế quản lý theo hạn ngạch, các hàng rào phi thuế quan Như vậy hàng hóaViệt Nam có cơ hội thâm nhập vào thị trường các nước ASEAN và ngược lại cánhcửa của thị trường Việt Nam đa mở rộng hơn đón nhận hàng hóa từ các nướcASEAN, để hàng hóa thâm nhập và giữ được thị trường hàng hóa phải có sức cạnhtranh về chất lượng, giá cả Đây là thách thức lớn đối với ngành lâm nghiệp nóichung và ngành chế biến lâm sản nói riêng

Tóm lại, Lâm nghiệp Việt Nam đang gặp 5 thách thức cần vượt qua trước ngưỡngcửa hội nhập quốc tế Một là, mặc dù ngành lâm nghiệp đã định hướng chiến lượcphát triển rừng kinh tế chủ lực giai đoạn 2001-2010 (với 3 mục tiêu cơ bản là nâng

độ che phủ rừng toàn quốc lên 43%; đạt kim ngạch xuất khẩu hàng lâm sản 2,5 tỷUSD; thu hút từ 6-8 triệu lao động tham gia sản xuất lâm nghiệp), nhưng hiện naychiến lược này không còn phù hợp với chính sách tổng thể, khung thể chế ngành và

Trang 13

không cập nhật các hoạt động của ngành Hai là, việc phát triển ngành tổng thểkhông tương xứng với nhu cầu hiện tại, khi các nhà đầu tư trong nước và quốc tếnhận thấy đầu tư vào hoạt động lâm nghiệp ở nước ta có nhiều rủi ro, lãng phí thờigian, nên nguồn vốn thu hút đầu tư ngày càng giảm Ba là, nhu cầu các nguồn tàinguyên rừng gia tăng đã làm giảm diện tích rừng, dẫn đến việc suy giảm chất lượngrừng Bốn là, Việt Nam hiện đã gia nhập AFTA và đang tiến tới gia nhập Tổ chứcThương mại Thế giới (WTO), điều này đồng nghĩa với việc nước ta phải đối mặt với

sự cạnh trạnh khốc liệt trong quản lý và buôn bán lâm sản ra thị trường thế giới, đặcbiệt sản phẩm từ rừng trồng như gỗ ván Cuối cùng thách thức lớn nhất đặt ra chongành lâm nghiệp là làm sao để tìm ra phương thức hài hòa hóa giữa xóa đói giảmnghèo và bảo vệ môi trường, giảm thiểu tỷ lệ đói nghèo ở các khu vực có rừng và sửdụng tài nguyên rừng một cách bền vững

1.7 Nhu cầu xã hội đối với rừng và khuynh hướng phát triển lâm nghiệp

Việt Nam là quốc gia nằm trong khu vực chịu ảnh hưởng của khí hậu nhiệt đới giómùa, do vậy cần thống nhất quan điểm xem rừng nước ta là một thành phần cơ bảncủa môi trường và luôn luôn đáp ứng được 2 yêu cầu cơ bản là phòng hộ và cungcấp Tiến vào thế kỷ XXI, quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta đangdiễn ra theo tốc độ ngày càng tăng sẽ có tác động rất lớn đến nhu cầu đảm bảo anninh môi trường cũng như nhu cầu phát triển bền vững của đất nước, đòi hỏi vấn đềxây dựng và phát triển rừng phải được đẩy mạnh hơn trong những năm tới

Với những nỗ lực to lớn của ngành lâm nghiệp dự báo đến năm 2020 sẽ định hình vàhoàn thiện hệ thống rừng phòng hộ, hệ thống rừng đặc dụng và rừng sản xuất theođúng các tiêu chí của từng loại rừng Diện tích đất trống qui hoạch dành cho lâmnghiệp hiện nay là 6,7 triệu ha Theo dự thảo chiến lược lâm nghiệp Quốc gia giaiđoạn 2006-2020 diện tích qui hoạch cho lâm nghiệp tới 2020 là 16,2 triệu ha, diệntích có rừng ổn định 14.3 triệu ha với 6 triệu ha rừng phòng hộ, 2.3 triệu ha rừng đặcdụng, 4 triệu ha rừng sản xuất là rừng tự nhiên, 2,3-2,6 ha là rừng trồng tập trung.Căn cứ vào tốc độ tăng dân số, nhịp độ tăng trưởng kinh tế và xu hướng thay đổi thịhiếu tiêu dùng, dự báo nhu cầu lâm sản và dịch vụ môi trường hàng năm đến 2020như sau:

1.7.1.Dự báo nhu cầu gỗ đến năm 2020 Đơn vị: 1000 m3

Trang 14

Loại sản phẩm 2005 2010 2015 2020

Gỗ lớn dùng trong công nghiệp và dân dụng 5.373 8.030 10.266 11.993

Gỗ nhỏ trong SX ván nhân tạo, dăm xuất khẩu 2.032 2.464 2.992 1.682

Gỗ nhỏ cho sản xuất bột giấy 2.568 3.388 5.271 8.283

Nguồn: Dự thảo Chiến lược phát triển lâm nghiệp

1.7.2 Dự báo nhu cầu xuất khẩu sản phẩm gỗ và lâm sản ngoài gỗ đến 2020 Đơn vị: triệu USD

1.7.3.Dự báo giá trị dịch vụ môi trường đến năm 2020

Đơn vị: triệu USD

Nguồn: Dự thảo Chiến lược phát triển lâm nghiệp Việt nam 2006-2020

Nhu cầu gỗ sử dụng trong nội địa và sản xuất hàng hoá xuất khẩu là rất lớn, ước tính năm 2010 là 14 triệu m3, năm 2015: 18 triệu, năm 2020 là 22 triệu m3 Với thựctrạng tài nguyên rừng hiện nay khó có khả năng đảm bảo cung cấp nguyên liệu chonhu cầu xã hội Vì vậy việc nhập khẩu gỗ còn phải đặt ra nhưng phải hạn chế ở mứctối đa, đồng thời nâng cao năng suất rừng tự nhiên và rừng trồng là một đòi hỏi hếtsức cấp bách, đặc biệt là việc cung cấp gỗ lớn Việt Nam chúng ta đã đạt được kimngạch xuất khẩu đồ mộc gần 2 tỷ đô la Mỹ Thịtrường xuất khẩu này còn có tiềmnăng rất lớn Tuy nhiên Việt Nam đã phải nhập khẩu 80% gỗlớn làm đồ mộc

1.7.4 Khuynh hướng phát triển lâm nghiệp

Trang 15

Trên cơ sở khuynh hướng phát triển lâm nghiệp toàn cầu và trong khu vực,khuynh hướng phát triển lâm nghiệp Việt Nam hiện tại và tương lai chủ yếu như sau:

Phát triển lâm nghiệp tổng hợp và bền vững, hài hòa giữa các giá trị tổng thể

về bảo vệ môi trường, bảo tồn đa dạng sinh học, duy trì cảnh quan hệ sinh thái rừngnhiệt đới với các giá trị về mặt kinh tế xã hội

Phát triển lâm nghiệp theo phương thức xã hội hóa một cách triệt để

Phát triển lâm nghiệp từ việc sản xuất đáp ứng nhu cầu trong nước sang mởrộng hội nhập thị trường quốc tế, từ việc khai thác, sử dụng chủ yếu rừng tự nhiênchuyển sang điều chế kinh doanh rừng trồng thâm canh; đồng thời tăng mức đónggóp vào nền kinh tế thông qua việc cung cấp ổn định hàng hóa và dịch vụ rừng chonền kinh tế quốc dân.Trên cơ sở các khuynh hướng phát triển lâm nghiệp Việt Nam

từ nay đến năm 2020, một số nguyên tắc và hoạt động trọng tâm cần triển khai thựchiện như sau:

(1) Xây dựng và phát triển vốn rừng, quản lý rừng bền vững là cơ sở và nềntảng của phát triển lâm nghiệp; Bảo vệ rừng là trách nhiệm của toàn xã hội và pháttriển lâm nghiệp phải gắn liền với phát triển kinh tế xã hội miền núi, góp phần cảithiện và nâng cao đời sống, xóa đói giảm nghèo và đảm bảo an ninh quốc phòng

(2) Xã hội hóa nghề rừng thông qua việc huy động nhiều thành phần kinh tếtham gia với nhiều hình thức tổ chức và sở hữu Lâm nghiệp khu vực Nhà nước cóthể quản lý toàn bộ rừng phòng hộ, đặc dụng và một phần diện tích rừng sản xuấtcòn lại khuyến khích phát triển trang trại lâm nghiệp và kinh tế khu vực tư nhân

(3) Phát triển kinh tế lâm nghiệp trên cơ sở lợi thế so sánh và tăng tính cạnhtranh, bao gồm:

Công nghiệp chế biến, thương mại gỗ và lâm sản ngoài gỗ là mũi nhọn

Phát triển thị trường lâm sản

Phát triển dịch vụ môi trường rừng: cơ chế phát triển sạch (CDM), chống xóimòn, giữ nước và điều tiết nước, phòng chống lũ lụt, du lịch sinh thái, thông quathực hiện cơ chế dịch vụ môi trường (PES); ưu tiên phát triển vùng trọng điểm vềphòng hộ và kinh tế

Vùng trọng điểm phòng hộ gồm toàn bộ các lưu vực sông chính của đất nước

Trang 16

Vùng trọng điểm kinh tế gồm phát triển công nghiệp chế biến hàng mộc caocấp, xuất khẩu tại các vùng kinh tế động lực; Công nghiệp giấy và ván nhân tạo gắnvới vùng nguyên liệu tập trung và phát triển các làng nghề đồ gỗ cũng như chế biếnlâm sản quy mô nhỏ, phân tán ở miền núi; Khai thác hợp lý rừng tự nhiên và pháttriển rừng trồng nguyên liệu thâm canh bảo đảm về cơ bản nguyên liệu cho côngnghiệp chế biến tiến đến thay thế dần nguyên liệu nhập

(4) Tăng cường hợp tác quốc tế, tiếp tục tranh thủ vốn ODA và thu hút mạnhvốn FDI ưu tiên lĩnh vực phát triển rừng

1.7.5 Mục tiêu Chiến lược Lâm nghiệp Quốc gia giai đoạn 2006-2020

Dự thảo Chiến lược Lâm nghiệp Quốc gia giai đoạn 2006-2020 đã xác định các mụctiêu cơ bản như sau:

gỗ 22 triệu m3/năm (12 triệu m3gỗ lớn)

Xuất khẩu Lâm sản ngoài gỗ đạt 800 triệu USD/năm, lâm sản 8 tỷ 30% rừngsản xuất được cấp chứng chỉ

1.7.5.2 Mục tiêu xã hội

Tạo công ăn việc làm cho 2 triệu lao động Giảm 70% số hộ nghèo miền núi.Đào tạo nghề lên 50%

1.7.5.3.Mục tiêu môi trường

Nâng độ che phủ 48% (kể cả cây công nghiệp dài ngày) Diện tích có rừng ổn định

14,3 triệu ha Quản lý tốt 6 triệu ha rừng phòng hộ, 2,3 triệu ha rừng đặc dụng

1.8 VÙNG KINH TẾ LÂM NGHIỆP

1.8.1 Khái niệm vùng kinh tế lâm nghiệp

Vùng kinh tế lâm nghiệp là một khu vực đặc thù của đất nước có khả năngphát triển sản xuất một hay một số sản phẩm lâm nghiệp đặc trưng như: Rừng Khộp

ở Tây Nguyên, rừng Tràm ở Cà Mau- Kiên Giang, rừng Quế ở Yên Bái, rừng Hồi ởLạng Sơn…

Trang 17

1.8.2 Các vùng kinh tế lâm nghiệp Việt Nam

Vùng miền núi trung du Bắc Bộ: Vùng này gồm diện tích rừng và đất trồngrừng của các tỉnh: Lai Châu, Lào Cai, Yên Bái, Điện Biên, Sơn La, Hòa Bình, VĩnhPhúc, Phú Thọ, Yên Bái, Hà Giang, Tuyên Quang, Cao Bằng, Lạng Sơn, Bắc Kan,Thái Nguyên, Quảng Ninh, Bắc Ninh, Bắc Giang Nhiệm vụ của vùng này là trồngrừng phòng hộ đầu nguồn và lưu vực các sông: Sông Đà, Sông Mã, sông Hồng, Sông

Lô Trồng rừng cung cấp gỗ trụ mỏ cho khu mỏ than Quảng Ninh, mỏ sắt TháiNguyên và mở thiếc ở Cao Bằng Về cây đặc sản có Quế, Hồi, các loại tinh dầu,dược liệu

Vùng Lâm nghiệp đồng bằng Sông Hồng: Gồm các tỉnh Hà Nội, Hải Phòng,Hải Dương, Hưng Yên, Thái Bình, Hà Nam, Nam Định và Ninh Bình Nhiệm vụ củacác vùng là: Trồng các đai rừng phòng hộ ven biển, trồng xung quanh thành phố, khucông nghiệp…

Vùng lâm nghiệp khu 4 cũ: Gồm diện tích rừng và đất trồng rừng của cáctỉnh: Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh Nhiệm vụ chủ yếu là trồng rừng và cung cấp gỗlớn, trồng rừng phòng hộ đầu nguồn các lưu vực sông Cả, sông Mã, xây dựng các đairừng chống cát bay ven biển và phòng hộ đồng ruộng Lâm đặc sản của vùng này làTre, Luồng…

Vùng lâm nghiệp Bình Trị Thiên: Gồm các tỉnh Quảng Bình, Quảng trị vàThừa Thiên – Huế Nhiệm vụ chủ yếu của vùng là Trồng rừng và cung cấp gỗ, xâydựng các khu rừng phòng hộ ven biển và các lưu vực sông Các lâm đặc sản củavùng này là Tre, nứa, quế, nhựa Thông…

Vùng lâm nghiệp duyên hải Nam Trung Bộ: Gồm các tỉnh từ Quảng Nam đếnBình Thuận Nhiệm vụ chủ yếu của vùng này là Trồng rừng bảo vệ đầu nguồn và cáclưu vực sông Bung, sông Ba, sông Đà Nẵng, sông Thu Bồn, sông Trà Khúc, xâydựng các đai rừng phòng hộ chống cát bay ven biển, trồng rừng cung cấp gỗ và lâmsản Về đặc sản có: Quế, Nhựa Thông, dầu dừa

Vùng Lâm nghiệp Tây nguyên gồm các tỉnh: Gia Lai, Kon Tum, ĐắkLăk,Lâm Đồng, Đăk Nông Nhiệm vụ chủ yếu cung cấp gô lớn, trồng rừng phòng hộ, cáclưu vực sông Pô cô… và các vùng ven biên giới, xây dựng các khu khoanh nuôiđộng vật rừng, đặc sản có Cánh kiến đỏ, các loại dược liệu quý

Trang 18

Vùng Lâm nghiệp Đông Nam Bộ: Gồm các tỉnh Đồng Nai, Tây Ninh, VũngTàu, TPHCM…Nhiệm vụ chủ yếu của vùng: cung cấp gỗ và lâm sản, trồng rừngphòng hộ đầu nguồn các sông: Sông Đồng Nai, Sông Sài Gòn, sông Đa Nhim…

Vùng Lâm nghiệp đồng bằng sông Cửu Long: Nhiệm vụ chủ yếu của vùng làtrồng các đai rừng phòng hộ ven biển, phòng hộ đồng ruộng

1.9 Các nguồn lực chủ yếu trong lâm nghiệp

1.9.1 Đất đai trong lâm nghiệp

1.9.1.1.Đặc điểm của đất đai trong lâm nghiệp

Đất đai bị giới hạn về mặt không gian: Đất đai nguyên thủy là sản phẩm của

tự nhiên Một mặt, không thể tạo ra đất đai mới theo ý muốn của con người, đất đaikhông bị hao mòn và đào thải Một mặt, đất canh tác có hạn về mặt diện tích do giớihạn của bề mặt quả đất, do yêu cầu sử dụng ngày càng nhiều hơn nữa không phảitoàn bộ diện tích đất tự nhiên đều có thể huy động vào sản xuất được Từ đặc điểmnày đặt ra trong quá trình sử dụng đất cần hết sức quý trọng và tiết kiệm, bồi dưỡng

và bảo vệ đất đai

Đất đai sử dụng hợp lý thì sức sản xuất không ngừng tăng lên: Sức sản xuấtcủa đất biểu hiện tập trung độ phì nhiêu của đất Có nhiều độ phì nhiêu như độ phìnhiêu tự nhiên được tạo ra do kết quả của quá trình hình thành và phát triển của đất

Độ phì nhân tạo là kết quả của quá trình lao động sản xuất của con người bổ sungcho đất về số lượng và chất lượng các chất dinh dưỡng mà trong đất còn thiếu

Đất đai có vị trí cố định và chất lượng không đồng đều: Các tư liệu khác cóthể vận chuyển, di chuyển đến những nơi cần và đang thiếu ngược lại đất đai có vị trí

cố định gắn liền với điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội như khí hậu, thổ nhưỡng, câytrồng, vật nuôi…

1.9.1.2.Sử dụng đất theo phương thức nông lâm kết hợp

Nông lâm kết hợp là một phương thức tiến bộ dựa trên cơ sở lợi dụng tiềm năng tổnghợp của đất đai, khí hậu, hệ thống cây trồng, vật nuôi, lao động, tiền vốn… tại chỗcủa mỗi vùng để đưa lại hiệu quả kinh tế và bảo vệ giữ gìn tài nguyên Thực chất củasản xuất nông lâm kết hợp là sự kết hợp hài hòa giữa kinh tế và sinh thái tức là đã lợidụng hài hòa điều kiện tự nhiên để tạo ra nhiều sản phẩm đồng thời hoạt động sản

Trang 19

xuất lại có tác động tốt đến việc duy trì, ổn định, phát triển các điều kiện tự nhiênvốn có Một mô hình nông lâm kết hợp phải đáp ứng ba yêu cầu chủ yếu:

• Sức sản xuất cao: Thể hiện ở chỗ trên cùng 1 diện tích có nhiều sản phẩm vậtnuôi, cây trồng thu được từ hệ thống NLKH

• Tính ổn định và bền vững cao: Một mô hình NLKH phải duy trì được sức sảnxuất lâu dài của đất, duy trì bảo tồn đất, chống sự mất đất, thoái hóa đất tạo hệsinh thái ổn định và bền vững

• Tính thực tiễn cao: Các mô hình NLKH phải thích hợp về mặt công nghệ, phùhợp với trình độ và khả năng kinh tế, nguồn lao động sẵn có và khả năng tiêuthụ sản phẩm đồng thời thích hợp với phong tục tập quán, kinh nghiệm củangười dân địa phương, được người dân chấp nhận

• Một số mô hình NLKH đang được áp dụng ở nước ta như: Phương thức trồngxen hàng, Phương thức trồng cây kết hợp nhiều tầng tán, trồng cây kết hợpchăn nuôi

1.9.2 Tài nguyên rừng: Tài nguyên rừng bao gồm tất cả thành phần của quần lạc

sinh địa rừng như: trữ lượng lâm sản, đất đai mà trên đó có rừng, sản phẩm phụ củarừng và các nhân tố như bảo vệ, điều tiết nước… tức là các giá trị môi trường củarừng.Các chỉ tiêu đánh giá tài nguyên rừng:

• Chỉ tiêu số lượng như diện tích rừng, trữ lượng rừng, sản lượng rừng

• Chỉ tiêu chất lượng như: cấp đất, tổ thành rừng, lượng tăng trưởng thườngxuyên hàng năm, chất lượng gỗ

1.9.3 Lao động trong lâm nghiệp: Lao động là nhân tố quyết định của bất cứ quá

trình sản xuất nào trong đó có lâm nghiệp Lao động trong lâm nghiệp có tính thíchứng rộng thể hiện ở chỗ một người lao động có thể làm được nhiều việc Lao độngmang nhiều tính chất thủ công, trình độ trang thiết bị kỹ thuật của người lao độngthấp, cho nên năng suất lao động thấp Lao động trong lâm nghiệp có tính thời vụcao và hoạt động trên địa bàn rộng

CÁC CHUYÊN ĐỀ TRONG CHƯƠNG I

Chuyên đề 1: Vai trò của ngành LN đối với nền kinh tế quốc dân ,đời sống XH và

môi trường trong xu thế biến đổi khí hậu ở VN hiện nay Theo anh (chị) vai trò nào

Trang 20

là chủ đạo? Vì sao? Hãy liệt kê những bộ luật và các thông tư có liên quan đến Lâmnghiệp từ năm 2000 đến nay.

Chuyên đề 2: Những tồn tại và thách thức của ngành LN hiện nay? Theo anh (chị)

tồn tại nào, thách thức nào cấp bách nhất mà ngành LN phải đối mặt và giải quyếtngay Hãy liệt kê những nghị định và nghị quyết liên quan đến Lâm nghiệp từ năm

2010 – 2019

Chuyên đề 3: Tìm hiểu chiến lược phát triển ngành LN giai đoạn 2002 -2010 và

chiến lược phát triển ngành LN giai đoạn 2006 và 2020 Hãy liệt kê những quyếtđịnh , chỉ thị của TTCP liên quan đến Lâm nghiệp từ năm 2010 –nay

Chuyên đề 4: Anh chị tìm hiểu về các chương trình trồng rừng lớn mà Việt Nam đã

thực hiện Các chương trình trồng rừng nay đã đạt những thành tựu gì và còn nhữngtồn tại gì? Theo anh (chị) các chương trình trồng rừng đó có ý nghĩa như thế nào đốivới sự phát triển của ngành LN

Chuyên đề 5: Hiện nay, để bảo vệ - quản lý TNR đặc biệt là vấn đề chống lại lâm

tặc khai thác gỗ lậu đang đặt ra cho ngành lâm nghiệp nhiều vấn đề như lâm tặc tấncông kiểm lâm, kiểm lâm không đủ thẩm quyền để xử lý các vi phạm, thiếu trangthiết bị cần thiết để làm nhiệm vụ… Ngành lâm nghiệp kiến nghị chuyển lực lượngkiểm lâm thành cảnh sát lâm nghiệp hay cảnh sát rừng Bạn đồng ý hay không đồng

ý với kiến nghị trên? Tại sao

CHƯƠNG II: KHÁI NIỆM CƠ BẢN VỀ RỪNG

2.1.Vai trò và giá trị của rừng

Trang 21

Tổ tiên của loài người đã sống và phụ thuộc vào rừng nguyên sinh nhiệt đới.Rừng là nơi ở, môi trường sống, nơi cung cấp thức ăn, nơi che chở và bảo vệ conngười trước kẻ thù Con người đã săn bắt, hái lượm những sản phẩm sẵn có của rừngnhư hoa quả, hạt, dược liệu, côn trùng, động vật.

Rừng cung cấp gỗ để xây dựng nhà cửa, đóng tàu thuyền, có nguồn nguyênliệu và dược liệu rất quan trọng Cùng với sự phát triển của dân số ngày càng tăngrừng không thể cung cấp đủ lương thực thực phẩm nên con người sử dụng đất rừnglàm đất sản xuất nông nghiệp Khai thác rừng lấy gỗ để phát triển công nghiệp

Giá trị phòng hộ đầu nguồn

Nhiều nghiên cứu đã khẳng vai trò to lớn của rừng trong việc phòng hộ đầunguồn Các chức năng này bao gồm: giữ đất và do đó kiểm soát xói mòn và quátrình lắng đọng bùn cát; điều tiết dòng chảy hạn chế lũ lụt, cung cấp nguồn nước,kiểm soát chất lượng nước, Việc mất đi lớp che phủ rừng có thể dẫn đến hậu quảnghiêm trọng nếu diễn ra việc khai thác gỗ bừa bãi hoặc sử dụng đất không hợp lý(Hamilton và King, 1983)

Giá trị bảo tồn Đa dạng sinh học

Đánh giá giá trị bảo tồn đa dạng sinh học đã được một số quốc gia quan tâmthực hiện Các nghiên cứu đều khẳng định giá trị to lớn của đa dạng sinh học trongcác hệ sinh thái rừng nhiệt đới

Việt Nam là một trong các quốc gia có tính đa dạng sinh học cao nhất thế giới,được công nhận là một quốc gia ưu tiên cao cho bảo tồn toàn cầu Các hệ sinh tháicủa Việt Nam giàu có và đa dạng với nhiều kiểu rừng, đầm lầy, sông suối, cùng tạonên môi trường sống cho khoảng 10% tổng số loài chim và thú trên toàn cầu Nhiềuloài động, thực vật độc đáo của Việt Nam không có ở nơi nào khác trên thế giới, đãkhiến cho Việt Nam trở thành nơi tốt nhất – trong một số trường hợp là nơi duy nhất

- để bảo tồn các loài đó.Mặc dù chưa có con số chính thức đánh giá giá trị đa dạngsinh học của Việt Nam, nhưng không thể phủ nhận giá trị to lớn và tầm quan trọngcủa bảo tồn đa dạng sinh học Do vậy, đầu tư cho bảo tồn đa dạng sinh học từ Chínhphủ và các nhà tài trợ quốc tế có xu hướng tăng nhanh trong những năm gần đây

Giá trị cố định, hấp thụ các bon và điều hòa khí hậu

Đa số các nhà khoa học môi trường cho rằng việc gia tăng các khí nhà kính

Trang 22

gây ra hiện tượng nóng lên toàn cầu, có thể sẽ làm nhiệt độ trái đất tăng thêm nhanhchóng từ 1 đến 5 độ C

Nhằm hạn chế phát thải và sự biến đổi khí hậu toàn cầu, Nghị định thư Kyotođược 180 quốc gia ký kết năm 1997, đạt được cam kết của 38 nước công nghiệpphát triển trong việc cắt giảm phát thải khí nhà kính vào năm 2012 xuống mức5,2%, thấp hơn so với mức phát thải năm 1990

Thực vật sống mà chủ yếu là các hệ sinh thái rừng giữ lại và tích trữ, hay hấp

thụ cácbon trong khí quyển Vì thế sự tồn tại của thực vật có vai trò đáng kể trong

việc chống lại hiện tượng ấm lên toàn cầu Sự phân hủy hoặc đốt các vật chất hữu

cơ sẽ trả lại cácbon vào khí quyển

Với sự ra đời của Nghị định thư Kyoto, vai trò của rừng trong giảm phát thảikhí nhà kính và sự nóng lên toàn cầu đã được khẳng định Giá trị này của rừng đãphần nào được ước tính Giá trị hấp thụ CO2 của các khu rừng tự nhiên nhiệt đới thìkhoảng từ 500 – 2.000 USD/ha và giá trị này với rừng ôn đới được ước tính ở mức

từ 100 – 300 USD (Zhang, 2000

Giá trị du lịch và giải trí/vẻ đẹp cảnh quan

Du lịch sinh thái đang ngày càng phát triển và là biện pháp sử dụng rừng nhiệtđới không cần khai thác nhưng lại đem lại giá trị kinh tế cao và đầy tiềm năng Tuynhiên cần lưu ý rằng điểm cốt lõi là người được hưởng lợi phải là nguời sống trongkhu rừng hay người sử dụng rừng; nguồn thu từ du lịch thường rơi vào túi các nhà tổchức du lịch, những người không sống trong hay sống gần khu vực rừng và thậm chí

có thể không phải là người bản xứ; bản thân du lịch cũng phải “bền vững”, phải giớihạn lượng khách tối đa có thể vào khu rừng Về nguyên tắc, bất kỳ khu rừng nào cóthể tới được bằng đường bộ hay đường sông đều có giá trị du lịch

2.2 Khái niệm về rừng

Cho đến nay, nhiều nhà lâm học đã xác định khái niệm về rừng

Theo tác giả G.F Mô rô dốp (1930) “ Rừng là một tổng thể cây gỗ, có mối liên hệ lẫn nhau, nó chiếm một phạm vi không gian nhất định ở mặt đất và trong khí quyển”

Theo M.E Tcanhenco (1952) khái niệm về rừng ‘ Rừng là một bộ phận của cảnh quan địa lý, nó được tạo ra bởi một tổng thể các cây gỗ, giữa chúng có mối

Trang 23

quan hệ sinh học rất chặt chẽ với nhau và với hoàn cảnh xung quanh trên phạm vi một vùng lãnh thổ nhất định”.

Hội nghị khoa học toàn Liên Xô ngày 1 tháng 1 năm 1974 đã đi đến thống

nhất định nghĩa rừng như sau: “Rừng là một bộ phận của cảnh quan địa lý trong đó bao gồm một tổng thể các cây gỗ, cây bụi, cây cỏ, động vật và vi sinh vật Trong quá trình phát triển của mình chúng có mối quan hệ sinh học và ảnh hưởng lẫn nhau và với hoàn cảnh , môi trường bên ngoài”

Rừng là thành phần cơ bản cuả sinh quyển địa cầu Nếu tất cả thực vật trêntrái đất đã tạo ra gần 53 tỷ tấn sinh khối thì rừng chiếm đến 37 tỷ tấn (70%) và câyrừng giải phóng ra 52,5 tỷ tấn O2 (44%) phục vụ cho hô hấp của con người, độngvật, vi sinh vật trên trái đất trong khoảng 2 năm (S.V Belop 1976)

Sự phân bố của rừng trên trái đất có tính chất theo đới tự nhiên, căn cứ vàođiều kiện sinh thái khác nhau và các thành phần, cấu trúc, đặc điểm sinh trưởng, sảnlượng của rừng chia ra các loại rừng sau:

+ Vùng khí hậu lạnh 2 cực: Rừng cây lá kim hay Rừng Taiga

+ Vùng khí hậu ôn đới: Rừng hỗn giao của các loại cây lá kim, lá rộng

+ Vùng khí hậu nóng: Rừng ẩm của các cây lá kim, lá rộng

+ Vùng nhiệt đới: Rừng lá rộng thường xanh, ẩm nhiệt đới

+ Vùng xích đạo: Rừng mưa xích đạo

+ Vùng khô: Rừng thưa hạn sinh

+ Vùng ngập nước: Rừng ngập mặn

Tóm lại rừng được đặc trưng bởi 3 đặc điểm sau đây:

Các loài cây gỗ và giữa các cây gỗ với các loài cây khác (cây bụi, cỏ, rêu, dâyleo ) có ảnh hưởng qua lại với nhau Mối quan hệ này có thể có ích cho cây gỗnhưng cũng có thể có hại cho cây gỗ chẳng hạn như chèn ép, cạnh tranh về nước,ánh sáng, dinh dưỡng và khoáng trong đất với cây gỗ

Các thành phần của rừng không chỉ phụ thuộc vào môi trường mà chính bản thânchúng cũng tác động lại môi trường Sự tác động này dẫn đến hình thành các tiểu khíhậu và đất đặc trưng cho rừng

Trang 24

Rừng có khả năng tự phục hồi, khả năng tái sinh, đảm bảo thay thế các thế hệnhưng khả năng này chỉ có được khi rừng không bị tác động xấu từ bên ngoài và conngười.

Khái niệm rừng thường gặp nhiều trong lý thuyết và ở ngoài thực tế kinh doanhrừng thì Rừng đồng nghĩa với khái niệm lâm phần

Lâm phần là gì: “ Lâm phần là những khu rừng tương đối đống nhất về thànhphần cây gỗ, cây bụi và các động vật trên mặt đất” Khái niệm lâm phần rất giốngvới khái niệm “quần thể thực vật” hoặc “quần xã thực vật” Đó là đơn vị cơ bản nhấtcủa rừng

Kiểu rừng là gì: Kiểu rừng là một khu rừng hoặc là một tập hợp các khoảnhrừng có đặc điểm chung về điều kiện thực vật rừng (đất và khí hậu), thành phần loàicây, số tầng thứ, hệ động vật và có cùng yêu cầu các biện pháp kinh doanh như nhautrong các điều kiện kinh tế xã hội giống nhau

2.3 Thành phần của rừng

Rừng bao gồm 2 thành phần: Quần xã sinh vật và hoàn cảnh, hoàn cảnh sinh thái

2.3.1 Quần xã sinh vật

2.3.1.1 Quần thể cây gỗ (cây cao)

Đó là tập hợp tất cả các cây gỗ ở trong rừng, là những cây có thân chính rõràng Dựa vào thành phần cây gỗ mà người ta phân ra thành: Rừng thuần loài (đượctạo ra bởi 1 loài cây hoặc với một số loài cây khác nhưng không quá 10%) và rừnghỗn giao (được tạo ra bởi hai loài cây hoặc nhiều loài cây)

Trong thành phần cây gỗ người ta còn chia ra loài cây ưu thế, loài cây chủ yếu vàloài cây thứ yếu, cây phù trợ…

+ Loài cây ưu thế là loài chiếm trữ lượng hoặc số lượng cây lớn hơn 50% tổngtrữ lượng cây đứng của rừng hoặc tổng số lượng cây rừng Nếu rừng đó phức tạpnhiều loài cây, có trữ lượng gần như nhau, mật độ cây gần bằng nhau thì loài nào có

ý nghĩa kinh doanh lớn nhất sẽ là loài ưu thế (quan điểm kinh tế)

Để biểu thị mức độ ưu thế của một loài nào đó trong quần xã người ta dùng chỉ số ưuthế

C = ∑(ni/N)2

Trong đó: ni: số cá thể, trữ lượng, sinh khối của loài i

N: tổng số cây rừng, trữ lượng, sinh khối của rừng

Trang 25

Loài cây mục đích (chủ yếu) là loài cây có giá trị phù hợp với mục tiêu kinh

doanh hoặc loài cây được tiến hành kinh doanh (được chăm sóc, nuôi dưỡng)

Loài cây thứ yếu là loài cây kém giá trị kinh tế hoặc số lượng hơn loài cây

chủ yếu

Cây phù trợ là cây có lợi cho sinh trưởng của cây chủ yếu, có tác dụng bảo

vệ đất, bảo vệ môi trường

2.3.1.2 Lớp cây tái sinh

Cây tái sinh là thuật ngữ biểu thị các thế hệ non của các loài cây gỗ sống vàphát triển dưới tán rừng, có khả năng tạo thành một lâm phần mới nếu khai thác vàloại bỏ tầng cây mẹ Những đặc điểm này cho thấy cây tái sinh khác với cây bụi vàthảm tươi sống dưới tán rừng Tuỳ theo tuổi, các thế hệ cây tái sinh của các loài cây

gỗ có quan hệ với môi trường khác nhau, đồng thời có ý nghĩa kinh tế - lâm sinhkhác nhau Theo đó người ta phân chia cây tái sinh thành một số giai đoạn như sau:

Cây mầm: Đây là lớp cây có tuổi nằm trong khoảng một vài tháng Đặc

trưng cơ bản của cây mầm là chúng còn sống nhờ vào chất dinh dưỡng dự trữ tronghạt, sức sống phụ thuộc căn bản vào nguồn dự trữ và đặc điểm di truyền của hạtgiống Trong quan hệ với môi trường chúng rất nhạy cảm và có thể chết nhanh chóngkhi môi trường bất lợi như khô hạn, thiếu nước

Cây mạ: Đây là những thế hệ cây gỗ có tuổi từ vài tháng đến 1 -2 năm, chiều

cao quy ước không vượt quá 50cm Đặc điểm của cây mạ là cơ thể còn yếu, tán cây

và hệ rễ mới hình thành khả năng đồng hóa các chất dinh dưỡng còn yếu Lớp cây

mạ cũng dễ bị thay đổi khi gặp điều kiện bất lợi Trong quan hệ với ánh sáng, nướcchúng cần được sự che bóng cao, đất ẩm và thoáng khí Nếu bị phơi ra ánh sáng độtngột thì chúng có thể bị đào thải hàng loạt Cây mạ tham gia vào tầng thảm tươi củaquần xã thực vật rừng

Cây con hay cây non: Đó là lớp cây tái sinh thường có tuổi trên hai năm, chiều

cao đã vượt khỏi tầng cây cỏ và cây bụi cùng một số tầng cây thấp Trong quan hệvới ánh sáng chúng cần ánh sáng khá cao do đó việc mở tán rừng để đưa ánh sángxuống là cần thiết Trong kinh doanh người ta xem lớp cây con là thế hệ cây dự trữquan trọng

2.3.1.3 Cây tầng thấp hay cây tầng dưới

Trang 26

Cây tầng thấp là tập hợp những cây bụi và cây nửa bụi nửa gỗ

Cây bụi là những cây không có thân chính rõ ràng và trong những điều kiệnkhí hậu và đất đai nhất định không thể hình thành rừng mới

Cây nửa bụi nửa gỗ là cây có thân chính rõ ràng nhưng không vươn lên tầngcây cao, không thể hình thành rừng mới

Cây tầng thấp luôn sống dưới tán rừng và thường là những cây ưa bóng Trongsinh thái rừng, nhà lâm học xem tầng thấp có hai vai trò trái ngược nhau: có lợi và

có hại Mặt lợi của cây tầng thấp biểu hiện khi chúng ngăn cản sự phát sinh cỏ dại,làm giàu dinh dưỡng đất, tạo nơi cư trú cho động vật và côn trùng, che phủ đất chốngkhô hạn, chống xói mòn đất…Mặt hại của cây tầng thấp khi chúng ngăn cản ánhsáng, và cạnh tranh chất dinh dưỡng với lớp cây tái sinh, ngăn cản sự tiếp đất của hạtgiống, chiếm không gian sống của cây gỗ non… Vì thế, tuỳ theo từng trường hợp cụthể nhà lâm học có thể đưa ra quyết định xử lý cây bụi một cách hợp lý

2.3.1.4 Lớp thảm tươi

Lớp thảm tươi ( thảm cỏ) là thuật ngữ biểu thị những loài cây thân thảo, quyết,rêu, địa y nằm sát mặt đất Trong sinh thái rừng, thảm tươi có 2 ý nghĩa: tương tựnhư cây tầng thấp có lợi và có hại Trong lâm nghiệp người ta dựa vào khả năng chỉthị của cây cỏ để nhận biết và phân chia điều kiện lập địa

2.3.1.5.Sàn rừng (thảm mục hay lớp đệm)

Sàn rừng là lớp vật rụng (lá, hoa, quả, vỏ) và xác chết của cây gỗ (thân câychết) ở trạng thái bán phân huỷ trên bề mặt đất rừng Đây là bộ phận quan trọngtrong sự trao đổi vật chất và năng lượng giữa quần xã sinh vật và đất Nhờ chúng màsinh vật đất có thể sống được đặc biệt là giun đất và các sinh vật phân huỷ khác Sànrừng có ý nghĩa lớn về lâm sinh:

• Là nguồn dự trữ chất khoáng và đạm cần thiết cho cây rừng

• Làm tăng sự hấp thụ của nước mưa, hạn chế dòng chảy bề mặt

• Nơi hoạt động tích cực nhất của hệ vi sinh vật

• Sàn rừng cũng đưa đến một số những bất lợi như sau

• Ngăn cản tái sinh rừng

• Ngăn cản sự trao đổi nhiệt giữa đất và không khí

• Nguồn vật liệu cháy nguy hiểm nhất là ở những vùng rừng khô hạn

Vì vậy, tuỳ theo từng điều kiện môi trường cụ thể mà nhà lâm học đưa ra quyết định

xử lý thảm mục thích hợp

Trang 27

lá rụng và những cành khô lá rụng đổ xuống thành thảm mục và sau một thời gian nóđược vi sinh vật phân huỷ thành mùn của đất rừng (tầng A) Tầng mùn sẽ được visinh vật phân giải tiếp thành các chất dinh dưỡng cung cấp cho cây rừng.

2.4 Phân loại rừng

2.4.1 Hệ thống phân loại rừng Việt Nam của Thái Văn Trừng (1970,1978): Phân loại rừng theo điều kiên tự nhiên.

2.5.1.1 Đơn vị phân loại thảm thực vật: Theo Thái Văn Trừng, thảm thực vật rừng

nhiệt đới có hai loại hình là Quần hệ và xã hợp

Tiêu chuẩn để phân loại các xã hợp thực vật là thành phần loài Tuỳ theo tổthành loài cây ưu thế các xã hợp thực vật lại được phân chia thành các đơn vị nhỏhơn: Quần hợp thực vật, ưu hợp thực vật và phức hợp thực vật trong đó ưu hợp thựcvật là đơn vị cơ bản của xã hợp

Ưu hợp thực vật: Là quần xã thực vật có tỷ lệ cá thể ( hoặc thể tích) của dưới

10 loài cây ưu thế chiếm 40 -50% tổng lượng cá thể của các loài

Quần hợp thực vât: là QX thực vật có tỷ lệ cá thể ( hoặc thể tích) của 1 -2 loàicây gỗ ưu thế chiếm trên 90% số lượng cá thể của các loài cây trong thảm thực vật.Phức hợp thực vật: Là quần xã thực vật có độ ưu thế của các loài cây phân hoákhông rõ ràng

2.4.1.2 Nhân tố sinh thái ảnh hưởng đến sự phát sinh thảm thực vật trong điều kiện Việt Nam: Theo Thái Văn Trừng , sự phát sinh thảm thực vật trong điều kiện Việt

Nam chịu ảnh hưởng tổng hợp của 5 nhóm nhân tố sinh thái Các nhóm nhân tố sinhthái được sắp sếp theo thứ tự giảm dần về vai trò của chúng trong sự phát sinh thảmthực vật như sau: Địa lý – địa hình, khí hậu – thuỷ văn, khu hệ thực vật, đá mẹ - thổ

Trang 28

nhưỡng, sinh vật – con người Mỗi nhóm nhân tố sinh thái có vai trò khác nhau trongquá trình phát sinh và hình thành thảm thực vật.

Nhóm nhân tố địa lý – địa hình: Bao gồm kinh độ, vĩ độ, địa hình, địa chất,

độ cao, độ dốc, hướng phơi… của một địa phương Là nhân tố sinh thái cao nhấttrong thứ bậc của nhóm nhân tố phát sinh quần thể Trong nhóm này, vĩ độ và độ cao

có vai trò lớn nhất Dưới tác động của hai nhân tố vĩ độ và độ cao đã hình thành nêncác vành đai thực vật theo độ vĩ và độ cao Vì thế, khi phân loại thảm thực vật ông

đã liên kết các kiểu thảm thực vật thành nhóm theo các vành đai độ cao và vĩ độkhác nhau

Nhóm nhân tố khí hậu – thuỷ văn: Nhóm này quyết định hình dạng và cấu

trúc các kiểu cơ sở của thảm thực vật Trong nhóm này, bởi vì độ ẩm phụ thuộc vàochế độ nhiệt nên chế độ nhiệt có vài trò cao hơn chế độ ẩm Mỗi kiểu thảm thực vật

có một chế độ khô ẩm tương ứng theo đó có thể xếp các kiểu thảm thực vật theo thứ

tự từ chế độ ẩm rất tốt đến chế độ ẩm rất xấu

Nhóm nhân tố khu hệ thực vật: Nhóm này ảnh hưởng đến các kiểu phụ

miền thực vật Sự tác động của nhân tố khu hệ thực vật đã hình thành các kiểu phụthực vật với sự ưu thế của một số chi và họ

Nhóm nhân tố đá mẹ - thổ nhưỡng: Nhóm này quyết định sự hình thành các

loại hình thực vật thổ nhưỡng Theo quy luật, những kiểu phụ miền thực vật chỉ đượchình thành trên các loại đất địa đới thành thục, tầng đất sâu, dày, thoát nước nhưngkhi đất đã bị thoái hoá như tầng đất mỏng, kết von đá ong, mực nước ngầm sâu …thì những loại hình thực vật thổ nhưỡng sẽ được hình thành Đó là các kiểu phụ thựcvật thổ nhưỡng Những kiểu phụ này có hình thái cấu trúc nhất định đôi khi có hệthực vật rất đặc biệt như: các kiểu phụ thực vật trên núi đá vôi, các rừng ngập venbiển, ven sông

Nhóm nhân tố sinh vật – con người: Có ảnh hưởng chủ yếu đến quá trình

phát sinh những kiểu phụ thực vật như thảm thực vật hình thành và phát triển dướiảnh hưởng của con người như khai thác rừng, làm nương rẫy hay trồng trọt

2.4.1.3 Quy tắc đặt tên của kiểu thảm thực vật rừng

Theo Thái Văn Trừng, tên của kiểu thảm thực vật bao gồm hai phần lớn

Trang 29

Phần thứ nhất: Gồm một cụm từ chỉ rõ đặc trưng hình thái cấu trúc của

thảm thực vật Trong đó, từ đầu tiên chỉ quần hệ (rừng, rú, truông), từ thứ hai chỉ độtàn che tán lá (kín, thưa), còn từ cuối biểu thị đặc điểm hình thái hoặc trạng mùa củatán lá tuỳ theo điều kiện khô hạn trong năm ( thường xanh, nửa rụng lá, lá cứng, lárộng, lá kim )

Phần thứ hai: Là cụm từ biểu thị chế độ khí hậu (mưa ẩm, nhiệt độ) tương ứng

với các kiểu thảm thực vật Ví dụ: Rừng kín thường xanh ẩm nhiệt đới

Với những quan điểm đã trình bày trên Thái Văn Trừng đã phân chia thảm thựcvật rừng Việt Nam thành 14 kiểu:

Các kiểu rừng rú kín vùng thấp

1) Kiểu rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới

2) Kiểu rừng kín nửa rụng lá,ẩm nhiệt đới

3) Kiểu rừng kín rụng lá, hơi ẩm nhiệt đới

4) Kiểu rú kín lá cứng, hơi khô nhiệt đới

Các kiểu rừng thưa

1) Kiểu rừng thưa cây lá rộng, hơi khô nhiệt đới

2) Kiểu rừng thưa cây lá kim, hơi khô nhiệt đới núi thấp

3) Kiểu rừng thưa cây lá kim á nhiệt đới núi thấp

Các kiểu trảng, truông

1) Kiểu trảng cây to, cây bụi, cỏ cao khô nhiệt đới

2) Kiểu truông bụi gai, hạn nhiệt đới

Các kiểu rừng kín vùng cao

1) Kiểu rừng kín thường xanh mưa ẩm á nhiệt đới núi thấp

2) Kiểu rừng kín hỗn loài cây lá rộng, cây lá kim ẩm á nhiệt đới núi thấp3) Kiểu rừng kín cây lá kim, ẩm ôn đới núi vừa

Các kiểu quần hệ khô lạnh vùng cao

1) Kiểu quần hệ khô vùng cao

2) Kiểu quần hệ lạnh vùng cao

2.4.1.4 Ý nghĩa của việc phân chia kiểu rừng

Kiểu rừng có ý nghĩa hết sức to lớn cả về mặt lý luận và thực tiễn Về mặt lýluận, kiểu rừng cho phép nhận thức đầy đủ về bản chất tự nhiên của rừng, về sưthống nhất giữa thảm thực vât với môi trường, về các quá trình phát sinh, phát triển

và hình thành rừng Về mặt thực tiễn, kiểu rừng là cở sở của việc phân vùng quy

Trang 30

hoạch lãnh thổ, tổ chức kinh doanh rừng, nghiên cứu các phương thức lâm sinh, tối

ưu hoá các điều kiện hình thành rừng năng suất cao

2.4.2.Phân chia rừng theo nguồn gốc hình thành

Rừng tự nhiên (Natural Forest): Là rừng có nguồn gốc tự nhiên bao gồm cácloại rừng nguyên thuỷ, rừng thứ sinh (hệ quả của rừng nguyên sinh bị tác động),rừng thứ sinh được làm giàu bằng tái sinh tự nhiên hay nhân tạo

Rừng trồng (Plantation; Forest plantation): Là rừng do con người tạo nên bằngcách trồng mới trên đất chưa có rừng hoặc trồng lại rừng trên đất trước đây đã córừng

2.4.3 Phân chia rừng theo mục đích sử dụng chính

1.5.3.1.Rừng đặc dụng: Được xác định nhằm mục đích bảo tồn thiên nhiên, mẫu

chuẩn hệ sinh thái rừng quốc gia, nguồn gen thực vật và động vật rừng, nghiên cứukhoa học, bảo vệ di tích lịch sử, văn hoá và danh lam thắng cảnh, phục vụ nghỉ ngơi,

du lịch

*Vườn quốc gia là vùng đất tự nhiên được thành lập để bảo vệ lâu dài một

hay nhiều hệ sinh thái, bảo đảm các tiêu chí sau đây:

Vùng đất tự nhiên bao gồm mẫu chuẩn của các hệ sinh thái cơ bản (cònnguyên vẹn hoặc ít bị tác động của con người), các nét đặc trưng về sinh cảnh củacác loài thực vật, động vật, các khu rừng có giá trị cao về mặt khoa học, giáo dục và

du lịch

Có diện tích đất tự nhiên đủ rộng để chứa đựng được một hay nhiều hệ sinhthái, tỷ lệ diện tích hệ sinh thái tự nhiên cần bảo tồn phải đạt từ 70% trở lên

Điều kiện về giao thông tương đối thuận lợi

Các VQG (xếp theo thứ tự từ Bắc vào Nam)

1) VQG Hoàng Liên (Lào Cai) thành lập từ năm 1996, nằm trên địa phận tỉnh Lào Cai, Điện Biên Diện tích là 38.724ha (2) VQG Ba Bể (Bắc Kan) thành lập

năm 1992, nằm trọn trên địa phận tỉnh Bắc Kan Diện tích VQG Ba Bể là 7.610 ha

(3) VQG Tam Đảo ( Vĩnh Phúc) thành lập năm 1986, nằm trên địa phận 3 tỉnh là

Vĩnh Phúc, Thái Nguyên và Tuyên Quang.Diện tích của vườn là 23.333ha đặc trưng

với kiểu rừng lùn ở độ cao trên 1000m, (4) VQG Xuân Sơn ( Phú Thọ) thành lập năm 2002 thuộc địa phận tỉnh Phú Thọ,diện tích khoảng 15.000ha (5) VQG Bái Tử

Trang 31

Long (Quảng Ninh) thành lập năm 2001 nằm hoàn toàn trên vùng biển thuộc địa phận tỉnh Quảng Ninh với diện tích 15.783 ha (6) VQG Ba Vì ( Hà Nội) thành lập năm 1991 nằm trên địa bàn tỉnh Hà Tây (cũ) diện tích vườn là 7.377ha, (7) VQG Cát Bà ( Hải Phòng) thành lập năm 1986 nằm trọn trên quần đảo Cát Bà – Hải Phòng, diện tích vườn là 15.200ha (8) VQG Xuân Thủy ( Nam Định) thành lập

năm 2003 với diện tích là 7.100ha, đây còn là khu dự trữ sinh quyển đất rừng ngập

mặn của vùng Đồng bằng Bắc Bộ (9) VQG Cúc Phương thành lập năm 1986 nằm trên địa phận 2 tỉnh Ninh Bình và Thanh Hóa với diện tích là 22.230ha (10) VQG Bến En ( Thanh Hóa) thành lập năm 1992 nằm trên địa phận tỉnh Thanh Hóa, diện tích vườn là 16.634ha, (11) VQG Pù Mat (Nghệ An) thành lập năm 2001, nằm trên địa phận tỉnh Nghệ An, Diện tích vườn là 91.113ha (12) VQG Vũ Quang ( Hà Tĩnh) thành lập năm 2002, nằm trên địa phận tỉnh Hà Tĩnh với diện tích là 55.029

ha (13) VQG Phong Nha – Kẻ Bàng ( Quảng Bình) thành lập năm 2001 nằm trên

địa phận tỉnh Quảng Bình Diện tích vườn khoảng 200.000ha Hiện nay, đây là VQG

có diện tích lớn nhất Việt Nam (14) VQG Bạch Mã ( Thừa Thiên – Huế) thành

lập năm 1991 nằm trên địa phận tỉnh Thừa Thiên – Huế Diện tích của vườn là

22.030 ha (15) VQG Chư Mon Ray ( Kon Tum) thành lập năm 2002 nằm trên địa phận tỉnh Kon Tum, diện tích của vườn là 56.621 ha.(16) VQG Kon Ka Kinh (Gia lai) thành lập năm 2002 nằm trên địa phận tỉnh Gia Lai có diện tích là 41.780 ha (17) VQG Yor Don ( Đắc Lắk) thành lập năm 1991 nằm trên địa phận tỉnh Đắc Lăk

diện tích vườn là 58.200ha Đây là khu bảo tồn các hệ sinh thái đặc trưng của rừng

nhiệt đới núi cao của nước ta (18) VQG Chư Yang Sin ( Đăk Lăk )thành lập năm

2002 nằm trên địa phận tỉnh Đắc Lăk với diện tích là 58.974ha (19) VQG Bidup – Núi Bà ( Lâm Đồng) thành lập năm 2004 nằm trên địa phận tỉnh Lâm Đồng với

diện tích là 64.800ha Là rừng tự nhiên duy nhất gần như của 1 loài cây là Thông Ba

lá (20) VQG Bù Gia Mập ( Bình Phước) thành lập năm 2002 nằm trên địa phận

tỉnh Bình Phước tiếp giáp với Cam phu chia Diện tích là 26.032ha hệ sinh thái chính

là rừng rụng lá với sinh cảnh cây họ Dầu (21) VQG Phước Bình ( Ninh Thuận)

thành lập năm 2006, nằm trên địa phận huyện Bắc ái tỉnh Ninh Thuận, diện tíchvườn là 19.814ha với đặc trưng hệ sinh thái rừng vừa có rừng ẩm thường xanh và

rừng lá kim ( Pơ mu – Hoàng Đàn) (22) VQG Núi Chúa ( Ninh Thuận) thành lập

Trang 32

năm 2003 có nguồn gốc từ khu bảo tồn rừng khô Phan Rang, nằm trọn trên địa phậntỉnh Ninh Thuận Diện tích vườn là 22.513ha có hai hệ sinh thái rừng chính là hệ

sinh thái rừng khô hạn và hệ sinh thái rừng xanh hơi ẩm và ẩm (23) VQG Cát Tiên ( Đồng Nai) thành lập năm 1992 nằm trên địa phận 2 tỉnh là Đồng Nai ( Nam Cát

Tiên) và tỉnh Lâm Đồng ( Bắc Cát Tiên) tổng diện tích vườn là 73.878 ha Đa số diện

tích là kiểu rừng kín là rộng thường xanh với các loài cây họ Đậu (24) VQG Lò Gò

Xa Mat ( Tây Ninh) thành lập năm 2002 nằm trên địa phận tỉnh Tây Ninh, giáp với

Campuchia, diện tích vườn là 18.765ha là hệ sinh thái rừng đặc trưng cho kiểu rừng

khô hạn cây họ Dầu, (25) VQG Côn Đảo ( Vũng Tàu) thành lập năm 1993 với diện tích 15.040ha (26) VQG Tràm Chim ( Đồng Tháp) thành lập nawm1994 trên địa

phận tỉnh Đồng Tháp diện tích vườn là 7.588ha là vườn duy nhất bảo tồn hệ sinh thái

ngập nước và các loài chim của vùng Đồng bằng sông Cửu Long (27) VQG Phú Quốc ( Kiên Giang) thành lập năm 2001 diện tích vườn là 31.422ha với chủ yếu là rừng tự nhiên lá rộng với nhiều kiểu rừng thường xanh và khô hạn (28) VQG U Minh Thượng (Kiên Giang) thành lập năm 2002 với diện tích là 8.053ha, đây là

vườn bảo tồn hệ sinh thái đất ngập nước đặc trưng là rừng ngập phèn thuần loài cây

Tràm, (29) VQG U Minh Hạ (Cà Mau), thành lập năm 2006 diện tích 8.286ha nằm trên địa phận tỉnh Cà Mau với đặc trưng là rừng ngập phèn thuần loài cây Tràm (30) VQG Đất Mũi (Cà Mau) thành lập năm 2003 tại điểm cực Nam của Việt Nam với

diện tích là 41.862ha đây là khu bảo tồn hệ sinh thái đất ngập mặn ven biển với đặctrưng là các loài cây thuộc họ Đước

* Khu bảo tồn thiên nhiên là vùng đất tự nhiên được thành lập để bảo đảm quá

trình diễn thể tự nhiên, chia thành hai loại sau:

Khu dự trữ thiên nhiên: là vùng đất tự nhiên, có dự trữ tài nguyên thiên nhiên

và tính đa dạng sinh học cao Có hệ sinh thái tự nhiên tiêu biểu, ít bị tác động củacon người, có hệ động thực vật đa dạng Có giá trị khoa học, giáo dục, cảnh quan và

du lịch Có các loài động vật, thực vật đặc hữu đang sinh sống, hoặc các loài đang cónguy cơ bị tiêu diệt Phải có diện tích đủ rộng, diện tích hệ sinh thái tự nhiên cần bảotồn >70% Đảm bảo tránh được các tác động trực tiếp có hại của con người

Khu bảo tồn loài hoặc sinh cảnh là vùng đất tự nhiên được quản lý, bảo vệ

nhằm đảm bảo sinh cảnh (vùng sống) cho một hoặc nhiều loài động vật, thực vật đặc

Trang 33

hữu hoặc loài quí hiếm Có vai trò quan trọng trong việc bảo tồn thiên nhiên, duy trìcuộc sống và phát triển của các loài, là vùng sinh sản, nơi kiếm ăn, vùng hoạt độnghoặc nghỉ ngơi, ẩn náu của động vật Có các loài thực vật quí hiếm, hoặc là nơi cưtrú hoặc di trú của các loài động vật hoang dã quí hiếm Có khả năng bảo tồn nhờvào sự bảo vệ của con người Có diện tích đủ lớn để bảo tồn loài và sinh cảnh

* Khu rừng văn hoá - lịch sử - môi trường là khu vực bao gồm một hay nhiều

cảnh quan có giá trị thẩm mỹ tiêu biểu và có giá trị văn hoá lịch sử, nhằm phục vụcho các hoạt động văn hoá, du lịch hoặc để nghiên cứu thí nghiệm, bao gồm:

Khu vực có các thắng cảnh trên đất liền, ven biển hay hải đảo

Khu vực có các di tích lịch sử - văn hoá đã được xếp hạng, hoặc các cành quannhư thác nước, hang động, nham thạch, cảnh quan biển, các di chỉ khảo cổ, hoặc khuvực rừng mang tính lịch sử truyền thống của địa phương

2.4.3.2 Rừng phòng hộ: Được xác định chủ yếu để xây dựng, phát triển rừng cho

mục đích bảo vệ và điều tiết nguồn nước, bảo vệ đất, chống xói mòn, chống cát bay,sóng biển, hạn chế thiên tai, điều hoà khí hậu và an ninh môi trường

Rừng phòng hộ đầu nguồn: Rừng phòng hộ đầu nguồn nhằm điều tiết nguồn

nước cho các dòng chảy, các hồ chứa nước để hạn chế lũ lụt, giảm xói mòn, bảo vệđất, hạn chế bồi đắp các lòng sông, lòng hồ

Rừng phòng hộ chắn gió, chắn cát bay: Chặn cát bay, phòng hộ cho sản

xuất nông nghiệp, bảo vệ khu dân cư, các khu đô thị, các vùng sản xuất, các côngtrình khác

Rừng phòng hộ chắn sóng: Nhằm ngăn cản sóng, chắn sóng, chống sạt lở

bờ biển, bảo vệ các hệ thống đê ven biển, ngăn nước mặn và các công trình ven biển

Rừng phòng hộ bảo vệ môi trường: Nhằm điều hoà khí hậu, chống ô nhiễm

ở khu đông dân cư, các đô thị và các khu công nghiệp, kết hợp phục vụ du lịch

Các loại rừng phòng hộ lại được chia chi tiết thêm dựa theo mức độ xung yếukhác nhau

• Vùng rất xung yếu : Bao gồm những nơi đầu nguồn nước, có độ dốc lớn, gần sông,gần hồ, có nguy cơ bị xói mòn mạnh, có yêu cầu cao nhất về điều tiết nước, nhữngnơi cát di động mạnh, những nơi bờ biển thường bị sạt lở, sóng biển thường xuyên

Trang 34

đe doạ sản xuất và đời sống nhân dân có nhu cầu cấp bách nhất về phòng hộ: Xâydựng rừng chuyên phòng hộ, đảm bảo tỷ lệ che phủ của rừng >70%

• Vùng xung yếu : Bao gồm những nơi có độ dốc, mức độ xói mòn đất trung bình,mức độ điều tiết nước trung bình, mức độ đe doạ cát bay và sóng biển thấp hơn Cókhả năng xây dựng rừng phòng hộ kết hợp sản xuất đảm bảo độ che phủ của rừng tốithiểu 50%

2.4.3.4 Rừng sản xuất: Được xác định chủ yếu để xây dựng, phát triển rừng cho mục

đích sản xuất, kinh doanh lâm sản (trong đó đặc biệt là gỗ và các loại đặc sản rừng)

và kết hợp phòng hộ môi trường, cân bằng sinh thái

• Rừng sản xuất là rừng tự nhiên: Loại rừng này được xác định chủ yếu để xâydựng, phát triển rừng cho mục đích sản xuất, kinh doanh Lâm sản (Trong đóđặc biệt là gỗ và các loại đặc sản rừng) và kết hợp phòng hộ môi trường, cânbằng sinh thái

Rừng sản xuất là rừng tự nhiên, được chia thành 3 loại rừng sản xuất theo sảnphẩm sau đây:

• Rừng giống gồm rừng trồng và rừng tự nhiên qua bình tuyển và công nhận

2.4.4.Phân loại theo trạng thái thái thực bì tự nhiên

1.3 Đất cây bụi, có các gỗ tái sinh tự nhiên rải rác, các cây gỗ tái sinh

có độ tàn che < 10%, với mật độ cây gỗ tái sinh < 1000 cây/ha

Ic

2.1 Đất trảng cây bụi có nhiều cây gỗ tái sinh tự nhiên, mật độ cây gỗ tái

sinh > 1000 cây/ha với độ tàn che > 10%

IIa

2.2 Rừng non phục hồi trên trảng cây bụi, mật độ cây gỗ > 1000 cây/ha,

với đường kính > 10 cm (rừng nghèo)

IIb

Trang 35

3.1 Rừng tự nhiên bị tàn phá mạnh IIIIa3.1.1 Rừng nghèo kiệt có trữ lượng gỗ 50 – 80 m3/ha (rừng nghèo) IIIa1 3.1.2 Rừng nghèo kiệt có trữ lượng gỗ 80 – 120 m3/ha (rừng TB) IIIa2 3.1.3 Rừng nghèo kiệt có trữ lượng gỗ 120 – 200 m3/ha (rừng giàu) IIIa3 3.2 Rừng tự nhiên bị tác động ở mức trung bình, còn có kết cấu 3 tầng

cây, với trữ lượng gỗ: 200 – 300 m3/ha (rừng giàu)

IIIb

3.3 Rừng tự nhiên bị tác động ít, rừng có cấu trúc 3 tầng cây, các dấu vết

rừng bị tàn phá không còn thể hiện rõ, có trữ lượng gỗ: 300 – 400

m3/ha (rừng giàu)

IIIc

4 Đất rừng tự nhiên giàu chưa bị tác động (rừng nguyên sinh ) IV

2.4.5 Đơn vị phân chia ba loại rừng để quản lý

Để thuận tiện cho việc quản lý, rừng đặc dụng, rừng phòng hộ, rừng sản xuấtđược phân chia thành các đơn vị diện tích như sau:

Tiểu khu: Có diện tích trung bình 1000 ha, là đơn vị cơ bản để quản lý rừng;

thứ tự tiểu khu được ghi bằng chữ sổ A rập trong phạm vi của từng tỉnh từ tiểu khu

số 1 đến tiểu khu cuối cùng (ví dụ: Tiểu khu 1, Tiểu khu 2 )

Khoảnh: Là đơn vị chia nhỏ của tiểu khu, có diện tích trung bình 100 ha, là

đơn vị thống kê tài nguyên rừng và tạo thuận lợi cho việc xác định vị trí trên thựcđịa; thứ tự khoảnh được ghi bằng chữ sổ A rập trong phạm vi của từng tiểu khu từkhoảnh số 1 đến khoảnh cuối cùng (ví dụ: Khoảnh 1, khoảnh 2 )

Lô: Là đơn vị chia nhỏ của khoảnh, có cùng điều kiện tự nhiên và có cùng

biện pháp tác động kỹ thuật; diện tích lô bình quân là 10 ha (đối với rừng gỗ và rừngtre nứa tự nhiên), 5 ha (đối với đất trống để trồng rừng); thứ tự lô được ghi bằng chữcái Việt Nam trong phạm vi từng khoảnh (ví dụ: Lô a, Lô b )

2.5 Định giá rừng

2.5.1 Tổng giá trị kinh tế của rừng

Trước đây khái niệm về tổng giá trị kinh tế của rừng (Total Economic Valua –

Trang 36

TEV) được xem xét rất hạn chế trong một phạm vi hạn hẹp Các nhà kinh tế chỉ xemxét các giá trị của rừng thông qua các sản phẩm hữu hình mà rừng tạo ra để phục vụcho các nhu cầu sản xuất và tiêu thụ của con người: Gỗ, củi, gỗ nguyên liệu dùnglàm bột giấy, ván ép, trái cây, động vật, cỏ khô, dược liệu, lâm sản ngoài gỗ, thứcăn…Tuy nhiên các sản phẩm này chỉ thể hiện được 1 phần giá trị nhỏ trong TEV,thực tế, rừng đã tạo một lợi ích kinh tế vượt xa giá trị của các sản phẩm hữu hìnhtrên Khi đó, TEV bao gồm các giá trị:

TEV = DUV + IUV + OP + BV + EV

2.51.1 Giá trị trực tiếp ( Direct Use Valua – DUV)

Là giá trị của những nguyên liệu thô và những sản phẩm vật chất được sửdụng trực tiếp trong các hoạt động sản xuất, hàng hóa thị trường công nghiệp,thương mại: gỗ, củi, lâm sản ngoài gỗ hoặc các hàng hóa dịch vụ truyền thống khôngđược tiêu thụ trên thị trường như gỗ làm nhà, chất đốt, thức ăn… hoặc những sảnphẩm không qua tiêu thụ: tiêu khiển du lịch trong rừng, chụp ảnh động vật hoang dã,học tập nghiên cứu về rừng

2.5.1.2 Giá trị gián tiếp ( Indirect Use Valua – IUV)

Là giá trị kinh tế của các dịch vụ môi trường và chức năng sinh thái mà rừngtạo ra như: Bảo vệ lưu vực, bảo vệ đất, độ phì của đất, vai trò trao đổi khí: Khí O2,CO2, góp phần ổn định khí hậu, tích trữ cacbon, tạo môi trường sống , bảo vệ đadạng loài và đa dạng sinh học

2.5.1.3.Các giá trị lựa chọn (Option Value – OV)

Là những giá trị chưa được biết đến của nguồn gen, các loài động vật hoang dãtrong rừng và các chức năng sinh thái rừng khi chúng được đưa vào ứng dụng tronglĩnh vực giải trí, dược phẩm, nông nghiệp, trong tương lai

VD: Một người sẵn lòng trả tiền để bảo tồn rừng nhằm mục đích sử dụng rừng

trong tương lai, chẳng hạn như cho mục đích giải trí Giá trị này được gọi là giá trị lựa chọn

Trang 37

2.5.1.4.Các giá trị để lại (Bequest Value – BV)

Là những giá trị trực tiếp hoặc gián tiếp mà các thế hệ sau có cơ hội được sửdụng

VD: Một người sẵn lòng trả tiền để bảo tồn rừng mặc dù họ không sử dụng vàcũng không có ý định sử dụng rừng Mong muốn của họ là con cái họ hoặc thể hệsau có cơ hội sử dụng rừng Đây là một dạng giá trị lựa chọn vì lợi ích của người

khác, đôi khi còn được gọi là giá trị để lại.

2.5.1.5.Các giá trị tồn tại (Existence Value – EV)

Là giá trị nội tại đi kèm với sự tồn tại của các loài trong rừng và hệ sinh thái rừng

mà không kể đến việc sử dụng trực tiếp Giá trị tồn tại có thể văn hoá, thẩm mỹ, disản của rừng

VD: Một người sẵn lòng trả tiền để bảo tồn rừng mặc dù họ không sử dụng vàcũng không có ý định sử dụng rừng hay không nhằm để người khác sử dụng rừng.Đơn giản chỉ là vì họ muốn rừng tiếp tục sống Mong muốn của họ cũng rất khácnhau, từ ý thức về giá trị đích thực của rừng tới giá trị về tinh thần, tôn giáo, quyền

của những sinh vật sống khác, v.v Đây được gọi là giá trị tồn tại.

2.6 Chứng chỉ rừng

2.6.1 Tại sao cần chứng chỉ rừng

Ngày nay, toàn thế giới ngày càng quan tâm đến tình trạng diện tích và chấtlượng rừng ngày một suy giảm ảnh hưởng lớn đến môi trường sống và khả năngcung cấp sản phẩm rừng cho phát triển bền vững cũng như hàng ngày của người dân.Vấn đề cần được giải quyết là làm thế nào quản lý kinh doanh rừng phải vừa đảmbảo tốt lợi ích kinh tế vừa đem lại lợi ích thiết thực cho các cộng đồng dân cư sốngtrong rừng và sống gần rừng, vừa không tác động xấu đến môi trường sống tức làthực hiện được quản lý rừng bền vững Chứng chỉ rừng là cần thiết bởi vì:

+ Cộng đồng quốc tế, chính phủ và các cơ quan chính phủ, các tổ chức môitrường và xã hội đòi hỏi các chủ sản xuất kinh doanh rừng phải chứng minh rằngrừng của họ đã được quản lý bền vững

+ Người tiêu dùng sản phẩm rừng đòi hỏi các sản phẩm lưu thông trên thịtrường phải được khai thác từ rừng đã được quản lý bền vững

Trang 38

+ Người sản xuất muốn chứng minh các sản phẩm rừng của mình đặc biệt là

gỗ được khai thác từ rừng được quản lý một cách bền vững

Chứng chỉ rừng cần thiết để xác nhận quản lý rừng bền vững cũng giống như chứngchỉ ISO để xác nhận quản lý chất lượng sản phẩm công nghiệp

2.6.2 Chứng chỉ rừng là cầu nối giữa sản xuất và tiêu dùng

Các sản phẩm rừng đặc biệt là gỗ tiêu thụ trên thị trường có thể được sản xuất

mà an toàn với môi trường, không làm mất rừng hay suy giảm chất lượng rừng hoặc

có thể được sản xuất mà không an toàn đối với môi trường, tác động xấu đến môitrường

Khái niệm thương mại và phát triển bền vững được hình thành trên cơ sở: sửdụng các biện pháp thương mại để kiểm soát một cách có hiệu quả các tác hại về môitrường tức là phát triển một hệ thống thị trường chỉ chấp nhận tiêu thụ các sản phẩm

có chứng chỉ an toàn với môi trường

Ví dụ, cuối năm 1980 nhiều tổ chức phi chính phủ vận động tẩy chay gỗ rừng nhiềuđới, sau đó chính quyền nhiều thành phố lớn ở Hà Lan, Đức, Mỹ cũng có lệnh cấm

sử dụng gỗ nhiệt đới trong những công trình xây dựng bằng vốn ngân sách

Đến năm 1990 quốc hội Autralia ban hành luật hạn chế nhập khẩu gỗ từ các nướckhông có chứng chỉ rừng Biện pháp cấm và tẩy chay thương mại , sử dụng gỗ cũngthường xuyên được thảo luận tại hội đồng gỗ nhiệt đới quốc tế ITTC trong suốtnhững năm 1988 -1992 Nhiều thị trường rộng lớn Châu Âu và Bắc Mỹ bắt đầu thựchiện chính sách chỉ cho phép gỗ và sản phẩm từ rừng có chứng chỉ được lưu thông

và sử dụng

Đầu năm 2000 nhóm G8 tuyên bố các chính phủ cam kết chỉ sử dụng các sản phẩm

từ gỗ, nguyên liệu giấy của mình bằng các nguồn hợp pháp và bền vững

Hiện nay, trên thị trường này nảy sinh vấn đề

+ Người tiêu dùng sản phẩm rừng đòi hỏi sản phẩm mà hộ mua phải có nguồn gốc từrừng đã được quản lý rừng bền vững

+ Người sản xuất muốn chứng minh rằng rừng và các sản phẩm từ rừng đã đượcquản lý bền vững

2.6.3 Khái niệm chứng chỉ rừng (FSC)

Trang 39

Chứng chỉ rừng là sự xác nhận bằng giấy chứng chỉ rừng đơn vị quản lý rừngđược chứng chỉ đã đạt được những tiêu chuẩn về quản lý rừng bền vững do tổ chức

tổ chức chứng chỉ hoặc được ủy quyển chứng chỉ quy định Nói cách khác, chứngchỉ rừng là quá trình đánh giá quản lý rừng để xác nhận rằng chủ rừng đã đạt các yêucầu về quản lý rừng bền vững Ba thành phần có vai trò trong việc chứng chỉ rừng+ Người cấp chứng chỉ: Đó là một tổ chức thứ ba, trung gian và hoàn toàn độc lập+ Người có lợi trực tiếp hoặc gián tiếp từ rừng như chính phủ, chính quyền địaphương, cộng đồng cư dân, các tổ chức môi trường và xã hội gọi chung là cổ đông+ Người được cấp chứng chỉ: Công ty Lâm nghiệp, lâm trường, chủ rừng

Một trong những động lực quan trọng của chứng chỉ rừng là thâm nhập thị trườngtiêu thụ sản phẩm Vì vậy chứng chỉ rừng gắn với chứng chỉ chuỗi hành trình sảnphẩm CoC – xác định sản phẩm có nguồn gốc từ rừng được chứng chỉ

ra 3 cơ chế mềm dẻo

+ Buôn bán phát thải toàn cầu ( IET)

+ Cơ chế đồng thực hiện ( JI)

+ Cơ chế phát triển sạch (CDM)

Vậy CDM là gì? CDM tên viết tắt tiếng Anh là Chean DevelopmentMechanism – cơ chế hợp tác quy định tại điều 22 của nghị định thư Kyoto CDMcho phép các tổ chức, doanh nghiệp nhà nước và tư nhân của các nước công nghiệpphát triển, các tổ chức quốc tế đầu tư vào các dự án nhằm giảm phát thải khí nhàkính tại các nước đang phát triển để nhận được chứng chỉ giảm phát thải viết tắt làCERs đóng góp cho mục tiêu giảm phát thải của quốc gia đó CDM thúc đẩy pháttriển bền vững ở các nước đang phát triển và cho phép các nước phát triển đóng gópvào mục tiêu giảm khí nhà kính trong khí quyển

Ngày đăng: 27/05/2022, 19:46

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1.Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn (2004),Cẩm nang nghành Lâm nghiệp 2. Vũ Tiến Hinh, Điều tra rừng (1997), Nhà xuất bản Nông nghiệp Khác
3.Phạm Xuân Hoàn, Lâm học (2003), Nhà Xuất bản Nông nghiệp Khác
4. Hoàng Kim Ngũ, Phùng Ngọc Lan, Sinh thái rừng, Nhà xuất bản Nông nghiệp (1998) Khác
5. Nguyễn Văn Thêm , Lâm sinh học, nhà xuất bản Nông nghiệp (2004) Khác
6. Lê Bá Toàn, Bài giảng Kỹ thuật lâm sinh, Tủ sách Đại học Nông Lâm TPHCM Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w