ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN NGUYỄN THỊ KIM ANH MSHV 19C34002 MỐI QUAN HỆ BIỆN CHỨNG GIỮA GIÁO VIÊN VỚI HỌC SINH GIÁO VIÊN VỚI PHỤ HUYNH GIÁO VIÊN VÀ CÁC CẤP QUẢN LÝ Tiểu luận Triết học Chương trình cao học và nghiên cứu sinh không chuyên ngành Triết học TP HỒ CHÍ MINH 2020 ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN MỐI QUAN HỆ BIỆN CHỨNG GIỮA GIÁO VIÊN VỚI HỌC SINH GIÁO VIÊN VỚI PHỤ HUYNH GIÁO VIÊN VÀ CÁC CẤP QUẢN LÝ Tiểu luận Triết học.
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
NGUYỄN THỊ KIM ANH
MSHV: 19C34002
MỐI QUAN HỆ BIỆN CHỨNG GIỮA GIÁO VIÊN VỚI HỌC SINH
GIÁO VIÊN VỚI PHỤ HUYNH GIÁO VIÊN VÀ CÁC CẤP QUẢN LÝ
Tiểu luận Triết học Chương trình cao học và nghiên cứu sinh
không chuyên ngành Triết học
Trang 2TP HỒ CHÍ MINH - 2020
ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
MỐI QUAN HỆ BIỆN CHỨNG GIỮA GIÁO VIÊN VỚI HỌC SINH
GIÁO VIÊN VỚI PHỤ HUYNH GIÁO VIÊN VÀ CÁC CẤP QUẢN LÝ
Tiểu luận Triết học Chương trình cao học và nghiên cứu sinh
không chuyên ngành Triết học
NGUYỄN THỊ KIM ANH
MSHV: 19C34002 Giáo viên Vật lý THPT Trường phổ thông Văn Lang
Trang 3TP HỒ CHÍ MINH – 2020
MỤC LỤC
Trang 4Để người giáo viên có thể hoàn thành tốt sứ mệnh của mình đòi hỏi bản thân mỗigiáo viên cần có cái nhìn chung nhất về mối liên hệ giữa giáo viên với các đối tượngxung quanh Dựa trên cơ sở lý luận chính là phép biện chứng duy vật, đề tài trình bày bamối liên hệ biện chứng cơ bản giữa giáo viên với học sinh, giáo viên với đồng nghiệp vàcác cấp quản lý Từ đó giúp mỗi giáo viên nhận định, đánh giá đúng tính chất, vị trí, vaitrò của bản thân và các đối tượng xung quanh, tránh được sai lầm và hoàn thành tốt đượcnhiệm vụ của mình Bên cạnh đó mỗi người cũng cần hiểu về các mối liên hệ này để thấyđược vai trò, vị trí và trách nhiệm của người giáo viên, có cái nhìn đúng đắn nhất về giáoviên, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi để họ có thể hoàn thành tốt nhiệm vụ của mình.
Trang 5CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN [1]
1.1 Khái niệm phép biện chứng.
Trong lịch sử, khái niệm “Biện chứng” được dùng theo nhiều nghĩa khác: Vào thời
kỳ đầu (thời kỳ cổ đại) có nghĩa là nghệ thuật tranh cãi (các nhà biện chứng); ngoài racòn có nghĩa là ngụy biện, che đậy sự thật (các nhà ngụy biện); hoặc nghệ thuật thuyếtphục người khác (nhà hùng biện) Hiện nay (từ thế kỷ XIX) “Biện chứng” là khái niệmdùng để nói về các mối liên hệ, về sự vận động và phát triển
“Phép biện chứng” – là học thuyết về các mối liên hệ, về sự vận động và phát triển
Và với tư cách là học thuyết, phép biện chứng thể hiện tri thức của con người về các mốiliên hệ, về sự vận động và phát triển
“Phép biện chứng” vừa là lý luận, vừa là phương pháp: Là lý luận vì phép biệnchứng là học thuyết về các mối liên hệ, học thuyết về sự vận động và phát triển; Làphương pháp vì phép biện chứng là hệ thống những những yêu cầu đòi hỏi con ngườiphải thực hiện trong hoạt động nhận thức và thực tiễn
1.2 Ba hình thức lịch sử của phép biện chứng.
Học thuyết là sản phẩm của quá trình nhận thức, nó thể hiện trình độ nhận thức củacon người Mà sự hiểu biết và nhận thức con người thì không cố định, nó luôn vận động
thay đổi theo thời gian (giai đoạn này có thể nhận thức con người thế này, giai đoạn khác
có thể nhận thức con người thế khác) Vậy nên các học thuyết trong lịch sử cũng thay
đổi, và các nội dung của “phép biện chứng” cũng khác nhau trong từng giai đoạn lịch sử.Căn cứ vào sự vận động, thay đổi của phép biện chứng, người ta chia lịch sử của “phépbiện chứng” thành 3 hình thức cơ bản mà ta gọi là 3 hình thức lịch sử của “phép biệnchứng”
Ví dụ: Quan điểm về Ngũ hành ở Trung Quốc cho rằng vũ trụ được hình thành từ năm chất cơ bản: kim, mộc, thủy, hỏa, thổ và hai mối quan hệ cơ bản là tương sinh và tương khắc Heraclitus cho rằng lửa chuyển hóa thành vạn vật và vạn vật sẽ quay về với lửa.
Trang 61.2.2 Phép biện chứng duy tâm.
Học thuyết về các mối liên hệ, về sự vận động và phát triển của các nhà triết họcduy tâm Phép biện chứng duy tâm đạt đến đỉnh cao trong triết học của Hegel ở Đức vào
thế kỷ XIX Về mặt tích cực thì lần đầu tiên trong lịch sử nhân loại các nội dung cơ bản
của phép biện chứng được trình bày dưới dạng học thuyết chặt chẽ được thể hiện qua cácnguyên lý, quy luật, phạm trù, những nội dung hợp lý trong phép biện chứng của Hegel
đã trở thành tiền đề lý luận cho sự ra đời của phép biện chứng duy vật Về mặt hạn chế đó
là tính chất duy tâm cho rằng: coi ý thức quyết định vật chất, vũ trụ khởi đầu từ ý niệm vàkết thúc cũng là ý niệm
1.2.3 Phép biện chứng duy vật
Do C.Mác và Ph.Ăngghen xây dựng từ giữa thế kỷ XIX, và sau đó được Lênin bảo
vệ và phát triển Đây là phép biện chứng cao nhất, là một trong những nội dung quantrọng nhất của chủ nghĩa duy vật biện chứng, kế thừa trực tiếp các nội dung hợp lý trongphép biện chứng duy tâm của Hegel, được xây dựng trên nền tảng thế giới quan duy vật.Phép biện chứng duy vật không chỉ giải thích các mối liên hệ, trạng thái vận động và pháttriển của thế giới mà nó còn là công cụ để nhận thức và cải tạo thế giới Nội dung củaphép biện chứng duy vật rất phong phú, nhưng có thể khái quát thành hai nguyên lý cơbản: Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến và Nguyên lý về sự phát triển
1.2.4 Hai nguyên lý của phép biện chứng duy vật.
Về phương diện cấu trúc thì nội dung của phép biện chứng duy vật được khái quátthành 2 nguyên lý: nguyên lý về mối liên hệ phổ biến và nguyên lý về sự phát triển
“Nguyên lý” là những tư tưởng mang tính chất nền tảng, trên nền tảng ấy các vấn đề
khác sẽ được xây dựng lên và được giải quyết, nguyên lý thường dễ hiểu và hiển nhiên.Nguyên lý là sản phẩm của nhận thức, mang tính chủ quan, mỗi người khác nhau sẽ hiểu
về sự vật, hiện tượng một cách khác nhau và trình bày chúng thành các nguyên lý khácnhau
1.2.4.1 Nguyên lý 1: nguyên lý về mối liên hệ phổ biến.
Trong vũ trụ vô cùng, vô tận không có sự vật, hiện tượng nào tách rời sự vật hiệntượng khác mà chúng luôn nằm trong những mối liên hệ với nhau
“Mối liên hệ” là khái niệm dùng để chỉ sự tác động qua lại lẫn nhau, ràng buộcnhau, góp phần quy định sự tồn tại và phát triển, chuyển hoá nhau của các sự vật, hiệntượng
Ví dụ:
+ “Gần mực thì đen, gần đèn thì sáng”
Trang 7+ Mối liên hệ giữa giảng viên và học viên, những điều mà giảng viên nói sẽ ảnh hưởng đến tinh thần, tri thức, hành động của học viên và ngược lại, mối liên hệ này góp phần quy định sự tồn tại của giảng viên và học viên.
+ Hai đứa trẻ sinh ra trong 2 gia đình khác nhau sẽ có lối sống, cách sống, tri thức,
cư xử và hành động khác nhau
Các mối liên hệ có nhiều tính chất, song có 3 tính chất cơ bản, là:
- Tính khách quan: Các mối liên hệ tồn tại ngoài ý thức, không phụ thuộc vào ý thứccủa con người
- Tính phổ biến: Bất kỳ sự vật nào, hiện tượng nào cũng có mối liên hệ; ở đâu (vềkhông gian) cũng có mối liên hệ; lúc nào (về thời gian) cũng có mối liên hệ
- Tính đa dạng, phong phú: Sự vật khác nhau, không gian khác nhau, thời gian khácnhau thì các mối liên hệ khác nhau
+ Mối liên hệ giữa Việt Nam ta và Trung Quốc cách đây 50 năm khác với mối liên
hệ giữa ta và Trung Quốc hiện nay (kinh tế, chính trị,…)
Xuất phát từ mối liên hệ phổ biến, trong nhận thức và hoạt động thực tiễn, cần quántriệt các nguyên tắc phương pháp luận: nguyên tắc toàn diện và nguyên tắc lịch sử cụ thể
* Nguyên tắc toàn diện: Khi con người muốn nhận thức, nhận định hay đánh giá về
một vấn đề, sự vật, hiện tượng nào đó thì con người không được phép dừng lại ở bản thân
sự vật, hiện tượng đó mà phải tìm hiểu tất cả các mối liên hệ liên quan đến nó, con người
có thể sẽ không hiểu hết được tất cả các mối liên hệ nhưng hiểu càng nhiều thì càng mắc
ít sai lầm Con người cần phải phân loại được các mối liên hệ và đồng thời phải chống lại
tư tưởng phiến diện (chỉ nhìn vào một khía cạnh, một hướng của sự vật, hiện tượng)
* Nguyên tắc lịch sử - cụ thể: Khi con người nhận thức về một đối tượng nào đó thì
con người phải đặt nó vào đúng không gian, thời gian, đúng mối liên hệ của nó, chống lại
tư tưởng đại khái
Ví dụ: Nói dối là hành động tốt hay xấu?
Để trả lời cho câu hỏi trên ta cần trả lời được các câu hỏi: nói dối cái gì? Nói dối với ai? Nói dối khi nào? và nói dối ở đâu?
Trang 8Nếu đây là hành động nói dối của một người Bác sỹ với bệnh nhân của mình, nói dối bệnh nhân về tình hình sức khỏe để bệnh nhân giữ được tinh thần lạc quan, có ý chí tiếp tục sống thì đây là hành động tốt Nhưng nếu là con nói dối cha, mẹ đi học nhưng lại trốn học đi chơi thì đây là hành động xấu.
1.2.4.2 Nguyên lý 2: nguyên lý về sự phát triển.
Mọi sự vật, hiện tượng không ngừng vận động nằm trong khuynh hướng chung vàphát triển Đề cập đến sự vận động là đề cập đến mọi sự biến đổi chưa xác định về hướng
đi từ cái chưa hoàn thiện đến cái hoàn thiện
Sự tăng lên, giảm đi, thoái hóa đều nằm trong khunh hướng chung của sự phát triển
* Nguyên tắc phát triển: Khi con người nhận thức một đối tượng nào đó thì phải
nhận thức đối tượng đó ở trạng thái động nằm trong khuynh hướng chung của sự pháttriển, phải tìm ra được nguồn gốc của nó, phải chống lại tư tưởng bảo thủ
Ví dụ: Hai người bạn cũ gặp lại nhau sau 10 năm, cả hai đều nghĩ rằng bạn của mình vẫn còn giữ tính cách, thói quen và những tật xấu giống như cách đây 10 năm, tuy nhiên họ không biết rằng sau 10 năm cả hai đều đã thay đổi cả về tính cách, thói quen, ngoại hình và những tật xấu; điều này sẽ làm cho cả hai người khó đi đến kết quả tốt trong giao tiếp, gây xa cách, thậm chí đánh mất tình bạn
1.2.5 Các quy luật cơ bản của phép biện chứng duy vật.
Đề cập đến “quy luật” là đề cập đến những mối liên hệ mang tính bản chất, tấtnhiên, tương đối ổn định và được lặp đi lặp lại
Từ đó cho thấy không phải mối liên hệ nào cũng được gọi là quy luật, mà chỉ nhữngmối liên hệ thỏa mãn các điều kiện trên mới được gọi là “quy luật”
Ví dụ: Trong lĩnh vực kinh tế có mối liên hệ giữa cung cấp và nhu cầu.
+ Nếu cung cấp nhiều mà nhu cầu ít thì giá bán rẻ.
+ Nếu cung cấp ít mà nhu cầu nhiều thì giá bán đắc.
Trang 9Đây là bản chất của quá trình trao đổi hàng hóa, là điều tất nhiên, điều này tươngđối ổn định từ xưa cho đến nay và đúng ở nhiều quốc gia, không phụ thuộc vào ý muốncủa con người (cả người mua và người bán)
Nội dung của hai quy luật trên được cụ thể hóa qua các quy luật và được chia thànhhai loại:
+ Các quy luật không cơ bản gồm 6 cặp phạm trù cơ bản: Cái riêng và cái chung,nguyên nhân và kết quả, tất nhiên và ngẫu nhiên, nội dung và hình thức, bản chất và hiệntượng, khả năng và hiện thực
+ Các quy luật cơ bản: quy luật thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập (quyluật mâu thuẫn), quy luật từ những thay đổi về lượng dẫn đến những thay đổi về chất vàngược lại, quy luật phủ định của phủ định
1.2.5.1 Quy luật thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập (quy luật mâu thuẫn)
Quy luật thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập (quy luật mâu thuẫn) là quyluật quan trọng nhất được xem là hạt nhân của phép biện chứng duy vật và nó cho chúng
ta hiểu được nguồn gốc của sự vận động và phát triển
* Tóm tắt nội dung: mỗi sự vật, hiện tượng là một thể thống nhất bao gồm những
yếu tố khác nhau, liên kết với nhau tạo thành Trong đó những yếu tố vận động ngượcchiều nhau gọi là mặt đối lập Cứ hai mặt đối lập thì tạo thành một mâu thuẫn Nhữngmặt đối lập này vừa thống nhất, vừa đấu tranh với nhau Trong đó đấu tranh giữa các mặtđối lập phát triển đến một mức độ nhất định thì mâu thuẫn được giải quyết, sự vật và hiệntượng mới ra đời Bản thân mỗi sự vật, hiện tượng có rất nhiều mâu thuẫn
Như vậy đấu tranh giữa các mặt đối lập để giải quyết mâu thuẫn là nguồn gốc của
sự vận động và phát triển
Ví dụ:
+ Rễ, thân, cành, lá của một cái cây liên kết với nhau mới tạo thành một chỉnh thể
là một cái cây hoàn chỉnh.
+ Hai quá trình đồng hóa (hấp thụ) và dị hóa (đào thải) là hai quá trình vận động động ngược chiều nhau, cùng tồn tại trong một cơ thể sống, đây là hai mặt đối lập của nhau.
Nếu các yếu tố của cùng một đối tượng chỉ khác nhau thôi thì chưa gọi là mặt đốilập, nếu chưa phải là mặt đối lập thì chưa hình thành mâu thuẫn
Những tính chất cơ bản của mâu thuẫn:
+ Tính khách quan
Trang 10+ Tính phổ biến.
+ Tính đa dạng, phong phú
Ví dụ:
+ Điện tích âm và điện tích dương là hai mặt đối lập của nhau.
+ Tính chất sóng và tính chất hạt của ánh sáng là hai mặt đối lập của nhau.
+ Thế năng và động năng trong định luật bảo toàn cơ năng là hai mặt đối lập + Sự sống và sự chết là hai mặt đối lập tồn tại trên một cơ thể sống.
“Thống nhất”: các mặt đối lập cùng tồn tại và ràng buộc nhau (tức là có mặt đối lậpnày thì chắc chắn có mặt đối lập kia), khi mặt đối lập này bị thay đổi thì sẽ dẫn đến mặtđối lập kia cũng thay đổi theo
Ví dụ:
+ Khi có một người bị bóc lột thì chắc chắn phải có người bóc lột, đây là sự thống nhất giữa hai mặt đối lập
+ Khi quan điểm về cái đẹp bị thay đổi thì quan điểm về cái xấu cũng thay đổi theo,
ví dụ vào thời nhà Đường người ta quan niệm người phụ nữ “mặt vuông, trán rộng, béo phục phịch, đôi mắt phụng dài, có tướng đế vương” là người phụ nữ đẹp, vậy ngược lại người phụ nữ có thân hình mảnh khảnh, mặt nhỏ, thon là xấu Tuy nhiên thời nay người
ta quan niệm người phụ nữ sở hữu “thân hình mảnh khảnh, thon thả cùng khuôn mặt thanh thoát” là đẹp, ngược lại người phụ nữ “mặt vuông, trán rộng, béo phục phịch” lại được cho là xấu.
“Đấu tranh”: các mặt đối lập thâm nhập vào nhau, chuyển hoá nhau, phủ định nhau.+ Khi mâu thuẫn được giải quyết thì khi đó sự vật và hiện tượng được chuyển hóa,
sự vật và hiện tượng mới ra đời, hình thành các mặt đối lập mới và những mâu thuẫnmới, quá trình cứ thế tiếp tục dẫn đến sự phát triển của sự vật, hiện tượng
Ví dụ: Một người muốn chuyển hóa từ trình độ cử nhân sang trình độ thạc sỹ khoa học: mâu thuẫn giữa thời gian với nhu cầu (bản thân có nhu cầu muốn đi chơi, đi du lịch, tuy nhiên khi chọn học cao học thì thời gian không có để dành cho các nhu cầu cá nhân), mâu thuẫn về điều kiện kinh tế (không muốn tốn nhiều tiền nhưng nếu học thì phải tốn tiền), mâu thuẫn về tri thức (cử nhân thì biết ít, biết theo tính chất sao chép còn thạc sỹ thì phải biết nhiều, biết sâu, biết theo tính chất sáng tạo).
Trang 11* Ý nghĩa phương pháp luận:
+ Muốn phát triển thì việc đầu tiên là phải tìm ra được những mâu thuẫn, phân loạiđược mâu thuẫn, không được điều hòa mâu thuẫn mà phải giải quyết nó Phải đánh giáđúng tầm quan trọng của từng mâu thuẫn là nguồn gốc của sự phát triển, con người phảidám đối mặt với mâu thuẫn
+ Mâu thuẫn chỉ được giải quyết trong những điều kiện nhất định nên phải chủ độngtạo ra những điều kiện cần thiết để mâu thuẫn được giải quyết
1.2.5.2 Quy luật từ những thay đổi về lượng dẫn đến những thay đổi về chất và ngược lại.
Quy luật này giúp con người hiểu về cách thức của sự vận động và phát triển
* Tóm tắt nội dung: Mọi sự vật, hiện tượng đều có chất và lượng, trong đó chất
tương đối ổn định còn lượng thường xuyên biến đổi, khi lượng bị biến đổi đến một mứcnhất định trong những điều kiện nhất định thì chất sẽ bị biến đổi, sự vật và hiện tượng bịchuyển hóa, sự vật, hiện tượng mới ra đời có lượng mới, chất mới, lượng vẫn thườngxuyên bị biến đổi nhưng khác với sự biến đổi của lượng cũ cả về tốc độ, chiều hướng vàquy mô, điều này do chất mới quy định
Như vậy: từ những thay đổi về lượng đã dẫn đến những thay đổi về chất và từnhững thay đổi về chất cũng dẫn đến những thay đổi về lượng
Đây là cách thức của sự vận động và phát triển
+ Khái niệm “chất”: Chất là khái niệm dùng để chỉ tính quy định của sự vật, hiệntượng, là sự thống nhất hữu cơ các thuộc tính cấu thành sự vật, hiện tượng đó, phân biệtvới sự vật, hiện tượng khác
+ Khái niệm “lượng”: Lượng là khái niệm dùng để chỉ tính quy định khách quancủa sự vật, hiện tượng về quy mô, trình độ phát triển, biểu thị bằng con số các yếu tố, cácthuộc tính cấu thành nó Lượng là khái niệm dùng để chỉ tính chất của sự vật, hiện tượngnhưng chưa làm cho nó phân biệt được với cái khác, chưa là cơ sở để phân biệt được sựvật, hiện tượng
Ví dụ:
(1) Nếu ta tăng nhiệt độ của nước lên từ từ thì lúc đầu nước sẽ chỉ nóng dần lên, tuy nhiên khi tang đến một mức nhiệt độ nhất định thì nước sẽ sôi và sẽ bay hơi, chuyển từ trạng thái lỏng sang trạng thái khí (hơi) Và ngược lại nếu ta giảm dần nhiệt độ của không khí, đến một mức nhiệt độ nhất định thì hơi nước trong không khí sẽ ngưng tụ lại tạo thành các giọt nước (từ trạng thái khí (hơi) chuyển sang trạng thái lỏng).
Trang 12(2) Khi phóng vệ tinh nhân tạo vào không gian vũ trụ, ta cần tăng dần vận tốc của tên lửa, nếu vận tốc chưa đủ lớn thì khi đưa vệ tinh nhân tạo ra ngoài, vệ tinh nhân tạo
sẽ không thể chuyển động trên một quỹ đạo tròn ổn định mà sẽ bị rơi về Trái Đất hoặc rơi vào khoảng không vũ trụ, tuy nhiên khi vận tốc tăng đến một giá trị nhất định, đủ lớn
là vệ tinh nhân tạo sẽ chuyển động trên một quỹ đạo tròn ổn định.
(3) Một người muốn chuyển từ bậc học phổ thông (với đặc trưng là biết nông, mang tính bắt buộc, kiến thức dàn trải, mang tính sao chép) lên bậc đại học (với đặc trưng là biết sâu, mang tính tự giác, kiến thức có định hướng, mang tính sáng tạo), đòi hỏi người này phải tích cực tích lũy cả về kiến thức lẫn kỹ năng và phải vượt qua kỳ thi đại học Nếu lượng tích lũy là đủ, người này có thể vượt qua kỳ thi đại học và trở thành sinh viên.
+ Khái niệm “độ”: giới hạn mà lượng biến đổi nhưng chất chưa thay đổi gọi là “độ”.+ Khái niệm “điểm nút”: nơi diễn ra thay đổi về chất gọi là “điểm nút”
+ Khái niệm “bước nhảy”: sự chuyển hóa từ chất cũ sang chất mới gọi là “bướcnhảy” Bước nhảy thể hiện đa dạng: đột biến hay tiệm tiến, toàn thể hay cục bộ,…