Đề bài Vận dụng quan điểm triết học vào mối liên hệ biện chứng giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội Từ đó vận dụng vào vấn đề Từ đó vận dụng vào vấn đề xây dựng đời sống tinh thần ởTừ đó vận dụng vào vấn đề xây dựng đời sống tinh thần ở Việt Nam
Trang 1Họ và tên: Doãn Thị Hà Phương
Mã sinh viên: 2156040047
Lớp: Báo Phát Thanh – K41
Đề bài: Vận dụng quan điểm triết học vào mối liên hệ biện chứng giữa tồn tại xã
hội và ý thức xã hội Từ đó vận dụng vào vấn đề xây dựng đời sống tinh thần ở Việt Nam
Bài làm:
1 Cở sở lý luận
Trong một xã hội, tồn tại xã hội là yếu tố tiên quyết và luôn đi cùng với đó là ý thức xã hội Tồn tại xã hội là thứ quy định nội dung, bản chất, xu hướng vận động xã hội; còn ý thức xã hội là thứ phản ảnh khách quan của tồn tại xã hội Hai yếu tố này có mối quan hệ biện chứng với nhau; chúng chứng minh cho ta thấy sự biến đổi của một thời đại nào đó sẽ chỉ giải thích được khi căn cứ vào cả
ý thức của thời đại nó cũng như những mâu thuẫn, xung đột giữa các lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất trong thời đại đó
Ta có khái niệm về tồn tại xã hội là đời sống vật chất cũng như những điều kiện sinh hoạt vật chất của xã hội Hay nói cách khác, tồn tại xã hội bao gồm tất cả những yếu tố trong xã hội gồm hoàn cảnh địa lý (điều kiện tự nhiên), điều kiện dân số và phương thức sản xuất Trong đó, phương thức sản xuất là quan trọng nhất vì nó là yếu tố quyết định xem xã hội ấy có phát triển để có thể tiếp tục tồn tại hay không Có sản xuất thì mới của cải vật chất từ đó mới có sự sinh sống của con người tạo nên một xã hội
Ý thức xã hội thuộc về lĩnh vực tinh thần của đời sống xã hội bao gồm những tư tưởng, quan điểm, tình cảm, tâm trạng, thói quen, phong tục, tập quán, truyền thống,… của cộng đồng xã hội được nảy sinh từ tồn tại xã hội và phản ánh tồn tại xã hội trong từng giai đoạn lịch sử nhất định Có thể nói, ý thức xã hội chính
là bản chất, nền văn hóa của xã hội ấy; nó được phản ánh thông qua chính những hoạt động, tư tưởng, quan điểm của con người trong chính xã hội ấy Khi tồn tại
xã hội đạt đến một mức ổn định đủ ăn đủ mặc, con người sẽ bắt đầu quan tâm hơn tới ý thức xã hội Ý thức xã hội gồm hai kiểu ý thức đó là ý thức xã hội thông thường và ý thức xã hội lý luận Ý thức xã hội thông thường phản ánh toàn bộ phong tục tập quán của con người trong xã hội ấy theo một cách tự phát dưới tác động trực tiếp cuộc sống hằng ngày Còn ý thức lý luận được khái quát
hệ thống hơn so với ý thức xã hội, nó cũng phản ánh con người của xã hội đó nhưng theo một cách gián tiếp dưới dạng các học thuyết về chính trị, pháp
quyền, triết học, đạo đức, nghệ thuật, tôn giáo và khoa học
Trang 2Như đã khẳng định, hai yếu tố này có mối quan hệ biện chứng với nhau Dưới góc nhìn Triết học, không thể để tồn tại xã hội và ý thức xã hội tách rời, đứng riêng biệt, biệt lập bởi nếu dựa theo quan điểm siêu hình như vậy sẽ không thể hiểu rõ được bản chất của xã hội và chắc chắn sẽ dẫn đến nhiều hệ quả sai lầm trong việc xây dựng và phát triển xã hội Tồn tại xã hội (TTXH) và ý thức xã hội (YTXH) có mối quan hệ biện chứng thông qua hai ý chính
Một là tồn tại xã hội quyết định đối với ý thức xã hội
- TTXH quyết định nguồn gốc, nội dung, tính chất của ý thức xã hội
- Khi TTXH thay đổi, nhất là khi phương thức sản xuất thay đổi sẽ dẫn đến
sự thay đổi của YTXH với mức độ và nhịp điệu khác nhau
- Khi trong TTXH có sự phân chia giai cấp thì YTXH cũng mang tính giai cấp
- TTXH được YTXH phản ánh một các đa dạng, pháp tạp, bị ảnh hưởng bởi các yếu tố trung gian
Hai là tính độc lập tương đối của YTXH
- Sự lạc hậu của YTXH so với TTXH Bao gồm một số yếu tố của YTXH
cũ nhưng vẫn còn tồn tại và gây ảnh hưởng đến TTXH mới như sức ỳ của YTXH; tác động của quan hệ lợi ích; bản chất của YTXH
- Sự vượt trước của YTXH so với TTXH Trong sự vượt trước, sẽ diễn ra theo hai xu hướng đó là vượt trước về khoa học (xuất phát từ những bằng chứng thực tiễn có sự phân tích rõ ràng); và vượt trước ảo tưởng (chỉ xuất phát từ mong muốn chủ quan và không có sự phân tích đúng đắn rõ ràng trong hiện thực)
- Tính kế thừa trong sự phát triển của YTXH Trong nguyên tắc phát triển
có tính kế thừa, vì vậy trong quá trình phát triền YTXH cũng phải có sự phát triển để kế thừa những điều tốt đẹp và xóa bỏ những điều không còn phù hợp
- Sự tác động, ảnh hưởng lẫn nhau giữa các hình thái YTXH Ở mỗi thời kỳ lịch sử sẽ có những YTXH chính giữ vai trò chủ đạo, chi phối những hình thái YTXH khác
- Sự tác động trở lại của YTXH tới TTXH Sự tác động ấy được biểu hiện qua hai mặt tích cực thì YTXH giúp TTXH phản ánh đúng quy luật của TTXH và giúp TTXH phát triển đi lên; còn mặt tiêu cực thì YTXH kìm hãm sự phát triển của TTXH bởi nó không phản ánh đúng quy luật của TTXH và khiến TTXH đi xuống
2 Vận dụng thực tiễn
Từ mối quan hệ biện chứng giữa TTXH và YTXH, Việt Nam xét đến cùng cũng
là một xã hội lớn vì vậy chắc chắn cũng chịu sự tác động của TTXH và YTXH
Trang 3Hiện nay, Việt Nam vẫn đang tiếp tục trên con đường tiến tới một xã hội cộng sản chủ nghĩa là khi không còn giai cấp, mọi người đều được sống bình đẳng, tự
do, hạnh phú – đó là tư tưởng của chủ nghĩa Mác-Lenin với khẳng định rõ ràng
“muốn cải tạo thế giới” Tư tưởng vĩ đại của Lenin được ra đời trong cuối thế kỷ
19 đầu thế kỷ 20 nhưng đến nay thế kỷ 21 vẫn còn tiếp tục vận dụng YTXH phát triển trước TTXH trong thời kỳ ấy biểu hiện của TTXH quyết định TTXH quyết định YTXH Lenin nhìn thấy sự khốn khổ thực tiễn của người dân lao động, của tầng lớp công nhân nên từ đó tìm ra vũ khí để giúp đỡ những con người ở dưới đáy xã hội Về đến Việt Nam, thông qua tư tưởng tiến bộ, bắt kịp thời đại của chủ nghĩa Mác-Lenin, Hồ Chí Minh đã thành công vận dụng vào xã hội Việt Nam Từ chính TTXH của những đầu thế kỷ 20, khi TTXH Việt Nam
là một nước thuộc địa nửa phong kiến, nửa Tây nửa ta đã khiến Bác có những YTXH mới để từ đó có những phương pháp, cách thức phù hợp ra đi tìm đường cứu nước Như vậy, chính bản thân lịch sử Việt Nam đã chứng minh cho mối quan hệ biện chứng đầu tiên, TTXH quyết định YTXH Đặc biệt, điểm nổi trội nhất trong thời kỳ thuộc địa nửa phong kiến đó là phương thức sản xuất tư bản Pháp đã bắt đầu du nhập vào Việt Nam PTSX ấy yêu cầu Việt Nam phải sản xuất ra những của cải vật chất phát triển, tiến bộ, tiên tiến hơn, từng bước xóa bỏ những công cụ, hình thức sản xuất còn lạc hậu, lỗi thời Và như đã khẳng định, PTSX là yếu tố quan trọng nhất của TTXH hay theo mối quan hệ biện chứng khi PTSX thay đổi thì dẫn đến TTXH thay đổi và cũng làm cho YTXH thay đổi Hay chính là vào những bị xâm lược ấy, Việt Nam bắt đầu hình thành những phong tục, tập quán mới như dùng thuốc phiện, thuốc lá, con trai cắt tóc ngắn, con gái được đi học,…
Như đã phân tích, tư tưởng của Lenin từ thế kỷ 19 mà đến nay thế kỷ 21, tư tưởng ấy vẫn được vận dụng và hơn hết nó còn là kim chỉ nam cho mọi hành động của Đảng và Nhà nước Việt Nam YTXH có thể được sinh ra trước hoặc sau TTXH YTXH mà sinh ra trước sẽ giống như một ngọn đèn giúp TTXH phát triển hơn nhưng nếu TTXH đã phát triển mà YTXH vẫn còn theo lối cũ thì chắc chắn xã hội ấy không thể phát triển Lấy ví dụ về YTXH phát triển trước giúp cho TTXH phát triển chính là ví dụ về tư tưởng của Hồ Chí Minh sau khi sáng tạo và vận dụng khách quan vào chính TTXH ở Việt Nam Còn ví dụ về về YTXH làm hạn chế TTXH thì có thể thấy ngày nay, người dân Việt Nam những người già sống ở thế hệ 6x, 7x vẫn còn mang những tư tưởng cũ, cổ hủ, lạc hậu như con gái phải để tóc dài, nhà phải có con trai nối dỗi, không chấp nhận việc đồng tính, có cái nhìn phiến diện về du học “Pháp” hay “Mỹ” (là đi làm cho bọn
tư bản),… Chính điều này đã dẫn đến kìm hãm sự phát triển của TTXH mới hay chỉ đơn giản là những thế hệ trẻ trong xã hội mới luôn luôn phải chịu sự ảnh hưởng khắt khe từ ông bà, cha mẹ không được làm những điều “mới hơn”, “văn minh hơn”, “tiến bộ hơn” Như vậy, sẽ rất khó để có thể sinh ra một TTXH mà phát triển và sánh vai với các cường quốc năm châu như lời Bác Hồ chỉ dạy
Bên cạnh đó, hiện nay, Việt Nam đang trong quá trình xây dựng nền kinh tế mới theo định hướng thị trường xã hội chủ nghĩa Một phương thức làm ăn mới, có
Trang 4sự thành công lớn đối với xây dựng TTXH thông quan YTXH mới là mở cửa thị trường không bế quan tỏa cảng Chính nhờ sự thay đổi trong tư duy và nhận thức này, Việt Nam đã ngày một hoàn thiện hơn là nước xuất khẩu gạo thứ 2 thế giới hay “Theo chuẩn quốc gia, tỷ lệ hộ đói nghèo đã giảm từ 30% năm 1992
xuống khoảng 9,5% năm 2010 Còn theo chuẩn do Ngân hàng thế giới (WB) phối hợp với Tổng cục Thống kê tính toán, thì tỷ lệ nghèo chung (bao gồm cả nghèo lương thực, thực phẩm và nghèo phi lương thực, thực phẩm) đã giảm từ 58% năm 1993 xuống 29% năm 2002 và còn khoảng 17% năm 2008 Như vậy, Việt Nam đã “hoàn thành sớm hơn so với kế hoạch toàn cầu: giảm một nửa tỷ lệ nghèo vào năm 2015”, mà Mục tiêu Thiên niên kỷ (MDGs) của Liên hợp quốc
đã đề ra (14) Tại cuộc Hội thảo quốc tế với tiêu đề Xóa đói, giảm nghèo: Kinh nghiệm Việt Nam và một số nước châu Á do Bộ Ngoại giao Việt Nam tổ chức tại
Hà Nội vào giữa tháng 6-2004, Việt Nam được đánh giá là nước có tốc độ giảm nghèo nhanh nhất khu vực Đông Nam Á”,… ( Theo báo: Những thành tựu cơ
bản về phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam từ khi đổi mới đến nay
(hcma.vn))
Tóm lại, trong hoạt động thực tiễn, đòi hỏi phát huy nhân tố con người, phát huy tính năng động, sáng tạo, tích cực của YTXH
- Trong sự nghiệp đổi mới, phát triển đất nước, ĐCSVN chủ trương lấy việc phát huy nguồn lực con người làm yếu tố cơ bản cho sự phát triển bền vững
- Đồng thời khơi dậy lòng yêu nước, ý chí quật cường, sáng tạo… của nhân dân
- Tính vượt trước của YTXH đòi hỏi khắc phục các quan điểm bảo thủ, trì trệ, thái độ thụ động, thiếu sáng tạo trong cuộc sống