1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Mối quan hệ biện chứng giữa vậtchất và ý thức, liên hệ với đời sống học tập của sinh viên hiện nay

23 41 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 23
Dung lượng 388,57 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trên cơ sởquan điểm về bản chất vật chất của thế giới, bản chất năng động, sáng tạo của ýthức và mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức, chủ nghĩa duy vật biệnchứng xây dựng nên

Trang 1

Bài thảo luận nhóm 4

LỜI MỞ ĐẦU

I Tầm quan trọng của đề tài

Những thành tựu trong công cuộc đổi mới trong thời gian qua đã và đang tạo

ra một thế lực mới để nước ta bước vòa thời kì phát triển mới Nhiều tiền đề cầnthiết về công cuộc công nghiệp hóa hiện đại hoasddax được tạo ra, quan hệ giữanước ta và các nước trên thế giới ngày càng được mở rộng, khả năng giữ vữngđộc lập trong hội nhập với thị trường ngày càng được tăng thêm Cách mạng khoahọc và công nghệ tiếp tục phát triển với trình đọ ngày càng cao, thúc đẩy quátrình dịch chuyển kinh té và đời sống xã hội

Tất cả các nước đều có cơ hội phát triển Tuy nhiên do ưu thế công nghệ vàthị trường thuộc về các nước phát triển khiến cho các nước chậm phát triển đứngtrước một thách thức to lớn Nguy cơ tụt hậu ngày càng cao mà điểm xuất phátcủa nước ta lại quá thấp nên phải đi từ con đường cạnh tranh quyết liệt Trước tình hình đó, cùng với xu thế phát trển của thời đại, Đảng và nhà nước cầntiến hành đẩy mạnh công cuộc đổi mới toàn diện đất nước, trong đó đổi mới kinh

tế đóng vai trò then chốt, giữ vai trò chỉ đạo Hơn thế nữa, vấn đề cấp bách là đổimới kinh tế bởi giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị có mối quan hệvật chất

và ý thứcgiúp cho đất nước ta ngày càng giàu mạnh

Mối quan hệ giữa vật chất và ý thứclà mối quan hệ cơ bản của triết học Trên cơ sởquan điểm về bản chất vật chất của thế giới, bản chất năng động, sáng tạo của ýthức và mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức, chủ nghĩa duy vật biệnchứng xây dựng nên nguyên tắc phương pháp luận cơ bản, chung nhất đối với hoạtđộng nhận thức và thực tiễn của con người là: “ Trong hoạt động nhận thức vàthực tiễn phải xuất phát từ thực tế khách quan, tôn trọng khách quan, đồng thờiphát huy tính năng động chủ quan.” Mối liên hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức

đã khẳng định về sự ra đời và tồn tại của vật chất cũng như ý thức Ngay từ thời cổđại, trong khi chủ nghĩa duy tâm quan niệm bản chất của thế giới, cơ sở đầu tiêncủa mọi tồn tại là một bản nguyên tinh thần, còn vật chất chỉ là bản nguyên tinhthần ấy thì chủ nghĩa duy vật quan niệm: bản chất của thế giới, thực thể của thếgiới là vật chất-cái tồn tại vĩnh viễn, tạo nên mọi sự vật, hiện tượng cùng vớinhững thuộc tính của chúng Trước những tranh cãi đó thì mối liên hệ biện chứnggiữa vật chất và ý thức đã chỉ ra rằng: “ vật chất có trước, ý thức có sau” Mối liên

hệ này đã có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với sự phát triển của chủ nghĩa duyvật và nhận thức khoa học nói riêng và sự phát triển của việc nghiên cứu triết họcnói chung

Từ đề tài này, bản thân em đã nhận ra tầm quan trọng của mối liên hệ biện chứng

Trang 2

giữa vật chất và ý thức đối với quá trình học tập và sinh hoạt của bản thân.Bảnthân là một sinh viên đang ngồi trên ghế nhà trường, em biết mình phải có nhậnthức đúng đắn về tầm quan trọng của việc học tập từ đó đề ra mục tiêu phươnghướng cụ thể và phù hợp cho bản thân mình Đồng thời phải tích cực hoạt động,phòng, chống và khắc phục bệnh chủ quan duy ý chí: không được có những hànhđộng lấy ý chí áp dặt cho thực tế (VD: không suy nghĩ thấu đáo và đặt vào trườnghợp thực tế trước khi quyết định làm một việc gì đó), lấy ảo tưởng thay cho hiệnthực (VD: luôn ảo tưởng về những điều không có thật và không chịu học tập laođộng), lấy ý muốn chủ quan làm chính sách (VD: luôn coi ý kiến của mình là đúngđắn và áp đặt mọi người phải làm theo),…

Vì vậy nhóm 4 chúng em đã chọn đề tài " Mối quan hệ biện chứng giữa vậtchất và ý thức, liên hệ với đời sống học tập của sinh viên hiện nay"

II Mục đích và nhiệm vụ của đề tài

1 Mục đích

Từ việc nghiên cứu về đề tài thảo luận này, các thành viên tróng nhóm cầnphải hiêu rõ, sâu sắc về bản chất của vấn đề đó là bản chất của ý thức, vật chất vàmối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức từ đó có thể vận dụng vào trongcuộc sống và việc học tập của sinh viên Thương mại nói chung và của bản thânmình nói riêng Bên cạnh đó cũng đưa ra được mặt tích cực, mặt tiêu cực để đề ragiải pháp phù hợp đồng thời tích cực tuyên truyền cho những người xung quanh

về vấn đề này để có thể xây dựng một xã hội phát triển vững mạnh

c Mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức

*Chương 2: Vận dụng mối quan hệ vào trong đời sống học tập của của sinh viên

a Mô tả thực trạng của sinh viên hiện nay

b Đề xuất được các biện pháp giải quyết vấn đề liên quan tới đời sống học tập củasinh viên

III Ý nghĩa của đề tài

Ngoài việc giúp cho sinh viên hiểu được cơ sở lí luận vật chất, ý thức và mối liên hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức thì nó còn giúp cho sinh viên cũng như

Trang 3

chính bản thân mỗi bạn hiểu được bản chất của vấn đề và biết vận dụng, ứng xử vào cuộc sống thực tiễn

A/ VẬT CHẤT

I Khái niệm triết học

Triết học là hệ thống những lý luận chung nhất của con người về thế giới, vềbản thân con người và vị trí của con người trong thế giới đó

II Các vấn đề cơ bản của triết học

Vấn đề cơ bản của triết học có hai mặt:

- Giữa vật chất và ý thức cái nào có trước cái nào có trước cái nào có sau? Cáinào quyết định cái nào?

- Con người có khả năng nhận diện thế giới hay không?

Trước khi chủ nghĩa duy vật biện chứng ra đời, các nhà triết học duy vật quanniệm vật chất là một hay một số chất tự có, đầu tiên, được coi là những chất giớihạn tột cùng đóng vai trò là cơ sở sinh sản ra toàn bộ thế giới

Quan điểm của các nhà triết học trước mác đặt nền móng cho khuynh hướnglấy bản thân giới tự nhiên để giải thích về giới tự nhiên nhưng cũng bộc lộ nhiềuhạn chế, không hiểu bản chất của vật chất và mối quan hệ giữa vật chất và ý thức

III Phạm trù vật chất

Vật chất là một phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách quan được đemlại cho con người trong cảm giác được cảm giác của chúng ta chụp lại, chép lại,phản ánh không lệ thuộc vào cảm giác

IV Phương thức và hình thức tồn tại của vật chất

- Theo quan điểm cuả duy vật biện chứng , vận động là phương thức tồn tạicủa vật chất; không gian thời gian là những phương thức tồn tại của vật chất

- Vận động là phương thức tồn tại của vật chất Theo Ph.Ăngghen “vận động

là một hình thức tồn tại của vật chất, là một thuộc tính cố hữu của vật

Trang 4

chất Bao gồm mọi sự thay đổi và mọi quá trình diễn ra trong vũ trụ, từ việcthay đổi vị trí đơn giản cho đến tư duy”

*Vận động có 4 hình thức cơ bản:

- Vận động cơ học (sự di chuyển vị trí của các vật thể trong không gian)

- Vận động vật lý (vận động của các phân tử điện tử các hạt cơ bản các quátrình nhiệt điện)

- Vận động hóa học (sự đổi các chất vô cơ hưu cơ trong quá trình hóa hợp vàphân giải)

- Vận độn xã hội (sự biến đổi trong các lĩnh vực kinh tế , chính trị văn hóa , xãhội)

Các hình thức vận động cơ bản nói trên được sắp xếp theo trình tự từ thấp tớicao, tương ứng với trình độ kết cấu của vật chất Vận động là tuyệt đối, đứng yênchỉ là tương đối Đứng im là trạng thái đặc biệt của vận động, đó là vận động trongthến cân bằng và đứng im là hiện tượng tương đối tạm thời.Không gian, thời gian

là những hình thức tồn tại của vật chất

*Tính thống nhất của thế giới

Chỉ cón một thế giới duy nhất là thế giới vật chất; thế giới vật chất là cái cótrước, tồn tại khách quan, độc lập với ý thức của con người.Thế giới vật chất tồntại vĩnh viễn vô tận, vô hạn, không được sinh ra và cũng không bị mất đi.Mọi tồntại của thế giới vật chất đều có mối liên hệ khách quan, thống nhất với nhau

Trang 5

Ý thức ra đời trong quá trình chuyển biến từ vượn thành người, nhờ lao động,

ngôn ngữ và những mối quan hệ xã hô

*Lao động

Lao động là quá trình con người tác động vào giới tự nhiên nhằm tạo ra

những sản phẩm phục vụ cho các nhu cầu của mình, là một quá trình trong đó bản

thân con người đóng góp vai trò môi giới, điều tiết và giám sát trong sự trao đổi

vật chất giữa người và tự nhiên Lao động là điều kiện đầu tiên và chủ yếu để con

người tồn tại Lao động cung cấp cho con người những phương tiện cần thiết để

sống, đồng thời lao động sáng tạo ra cả bản thân con người Nhờ có lao động, con

người tách ra khỏi giới động vật Một trong những sự khác nhau căn bản giữa con

người với động vật là ở chỗ động vật sử dụng các sản phẩm có sẵn trong giới tự

nhiên, còn con người thì nhờ lao động mà bắt giới tự nhiên phục vụ mục đích của

mình, thay đổi nó, bắt nó phục tùng những nhu cầu của mình Chính thông qua

hoạt động lao động nhằm cải tạo thế giới khách quan mà con người mới có thể

phản ánh được thế giới khách quan, mới có ý thức về thế giới đó Sự hình thành ý

thức không phải là quá trình thu nhận thụ động, mà đó là kết quả hoạt động chủ

động của con người Nhờ có lao động, con người tác động vào thế giới khách

quan, bắt thế giới khách quan bộc lộ những thuộc tính, những kết cấu, những quy

luật vận động của mình thành những hiện tượng nhất định, và các hiện tượng ấy

tác động vào bộ óc người, hình thành dần những tri thức về tự nhiên và xã hội

Như vậy, ý thức được hình thành chủ yếu do hoạt động cải tạo thế giới khách quan

của con người, làm biến đổi thế giới đó Ý thức với tư cách là hoạt động phản ánh

sáng tạo không thể có được ở bên ngoài quá trình con người lao động làm biến đổi

V ư ơ

n

N g

ư ơ

i

( H o

m o

N g

ư ơ

i

( H o

m o

S a

p i

e n

S a

p i

e n

Trang 6

thế giới xung quanh Vì thế có thể nói khái quát rằng lao động tạo ra ý thức tưtưởng, hoặc nguồn gốc cơ bản của ý thức tư tưởng là sự phản ánh thế giới kháchquan vào đầu óc con người trong quá trình lao động của con người Lao độngkhông xuất hiện ở trạng thái đơn nhất, ngay từ đầu nó đã mang tính tập thể xã hội.

Vì vậy, nhu cầu trao đổi kinh nghiệm và nhu cầu trao đổi tư tưởng cho nhau xuấthiện

*Ngôn Ngữ

Ngôn ngữ do nhu cầu của lao động và nhờ lao động mà hình thành Ngôn ngữ

là hệ thống tín hiệu vật chất mang nội dung ý thức Không có ngôn ngữ thì ý thứckhông thể tồn tại và thể hiện được.Ngôn ngữ vừa là phương tiện giao tiếp trong xãhội, đồng thời là công cụ của tư duy nhằm khái quát hóa, trừu tượng hóa hiện thực.Nhờ ngôn ngữ mà con người tổng kết được thực tiễn, trao đổi thông tin, trao đổi trithức từ thế hệ này sang thế hệ khác ý thức không phải thuần túy là hiện tượng cánhân mà là một hiện tượng xã hội, do đó không có phương tiện trao đổi xã hội vềmặt ngôn ngữ thì ý thức không thể hình thành và phát triển được Vậy, nguồn gốctrực tiếp quan trọng nhất quyết định sự ra đời và phát triển của ý thức là lao động,

là thực tiễn xã hội ý thức phản ánh hiện thực khách quan vào bộ óc con ngườithông qua lao động, ngôn ngữ và các quan hệ xã hội ý thức là sản phẩm xã hội, làmột hiện tượng xã hội

b Nguồn gốc tự nhiên

Chủ nghĩa duy tâm cho rằng ý thức có trước, vật chất có sau, ý thức sinh ravật chất, chi phối sự tồn tại và vận động của thế giới vật chất Học thuyết triết họcduy tâm khách quan và triết học duy tâm chủ quan có quan niệm khác nhau nhấtđịnh về ý thức, song về thực chất họ giống nhau ở chỗ tách ý thức ra khỏi vật chất,lấy ý thức làm điểm xuất phát để suy ra giới tự nhiên

Ý thức bắt nguồn từ một thuộc tính của vật chất - thuộc tính phản ánh - pháttriển thành ý thức ra đời là kết quả phát triển lâu dài của thuộc tính phản ánh củavật chất Nội dung của ý thức là thông tin về thế giới bên ngoài, về vật được phảnánh ý thức là sự phản ánh thế giới bên ngoài vào đầu óc con người Bộ óc người

là cơ quan phản ánh, song chỉ có bộ óc thôi thì chưa thể có ý thức Không có sựtác động của thế giới bên ngoài lên các giác quan và qua đó đến bộ óc thì hoạtđộng ý thức không thể xảy ra

Như vậy, bộ óc người (cơ quan phản ánh về thế giới vật chất xung quanh)cùng với thế giới bên ngoài tác động lên bộ óc - đó là nguồn gốc tự nhiên của ýthức

Trang 7

độ khác nhau như: Tri thức thông thường được hình thành do hoạt động hàng ngàycủa mỗi cá nhân, mang tính chất cảm tính trực tiếp, bề ngoài và rời rạc Tri thứckhoa học phản ánh trình độ của con người đi sâu nhận thức thế giới hiện thực.Ngày nay, vai trò động lực của tri thức đối với sự phát triển kinh tế xã hội trở nên

rõ ràng, nổi bật Loài người đang bước vào nền kinh tế tri thức - là nền kinh tế

Bả

n chấtcủ

a

Ý thức là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan

Ý thức mang bản chất lịch sử xã

h i ội

Điều

ki n ện lịch sử

cụ thể

Quan

h xã ện

h i ội

Ý thức là hình ảnh tinh

thần Xuất hi n tương ện

ứng với các quá trình

thần kinh vỏ não, là hình

ảnh trừu tương, khái

quát sự v t hi n ật hiện ện

tượng

Ý thức có tính sáng tạo là sự thống nhất giữa 3

m t ặt

Trao đổi thông tin giữa

chủ thể và khách thể

Mô hình hoá đối tượng trong tư duy dưới dạng hình ảnh tinh thần

Chuyển mô hình từ tư duy thành hi n ện thực kết quả là Hi n tượng hoá tư ện tưởng thông qua hoạt đ ng thực tiễn ội

Trang 8

trong đó sự sản sinh ra, phổ cập và sử dụng tri thức giữ vai trò quyết định nhất đốivới sự phát triển kinh tế Trong nền kinh tế tri thức, đa số các ngành kinh tế dựavào tri thức, dựa vào thành tựu mới nhất của khoa học và công nghệ, vì vậy, đầu tưvào tri thức trở thành yếu tố then chốt cho sự tăng trưởng kinh tế dài hạn.

Tình cảm là sự cảm động của con người trong quan hệ của mình với thực tại

xung quanh và đối với bản thân mình Tình cảm là một hình thái đặc biệt của sựphản ánh thực tại; nó phản ánh quan hệ của con người đối với nhau, cũng như đốivới thế giới khách quan Tình cảm tham gia vào mọi hoạt động của con người vàgiữ một vị trí quan trọng trong việc điều chỉnh hoạt động của con người Tình cảm

có thể mang tính chất chủ động, chứa đựng sắc thái cảm xúc tích cực, cũng như trởthành thụ động, chứa đựng sắc thái cảm xúc tiêu cực Tình cảm tích cực là mộttrong những động lực nâng cao năng lực hoạt động sống của con người Tri thứckết hợp với tình cảm hình thành nên niềm tin, nâng cao ý chí tích cực biến thànhhành động thực tế, mới phát huy được sức mạnh của mình

b Theo chiều sâu của nội tâm

Tiếp cận theo chiều sâu của thế giới nội tâm con người, ý thức bao gồm tự ýthức, tiềm thức, vô thức

- Tự ý thức:

Trong quá trình nhận thức thế giới xung quanh, con người đồng thời cũng tựnhận thức bản thân mình Đó chính là tự ý thức Như vậy, tự ý thức cũng là ýthức, là một thành tố quan trọng của ý thức, nhưng đây là ý thức về bản thân mìnhtrong mối quan hệ với ý thức về thế giới bên ngoài Nhờ vậy con người tự nhậnthức về bản thân mình như một thực thể hoạt động có cảm giác có tư duy, có cáchành vi đạo đức và có vị trí trong xã hội Những cảm giác của con người về bảnthân mình trên mọi phương diện giữ vai trò quan trọng trong việc hình thành tự ýthức Con người chỉ tự ý thức được bản thân mình trong quan hệ với những ngườikhác, trong quá trình hoạt động cải tạo thế giới Chính trong quan hệ xã hội, tronghoạt động thực tiễn xã hội và qua những giá trị văn hóa vật chất và tinh thần dochính con người tạo ra, con người phải tự ý thức về mình để nhận rõ bản thânmình, tự điều chỉnh bản thân theo các quy tắc, các tiêu chuẩn mà xã hội đề ra

Tự ý thức không chỉ là tự ý thức của cá nhân mà còn là tự ý thức của cả xãhội, của một giai cấp hay của một tầng lớp xã hội về địa vị của mình trong hệthống những quan hệ sản xuất xác định, về lý tưởng và lợi ích chung của xã hộimình, của giai cấp mình, hay của tầng lớp mình

- Tiềm thức:

Trang 9

Là những hoạt động tâm lý tự động diễn ra bên ngoài sự kiểm soát của chủthể, song lại có liên quan trực tiếp đến các hoạt động tâm lý đang diễn ra dưới sựkiểm soát của chủ thể ấy Về thực chất, tiềm thức là những tri thức mà chủ thể đã

có được từ trước nhưng đã gần như trở thành bản năng, thành kỹ năng nằm trongtầng sâu của ý thức chủ thể, là ý thức dưới dạng tiềm tàng Do đó, tiềm thức có thểchủ động gây ra các hoạt động tâm lý và nhận thức mà chủ thể không cần kiểmsoát chúng một cách trực tiếp Tiềm thức có vai trò quan trọng cả trong hoạt độngtâm lý hàng ngày của con tư duy chính xác, với các hoạt động tư duy thường đượclặp đi lặp lại nhiều lần ở đây tiềm thức góp phần giảm sự quá tải của đầu óc trongviệc xử lý khối lượng lớn các tài liệu, dữ kiện, tin tức diễn ra một cách lặp đi lặplại mà vẫn đảm bảo được độ chính xác và chặt chẽ cần thiết của tư duy khoa học

- Vô thức:

Vô thức là những trạng thái tâm lý ở chiều sâu, điều chỉnh sự suy nghĩ, hành

vi, thái độ ứng xử của con người mà chưa có sự tranh luận của nội tâm, chưa có sựtruyền tin bên trong, chưa có sự kiểm tra, tính toán của lý trí

Vô thức biểu hiện thành nhiều hiện tượng khác nhau như bản năng hammuốn, giấc mơ, bị thôi miên, mặc cảm, sự lỡ lời, nói nhịu, trực giác Mỗi hiệntượng ấy có vùng hoạt động riêng, có vai trò, chức năng riêng, song tất cả đều cómột chức năng chung là giải tỏa những ức chế trong hoạt động thần kinh vượtngưỡng nhất là những ham muốn bản năng không được phép bộc lộ ra và thựchiện trong quy tắc của đời sống cộng đồng Nó góp phần lập lại thế cân bằng tronghoạt động tinh thần của con người mà không dẫn tới trạng thái ức chế quá mứcnhư ấm ức, "libiđo"

Như vậy, vô thức có vai trò tác dụng nhất định trong đời sống và hoạt độngcủa con người Nhờ vô thức mà con người tránh được tình trạng căng thẳng khôngcần thiết khi làm việc "quá tải" Nhờ vô thức mà chuẩn mực con người đặt ra đượcthực hiện một cách tự nhiên Vì vậy, không thể phủ nhận vai trò cái vô thức trongcuộc sống, nếu phủ nhận vô thức sẽ không thể hiểu đầy đủ và đúng đắn về conngười

Tuy nhiên không nên cường điệu, tuyệt đối hóa và thần bí vô thức Khôngnên coi vô thức là hiện tượng tâm lý cô lập, hoàn toàn tách khỏi hoàn cảnh xã hộixung quanh không liên quan gì đến ý thức Thực ra, vô thức là vô thức nằm trongcon người có ý thức Giữ vai trò chủ đạo trong con người là ý thức chứ không phải

vô thức Nhờ có ý thức mới điều khiển được các hiện tượng vô thức hướng tớichân, thiện, mỹ Vô thức chỉ là một mắt khâu trong cuộc sống có ý thức của conngười

Trang 10

 Vì ý thức tác động trở ại vật chất nên trong hoạt động thực tiễn chúng ta

phải chú ý giáo dục và nâng cao nhận thức cho con người

 Phát huy tính năng động chủ quan và phát huy vai trò ý thức của con người

trong việc phản ánh đúng thế giới quan Nhận thức đúng quy luật, xác định

được mục tiêu, ra phương hướng hiệu quả nhất

C/ MỐI QUAN HỆ GIỮA VẬT CHẤT VÀ Ý THỨC

Mối quan hệ giữa vật chất và ý thức là vấn đề cơ bản của triết học Phạm trù vật chất

và mối liên hệ giữa vật chất và ý thức đã được các nhà triết học trước Mác quan tâm vớinhiều quan điểm khác nhau và luôn diễn ra cuộc đấu tranh giữa chủ nghĩa duy tâm và chủnghĩa duy vật trong suốt lịch sử triết học

Quan điểm Mascxit cho rằng chỉ có một thế giới duy nhất và thống nhất là thế giớivật chất Thế giới vật chất tồn tại khách quan có trước và độc lập với ý thức con người.Lê-nin người bảo vệ và phát triển triết học Mác đã nêu định nghĩa “vật chất là mộtphạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách quan được đem lại để làm cho con ngườitrong cảm giác, được cảm giác phản ánh và tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác

1 Mối quan hệ giữa vật chất và ý thứcTrong lịch sử, chủ nghĩa duy tâm cho rằng ý thức có trước vật chất có sau, ý thức quyết định vật chất Chủ nghĩa duy vật siêu hình cho rằng vật chất có trước, ý thức có sau, vật chất quyết định ý thức và sinh ra ý thức Tuy nhiên quan điểm của họ chưa thấy được vai trò, tính năng động sáng tạo của ý thức

Chủ nghĩa duy vật biện chứng xuất phát từ con người hiện thực, con người thực tiễn

để xem xét mối quan hệ này Từ đó khảng định, vật chất có trước, ý thức có sau, vật chất quyết định ý thức và ý thức tác động trở lại vật chất thông qua hoạt động của con người.Đây là mối quan hệ tác động qua lại 2 chiều, thực tiễn quyết định lý luận và lý luận tác động lên thực tiễn.Thực tiễn quyết định lý luận: Thể hiện ở chỗ quyết định cả về nội dung, nhiệm vụ, khuynh hướng phát triển lý luận Hay nói cách khác, thực tiễn thế nào thì lý luận thế ấy, thực tiễn thay đổi thì sớm muộn gì lý luận cũng thay đổi bởi vì thực tiễn đóng vai trò là cơ sở, là động lực, là mục đích của nhận thức Thực tiễn là cơ sở, là

Trang 11

• Vật chất đã đề ra nhu cầu nhiệm vụ, phương hướng đòi hỏi ý thức phải trả lời trên

cơ sở đó thúc đẩy lý luận phát triển

• Vật chất là cơ sở để rèn luyện các giác quan của con người, trên cơ sở đó thúcđẩy nhận thức, thúc đẩy lý luận phát triển

• Vật chât là cơ sở chế tạo ra các công cụ, phương tiện hỗ trợ cho con người nhậnthức có hiệu quả hơn trên cơ sở đó thúc đẩy lý luận phát triển

• Vật chất là mục đích của nhận thức: Theo triết học MLN chính thực tiễn là mụcđích nhận thức của lý luận, chỉ có lý luận phục vụ cho thực tiễn đích thực bởi lẽ: nhậnthức của con người ngay từ khi con người xuất hiện trên trái đất đã bị quy định bởinhu cầu thực tiễn Hơn nữa những kết quả nhận thức của lý luận chỉ có giá trị đíchthực khi đã vận dụng vào thực tiễn, nếu lý luận mà không vì thực tiễn thì lý luận sẽmất phương hướng hay còn gọi là lý luận suông Theo triết học MLN chỉ có thực tiễnmới khẳng định chân lý bác bỏ sai lầm nghĩa là thực tiễn là tiêu chuẩn để kiểm tra sựđúng đắn về kết quả nhận thức của lý luận, bằng thực tiễn con người có thể vật chấthoá tri thức, hiện thực hóa lí luận, trên cơ sở đó khẳng định sự đúng sai của lí luận

*Vật chất quyết định ý thức: Vật chất có trước, ý thức có sau Vật chất quyết địnhnguồn gốc, bản chất, nội dung sự biến đổi của ý thức Cả ý thức thông thường và ý thức líluận đều từ điều kiện tự nhiên và xã hội nhất định, những ước mơ, phong tục tập quán,thói quen nảy sinh trên những điều kiện vật chất nhất định

Ý thức là sản phẩm của một dạng vật chất có tổ chức cao là bộ óc con người nên chỉkhi có con người mới có ý thức Trong mối quan hệ giữa con người với thế giới vật chấtthì con người là kết quả quá trình phát triển lâu dài của thế giới vật chất, là sản phẩm củathế giới vật chất

Vật chất có trước, ý thức có sau

Ví dụ: Con voi tồn tại khách quan, ngoài ý thức, độc lập với ý thức, không phụ thuộcvào ý thức con người, cho dù con người có nhận thức được nó hay không Có thể gây nêncảm giác ở con người khi nó trực tiếp hay gián tiếp tác động đến giác quan con người

Ngày đăng: 27/06/2021, 09:02

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w