TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU
Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước
2.2.1 Tình hình nghiên cứu trong nước
Bệnh giun, sán là một loại bệnh nội ký sinh trùng phổ biến, gây hại cho cả vật nuôi và con người Nhiều nghiên cứu đã được thực hiện về các bệnh do ký sinh trùng ở vật nuôi, đặc biệt là bệnh giun thực quản ở chó Tại Việt Nam, nhiều tác giả đã nghiên cứu đặc điểm dịch tễ của bệnh này, tập trung vào sự phát sinh và phát triển của nó Mục tiêu của các nghiên cứu là xác định nguyên nhân gây bệnh và đề xuất các phương pháp ngăn chặn kịp thời và hiệu quả.
Trịnh Văn Thịnh (1963) và Nguyễn Phước Tương (2000) đã chỉ ra rằng chó bị nhiễm giun tròn S lupi chủ yếu do ăn phải bọ hung, loài ăn phân của động vật có chứa ấu trùng gây nhiễm.
Các kết quả nghiên cứu của Phạm Sỹ Lăng và cs (1993) [12], Nguyễn Thị
Lê và cs (1996) [17], Ngô Huyền Thúy (1998) [26], Hoàng Minh Đức và Nguyễn Thị Kim Lan (2008) [4], Võ Thị Hải Lê và Nguyễn Văn Thọ (2009)
Giun thực quản ký sinh ở chó có mặt rộng rãi trên khắp các vùng sinh thái cả nước, đặc biệt tập trung ở các tỉnh miền núi và đồng bằng sông Hồng Việc chăn nuôi chó vẫn chưa được áp dụng các kỹ thuật hiện đại do điều kiện kinh tế khó khăn và tập quán chăn nuôi lạc hậu Phương pháp nuôi chó chủ yếu là thả rông hoặc vừa nhốt vừa thả, dẫn đến nguy cơ nhiễm bệnh cao.
Theo nghiên cứu của Phạm Văn Khuê và cộng sự (1993), việc xét nghiệm 187 mẫu phân chó và mổ khám một số chó tại 4 quận nội thành Hà Nội cùng huyện Gia Lâm đã cho thấy những kết quả đáng chú ý.
5 loài giun tròn ký sinh ở đường tiêu hóa của chó Trong đó giun thực quản
Spirocerca lupi chiếm 14,2%, giun đũa T canis chiếm 20.2%, giun móc A caninum chiếm 59.7%, giun đũa T leonina chiếm 29,4%, giun tóc T vulpis chiếm
Ngô Huyền Thúy (1996) đã tiến hành nghiên cứu xét nghiệm mẫu phân và mổ khám 516 chó tại Hà Nội, cho thấy tỷ lệ nhiễm giun thực quản S lupi là 6,9%, sán dây đạt 36,8%, sán lá 10,4%, và giun tròn lên tới 98,5% Trong số 190 chó nhiễm bệnh, kết quả này phản ánh tình trạng sức khỏe của chó tại khu vực.
S lupi tại các cơ sở giết mổ chó ở một số điểm ngoại thành (hầu hết là chó nội) thấy các khổi u thực quản chiếm tỷ lệ 94,2%, chó già trên 1 năm tuổi nhiễm 87%
Spirocerca lupi đã được phát hiện ở chó nhà và chuột rừng tại một số tỉnh thuộc Bắc bộ và Nam bộ (Houdemer, 1925) Gần đây, các cuộc điều tra ký sinh trùng ở chim và thú đã xác nhận sự hiện diện của S lupi ở chó, chuột rừng và gà nhà tại các tỉnh như Quảng Ninh, Nghĩa Lộ, Hà Tĩnh và Hà Bắc (Trịnh Văn Thịnh).
Giun thực quản S lupi ở Việt Nam có tỷ lệ thấp so với các loài giun tròn khác, nhưng bệnh do S lupi gây ra lại ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe của chó Do đó, cần triển khai các biện pháp thích hợp và hiệu quả nhằm ngăn chặn kịp thời, bảo vệ sức khỏe cho đàn chó và cộng đồng.
2.2.2 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài Ở Mỹ, Dixon và McCue, (1967) [34] nghiên cứu trên 316 chó ở vùng nông thôn thuộc bang Alabama và Mississippi, phát hiện 106 chó nhiễm S lupi, tỷ lệ nhiễm là 33,7% Sự cảm nhiễm S lupi không phụ thuộc vào tính biệt, giống, lứa tuổi của chó Những chó nuôi thả rông, ăn uống thất thường thì tỷ lệ nhiễm tới 35%, chó nuôi nhốt và cho ăn uống thường xuyên nhiễm 12%
Một nghiên cứu ở Iran của Oryan và cộng sự (2008) cho thấy 20 trong số 105 chó hoang bị nhiễm S lupi, chiếm tỷ lệ 19,04% Tỷ lệ nhiễm này có sự khác biệt theo vùng địa lý, dao động từ 28,6% - 36,4% ở miền Bắc và 12,5% - 13,9% ở phía Đông và Nam Tương tự, Dubná và cộng sự (2007) đã kiểm tra 3.780 mẫu phân chó tại Prague, Cộng hòa Séc, phát hiện tỷ lệ nhiễm Toxocara spp là 6,2%, với cường độ nhiễm từ 4 - 469 trứng/g phân; tỷ lệ nhiễm Ancylostoma spp là 0,4% (27 - 10 trứng/g phân) và tỷ lệ nhiễm S lupi là 0,2% (4 - 7 trứng/g phân).
Trong 540 mẫu phân được thu thập từ chó tại bốn quận ở Zambia, Nonaka
N và cs (2011) cho biết; tỷ lệ nhiễm giun thực quản Spirocerca lupi là 18,7% Theo Oryan và cs (2008) [37], bệnh khối u thực quản ở chó và các thú ăn thịt do S lupi gây ra phân bố ở nhiều vùng khí hậu khác nhau trên thế giới, ở
Căn bệnh này đã được ghi nhận ở nhiều quốc gia, bao gồm Pakistan (Anataraman và Krisshna, 1966), miền Nam nước Mỹ (Dixon và McCue, 1967), Kenya (Brodley và cs, 1977), Thổ Nhĩ Kỳ và Ấn Độ (Kumar, 1989; Ramachandran và cs, 1984), Nam Phi (Lobetti, 2000), Hy Lạp (Mylonakis và cs, 2001), Israel (Mazaki và cs, 2001) và Brazil (Oliviera và cs, 2001) Căn bệnh này thường xuất hiện ở các vùng có khí hậu nhiệt đới ẩm và cận nhiệt đới.
Brodey và cs (1977) [29]cho biết ở Kenya, tỷ lệ nhiễm S lupi ở chó là 78%, trong đó chó nuôi tự nhiên là 85% và chó cảnh là 38%
Theo Soulsby E.J L (1974), bệnh này đã tìm thấy nhiều tại vùng nam châu Âu, nhưng không được coi là bệnh ký sinh trùng chính
Nghiên cứu từ Dubná S và cs (2007) cho thấy trong 540 mẫu phân chó tại vùng nông thôn Prague, Tiệp Khắc, tỷ lệ chó nhiễm S lupi là 1,1% Ngoài ra, ivermectin với liều lượng 0,2mg/kg thể trọng của chó được xác định là có hiệu quả cao trong việc tẩy S lupi.
Liu G H và cs (2013) đã phân tích hệ gen của loài S lupi Tác giả cho biết, trình tự gen của S lupi có chiều dài 13.780 bp
Từ năm 2012 đến năm 2017, qua việc mổ khám chó, Kurnosova O P và cs (2019) cho biết: tỷ lệ nhiễm S lupi ở Moscow là 0,05%
Một nghiên cứu được thực hiện bởi Enriquez G F và cộng sự vào năm 2019 trên 212 chú chó tại tỉnh Chaco, phía Bắc Argentina, đã phát hiện ra 17 loài ký sinh trùng khác nhau Trong số đó, tỷ lệ nhiễm S lupi ở chó đạt 5,9%.
Tóm lại, qua việc tổng hợp các nghiên cứu về đặc điểm dịch tễ bệnh giun thực quản Spirocerca lupi ở chó, cả trong nước và quốc tế, tôi rút ra một số nhận xét quan trọng.
ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đối tượng và vật liệu nghiên cứu
- Chó nuôi tại 4 xã, thị trấn của huyện Đại từ, tỉnh Thái Nguyên
- Giun tròn Spirocerca lupi ký sinh ở thực quản chó
- Bệnh giun thực quản chó do Spirocerca lupi gây ra
- Mẫu giun S lupi thu thập qua mổ khám chó ở 4 xã, thị trấn của huyện Đại từ
- Mẫu phân tươi của chó ở các lứa tuổi tại 4 xã, thị trấn thuộc huyện Đại từ, tỉnh Thái Nguyên
- Kính hiển vi quang học
- Dung dịch muối NaCl bão hòa, dung dịch Barbagallo (gồm: formol 38%:
30 ml, NaCl tinh khiết: 7,5 gam; nước cất: 1000 ml)
- Dụng cụ xét nghiệm mẫu: cốc thủy tinh, đũa thủy tinh, lam kính, lưới lọc phân
- Thuốc tẩy giun tròn Spirocerca lupi cho chó: ivermectin và mebendazole
- Các hóa chất và dụng cụ thí nghiệm khác.
Địa điểm và thời gian tiến hành
- Đề tài được thực hiện ở 4 xã, thị trấn thuộc huyện Đại từ gồm: Tân Thái, Yên Lãng, Văn Yên và TT Hùng Sơn
- Địa điểm xét nghiệm mẫu: phòng thí nghiệm Bộ môn Thú y, Khoa chăn nuôi Thú y, Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên
Từ ngày 10 tháng 12 năm 2020 đến 31 tháng 5 năm 2021
Nội dung nghiên cứu
3.3.1 Nghiên cứu dịch tễ bệnh giun thực quản ở chó do Spirocerca lupi gây ra
* Điều tra thực trạng công tác phòng chống bệnh giun, sán đường tiêu hóa ở chó tại huyện Đại từ
* Nghiên cứu tình hình nhiễm giun thực quản Spirocerca lupi ở 4 xã/TT của huyện Đại từ
- Mổ khám chó để xác định: Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun thực quản ở chó tại các địa phương
- Xét nghiệm phân chó để xác định:
Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun thực quản chó qua xét nghiệm phân ở các địa phương
Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun thực quản theo tuổi chó
Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun thực quản theo tính biệt của chó
Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun thực quản ở chó theo mùa vụ
Tỷ lệ và cường độ nhiễm giun thực quản ở chó nội, chó lai và chó ngoại có sự khác biệt rõ rệt Ngoài ra, phương thức chăn nuôi cũng ảnh hưởng đến tỷ lệ và cường độ nhiễm giun thực quản ở chó, cho thấy mối liên hệ giữa cách chăm sóc và sức khỏe của thú cưng.
3.3.2 Nghiên cứu và đề xuất biện pháp phòng trị bệnh giun thực quản Spirocerca lupi cho chó
- Thử nghiệm thuốc tẩy giun thực quản Spirocerca lupi cho chó
- Nghiên cứu biện pháp phòng bệnh giun thực quản cho chó
- Đề xuất biện pháp phòng, trị bệnh giun thực quản cho chó.
Phương pháp nghiên cứu
3.4.1 Phương pháp nghiên cứu tình hình nhiễm giun thực quản ở chó tại huyện Đại Từ
3.4.1.1 Điều tra thực trạng công tác phòng chống bệnh giun, sán đường tiêu hóa ở chó tại 4 xã, thị trấn của huyện Đại từ
- Xây dựng các tiêu chí đánh giá
- Trực tiếp quan sát ở các hộ nuôi chó trên địa bàn nghiên cứu
Nghiên cứu thực hiện các biện pháp phòng chống bệnh giun, sán đường tiêu hóa cho chó thông qua bộ câu hỏi phỏng vấn các hộ nuôi chó trên địa bàn Việc này nhằm đánh giá hiểu biết và thực hành của các chủ nuôi trong việc bảo vệ sức khỏe thú cưng, đồng thời nâng cao nhận thức về tầm quan trọng của việc phòng ngừa bệnh tật cho chó.
3.4.1.2.Phương pháp nghiên cứu tình hình nhiễm giun thực quản Spirocerca lupi a) Xác định tỷ lệ và cường độ nhiễm giun thực quản chó ở các địa phương
Bài viết mô tả việc thực hiện lấy mẫu theo phương pháp chùm nhiều bậc tại huyện Đại Từ, bao gồm việc lựa chọn 4 xã và thị trấn Tại mỗi xã, thị trấn, mẫu được lấy từ 4 thôn, xóm, và trong mỗi thôn, xóm, mẫu sẽ được chọn ngẫu nhiên.
Phương pháp mổ khám toàn diện cơ quan tiêu hóa chó được áp dụng để phát hiện và thu thập giun thực quản ký sinh Theo nghiên cứu của Skrjabin (1928), quá trình này bao gồm việc mổ khám để tìm kiếm giun ký sinh trong các khối u trong đường tiêu hóa của chó.
Sau khi thu thập, giun được xử lý bằng cách ngâm trong nước muối sinh lý để chết tự nhiên, sau đó được cố định trong dung dịch Barbagallo hoặc FAA (bao gồm cồn 95°: 20ml, Formalin 40%: 6ml, acid acetic: 1ml, nước cất: 40ml) nhằm tạo tiêu bản cố định về hình thái Mỗi lọ đều được dán nhãn với các thông tin cần thiết, và những nội dung này cũng được ghi chép đầy đủ vào sổ mổ khám.
Cách ghi nhãn mổ khám:
Tuổi chó: Địa điểm mổ khám:
* Phương pháp bố trí theo dõi và xác định tỷ lệ, cường độ nhiễm giun thực quản Spirocerca lupi ký sinh ở chó qua xét nghiệm phân
- Phương pháp thu thập mẫu phân:
Mẫu phân chó mới được thu thập ngẫu nhiên vào buổi sáng từ các hộ nuôi chó, sau đó được bảo quản trong lọ nhựa có nắp hoặc túi nilon buộc kín Mỗi mẫu đều có nhãn ghi rõ thông tin như giống chó, tuổi, phương thức nuôi, trạng thái phân, các biểu hiện lâm sàng (nếu có), thời gian thu thập, địa chỉ và hộ lấy mẫu.
Các loại mẫu được xét nghiệm ngay trong ngày hoặc bảo quản ở 4 - 8 o C trong 1 tuần để nghiên cứu
- Phương pháp xác định tỷ lệ nhiễm giun tròn S lupi
Xét nghiệm phân để tìm trứng giun tròn S lupi được thực hiện theo phương pháp Fulleborn với dung dịch NaCl bão hòa Quá trình tìm kiếm trứng giun S lupi diễn ra dưới kính hiển vi với độ phóng đại 10 x 10 Nếu mẫu phân phát hiện có trứng giun tròn S lupi, thì được đánh giá là có nhiễm, ngược lại nếu không có trứng thì kết luận là không nhiễm.
* Phương pháp xác định cường độ nhiễm giun tròn S lupi
Cường độ nhiễm giun tròn S lupi được xác định thông qua việc mổ khám, trong đó số lượng giun tròn S lupi ký sinh trên mỗi con chó được thu thập và đếm toàn bộ.
- Cường độ nhiễm giun tròn S lupi qua xét nghiệm phân được xác định bằng cách đếm số trứng trong 1 gam phân bằng buồng đếm Mc Master theo công thức:
Số trứng/1 g phân = (Tổng số trứng ở 2 buồng đếm x 60)/4 (Nguyễn Thị Kim Lan, 2012) [11] Quy định 3 mức cường độ nhiễm như sau:
< 500 trứng: cường độ nhiễm nhẹ (+)
500 - 1000 trứng: cường độ nhiễm trung bình (++)
> 1000 trứng: cường độ nhiễm nặng (+++) b Xác định tỷ lệ nhiễm giun thực quản theo tuổi chó
Tuổi chó được chia thành 4 lứa tuổi, và nghiên cứu đã xác định tỷ lệ nhiễm giun thực quản thông qua xét nghiệm phân của 406 chó Số mẫu được thu thập đã được phân bố theo từng độ tuổi.
Việc thu thập và xét nghiệm mẫu phân chó để tìm trứng giun thực quản được thực hiện theo phương pháp đã mô tả ở tiểu mục a C Mục tiêu là xác định tỷ lệ nhiễm giun thực quản ở chó nội, chó lai và chó ngoại.
Xác định tỷ lệ nhiễm giun thực quản ở chó qua xét nghiệm phân của 406 mẫu phân chó, số mẫu đã lấy như sau:
Việc thu thập và xét nghiệm mẫu phân chó để tìm trứng giun thực quản được thực hiện theo phương pháp đã nêu ở tiểu mục a d Từ đó, xác định tỷ lệ nhiễm giun thực quản dựa trên phương thức nuôi chó.
Thu thập 406 mẫu phân chó theo 3 phương thức nuôi, số mẫu phân đã thu thập như sau:
- Chó nuôi thả rông: 128 mẫu
- Chó vừa thả, vừa nhốt: 147 mẫu
Việc thu thập và xét nghiệm mẫu phân chó để tìm trứng giun thực quản được thực hiện theo phương pháp đã nêu ở tiểu mục a Mục tiêu là xác định tỷ lệ nhiễm giun thực quản ở chó trong các tháng nghiên cứu.
Xác định tỷ lệ nhiễm của 406 mẫu phân chó theo mùa vụ như sau:
Thu thập và xét nghiệm mẫu phân chó tìm trứng giun thực quản được tiến hành theo phương pháp như đã trình bày ở tiểu mục a
3.4.2 Nghiên cứu và đề xuất biện pháp phòng trị bệnh giun thực quản Spirocerca lupi cho chó
3.4.2.1 Bố trí thí nghiệm đánh giá hiệu lực của hai loại thuốc tẩy giun thực quản cho chó là Ivermectin và Mebendazole
Thử nghiệm thuốc tẩy trừ giun thực quản cho chó bằng phương pháp phân lô so sánh được thực hiện qua thực nghiệm
Thí nghiệm thuốc tẩy giun thực quản được tiến hành trên 9 chó nhiễm giun thực quản S lupi, với số lượng trứng giun đạt trên 1.000 trứng/g phân Sau khi xét nghiệm, 9 chó được chia thành 3 lô để thử nghiệm thuốc tẩy.
Tên thuốc và liều lượng
Thời gian mổ khám sau khi tẩy (ngày)
(0,2 mg/kg TT) 3 6 - 12 tháng Chó nội 16
(120 mg/kg TT) 3 6 - 12 tháng Chó nội 16 Đối chứng
Không dùng thuốc 3 6 - 12 tháng Chó nội 16
3.4.2.2 Phương pháp đánh giá hiệu lực tẩy giun thực quản chó bằng Ivermectin và Mebendazole
Trước khi dùng thuốc, nhốt riêng mỗi chó vào một cũi, xét nghiệm phân và đếm số trứng/g phân trên buồng đếm Mc Masteur
Hiệu lực tẩy trừ S lupi của thuốc tẩy trên chó thí nghiệm được xác định bằng cách đếm số lượng trứng giun thực quản trong phân trước và sau khi dùng thuốc Sau khi sử dụng thuốc, tiến hành kiểm tra trứng giun trong phân từ ngày 1 đến ngày 15 Vào ngày thứ 16, tất cả chó trong lô thí nghiệm và đối chứng được mổ khám để đếm số lượng giun thực quản Kết quả xét nghiệm phân và mổ khám sẽ được so sánh giữa chó được dùng thuốc và chó đối chứng, từ đó đánh giá hiệu lực của thuốc tẩy.
Nếu số lượng trứng hoặc g phân không giảm sau khi sử dụng thuốc, và khi mổ khám thấy số lượng giun thực quản ở chó vẫn nhiều, thì có thể kết luận rằng thuốc không có hiệu quả trong việc tẩy giun thực quản S lupi.
Nếu phát hiện trứng giun thực quản nhưng số lượng trứng trong phân giảm và khi mổ khám thấy số lượng giun ở chó còn rất ít, có thể đánh giá rằng thuốc đã có hiệu lực nhưng chưa triệt để.
Phương pháp tính toán và xử lý số liệu
Các số liệu thu thập được đã được xử lý bằng các công thức toán học và thống kê sinh vật học theo phương pháp của Nguyễn Văn Thiện (2008) Phần mềm Excel 2010 được sử dụng để thực hiện các phép tính này.