1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đánh giá hiện trạng phát sinh rác thải điện tử của hộ gia đình và đề xuất giải pháp quản lý tại thành phố Đà Nẵng

57 0 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đánh Giá Hiện Trạng Phát Sinh Rác Thải Điện Tử Của Hộ Gia Đình Và Đề Xuất Giải Pháp Quản Lý Tại Thành Phố Đà Nẵng
Tác giả Huỳnh Tấn Hiếu
Người hướng dẫn TS. Kiều Thị Kính
Trường học Đại học Đà Nẵng
Chuyên ngành Quản lí tài nguyên và môi trường
Thể loại khóa luận tốt nghiệp
Năm xuất bản 2020
Thành phố Đà Nẵng
Định dạng
Số trang 57
Dung lượng 2,02 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Rác thải điện tử được xem như là loại chất thải nguy hại vì trong các thiết bị điện tử chứa nhiều thành phần độc hại như là các kim loại nặng và các chất ô nhiễm hữu cơ có thể được giải

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM



HUỲNH TẤN HIẾU

ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG PHÁT SINH RÁC THẢI ĐIỆN TỬ CỦA HỘ GIA ĐÌNH VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP QUẢN LÝ TẠI THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

Đà Nẵng – Năm 2020

Trang 2

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM



Huỳnh Tấn Hiếu

ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG PHÁT SINH RÁC THẢI ĐIỆN TỬ CỦA HỘ GIA ĐÌNH VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP QUẢN LÝ TẠI THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

Chuyên ngành: Quản lí tài nguyên và môi trường

Mã số: 315032161112

CÁN BỘ HƯỚNG DẪN

TS Kiều Thị Kính

Đà Nẵng – Năm 2020

Trang 3

Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi

Các số liệu nghiên cứu, kết quả điều tra là trung thực và chưa từng được công bố trong

bất kỳ công trình nào khác

Đà Nẵng, ngày 2 tháng 7 năm 2020

Tác giả

Huỳnh Tấn Hiếu

Trang 4

Khóa luận tốt nghiệp này là kết quả của cả quá trình học tập, nghiên cứu của tôi Trong đó sự quan tâm, tin tưởng và giúp đỡ từ gia đình, thầy cô, bạn bè chính là những yếu tố quan trọng tạo nên sự hoàn thiện của khóa luận

Để hoàn thành đề tài nghiên cứu này, tôi xin phép được chân thành cảm ơn đến những người luôn đồng hành cùng tôi vừa qua:

Tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến cô Kiều Thị Kính – người đã luôn tận tình chỉ dạy tôi trong suốt khoảng thời gian chuẩn bị và thực hiện đề tài Cho tôi những kiến thức bổ ích trong học tập, nghiên cứu cũng như trong cuộc sống

Tôi xin gửi lời cảm ơn đến những người bạn trong tập thể lớp 16CTM đã nhiệt tình

hỗ trợ và giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu

Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến các thầy cô khoa Sinh Môi trường đã trang bị cho tôi kiến thức để tôi thực hiện tốt đề tài nghiên cứu của mình

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Trang 5

DANH MỤC BẢNG

DANH MỤC HÌNH ẢNH

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

MỞ ĐẦU 1

1 Đặt vấn đề 1

2 Mục tiêu nghiên cứu 2

3 Ý nghĩa khoa học đề tài 2

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3

1.1 Rác thải điện tử 3

1.1.1 Khái niệm 3

1.1.2 Phân loại 3

1.1.3 Tác hại của rác thải điện tử 4

1.2 Hiện trạng phát thải, thu gom và quản lý rác thải điện tử 7

1.2.1 Hiện trạng phát thải 7

1.2.1.1 Thế giới 7

1.2.1.2 Việt Nam 9

1.2.2 Thu gom và quản lý rác thải điện tử 12

1.2.2.1 Thế giới 12

1.2.2.2 Việt Nam 14

1.2.3 Hiện trạng rác thải điện tử tại thành phố Đà Nẵng 17

CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 18

2.1 Đối tượng nghiên cứu 18

2.2 Phạm vi nghiên cứu 18

2.3 Phương pháp nghiên cứu 18

2.3.1 Phương pháp khảo sát và thu thập dữ liệu 18

2.3.2 Phương pháp điều tra bằng bảng câu hỏi 18

2.3.3 Phương pháp phỏng vấn sâu 18

2.3.4 Phương pháp xử lý số liệu 19

2.3.5 Phương pháp xây dựng bản đồ 19

Trang 6

3.1 Hiện trạng sử dụng thiết bị điện tử 20

3.2 Hiện trạng phát sinh rác thải điện tử 24

3.3 Hệ thống thu mua rác điện tử 26

3.4 Quá trình phát sinh rác thải điện tử 33

3.5 Thảo luận 35

CHƯƠNG 4: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 38

4.1 Kết luận 38

4.2 Kiến nghị 38

TÀI LIỆU THAM KHẢO 39

PHIẾU KHẢO SÁT 43

PHỤ LỤC HÌNH ẢNH 47

Trang 7

Số hiệu Tên bảng Trang 1.1 Phân loại hóa chất của các thành phần chất thải điện tử,

nguồn tiếp xúc và các đường tiếp xúc

Trang 8

Số hiệu Tên hình Trang

1.2 Rác thải điện tử của thế giới trong năm 2016 (ITU,

1.4 Đường xuất nhập khẩu rác thải điện tử giữa Việt Nam,

Trung Quốc và Campuchia

3.19 Hoạt động của các cơ sở thu mua điện tử, điện lạnh 35

Trang 9

UBND : Ủy ban nhân dân

URENCO : Công ty TNHH MTV Môi trường đô thị Hà Nội

EPR : Trách nhiệm của nhà sản xuất

ITU : Liên minh Viễn thông Thế giới

WEEE : Chất thải điện và thiết bị điện tử

RoHS : Chỉ thị hạn chế các chất độc hại trong thiết bị điện và điện tử

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Đặt vấn đề

Cùng với sự phát triển công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; các đô thị, các ngành sản xuất, kinh doanh và dịch vụ được mở rộng và phát triển nhanh chóng, một phần đóng góp tích cực cho sự phát triển kinh tế của đất nước, mặt khác tạo ra một số lượng lớn các loại chất thải, trong đó có một lượng đáng kể chất thải nguy hại và đặt biệt là rác thải điện

tử

Rác thải điện tử là các thiết bị điện, điện tử, linh kiện bị hỏng không còn khả năng phục hồi, lỗi thời hoặc người dùng không còn mong muốn sử dụng [14] Rác thải điện tử được xem như là loại chất thải nguy hại vì trong các thiết bị điện tử chứa nhiều thành phần độc hại như là các kim loại nặng và các chất ô nhiễm hữu cơ có thể được giải phóng ra môi trường nếu không được xử lí đúng cách như thủy ngân, cadimi, crom, … [18] Thành phần chính trong màn hình điện tử là các kim loại, các hợp kim và một số các hợp chất dạng rắn Khi ở trạng thái hoàn toàn bị cô lập chúng rất bền và không có ảnh hưởng gì tới môi trường Nhưng khi tiếp xúc trực tiếp với không khí, độ ẩm, ánh sáng một loạt các quá trình hoá học xảy ra tạo thành các hợp chất và khả năng chuyển đổi sang các trạng thái khác rất lớn làm cho chúng trở nên dễ hoà tan trong nước, dễ khuếch tán vào không khí [7] Các chất độc hại đó đe dọa đến môi trường và sức khỏe con người ngày càng lớn Nhưng nếu loại rác thải này được thu gom và xử lý đúng cách thì ngoài các vật liệu nguy hiểm ra vẫn còn một số vật liệu có giá trị như động cơ có chứa đồng, nhựa hoặc sắt, bảng mạch in vàng, bạc

và đồng,… để con người khai thác cho việc tái chế [29]

Theo thống kê của của tổ chức Liên Minh Viễn Thông Thế Giới (ITU) vào năm 2017 ước tính có 44,7 triệu tấn rác thải điện tử, nhưng đó chỉ là con số của tổng 41 quốc gia trên thế giới [15] và còn rất nhiều quốc gia khác vẫn chưa có sự quan tâm đến dòng chất thải nguy hại này Ở Việt Nam, rác thải điện tử chủ yếu được tạo ra từ hộ gia đình (thiết bị gia dụng điện tử), văn phòng (máy tính cá nhân, máy photocopy, máy fax, máy in và máy quét),

và từ công nghiệp điện tử (chủ yếu bao gồm các bộ phận, thiết bị, sản phẩm điện tử không thành công) [44] Đó là các thiết bị điện tử bị hỏng không còn khả năng phục hồi hoặc không còn được sử dụng bởi lỗi thời Ước tính số lượng các thiết bị điện tử bị loại bỏ trong năm 2010 ở Việt Nam là khoảng 1,8 triệu chiếc (bao gồm 742,5 nghìn ti vi, 398 nghìn tủ lạnh, 107,5 nghìn máy điều hòa không khí và 543 nghìn máy giặt) [44]

Tại Việt Nam đã có những văn bản pháp luật quy định về việc quản lý dòng chất thải này như: Quyết định số 50/2013/QĐ-TTg về thu hồi và xử lý sản phẩm bị loại bỏ [1] Năm

2014, Luật bảo vệ môi trường chỉ rõ nhà sản xuất, nhà phân phối có trách nhiệm thu thập

và xử lý các sản phẩm bị loại bỏ và khách hàng có trách nhiệm vứt bỏ sản phẩm đến nơi thích hợp [2] và còn có các chính sách pháp luật liên quan khác Riêng tại thành phố Đà

Trang 11

Nẵng, theo quyết định số 9019/QĐ-UBND ngày 28/12/2016 của UBND thành phố về phê duyệt quy hoạch xử lý chất thải rắn thành phố Đà Nẵng đến năm 2030, tầm nhìn đến năm

2050, đặt ra mục tiêu đến năm 2050, 100% tổng lượng CTR sinh hoạt phát sinh được thu gom và xử lý, trong đó 95% được tái chế, tái sử dụng, thu hồi năng lượng hoặc sản xuất phân hữu cơ và thực hiện phân loại rác tại nguồn trên toàn thành phố

Tuy nhiên hiện nay ở Việt Nam hay Đà Nẵng vẫn còn tình trạng thu gom, xử lý không chính thức các thiết bị điện tử, việc phân loại chưa được thực hiện đúng cách hay vì lợi ích của các cá nhân gây ảnh hưởng đến công tác quản lý loại rác thải này Tại thành phố Đà Nẵng vẫn chưa có nghiên cứu nào để đánh giá hiện trạng của rác thải điện tử Xuất phát từ

thực tiễn trên, đề tài “Đánh giá hiện trạng phát sinh rác thải điện tử của hộ gia đình và

đề xuất giải pháp quản lý tại thành phố Đà Nẵng” là cần thiết để cung cấp số liệu thống

kê và xây dựng mô hình quản lý của rác thải điện tử trên địa bàn thành phố Đà Nẵng

2 Mục tiêu nghiên cứu

- Đánh giá hiện trạng phát sinh rác thải điện tử của hộ gia đình tại Tp Đà Nẵng

- Đề xuất được giải pháp quản lý rác thải điện tử tại Tp Đà Nẵng

3 Ý nghĩa khoa học đề tài

Kết quả nghiên cứu sẽ cung cấp số liệu thống kê để đánh giá hiện trạng phát sinh rác thải điện tử của các hộ gia đình tại Tp Đà Nẵng từ đó đề xuất giải pháp quản lý hiệu quả

và là tiền đề cho các nghiên cứu trong tương lai

Trang 12

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 Rác thải điện tử

1.1.1 Khái niệm

Rác thải điện tử là các thiết bị phụ thuộc vào dòng điện hoặc điện từ trường để hoạt động đúng nhưng đã được thải bỏ [11] Định nghĩa này là bao gồm đồ dùng gia đình nhỏ

và lớn; công nghệ thông tin và thiết bị viễn thông; thiết bị chiếu sáng; công cụ điện và điện

tử, đồ chơi giải trí và dụng cụ thể thao; các thiết bị y tế; công cụ giám sát và kiểm soát; và máy rút tự động [12] Các thành phần của thiết bị điện và điện tử như pin, bo mạch, ống cathode-ray và tụ chì cũng là chất thải điện tử [13]

Bên cạnh đó, rác thải điện tử còn được định nghĩa là các thiết bị điện, điện tử, linh kiện bị hỏng không còn khả năng phục hồi, lỗi thời hoặc người dùng không còn mong muốn

Trang 13

a Thiết bị trao đổi nhiệt độ, thiết bị làm mát và đông lạnh Các thiết bị như: tủ lạnh, tủ đông, điều hòa không khí

b Màn hình Các thiết bị như: màn hình máy tính Màn hình ti vi, máy tính bảng

c Đèn: Các thiết bị như: đèn huỳnh quang, đèn led

d Thiết bị lớn Các thiết bị như: máy giặt, máy sấy quần áo, máy rửa chén, bếp điện, máy in lớn

e Thiết bị nhỏ Các thiết bị như: lò vi sóng, lò nướng bánh, ấm điện, radio, đồ chơi điện tử

f Thiết bị công nghệ thông tin Các thiết bị như: điện thoại di động, máy tính bỏ túi,

hệ thống định vị

Tùy vào từng chức năng, mức độ sử dụng của từng loại thiết bị dẫn đến thời gian sử dụng của các loại cũng khác nhau

1.1.3 Tác hại của rác thải điện tử

Các thiết bị điện tử khi sử dụng, nó hầu như không gây độc hại đến con người và môi trường nhưng khi không còn sử dụng được thì chúng trở thành một loại rác thải nguy hại gây ảnh hưởng tiềm tàng đến môi trường

Rác thải điện tử được được xem như là loại chất thải nguy hại vì nó chứa nhiều thành phần độc hại như là các kim loại nặng và các chất ô nhiễm hữu cơ có thể được giải phóng

ra môi trường nếu không được xử lý đúng cách phổ biến nhất là chì, cadimi, crom, thủy ngân, đồng, mangan, niken, asen, kẽm, sắt, và nhôm [16]

Theo nghiên cứu của Kristen Grant và các cộng sự [17], các nguyên tố hóa học có trong các thành phần của thiết bị điện tử, nguồn và đường tiếp xúc với các chất hóa học được tổng hợp (bảng 1.1) Những kết quả đáng tin cậy trong nghiên cứu liên quan đến phơi nhiễm với chất thải điện tử bao gồm sự thay đổi trong chức năng tuyến giáp, thay đổi trong biểu hiện của tế bào và chức năng, kết quả bất lợi ở trẻ sơ sinh, những thay đổi về tính khí, hành vi và chức năng của phổi giảm

Bảng 1 1: Phân loại hóa chất của các thành phần chất thải điện tử, nguồn tiếp xúc và các

đường tiếp xúc (Nguồn: [17])

Chất hóa học Thành phần thiết bị điện

tử

Nguồn tiếp xúc Đường tiếp

xúc Chì Bảng mạch in, ống tia

cathode, bóng đèn, ti vi (1,5 – 2kg mỗi màn hình)

và pin

Không khí, bụi, nước và đất

Hít, nuốt và tiếp xúc da

Trang 14

Nhiều hóa chất và kim loại trong số này được biết đến như nguyên nhân của những căn bệnh nghiêm trọng: Ung thư, suy giảm nhận thức hay khiến các cơ quan nội tạng bị hủy hoại [6] Ví dụ, thành phần của ống tia cực âm của máy tính (và tivi) cho thấy cao hàm lượng chì cần xử lý đặc biệt Mỗi máy tính trung bình chứa từ 1,5 đến 2 kg chì (20% trọng lượng của màn hình là chì) Một ước tính 340.000 tấn chì có thể được khai thác từ 315 triệu máy tính đã trở nên lỗi thời ở Hoa Kỳ giữa năm 1997 và 2004 [18]

Thành phần chính trong màn hình điện tử là các kim loại, các hợp kim và một số các hợp chất dạng rắn Khi ở trạng thái hoàn toàn bị cô lập chúng rất bền và không có ảnh hưởng gì tới môi trường Nhưng khi tiếp xúc trực tiếp với không khí, độ ẩm, ánh sáng , một loạt các quá trình hoá học xảy ra tạo thành các hợp chất và khả năng chuyển đổi sang các trạng thái rất lớn làm cho chúng trở nên dễ hoà tan trong nước, dễ khuếch tán vào không khí [7]

Nguồn tiếp xúc với chất thải điện tử có thể được phân thành ba lĩnh vực: tái chế không chính thức, tái chế chính thức và tiếp xúc với các hợp chất thải nguy hại còn lại trong môi trường (ví dụ: tiếp xúc với môi trường) Tái chế không chính thức chất thải điện tử bao gồm tháo dỡ các thiết bị điện tử hư hỏng để lấy các thành phần có giá trị bằng các dụng cụ thô

sơ, không có hoặc có rất ít công nghệ để giảm thiểu tiếp xúc hoặc bảo vệ các thiết bị không

Cadimi Bộ chuyển mạch, lò xo,

đầu nối, bảng mạch in, pin, máy dò hồng ngoại, chip bán dẫn, mực trong máy photocopy, ống tia cathode và điện thoại di động

Không khí, bụi, nước và đất

Hít và nuốt

Thủy ngân Nhiệt, cảm biến, màn

hình, bảng mạch in,và đèn huỳnh quang (1-2g mỗi thiết bị)

Không khí, hơi, nước, đất

và thực phẩm (tích tụ sinh học trong cá)

Hít, nuốt và tiếp xúc da

Kẽm Ống tia cathode và lớp

phủ kim loại

Không khí, nước và đất Hít và nuốt

thực phẩm (thực vật)

Hít, nuốt và tiếp xúc da

thực phẩm (thực vật)

Hít, nuốt và tiếp xúc da Barium Ốnng tia cathode và đèn

huỳnh quang

Không khí, nước, đất và thực phẩm

Hít, nuốt và tiếp xúc da

Trang 15

cho phát thải các chất nguy hiểm Nguyên nhân cao gây ô nhiễm môi trường, thực phẩm và nước, cư dân sống trong một khoảng cách cụ thể của chất thải điện tử khu vực tái chế cũng

có nguy cơ về môi trường tiếp xúc, mặc dù ở mức độ thấp hơn thông qua tiếp xúc nghề nghiệp Nhìn chung, tiếp xúc với các thành phần độc hại của chất thải điện tử rất có thể phát sinh do hít phải, nuốt phải, và tiếp xúc da Ngoài nghề nghiệp trực tiếp tiếp xúc (chính thức hoặc không chính thức), mọi người có thể tiếp xúc với các vật liệu chất thải điện tử và các chất ô nhiễm có liên quan, qua tiếp xúc với đất bị ô nhiễm, bụi, không khí, nước và thông qua các nguồn thực phẩm, bao gồm cả thịt [19]

Trẻ em là nhóm người đặc biệt nhạy cảm vì các tuyến tiếp xúc bổ sung (ví dụ: cho con bú và tiếp xúc nhau thai), hành vi có nguy cơ cao (ví dụ: các hoạt động tay đưa vào miệng trong những năm đầu và hành vi chấp nhận rủi ro cao ở tuổi thanh thiếu niên), và sinh lý thay đổi (ví dụ: lượng khí nạp, nước và thực phẩm, và tỷ lệ loại bỏ độc tố thấp) [20] Theo hai nghiên cứu được thực hiện ở Trung Quốc, các chỉ số tăng trưởng về thể chất, chẳng hạn như trọng lượng, chiều cao và chỉ số khối cơ thể đã được giảm đáng kể ở trẻ em sống ở các thị trấn tái chế rác thải điện tử của Guiyu hơn so với các trẻ em trong khu vực kiểm soát Liangying [21]

Các hợp chất độc hại được tìm thấy trong chất thải điện tử có ảnh hưởng đến phát triển thần kinh, đặc biệt là ở trẻ em Polybrominated diphenyl ete, polychlorinated biphenyls, polycyclic aromatic hydrocarbons, chì, cadmium và thủy ngân có liên quan đến giảm trí thông minh (được đo bằng chỉ số IQ) và khiếm khuyết chức năng nhận thức [22, 23] Trong khi nhiều thủy ngân, cadmium có liên quan đến quá trình phát triển bất thưởng của hệ thần kinh Những thay đổi về sức khỏe tâm thần, trong đó có rối loạn hành vi, thiếu chú ý, hiếu động thái quá và các vấn đề đạo đức đã được báo cáo sau khi tiếp xúc với chì, thủy ngân, và nhôm thời bé [24, 25] Các kim loại nặng có thể có một vai trò trong sự phát triển của bệnh thoái hóa thần kinh, bệnh Alzheimer (nhôm) [26] và bệnh Parkinson (chì) [27] hay tiếp xúc với chì, kết hợp với yếu tố di truyền có thể gây ra tâm thần phân liệt [28] Những ảnh hưởng sức khỏe của việc tiếp xúc với chất thải điện tử trở thành ưu tiên hàng đầu của cộng đồng quốc tế Tái chế không chính thức rác thải điện tử từ lâu đã được chấp nhận như là một nguồn nguy hiểm gây ô nhiễm môi trường, nhưng rủi ro sức khỏe chỉ bắt đầu được công nhận khi tiếp xúc lâu dài với các chất độc hại có trong rác thải điện tử Cần có những chương trình nghiên cứu mang tính quốc tế được thiết lập bởi các chuyên gia

để tăng độ tin cậy và làm bằng chứng về ảnh hưởng sức khỏe khi tiếp xúc với chất thải điện

tử, đặc biệt là ở trẻ em và người dân dễ bị ảnh thương nặng nề Đồng thời, liên kết cộng đồng, y tế, học viện, các chuyên gia chính sách và các tổ chức phi chính phủ, kết hợp với các chính phủ quốc gia để tạo nên các giải pháp chính sách, chương trình giáo dục và can thiệp để giảm sự phơi nhiễm và ảnh hưởng sức khỏe của rác thải điện tử

Trang 16

Nhưng nếu loại rác thải này được thu gom và xử lý đúng cách thì ngoài các vật liệu nguy hiểm ra vẫn còn một số vật liệu có giá trị như động cơ có chứa đồng, nhựa hoặc sắt, bảng mạch in vàng, bạc và đồng,… để con người khai thác cho việc tái chế [29]

1.2 Hiện trạng phát thải, thu gom và quản lý rác thải điện tử

1.2.1 Hiện trạng phát thải

1.2.1.1 Thế giới

Trong năm 2014, khoảng 41,8 triệu tấn chất thải điện tử đã được tạo ra trên toàn thế giới, trong đó có 12,8 triệu tấn thiết bị nhỏ; 11,8 triệu tấn thiết bị lớn; 7 triệu tấn thiết bị trao đổi nhiệt độ; 6,3 triệu tấn màn hình và các thiết bị hiển thị; 3 triệu tấn thiết bị công nghệ thông tin nhỏ và 1 triệu tấn đèn [8]

Theo báo cáo giám sát rác thải điện tử toàn cầu của ITU, năm 2016 ước tính có 44,7 triệu tấn rác thải điện tử [15] Lượng chất thải điện tử dự kiến sẽ tăng lên 52,2 triệu tấn trong năm 2021, với tốc độ tăng trưởng hàng năm là 3-4% Số lượng chất thải điện tử toàn cầu vào năm 2016 chủ yếu bao gồm các thiết bị nhỏ 16,8 triệu tấn; thiết bị lớn 9,1 triệu tấn; thiết bị trao đổi nhiệt độ 7,6 triệu tấn; màn hình 6,6 triệu tấn; đèn và các thiết bị CNTT đại diện cho một phần nhỏ số lượng của chất thải điện tử toàn cầu được tạo ra vào năm 2016, tương ứng là 0,7 triệu tấn và 3,9 triệu tấn (hình 1.1)

Hình 1 2: Rác thải điện tử của thế giới trong năm 2016 (ITU, 2016)

Nhưng chỉ mới có 41 quốc gia trong tổng số 5 châu lục thống kê số liệu loại chất thải này, trong đó Châu Á chiếm số lượng lớn nhất với 18,2 triệu tấn thiết bị, đứng thứ hai là Châu Âu với 12,3 triệu tấn, tiếp theo là Châu Mỹ với 11,3 triệu tấn, Châu Phi là 2,2 triệu tấn và cuối cùng là Châu Đại Dương với 0,7 triệu tấn Báo cáo cũng chỉ ra số liệu thu gom

và tái chế của từng châu lục trên thế giới (bảng 1 2)

Trang 17

Bảng 1 2: Rác thải điện tử phát sinh và thu gom của mỗi châu lục (ITU, 2016)

Dương Quốc gia

ra số lượng rác thải điện tử thấp nhất trên thế giới vào năm 2016 ở mức 0,7 triệu tấn, tỉ lệ thu gom là 6% và số liệu thu gom và tái chế là 0,04 triệu tấn

Lục địa châu Âu, trong đó có Nga, tạo ra một khối lượng chất thải điện tử trên đầu người gần bằng với Châu Đại Dương (16,6 kg/người) Tổng lượng rác thải điện tử cho toàn vùng là 12,3 triệu tấn Khoảng 4,3 triệu tấn chất thải điện tử được thu thập và được tái chế

ở châu Âu, cho thấy tỷ lệ thu gom khu vực cao nhất là 35% so với rác thải điện tử được tạo

ra Khối lượng chất thải điện tử trên đầu người được tạo ra ở châu Phi: 1,9 kg/người Tổng lượng rác thải ở Châu Phi là 2,2 triệu tấn và với dữ liệu này, chỉ có 0,004 triệu tấn được ghi nhận để thu gom và tái chế; đây là châu lục duy nhất có tỉ lệ thu gom dưới 1% Trong năm 2016, Châu Mỹ tạo ra 11,3 triệu tấn chất thải điện tử: 7 triệu tấn cho Bắc Mỹ; 3 triệu tấn cho Nam Mỹ và 1,2 triệu tấn cho Trung Mỹ Khối lượng trên đầu người của Châu

Mỹ là 11,6 kg/người và khoảng 1,9 triệu tấn rác thải điện tử được thu thập và tái chế

Sự khác biệt của phát sinh rác thải điện tử ở các nước nghèo và các nước phát triển đang là khá lớn Các nước giàu nhất thế giới vào năm 2016 tạo ra trung bình 19,6 kg/người, trong khi những nước nghèo nhất tạo ra chỉ 0,6 kg/người

Trang 18

Các quốc gia phát triển như Trung Quốc là nước tạo ra lượng rác điện tử nhiều nhất thế giới trong năm 2016 với 7,2 triệu tấn, nhưng tỉ lệ tái chế chỉ 18% Thứ hai là Mỹ với 6,3 triệu tấn, tỉ lệ tái chế gần 25% Việc công nghệ được cải tiến liên tục, làm cho vòng đời của các sản phẩm điện tử ngắn hơn, kéo theo đó là nhu cầu sản xuất liên tục các loại linh kiện điện tử cho thiết bị mới; đây được xem là một trong nhưng nguyên nhân khiến rác thải điện tử gia tăng

Ngoài ra việc rác thải điện tử được xuất và nhập khẩu cũng là một vấn đề lớn đối với các quốc gia trên Thế Giới Trong một điều tra do các nhà báo và Mạng lưới hành động Basel (Công ước Basel) thực hiện, họ đặt máy định vị vào các thiết bị điện tử lỗi thời tại

Mỹ và châu Âu để giám sát đường đi của chúng Kết quả: 34% trong tổng số 205 máy định

vị đi ra nước ngoài, hầu hết là các nước đang phát triển Cụ thể, 93% được đưa sang châu

Á, 7% còn lại sang Mexico và Canada [9]

Nhìn chung, tỉ lệ rác thải điện tử sẽ tăng với tốc dộ 3-5% mỗi năm [30] Các thiết bị như thiết bị trao đổi nhiệt độ, thiết bị công nghệ thông tin dự kiến sẽ tăng khi nhu cầu sử dụng các sản phẩm này ngày càng lớn Các thiết bị cũ hư hỏng hay lỗi thời trở thành nguồn rác thải nguy hại nhưng với tỉ lệ tái chế thấp thì loại rác thải này sẽ càng gây ảnh hưởng lớn đến công tác quản lý, xã hội và đặc biệt là môi trường

1.2.1.2 Việt Nam

Ở Việt Nam, rác thải điện tử chủ yếu được tạo ra từ hộ gia đình: ti vi, tủ lạnh, máy giặt, điều hòa, laptop; văn phòng: máy photocopy, máy fax, máy in và máy quét; công nghiệp điện tử: chủ yếu bao gồm các bộ phận, thiết bị, sản phẩm điện tử không thành công

và từ nước ngoài [31] Hiện nay Việt Nam vẫn chưa có bản kiểm kê chính thức về rác thải điện tử phát sinh trong nước [15]

Theo công ty môi trường đô thị Hà Nội, năm 2010 số lượng thiết bị điện tử gia dụng

bị vứt bỏ là khoảng 1,8 triệu chiếc (bao gồm 217 nghìn ti vi; 398 nghìn tủ lạnh; 107 nghìn điều hòa không khí và 543 nghìn máy giặt) và URENCO ước tính đến năm 2020 có khoảng 10,6 triệu thiết bị (bao gồm 4,85 triệu ti vi; 2,27 triệu tủ lạnh; 2,6 triệu máy giặt và 873 nghìn điều hòa) [32] (bảng 1.3)

Bảng 1 3: Ước tính một số thiết bị gia dụng lớn bỏ đi tại Việt Nam (URENCO, 2007)

Trang 19

Hình 1 3: Ước tính số lượng các thiết bị điện tử vứt bỏ tại Việt Nam (Nguồn: [33])

Trang 20

Ngoài việc phát sinh từ các hộ gia đình, văn phòng, công nghiệp mà không thể không

kể đến việc nhập khẩu các thiết bị điện tử đã qua sử dụng Việt Nam xếp thứ ba ở châu Á (chỉ sau Trung Quốc và Hồng Kông) trong nhập khẩu chất thải điện tử [34] Thực tế này cho thấy sự tồn tại của một dòng chảy bất hợp pháp và không rõ ràng của rác thải điện tử vào Việt Nam

Ở phía bắc, thành phố Móng Cái (tỉnh Quảng Ninh) là nơi thích hợp để buôn bán chất thải điện tử vì gần với Hải Phòng Hải Phòng là điểm nhập khẩu tạm thời để tái xuất hàng hóa, là nơi có cảng biển lớn thứ 2 ở Việt Nam Trung Quốc và Việt Nam cấm nhập khẩu chất thải điện tử nhưng cả hai nước đều cho phép nhập khẩu để tái xuất với nhau [35]

Hình 1 4: Đường xuất nhập khẩu rác thải điện tử giữa Việt Nam, Trung Quốc và

Campuchia (Nguồn: [35])

Ở phía nam, rác thải điện tử từ cảng quốc tế Sihanoukville (Campuchia) được nhập lậu vào Việt Nam qua biên giới giữa hai nước Một phần được vận chuyển đến Thành phố

Trang 21

Hồ Chí Minh để bán và phần còn lại, cùng với chất thải điện tử khác được chuyển ra Bắc

để xuất khẩu sang Trung Quốc

1.2.2 Thu gom và quản lý rác thải điện tử

1.2.2.1 Thế giới

Các nước trên thế giới đang đối mặt với thách thức lớn trong quản lý rác thải điện tử Hầu hết chính sách, pháp luật của các nước đều dựa trên nguyên tắc mở rộng trách nhiệm của nhà sản xuất (Extended Producer Responsibility: EPR) [36] Theo Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế định nghĩa EPR là một cách tiếp cận chính sách môi trường trong đó nhà sản xuất phải có trách nhiệm đối với sản phẩm bao gồm cả xử lý khi chúng lỗi thời hay hư hỏng không còn khả năng sử dụng [37] Các mục tiêu chính của EPR:

 Phòng ngừa và giảm thiểu chất thải

 Tái sử dụng sản phẩm

 Tăng cường sử dụng vật liệu tái chế trong sản xuất

 Giảm tiêu thụ tài nguyên thiên nhiên

 Áp đặt chi phí môi trường vào giá sản phẩm

 Thu hồi năng lượng khi thiêu đốt

Có nhiều quốc gia trên thế giới đã có những quy định về chất thải điện tử chẳng hạn như ở Mỹ, Thụy Sĩ, Nhật Bản, Trung Quốc, các nước Châu Âu…

Ở Mỹ, EPR được nhấn mạnh rằng trách nhiệm được chia sẻ trong việc thu gom và xử

lý chất thải điện tử Nhà sản xuất không phải là bên chịu trách nhiệm duy nhất mà còn là nhà sản xuất bao bì, người tiêu dùng và nhà bán lẻ [36] Mỹ đã tiến hành các biện pháp chung để ngăn chặn chất thải điện tử và hạn chế các tác động tiêu cực gây ra bởi các hoạt động xử lý và tái chế Đồ điện tử được chứng minh là nguy hiểm phải tuân theo Đạo luật Bảo tồn và phục hồi tài nguyên Nhiều sáng kiến được thực hiện bởi cơ quan bảo vệ môi trường Mỹ, trong đó có chương trình Quản lý vật liệu bền vững nhằm thu thập các thiết bị điện tử từ công chúng Mỹ, các đối tác sẽ cam kết sử dụng tái chế thiết bị điện tử Trong năm 2015, những người tham gia chương trình tái chế khoảng 256 nghìn tấn thiết bị điện

tử sử dụng [15]

Trong khi đó Nhật Bản là một trong những nước đầu tiên trên thế giới thực hiện dựa trên EPR, người tiêu dùng trả tiền xử lí khi họ mang thiết bị đã qua sử dụng cho nhà bán lẻ Năm 1998, Nhật ban hành Luật tái chế các đồ dùng gia đình và hoàn toàn hiện hành vào như năm 2001, các nhà sản xuất hoặc nhập khẩu thu gom để tái chế 4 loại chất thải điện tử

từ hộ gia đình: ti vi, tủ lạnh, máy giặt và điều hòa không khí Bên cạnh đó, người tiêu dùng

sẽ phải trả một khoản phí bao gồm một phần của chi phí tái chế và vận chuyển Lệ phí mà người tiêu dùng phải trả là từ 23 USD đến 46 USD bao gồm phí tái chế và bổ sung Phí thu gom từ 4 USD đến 19 USD để chi trả cho việc vận chuyển sản phẩm đến các địa điểm thu

Trang 22

gom được chỉ định Ngoài ra, hệ thống bắt buộc các nhà bán lẻ thu gom và chuyển giao các sản phẩm bị loại bỏ từ người tiêu dùng Việc tái chế là trách nhiệm của nhà sản xuất, áp dụng hình phạt nặng cho các việc không tuân thủ [36, 38]

Ngoài ra, Nhật Bản bắt đầu bắt buộc tái chế máy tính cá nhân kinh doanh vào năm

2001 và mở rộng yêu cầu cho các máy tính dân dụng vào năm 2003 với Luật khuyến khích

sử dụng tài nguyên hiệu quả Hệ thống ban đầu được quản lý bởi chính quyền địa phương, nhưng máy tính được bán sau tháng 10 năm 2003, nhóm trong Trung tâm Xúc tiến PC3R chịu trách nhiệm thu gom, tái chế và tái sử dụng máy tính Đối với các sản phẩm được mua trước tháng 10 năm 2003 và không có nhãn hiệu, khách hàng sẽ cần trả phí để thu gom và tái chế dao động từ 29 USD đến 40 USD [39] Đến năm 2004 đã có 41 cơ sở tái chế rác thải điện tử Rác thải điện tử thải ra từ các hộ gia đình được thu gom bởi các cửa hàng bán

lẻ khi nó được thải hoặc người tiêu dùng mua sản phẩm mới Các rác thải điện tử được thu gom sau đó chuyển đến những nơi tập kết (380 điểm) và cuối cùng là chuyển giao cho hệ thống phân phối cơ sở vật chất [40] Nhật Bản dựa trên khuôn khổ pháp lý mạnh mẽ, một

hệ thống thu gom tiên tiến và cơ sở tái chế phát triển Trong năm 2016, Nhật Bản đã thu gom 546,4 nghìn tấn thiết bị điện tử [15]

Đối với Trung Quốc, năm 2009 đã triển khai chương trình mang cũ đổi mới Người tiêu dùng mang thiết bị đã qua sử dụng đến cho nhà bán lẻ được chỉ định để đổi mới một sản phẩm khác và được giảm giá 10% cho thiết bị mới Chính sách này đã rất hiệu quả trong việc thu gom để tái chế và xử lý, nhưng nó đã kết thúc vào năm 2011 [41] Trung Quốc đóng một vai trò quan trọng trong ngành công nghiệp điện và điện tử toàn cầu vì nhiều lý do; là quốc gia đông dân nhất trên thế giới, vì vậy nhu cầu của sử dụng thiết bị điện tử là rất cao và có một ngành công nghiệp điện tử mạnh mẽ Trung Quốc cũng có một vai trò lớn trong tân trang, tái sử dụng và tái chế chất thải điện tử Các ngành công nghiệp tái chế chính thức rác thải điện tử đã cho thấy sự tăng trưởng đáng kể trong khả năng xử lí và tái chế; 18% số rác thải điện tử phát sinh đã được thu gom và tái chế trong những năm gần đây Trung Quốc có luật pháp quốc gia về việc thu gom rác thải điện tử và xử lý: ti vi, tủ lạnh, máy giặt, điều hòa không khí và máy tính (máy tính để bàn và máy tính xách tay) Tuy nhiên, do một loạt các yếu tố xã hội và kinh tế chi phối nên các khu vực thu gom và tái chế không chính thức vẫn dẫn đầu các doanh nghiệp thu gom và tái chế rác thải điện tử Điều này gây tác động có hại đối với môi trường và sức khỏe [15]

Hay là tại Liên minh Châu Âu chất thải điện tử được quản lý theo quy định thống nhất bởi chỉ thị WEEE (2012) Chỉ thị này sử dụng theo nguyên tắc của EPR, đòi hỏi người sản xuất, tổ chức tài trợ cho việc thu thập, xử lí và tái chế các sản phẩm của họ, kể cả khi hư hỏng hay lỗi thời [15] Mục đích của chỉ thị này, như một ưu tiên hàng đầu trong công tác phòng chống lãng phí điện và thiết bị điện tử và ngoài ra, việc tái sử dụng, tái chế và các

Trang 23

hình thức thu hồi chất thải như vậy để giảm bớt việc xử lý chất thải [36] Ngoài ra Liên minh Châu Âu cũng ban hành chỉ thị: Hạn chế sử dụng các chất độc hại (RoHS) (2002/95/EC) Chỉ thị RoHS hạn chế việc sử dụng thủy ngân, chì, crom (VI), cadmium và một loạt các chất chống cháy, đặc biệt là các biphenyl polybrominated (PBB) và ete diphenyl polybrominated (PBDE) Trong khi có một số miễn trừ đối với các yêu cầu của RoHS, thì chỉ thị này áp dụng cho các nhà sản xuất, nhập khẩu thiết bị điện và điện tử ở châu Âu [42]

Điển hình như ở Thụy Sĩ, 7/1998 ban hành Pháp lệnh về trả lại, lấy lại và thải bỏ thiết

bị điện và điện tử; thực hiện dựa trên trách nhiệm của các tổ chức có liên quan (chính phủ, nhà sản xuất, nhà bán lẻ, khách hàng, điểm thu gom, người tái chế) Khách hàng bắt buộc trả lại các thiết bị đã qua sử dụng cho nhà phân phối hoặc sản xuất, và trả tiền tái chế khi mua sản phầm mới [43] Theo quy định, người tiêu dùng mang các thiết bị điện tử lớn hoặc nhỏ đến các điểm thu gom, các cửa hàng bán lẻ hoặc chuyển trực tiếp đến các nhà máy tái chế Từ các điểm thu mua, các thiết bị được vận chuyển đến cơ sở tháo gỡ và lấy các thành phần độc hại một cách an toàn và được bảo vệ Tại nhà tái chế, các chất thải điện tử đi qua tháo gỡ thêm, băm nhỏ và phân loại, kết quả tập trung chủ yếu là nhựa, thủy tinh, sắt, nhôm

và đồng Hầu hết các tái chế này sau đó được gửi đến một nhà máy lọc dầu hoặc lò luyện

để phục hồi Phần còn lại các nguyên liệu không thể phục hồi, đi vào lò đốt để thu hồi năng lượng và một phần nhỏ dưới 2% đi vào bãi rác

Về mặt quản lý việc nhập và xuất khẩu qua các quốc gia thì Sáng kiến toàn cầu quan trọng nhất nhằm giải quyết các vấn đề về rác thải điện tử là Công ước Basel Đây là một thỏa thuận toàn cầu, được khởi xướng từ năm 1992, nhằm điều chỉnh sự di chuyển của chất thải nguy hại, bao gồm cả rác thải điện tử, giữa các quốc gia [36]

1.2.2.2 Việt Nam

Thông thường, dòng chảy của các thiết bị điện tử khi đã cũ tại Việt Nam liên quan đến với 6 bên liên quan chính là: (1) người tiêu dùng; (2) người thu gom; (3) cửa hàng thu mua; (4) người tháo gỡ; (5) cơ sở tái chế và (6) xuất khẩu (hình 1.5) [44] Người tiêu dùng

có thể giữ lại hoặc cho đi các thiết bị điện tử không còn sử dụng nữa cho người dùng khác, hay có thể bán cho người thu gom hay các cửa hàng thu mua đồ điện tử, phế thải Sau đó các thiết bị điện tử này sẽ được tháo gỡ, một phần còn sử dụng được có thể mang đi tái chế còn phần không còn sử dụng được thì vứt bỏ Các thiết bị được tân trang, tái chế như mới được mang đi bán cho những người có nhu cầu sử dụng khác

Trang 24

Hình 1 5: Các bên liên quan đến đường đi của thiết bị điện tử (Nguồn: [44])

Theo thống kê số doanh nghiệp tái chế và xử lý chỉ có khoảng 15 công ty xử lý chất thải điện tử được cấp phép [45] Một con số ít ỏi dẫn đến việc thu gom và xử lý rác thải điện tử là kém hiệu quả Người ta nhận thấy rằng dưới tác động của lợi ích, vai trò của các bên liên quan trung gian, cơ sở hạ tầng xử lý chất thải điện tử và lỗ hỏng của pháp luật là những yếu tố chính gây ra thất bại trong việc áp dụng hệ thống EPR tại Việt Nam [46] Năm 2013 Quyết định số 50/2013/QĐ-TTg của thủ tướng chính phủ về thu hồi và xử

lý sản phẩm bị loại bỏ đã được ban hành như là luật đầu tiên cho chất thải điện tử [1] Năm

2014, Luật bảo vệ môi trường chỉ rõ nhà sản xuất/nhà phân phối có trách nhiệm thu thập

và xử lý các sản phẩm bị loại bỏ và khách hàng có trách nhiệm vứt bỏ sản phẩm đến nơi thích hợp [2] Hay Nghị định số 38/2015/NĐ-CP về quản lý chất thải và phế liệu [3] Quyết định số 16/2015/QĐ-TTg được ban hành về thu hồi và xử lý sản phẩm thải bỏ,

sẽ thu hồi và xử lý một số sản phẩm thải bỏ là ắc quy và pin các loại; dầu nhớt, săm, lốp các loại; một số sản phẩm thiết bị điện, điện tử thải bỏ như bóng đèn compact; bóng đèn huỳnh quang; máy vi tính (để bàn, xách tay); màn hình máy vi tính; cục CPU (bộ vi xử lý của máy tính); máy in; máy fax; máy quét hình (scanner); máy chụp ảnh; máy quay phim; máy điện thoại di động; máy tính bảng; đầu đĩa DVD; VCD; CD và các loại đầu đọc băng, đĩa khác; máy photocopy; ti vi; tủ lạnh; máy điều hòa nhiệt độ; máy giặt

Quyết định 16/2015/QĐ-TTg cũng cho phép duy trì hoạt động của các khu vực không chính thức, bao gồm cả người thu gom và tháo dỡ nhưng phải được kiểm soát, tình trạng xuất khẩu bị cấm và phải xử lý theo quy định của pháp luật Nhưng vẫn còn những trường

Trang 25

hợp làm trái luật dẫn đến chính phủ không có đủ luật pháp để kiểm soát hoạt động của những người tháo dỡ Vì vậy, tình trạng thu gom và xử lý không chính thức các thiết bị điện tử hiện nay vẫn đang gây ra khó khăn trong công tác quản lý loại rác thải này Người dân hiện nay vẫn thiếu ý thức về tác hại của rác thải điện tử, người dân đặt nhu cầu về lợi ích cá nhân hơn dẫn đến là bán cho người thu mua phế liệu, những người này sẽ mang đi tháo gỡ để tái sử dụng, tái chế [4]

Hay đối với các hoạt động xuất, nhập khẩu rác thải điện tử thì Bộ Thông tin và Truyền thông đã ban hành thông tư số 31/2015/TT-BTTTT (ban hành ngày 29.10.2015 và có hiệu lực vào ngày 15.12.2015) hướng dẫn một số điều của Nghị định số 187/2013/NĐ-CP đối với các hoạt động xuất, nhập khẩu sản phẩm công nghệ thông tin đã qua sử dụng [5] Các

cơ quan chức năng, nhà nhập khẩu rác thải điện tử đã qua sử dụng có khung pháp lý chặt chẽ về loại rác thải điện tử đã qua sử dụng không được phép nhập khẩu Theo quy định của nghị định và thông tư, có một số trường hợp ngoại lệ đối với nhập khẩu rác thải điện tử được sử dụng cho các mục đích đặc biệt (ví dụ: nghiên cứu khoa học, lấy mẫu) Tuy nhiên trên thực tế, rác thải điện tử đã qua sử dụng vẫn có thể được nhập khẩu vào Việt Nam bằng các cách bất hợp pháp (ví dụ: hoạt động du lịch, hoạt động buôn lậu giữa các nước qua biên giới) [45]

Theo Tổng cục môi trường Việt Nam năm 2014, Việt Nam có đến 3000 cơ sở thu gom tháo gở bằng thủ công [47] Các quá trình tháo gỡ thủ công, đốt không được trang bị bảo hộ, nó gây ảnh hưởng đến người lao động, môi trường và cộng đồng xã hội

Bảng 1 4: Tổng hợp quy định pháp luật về quản lý rác thải điện tử tại Việt Nam

1 Quyết định 50/2013/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ: Quy định về thu hồi và

xử lý sản phẩm thải bỏ

2 Nghị định 38/2015/NĐ-CP: Quản lý chất thải và phế liệu

3 Luật Bảo vệ môi trường số 55/2014/QH13

4 Quyết định 16/2015/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ: Quy định về thu hồi và

xử lý sản phẩm thải bỏ

5 Thông tư 31/2015/TT-BTTTT: hướng dẫn một số điều của Nghị định số 187/2013/NĐ-CP ngày 20 tháng 11 năm 2013 đối với các hoạt động xuất, nhập khẩu sản phẩm công nghệ thông tin đã qua sử dụng

Hiện nay, chương trình Việt Nam Tái Chế đang nhận được ủng hộ của đông đảo người dân thành phố Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh Việt Nam Tái Chế là chương trình được khởi xướng bởi các nhà sản xuất thiết bị điện, điện tử nhằm thu hồi miễn phí các thiết bị đã

Trang 26

qua sử dụng hoặc bị hỏng [10] Nhưng mô hình này vẫn còn đang rất nhỏ, chưa thể áp dụng

được quy mô cả nước và vẫn còn số ít người dân thờ ơ với việc này

1.2.3 Hiện trạng rác thải điện tử tại thành phố Đà Nẵng

Tại thành phố Đà Nẵng số lượng các thiết bị điện tử được sử dụng hay đã thải bỏ chưa

được thống kê cụ thể và giải pháp quản lý loại rác thải này vẫn chưa có nghiên cứu chính

thức

Theo Quyết định 1577/QĐ-UBND về kế hoạch triển khai phân loại chất thải rắn sinh

hoạt tại nguồn trên địa bàn thành phố Đà Nẵng đến năm 2025 với mục đích phấn đấu hoàn

thành mục tiêu về tỷ lệ CTRSH được tái sử dụng, tái chế đạt ít nhất 12% vào năm 2020 và

15% vào năm 2025 Tuy nhiên công tác quản lý còn gặp nhiều khó khăn do ý thức của

người dân, các khu vực xử lý chính thức và không chính thức vẫn chưa được giám sát chặt

chẽ từ khâu tháo gỡ đến vứt bỏ các linh kiện gây ảnh hưởng tiềm tàng đến môi trường

Vì vậy, thực hiện nghiên cứu là điều cần thiết nhằm cung cấp số liệu thống kê và xây

dựng mô hình quản lý rác thải điện tử trên địa bàn thành phố Đà Nẵng

Trang 27

CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN

CỨU

2.1 Đối tượng nghiên cứu

Các hộ gia đình, cơ sở thu mua rác thải điện tử tại thành phố Đà Nẵng

2.2 Phạm vi nghiên cứu

Nghiên cứu được tiến hành tại 7 Quận, Huyện: Thanh Khê, Hải Châu, Liên Chiểu, Cẩm Lệ, Ngũ Hành Sơn, Sơn Trà và Hòa Vang

2.3 Phương pháp nghiên cứu

2.3.1 Phương pháp khảo sát và thu thập dữ liệu

Khảo sát, thu nhập thông tin về hiện trạng thu gom, xử lí và thải bỏ của 100 hộ gia đình của mỗi quận, huyện trên địa bàn thành phố Đà Nẵng Ngoài ra, tìm hiểu các tài liệu

có liên quan đến rác thải điện tử (khái niệm, thành phần, tác hại) Tìm hiểu các chính sách thu gom, quản lý rác thải điện tử của Việt Nam và thành phố Đà Nẵng

2.3.2 Phương pháp điều tra bằng bảng câu hỏi

Phương pháp này được thực hiện với các bước sau:

Bảng 2 1: Các bước trong phương pháp điều tra bằng bảng câu hỏi

1 Thiết kế bảng hỏi Thiết kế các câu hỏi phù hợp với đối tượng phỏng vấn

2 Điều tra thử Khảo sát địa bàn, phân tích kết quả về cấu trúc và nội dung

bảng hỏi

Điều chỉnh lại bảng hỏi cho phù hợp và hiệu quả

3 Lựa chọn địa bàn Lựa chọn những nơi phù hợp để điều tra hiệu quả

2.3.3 Phương pháp phỏng vấn sâu

Phỏng vấn những đối tượng am hiểu rõ về rác thải điện tử, lấy ý kiến thông qua các câu hỏi liên quan Từ đó tổng hợp thông tin và đánh giá

Bảng 2 2: Đối tượng và nội dung trong phương pháp phỏng vấn sâu

gỡ, cách xử lý linh kiện bị vứt bỏ,

2 Cơ sở thu mua đồ điện tử, điện lạnh Số lượng thu mua, tỉ lệ sửa chữa,

quá trình tháo gỡ, …

3 Cơ sở thu mua phế thải Những linh kiện, kim loại được

thu gom, vứt bỏ; cách xử lý linh kiện bị vứt bỏ; …

Trang 28

2.3.4 Phương pháp xử lý số liệu

Sử dụng phần mềm Microsoft Excel để thống kê và vẽ biểu đồ nhằm mô tả hiện trạng

phát sinh rác thải điện tử ở thành phố Đà Nẵng

2.3.5 Phương pháp xây dựng bản đồ

Sử dụng GPS trên ứng dụng di động Google Map để định vị các vị trí thu mua thiết

bị điện tử Sau đó sử dụng dữ liệu số để thống kê tọa độ địa lý của các điểm thu mua

Ngày đăng: 09/05/2022, 00:34

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[6] Rác thải điện tử - mối nguy hại với môi trường. Truy cập: http://www.dangcongsan.vn/ban-doc/rac-thai-dien-tu-moi-nguy-hai-voi-moi-truong-433520.html Link
[8] Thực trạng chất thải điện tử toàn cầu: Cái giá quá đắt về kinh tế. Truy cập: https://bnews.vn/thuc-trang-chat-thai-dien-tu-toan-cau-cai-gia-qua-dat-ve-kinh-te/116396.html Link
[9] Rác thải điện tử - Bức tranh khó xem. Truy cập: https://cuoituan.tuoitre.vn/tin/20190728/rac-dien-tu-buc-tranh-kho-xem/1537095.html.[10] Vietnam Recycles.Truy cập: www.vietnamrecycles.com.Tài liệu tiếng anh Link
[1] Thủ tướng Chính phủ (2013), Quyết định 50/2013/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ: Quy định về thu hồi và xử lý sản phẩm thải bỏ [2] Luật Bảo vệ môi trường 2014 Khác
[4] Quyết định 16/2015/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ: Quy định về thu hồi và xử lý sản phẩm thải bỏ Khác
[5] Bộ Thông tin và Truyền thông (2015), Thông tư 31/2015/TT-BTTTT: hướng dẫn một số điều của Nghị định số 187/2013/NĐ-CP ngày 20 tháng 11 năm 2013 đối với các hoạt động xuất, nhập khẩu sản phẩm công nghệ thông tin đã qua sử dụng Khác
[11] United Nations Environment Programme (UNEP). E-waste volume I: inventory assessment manual. Osaka, Japan: United Nations Environmental Programme, Division of Technology, Industry and Economics, International Environmental Technology Centre, 2007 Khác
[12] Council of the European Parliament. Directive 2002/96/EC of the European Parliament and of the Council of 27 January 2003 on waste electrical and electronic equipment (WEEE). March 13, 2003. OJEU 2003; 37: 24–38 Khác
[13] United Nations Environment Programme (UNEP). Basel convention on the control of transboundary movements of hazardous waste and their disposal. 1989 Khác
[14] Ramzy Kahhat, Junbeum Kim, Ming Xu, Braden Allenby, Eric Williams, Peng Zhang. Exploring e-waste management systems in the United States. Resources, Conservation and Recycling 52 (2008) 955–964 Khác
[15] Baldé, C. P., Forti, V., Gray, V., Kuehr, R., Stegmann, P. The Global E-waste Monitor 2017 Quantities, Flows and Resources; 2017 Khác
[16] Jinhui L, Huabo D, Pixing S. Heavy metal contamination of surface soil in electronic waste dismantling area: site investigation and source-apportionment analysis. Waste Manag Res 2011; 29: 727–38] Khác
[17] Kristen Grant, Fiona C Goldizen, Peter D Sly, Marie-Noel Brune, Maria Neira, Martin van den Berg, Rosana E Norman. Health consequences of exposure to e-waste: a systematic review. Published Online October 30, 2013 Khác
[18] Milojkovic J, Litovski V. Concepts of computer take-back for sustainable end-of-life. Facta Universitatis. Working Living Environ Prot 2005;2(5):363–72 Khác
[19] Robinson BH. E-waste: an assessment of global production and environmental impacts. Sci Total Environ 2009; 408: 183–91][ Agency for Toxic Substances and Disease Registry (ATSDR). Toxicological profi le for polycyclic aromatic hydrocarbons (PAHs).Atlanta, GA: US Department of Health and Human Services, Public Health Service, 1995 Khác
[20] Pronczuk de Garbino J. Children’s health and the environment: a global perspective. A resource manual for the health sector. In: Pronczuk de Garbino J, ed. New York: World Health Organization, 2004 Khác
[21] Zheng G, Xu X, Li B, Wu K, Yekeen TA, Huo X. Association between lung function in school children and exposure to three transition metals from an e-waste recycling area.][Huo X, Peng L, Xu X, et al. Elevated blood lead levels of children in Guiyu, an electronic waste recycling town in China. Environ Health Perspect 2007; 115: 1113–17. J Expo Sci Environ Epidemiol 2013; 23: 67–72 Khác
[22] Axelrad DA, Bellinger DC, Ryan LM, Woodruff TJ. Dose-response relationship of prenatal mercury exposure and IQ: an integrative analysis of epidemiologic data. Environ Health Perspect 2007; 115: 609–15 Khác
[23] Li Y, Li M, Liu Y, Song G, Liu N. A microarray for microRNA profi ling in spermatozoa from adult men living in an environmentally polluted site. Bull Environ Contam Toxicol 2012; 89: 1111–14 Khác
[24] Braun JM, Kahn RS, Froehlich T, Auinger P, Lanphear BP. Exposures to environmental toxicants and attention deficit hyperactivity disorder in U.S. children.Environ Health Perspect 2006; 114: 1904–09 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

2.1 Các bước trong phương pháp điều tra bằng bảng câu hỏi 18 - Đánh giá hiện trạng phát sinh rác thải điện tử của hộ gia đình và đề xuất giải pháp quản lý tại thành phố Đà Nẵng
2.1 Các bước trong phương pháp điều tra bằng bảng câu hỏi 18 (Trang 7)
Số hiệu Tên hình Trang - Đánh giá hiện trạng phát sinh rác thải điện tử của hộ gia đình và đề xuất giải pháp quản lý tại thành phố Đà Nẵng
hi ệu Tên hình Trang (Trang 8)
Hình 1. 1: Các thiết bị điện tử được thải bỏ (Nguồn: Khảo sát 10/2019) - Đánh giá hiện trạng phát sinh rác thải điện tử của hộ gia đình và đề xuất giải pháp quản lý tại thành phố Đà Nẵng
Hình 1. 1: Các thiết bị điện tử được thải bỏ (Nguồn: Khảo sát 10/2019) (Trang 12)
Hình 1. 2: Rác thải điện tử của thế giới trong năm 2016 (ITU, 2016) - Đánh giá hiện trạng phát sinh rác thải điện tử của hộ gia đình và đề xuất giải pháp quản lý tại thành phố Đà Nẵng
Hình 1. 2: Rác thải điện tử của thế giới trong năm 2016 (ITU, 2016) (Trang 16)
Bảng 1. 2: Rác thải điện tử phát sinh và thu gom của mỗi châu lục (ITU, 2016) - Đánh giá hiện trạng phát sinh rác thải điện tử của hộ gia đình và đề xuất giải pháp quản lý tại thành phố Đà Nẵng
Bảng 1. 2: Rác thải điện tử phát sinh và thu gom của mỗi châu lục (ITU, 2016) (Trang 17)
Bảng 1. 3: Ước tính một số thiết bị gia dụng lớn bỏ đi tại Việt Nam (URENCO, 2007) - Đánh giá hiện trạng phát sinh rác thải điện tử của hộ gia đình và đề xuất giải pháp quản lý tại thành phố Đà Nẵng
Bảng 1. 3: Ước tính một số thiết bị gia dụng lớn bỏ đi tại Việt Nam (URENCO, 2007) (Trang 18)
-VàiHS lờn bảng thực hiện yờu cầu, -Lớp th.dừi, nhxột - Đánh giá hiện trạng phát sinh rác thải điện tử của hộ gia đình và đề xuất giải pháp quản lý tại thành phố Đà Nẵng
i HS lờn bảng thực hiện yờu cầu, -Lớp th.dừi, nhxột (Trang 19)
Hình 1. 4: Đường xuất nhập khẩu rác thải điện tử giữa Việt Nam, Trung Quốc và Campuchia (Nguồn: [35]) - Đánh giá hiện trạng phát sinh rác thải điện tử của hộ gia đình và đề xuất giải pháp quản lý tại thành phố Đà Nẵng
Hình 1. 4: Đường xuất nhập khẩu rác thải điện tử giữa Việt Nam, Trung Quốc và Campuchia (Nguồn: [35]) (Trang 20)
Hình 1. 5: Các bên liên quan đến đường đi của thiết bị điện tử (Nguồn: [44]) - Đánh giá hiện trạng phát sinh rác thải điện tử của hộ gia đình và đề xuất giải pháp quản lý tại thành phố Đà Nẵng
Hình 1. 5: Các bên liên quan đến đường đi của thiết bị điện tử (Nguồn: [44]) (Trang 24)
Hình 3. 1: Số lượng sử dụng thiết bị điện tử của 700 hộ gia đình tại Tp. Đà Nẵng - Đánh giá hiện trạng phát sinh rác thải điện tử của hộ gia đình và đề xuất giải pháp quản lý tại thành phố Đà Nẵng
Hình 3. 1: Số lượng sử dụng thiết bị điện tử của 700 hộ gia đình tại Tp. Đà Nẵng (Trang 29)
Hình 3. 2: Biểu đồ số lượng thiết bị điện tử tại quận Hải Châu - Đánh giá hiện trạng phát sinh rác thải điện tử của hộ gia đình và đề xuất giải pháp quản lý tại thành phố Đà Nẵng
Hình 3. 2: Biểu đồ số lượng thiết bị điện tử tại quận Hải Châu (Trang 30)
Hình 3. 3: Biểu đồ số lượng thiết bị điện tử tại quận Thanh Khê - Đánh giá hiện trạng phát sinh rác thải điện tử của hộ gia đình và đề xuất giải pháp quản lý tại thành phố Đà Nẵng
Hình 3. 3: Biểu đồ số lượng thiết bị điện tử tại quận Thanh Khê (Trang 30)
Hình 3. 4: Biểu đồ số lượng thiết bị điện tử tại quận Liên Chiểu - Đánh giá hiện trạng phát sinh rác thải điện tử của hộ gia đình và đề xuất giải pháp quản lý tại thành phố Đà Nẵng
Hình 3. 4: Biểu đồ số lượng thiết bị điện tử tại quận Liên Chiểu (Trang 31)
Hình 3. 5: Biểu đồ số lượng thiết bị điện tử tại quận Sơn Trà - Đánh giá hiện trạng phát sinh rác thải điện tử của hộ gia đình và đề xuất giải pháp quản lý tại thành phố Đà Nẵng
Hình 3. 5: Biểu đồ số lượng thiết bị điện tử tại quận Sơn Trà (Trang 31)
Hình 3. 7: Biểu đồ số lượng thiết bị điện tử tại quận Ngũ Hành Sơn - Đánh giá hiện trạng phát sinh rác thải điện tử của hộ gia đình và đề xuất giải pháp quản lý tại thành phố Đà Nẵng
Hình 3. 7: Biểu đồ số lượng thiết bị điện tử tại quận Ngũ Hành Sơn (Trang 32)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w