- Theo đó, bám sát diễn biến kinh tế vĩ mô, tiền tệ, trong năm 2017, NHNN tiếp tục kiên định điều hành CSTT chủ động, linh hoạt, phối hợp chặt chẽ với chính sách tài khóa và các chính sá
Trang 1[Type text] Page 1
10 CÂU HỎI THỰC TẾ TIỀN TỆ NGÂN HÀNG ĐẾN HẾT
THÁNG 9/2017
Câu 1: Phân tích hoạt động điều hành chính sách tiền tệ của NHNN từ đầu năm đến nay ?
- Theo đó, bám sát diễn biến kinh tế vĩ mô, tiền tệ, trong năm 2017, NHNN tiếp tục kiên định điều hành CSTT chủ động, linh hoạt, phối hợp chặt chẽ với chính sách tài khóa và các chính sách kinh tế vĩ mô khác nhằm kiểm soát lạm phát theo mục tiêu đề ra (bình quân khoảng 4%), ổn định kinh tế vĩ mô, góp phần hỗ trợ tăng trưởng kinh tế ở mức hợp lý (khoảng 6,7%), bảo đảm thanh khoản của các tổ chức tín dụng (TCTD), ổn định thị trường tiền tệ Định hướng tổng phương tiện thanh toán tăng khoảng 16-18%; tín dụng tăng khoảng 18%, có điều chỉnh phù hợp với diễn biến, tình hình thực tế
Trên cơ sở đó, trong 9 tháng đầu năm 2017, NHNN tiếp tục điều hành đồng bộ, linh hoạt các công cụ CSTT nhằm kiểm soát lạm phát theo mục tiêu đề ra, ổn định kinh tế
vĩ mô, góp phần hỗ trợ tăng trưởng kinh tế ở mức hợp lý, đồng thời đảm bảo ổn định thị trường tiền tệ
Một số kết quả trong điều hành CSTT và hoạt động ngân hàng 9 tháng đầu năm:
- NHNN đã điều hành đồng bộ và linh hoạt các công cụ CSTT để kiểm soát chặt chẽ các chỉ tiêu tiền tệ nhằm kiểm soát lạm phát, hỗ trợ ổn định tỷ giá nhưng vẫn đảm bảo thanh khoản cho các TCTD cung ứng vốn tín dụng, ổn định lãi suất và hỗ trợ phát hành trái phiếu Chính phủ (TPCP) với lãi suất thấp Diễn biến các chỉ tiêu tiền tệ phù hợp với kinh tế vĩ mô, tiền tệ Đến ngày 19/9/2017, tổng phương tiện thanh toán tăng 4,41%
so với cùng kỳ năm 2016, huy động vốn tăng 4,11%, thanh khoản hệ thống TCTD đảm bảo, đáp ứng nhu cầu tăng trưởng tín dụng của nền kinh tế và đầu tư cho TPCP
1 Về lãi suất:
Trang 2[Type text] Page 2
Mặt bằng lãi suất huy động và cho vay của các TCTD diễn biến ổn định Trong bối cảnh kỳ vọng lạm phát gia tăng, cầu vốn tín dụng và phát hành TPCP tiếp tục ở mức cao, tiến độ giải ngân vốn đầu tư còn thấp tạo áp lực đến cầu vốn tín dụng, mặt bằng lãi suất của các TCTD có sức ép tăng NHNN đã tập trung điều hành các giải pháp để giữ ổn định mặt bằng lãi suất thông qua điều tiết thanh khoản hợp lý hỗ trợ các TCTD ổn định lãi suất, tiếp tục chỉ đạo các TCTD tiết giảm chi phí, nâng cao hiệu quả kinh doanh để giữ
ổn định lãi suất huy động, phấn đấu giảm lãi suất cho vay Hiện lãi suất cho vay phổ biến khoảng 6-9%/năm đối với ngắn hạn và 9-11%/năm đối với trung và dài hạn; khách hàng tốt, lãi suất cho vay ngắn hạn từ 4-5%/năm
2 Thị trường ngoại tệ
Thị trường ngoại tệ trong 9 tháng đầu năm về cơ bản ổn định, tỷ giá diễn biến phù hợp với mục tiêu điều hành của NHNN, qua đó góp phần ổn định kinh tế vĩ mô và tạo điều kiện cho các doanh nghiệp chủ động trong sản xuất kinh doanh (SXKD), phòng ngừa rủi ro tỷ giá Thanh khoản thị trường tốt, các nhu cầu hợp lý, hợp pháp của tổ chức,
cá nhân đều được hệ thống ngân hàng đáp ứng đầy đủ, kịp thời Khi có điều kiện thuận lợi NHNN đã mua ngoại tệ từ TCTD để bổ sung dự trữ ngoại hối Nhà nước, hệ thống các TCTD tiếp tục mua được ngoại tệ từ khách hàng Nếu so với cuối năm 2016 thì tỷ giá tương đối ổn định (trong đó tỷ giá trung tâm tăng 1,02%, tỷ giá liên ngân hàng giảm 0,24%, tỷ giá của Vietcombank giảm 0,15% so với cuối năm trước)
3 Về hoạt động tín dụng:
NHNN tiếp tục triển khai các giải pháp tín dụng phù hợp với chỉ tiêu định hướng gắn với nâng cao chất lượng tín dụng, đồng thời NHNN tiếp tục chỉ đạo các TCTD thực hiện các giải pháp tạo điều kiện trong tiếp cận vốn tín dụng, tập trung vốn tín dụng vào lĩnh vực sản xuất kinh doanh (SXKD); kiểm soát chặt chẽ tín dụng đối với lĩnh vực tiềm
ẩn rủi ro; ban hành Thông tư quy định về hoạt động cho vay của TCTD đối với khách hàng nhằm tăng tính công khai, minh bạch trong hoạt động cho vay, tạo điều kiện cho khách hàng vay trong tiếp cận vốn tín dụng Cụ thể, tín dụng tăng trưởng tốt ngay từ đầu năm, không có tình trạng tín dụng tăng thấp vào đầu năm và dồn vào những tháng cuối năm như những năm trước Cụ thể, đến ngày 25/9/2017 tín dụng tăng 6,53% so với cuối
Trang 3[Type text] Page 3
năm 2016 - là mức tăng cao so với các năm gần đây (cùng kỳ năm 2016 tăng 5%, cùng
kỳ năm 2015 tăng 4,5%); cùng với mặt bằng lãi suất được giữ ổn định đã đáp ứng tốt cho nhu cầu vốn phục vụ sản xuất kinh doanh
Nhận xét:
Trong những tháng cuối năm, NHNN tiếp tục điều hành chính sách tiền tệ chủ động, linh hoạt, phối hợp chặt chẽ với chính sách tài khóa nhằm kiểm soát lạm phát, đảm bảo ổn định kinh tế vĩ mô và hỗ trợ tăng trưởng kinh tế hợp lý, thực hiện các giải pháp tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp, tạo điều kiện tối đa cho DN hoạt động thuận lợi
nhưng không chủ quan với diễn biến của lạm phát
Câu 2: Phân tích sự biến động của chỉ số giá tiêu dùng ở VN từ đầu năm đến nay và dự báo cho 6 tháng tiếp theo
Chỉ số giá tiêu dùng bình quân 6 tháng đầu năm 2017 tăng 4,15% so với bình quân cùng kỳ năm 2016; CPI tháng 6/2017 tăng 0,20% so với tháng 12/2016
và tăng 2,54% so với cùng kỳ năm trước
CPI 6 tháng đầu năm tăng do một số nguyên nhân chủ yếu sau: Giá dịch vụ
y tế tại 27 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương điều chỉnh tăng; Một số địa phương thực hiện lộ trình tăng học phí; Giá các mặt hàng thiết yếu trên thế giới như giá nhiên liệu, chất đốt, sắt thép tăng trở lại trong 6 tháng đầu năm làm chỉ số giá xuất, nhập khẩu tăng so với cùng kỳ năm trước
Bên cạnh các nguyên nhân làm tăng CPI trong 6 tháng đầu năm, có một số yếu tố góp phần kiềm chế như: Chỉ số giá nhóm thực phẩm giảm 1,74% so với cùng kỳ năm trước, đóng góp mức giảm CPI chung 0,39% Giá thịt lợn giảm mạnh
do nguồn cung dồi dào trong khi nhu cầu thu mua thịt lợn xuất khẩu sang Trung Quốc giảm…
Trang 4[Type text] Page 4
Lạm phát cơ bản tháng 6/2017 tăng 0,10% so với tháng trước và tăng 1,29%
so với cùng kỳ năm trước Lạm phát cơ bản bình quân 6 tháng đầu năm 2017 tăng 1,52% so với bình quân cùng kỳ năm 2016, thấp hơn mức kế hoạch (dự kiến 1,6 – 1,8%)
Tổng cục Thống kê chính thức công bố, CPI tháng 9/2017 tăng 0,59% so với tháng trước, tăng 1,83% so với tháng 12/2017 và tăng 3,4% so với cùng kỳ năm
2016
Trong khi đó, nếu tính bình quân, CPI 9 tháng đầu năm 2017 tăng 3,79% so với bình quân cùng kỳ năm 2016 Như vậy, lạm phát cho tới thời điểm này là 3,79%, vẫn thấp hơn mục tiêu kiểm soát lạm phát mà Chính phủ đề ra trong năm nay (4%)
- Dự báo chỉ số CPI 6 tháng tiếp theo:
Lạm phát tiềm ẩn khả năng diễn biến bất thường, vì từ nay đến cuối năm 2017 có nhiều yếu tố dự báo sẽ gây áp lực lên CPI, đặc biệt có thể sẽ có những diễn biến phức tạp đến từ nhiều yếu tố ngoại sinh như thị trường thế giới và biến đổi khí hậu (gây xáo trộn trên thị trường lương thực), …và nội sinh như khả năng kiểm soát cung tiền của NHNN
và biến động của tổng cầu Như vậy lạm phát sẽ giữ mức ổn định vào 3 tháng cuối cùng của năm 2017 và có xu hướng tăng lên vào tháng 1 và 2 năm 2018 do đây là thời điểm trước Tết Nguyên đán nên thường kéo CPI tăng mạnh và sau đó giảm vào tháng 3/2018 như bình thường các năm
Trang 5[Type text] Page 5
Câu 3: Phân tích diễn biến lãi suất thị trường ở Việt Nam từ đầu năm đến nay và dự báo cho 6 tháng tiếp theo
Theo Ngân hàng Nhà nước, về mặt bằng lãi suất, ngay từ đầu năm, Ngân hàng Nhà nước cũng như nhiều chuyên gia kinh tế đều đánh giá năm 2017, việc giữ ổn định mặt bằng lãi suất và phấn đấu giảm mặt bằng lãi suất cho vay là khó khăn, thách thức
Trong 9 tháng đầu năm có hiện tượng một số ngân hàng thương mại tăng lãi suất huy động, nhưng chủ yếu ở kỳ hạn trên 12 tháng, có một số tổ chức tín dụng phát hành chứng chỉ tiền gửi Hiện nay, lãi suất cho vay phổ biến khoảng 6-9%/năm đối với ngắn hạn và 9-11%/năm đối với trung và dài hạn; Lãi suất cho vay ngắn hạn từ 4-5%/năm
Nhiều ngân hàng bắt đầu phát hành thêm chứng chỉ tiền gửi dài hạn, đồng thời một số ngân hàng như Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín (Sacombank), Ngân hàng thương mại cổ phần Xuất nhập khẩu Việt Nam (Eximbank), Ngân hàng thương mại cổ phần Bắc Á (BacA Bank) cũng có thông báo tăng lãi suất huy động cho các kỳ hạn dài với mức tăng từ 0,1-0,2%/năm
Cụ thể, ngày 7/6, Sacombank điều chỉnh lãi suất huy động các kỳ hạn từ 15 đến 36 tháng tăng 0,1-0,2%/năm, tùy kỳ hạn Trước đó, lãi suất Eximbank cũng điều chỉnh tăng nhẹ 0,1-0,2% ở một số kỳ hạn Hiện lãi suất cao nhất của ngân hàng này là 8%/năm với
kỳ hạn 24 và 36 tháng, trong khi 13 tháng là 7,5%/năm Ngân hàng BacA Bank cũng tăng nhẹ lãi suất kỳ hạn từ 6 đến 36 tháng thêm 0,1-0,15%/năm, qua đó, nâng lãi suất huy động cao nhất của ngân hàng này lên 7,75%/năm Ngân hàng Quốc dân (NCB) tăng lãi suất huy động thêm 0,6%/năm ở kỳ hạn 9 tháng, lên 7,3%/năm
Trang 6[Type text] Page 6
- Dự báo 3 tháng cuối năm: Lãi suất những tháng cuối năm sẽ ổn định và gần như không có biến động gì đáng kể Ngân hàng Nhà nước đã tập trung điều hành các giải pháp để giữ ổn định mặt bằng lãi suất thông qua điều tiết thanh khoản hợp lý hỗ trợ các tổ chức tín dụng ổn định lãi suất, tiếp tục chỉ đạo các tổ chức tín dụng tiết giảm chi phí, nâng cao hiệu quả kinh doanh để giữ ổn định lãi suất huy động, phấn đấu giảm lãi suất cho vay
Câu 4: Nhận xét về hệ thống mục tiêu chính sách tiền tệ hiện nay ở VN
*Mục tiêu cuối cùng:
- Ổn định giá cả: Ổn định giá cả hay kiểm soát lạm phát là mục tiêu hàng đầu và là mục tiêu dài hạn của chính sách tiền tệ Ổn định giá cả có tầm quan trọng đặc biệt để
định hướng phát triển kinh tế của quốc gia vì nó làm tăng khả năng dự đoán những biến động của môi trường kinh tế vĩ mô Mức lạm phát thấp và ổn định tạo nên môi trường đầu tư ổn định, thúc đẩy nhu cầu đầu tư và đảm bảo sự phân bổ nguồn lực xã hội một cách hiệu quả
- Tăng trưởng kinh tế : Do chính sách tiền tệ có thể ảnh hưởng tới của cải và chi tiêu của xã hội nên có thể sử dụng nó làm đòn bẩy kích thích tăng trưởng kinh tế Tăng trưởng kinh tế phải được hiểu cả về khối lượng và chất lượng Chính sách tiền tệ phải đảm bảo
sự tăng lên của GDP thực tế, tức là tỷ lệ tăng trưởng có được sau khi trừ đi tỷ lệ tăng giá cùng thời kỳ Chất lượng tăng trưởng được biểu hiện ở một cơ cấu kinh tế cân đối và khả năng cạnh tranh quốc tế của hàng hoá trong nước tăng lên
- Ổn định hệ thống tổ chức tín dụng
* Mục tiêu trung gian: M2 sự biến động của khối tiền M2 hoàn toàn phù hợp với sự biến
động của mức giá và sản lượng
* Mục tiêu hoạt động: MB và R, Dự trữ của các NHTM Bằng việc đạt được mục tiêu
này, NHTW có thể đạt được mục tiêu trung gian và cuối cùng, sự phản ánh của chỉ tiêu này nhanh và chính xác giúp kiể tra tính đúng đắn của chính sách tiền tệ
Trang 7[Type text] Page 7
Nhận xét:
- Tích cực:
+ Điều hành chính sách tiền tệ linh hoạt, hỗ trợ tăng trưởng, kiểm soát lạm phát góp phần tạo môi trường kinh doanh thuận lợi cho các doanh nghiệp
+ Năm 2015 là năm kết thúc đề án 5 năm (2011-2015) Tỷ giá trong giai đoạn
2015-2016 này là một trong những điểm sáng và được các tổ chức trên thế giới đánh giá cao và nâng bậc tín nhiệm, chính sách lãi suất, tỷ giá được kết hợp đồng bộ NHNN đã kiểm soát
ổn định tỷ giá, lãi suất USD điều chỉnh liên tục
+ Lạm phát được kiểm soát ở mức thấp và liên tục duy trì trong nhiều năm qua Bên cạnh đó, lượng tiền cung ứng tiền tiếp tục được điều hành phù hợp theo mục tiêu hỗ trợ
ổn định tỷ giá và thị trường ngoại hối, kiểm soát lạm phát nhưng vẫn đảm bảo hài hòa với các mục tiêu giảm lãi suất, tăng tín dụng hợp lý, hỗ trợ các TCTD đầu tư trái phiếu Chính phủ và xử lý nợ xấu
+ Tổng phương tiện thanh toán đến ngày cuối tháng 12/2015 tăng 13,55% so với cuối năm trước, phù hợp với kinh tế vĩ mô, tiền tệ và các giải pháp điều hành của NHNN Mặt bằng lãi suất giảm nhưng huy động vốn vẫn tăng tạo điều kiện cho các TCTD cung ứng vốn tín dụng cho nền kinh tế, qua đó hỗ trợ tích cực cho hoạt động sản xuất kinh doanh những vẫn đảm bảo ổn định thị trường tiền tệ, ngoại hối và NHNN duy trì ổn định lãi suất điều hành, trần lãi suất huy động bằng VND, kết hợp với điều chỉnh giảm trần lãi suất USD, đảm bảo duy trì chênh lệch hợp lý giữa lãi suất VND và lãi suất USD
+ Ngoài ra, sự an toàn, ổn định của các tổ chức tín dụng đã được duy trì và cải thiện, thực hiện các bước tái cơ cấu toàn diện các ngân hàng thương mại yếu kém Đến 30/11/2015, khoảng 99,6% nợ xấu của tổ chức tín dụng ước tính tại thời điểm cuối tháng 9/2012 đã được xử lý và chất lượng tín dụng được cải thiện Nợ xấu toàn hệ thống đã được đưa về mức 2,72%, hoàn thành mục tiêu đề ra 3% Với việc áp dụng đầy đủ chuẩn mực mới về phân loại nợ, từ Qúy I/2015 không còn tồn tại hai số liệu nợ xấu và nợ xấu của các tổ chức tín dụng đã được minh bạch hơn
- Tiêu cực:
Trang 8[Type text] Page 8
+ NHNN vẫn sử dụng các biện pháp hành chính thông qua việc quy định trần lãi suất huy động, cho vay; chưa lựa chọn được lãi suất chính sách, chưa xây dựng được cơ chế điều hành và xác định lãi suất của NHNN để đảm bảo quan hệ chặt chẽ giữa các loại lãi suất này và với lãi suất tín phiếu kho bạc và lãi suất thị trường
+ Khả năng điều tiết bằng nghiệp vụ TTM đôi khi bị hạn chế do hàng hóa trên thị trường chưa đa dạng, các mức lãi suất ở các phiên đấu thầu không hoàn toàn theo quan hệ cung cầu
+ Dự trữ bắt buộc chưa bao trùm toàn bộ khối lượng tiền trong nền kinh tế nên hạn chế khả năng kiểm soát cung tiền của NHNN qua công cụ này
+ Việc truyền dẫn CSTT qua kênh lãi suất, tỷ giá và giá tài sản đã mạnh dần lên nhưng chưa có những phân tích lượng hoá cụ thể mức độ tác động của khối lượng tiền cung ứng đến mục tiêu cuối cùng của CSTT, đến tín dụng nền kinh tế, đến M2, lãi suất hay tỷ giá, từ đó hạn chế phần nào hiệu quả các quyết định của NHNN khi thị trường có những biến động
+ Khả năng dự báo lạm phát ở Việt Nam chưa tốt dẫn đến có những thời điểm lạm phát vượt mục tiêu đề ra
Câu 6 Hãy bình luận ý kiến cho rằng “Ổn định giá cả trở thành mục tiêu không bàn cãi của chính sách tiền tệ” Liên hệ với Việt Nam
- Lạm phát là sự tăng lên theo thời gian của mức giá chung của nền kinh tế Trong một nền kinh tế, lạm phát là sự mất giá trị thị trường hay giảm sức mua của đồng tiền Khi một quốc gia phải đối phó với áp lực lạm phát cao, chính sách tiền tệ và tài khóa cần làm việc cùng nhau để tìm ra giải pháp tốt nhất cho vấn đề Phải thừa nhận rằng, việc lạm phát tăng cao của nền kinh tế hiện nay, kết quả chủ yếu là từ lý do tiền tệ, do đó chính sách tiền tệ có trách nhiệm chính để sửa chữa lỗi lầm của chính nó.Vì vậy, bình ổn giá cả
là mục tiêu không bàn cãi của CSTT Duy trì mức lạm phát thấp và hợp lý trong một khoảng thời gian dài là dấu hiệu cho thấy sự hoạt động hiệu quả của NHTW
+ Ổn định giá cả hay kiểm soát lạm phát là mục tiêu hàng đầu và là mục tiêu dài
Trang 9[Type text] Page 9
hạn của chính sách tiền tệ Ổn định giá cả có tầm quan trọng đặc biệt để định hướng phát
triển kinh tế của quốc gia vì nó làm tăng khả năng dự đoán những biến động của môi trường kinh tế vĩ mô Mức lạm phát thấp và ổn định tạo nên môi trường đầu tư ổn định, thúc đẩy nhu cầu đầu tư và đảm bảo sự phân bổ nguồn lực xã hội một cách hiệu quả
+ Vấn đề ổn định giá trị của đồng tiền là một điều kiện cần nếu muốn có sự tăng trưởng bền vững Không một nền kinh tế nào có thể tăng trưởng bền vững nếu phải đối mặt với mức lạm phát quá cao
+ Ổn định giá cả sẽ thúc đẩy hệ thống kinh tế hoạt động hiệu quả hơn và do đó làm tăng được mức sống của xã hội Nếu giá cả không ổn định sẽ khiến cho xã hội phải gánh chịu một số phí tổn kinh tế mà chi phí cơ hội là một ví dụ rõ ràng nhất
+ Tình trạng giá cả bất ổn còn có thể khiến các quyết định đầu tư sản xuất trở nên khó khăn hơn, lòng tin của công chúng đối với hệ thống tài chính tiền tệ sụt giảm, các áp lực về tiền lương, thuế khóa tăng lên nhanh chóng,
Liên hệ Việt Nam:
- Trong thời gian qua ở Việt Nam, ổn định giá cả đã và đang là mối quan tâm hàng đầu của các nhà hoạch định chính sách cũng như từng người dân Sau 1 thời gian ổn định
kể từ năm 2004 lạm phát có dấu hiệu quay trở lại và có những tác động nhất định, gây ảnh hưởng không tốt đến nền kinh tế nước nhà Tuy nhiên, trong những năm gần đây nhờ đổi mới hoạt động điều hành CSTT, lạm phát Việt Nam có xu hướng ổn định và có thể kiểm soát được
Tổng cục Thống kê chính thức công bố, CPI tháng 9/2017 tăng 0,59% so với tháng trước, tăng 1,83% so với tháng 12/2017 và tăng 3,4% so với cùng kỳ năm 2016
Trong khi đó, nếu tính bình quân, CPI 9 tháng đầu năm 2017 tăng 3,79% so với bình quân cùng kỳ năm 2016 Như vậy, lạm phát cho tới thời điểm này là 3,79%, vẫn thấp hơn mục tiêu kiểm soát lạm phát mà Chính phủ đề ra trong năm nay (4%)
Câu 7: Bình luận sự thay đổi mục tiêu cuối cùng trong điều hành chính sách tiền tệ của Việt Nam
Trang 10[Type text] Page 10
- Theo luật NHNN 2010, thì mục tiêu cao nhất, mục tiêu cuối cùng của CSTT của Việt Nam hiện nay là: Ổn định giá trị đồng tiền Đây là sự đổi mới, hoàn thiện đúng hướng của CSTT ở VN, theo hướng CSTT đơn mục tiêu, phù hợp với các chuẩn mực quốc tế
- Nhìn lại các mục tiêu mà CSTT Việt Nam đã đưa ra và các chính sách, công cụ
để thực hiện các mục tiêu này thì trước 2011, Việt Nam luôn theo đuổi chính sách đa mục tiêu, dẫn đến các công cụ để thực hiện chính sách tiền tệ không đồng bộ, nhất quán và mâu thuẫn với nhau, do đó, không thể hoàn thành các mục tiêu đề ra Ví dụ như vào năm
2010, mục tiêu của chính sách tiền tệ là tăng trưởng và kiềm chế lạm phát Mục tiêu tăng trưởng và kiềm chế lạm phát là 2 mục tiêu phải được thục hiện song hành về lâu dài, tuy nhiên trong ngắn hạn đặc biệt trong bối cảnh nền kinh tế còn bị đe dọa bỏi những hậu quả
từ cuộc hủng hoảng tài chính, thì 2 mục tiêu này lại là xung đột nhau Kết quả là, việc cắt giảm cung tiền và tăng trưởng đột ngột vào năm 2010 đã gây ra những hệ quả không mong muốn như lãi suất cho vay và nợ xấu tăng cao, thanh khoản của hệ thống ngân hàng gặp nhiều khó khăn, thị trường chứng khoán suy kiệt, thị trường bất động sản đóng băng
- Vì vậy, từ sau năm 2011, điều hành chính sách tiền tệ của Việt Nam đã có nhưng thay đổi phù hợp hơn, cụ thể là từ việt theo đuổi chính sách tiền tệ đa mục tiêu như trước, Việt Nam đã chuyển sang chính sách tiền tệ đơn mục tiêu, phù hợp với các chuẩn mực quốc tế CSTT đã tập trung nhiều hơn vào mục tiêu kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ
mô – là mục tiêu dài hạn của CSTT Việc điều hành CSTT của Việt Nam đã chủ động định hướng thị trường thay vì chạy vì mục tiêu như trước đây Xu hướng điều chỉnh chính sách như lãi suất, tỉ giá được NHNN thống báo trước đến thị trường và được điều chỉnh theo lộ trình để tránh gây sốc cho nền kinh tế Nhờ đó, kì vọng thị trường được kiểm soát khá tốt, lãi suất và tỉ giá diễn biến đúng theo xu hướng dự kiến của NHNN, góp phần giúp NHNN đạt được mục tiêu đề ra
+ Năm 2011 - 2013, kiên định với mục tiêu kiểm soát lạm phát, ổn định kinh tế vĩ
mô, hỗ trợ tăng trưởng kinh tế hợp lý, đồng thời đám bảm an toàn cho hệ thống ngân