1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tổ chức dạy học phần nhiệt học vật lí 10 THPT theo hướng vận dụng kiến thức vật lí vào thực tiễn thông qua bài tập định tính và câu hỏi thực tế

87 11 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 87
Dung lượng 2,5 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy nhiên, xét về mặt tác dụng thì BTĐT và CHTT có những điểm khác biệt: Nếu việc sử dụng BTĐT chú trọng đến việc rèn luyện khả năng phân tích, tổng hợp, suy luận lôgic trong việc giải t

Trang 1

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

-

NGUYỄN THỊ ÁNH VI

TỔ CHỨC DẠY HỌC PHẦN “NHIỆT HỌC” – VẬT LÍ 10 THPT THEO HƯỚNG VẬN DỤNG KIẾN THỨC VẬT LÍ

VÀO THỰC TIỄN THÔNG QUA BÀI TẬP ĐỊNH TÍNH VÀ CÂU HỎI THỰC TẾ

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

Đà Nẵng, năm 2018

Trang 2

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

-

NGUYỄN THỊ ÁNH VI

TỔ CHỨC DẠY HỌC PHẦN “NHIỆT HỌC” – VẬT LÍ 10 THPT THEO HƯỚNG VẬN DỤNG KIẾN THỨC VẬT LÍ

VÀO THỰC TIỄN THÔNG QUA BÀI TẬP ĐỊNH TÍNH VÀ CÂU HỎI THỰC TẾ

Chuyên ngành: Lý luận và PPDH Bộ môn Vật lý

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các số liệu và kết quả nghiên cứu ghi trong luận văn là trung thực, được các đồng tác giả cho phép sử dụng và chưa từng được công bố trong bất kỳ một công trình nào khác

Đà Nẵng, tháng 10 năm 2017

Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Ánh Vi

Trang 4

LỜI CLỜI CẢM ƠN

Tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu, phòng Đào tạo sau Đại học trường Đại học Sư phạm Đà Nẵng, Ban Chủ nhiệm cùng quý thầy cô giáo khoa Vật lí Trường Đại học Sư phạm Đà Nẵng đã trực tiếp tham gia giảng dạy và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập

Đặc biệt, cho tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc nhất đến thầy giáo PGS.TS Lê Công Triêm - người đã tận tình hướng dẫn khoa học cho tôi trong quá trình hình thành và hoàn chỉnh bài luận văn này

Tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu và tập thể quý thầy cô giáo trường PT Dân tộc nội trú tỉnh Quảng Nam đã nhiệt tình giúp đỡ và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình nghiên cứu và thực hiện đề tài

Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn đến gia đình, bạn bè, đã giúp đỡ và động viên tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài

Xin chân thành cảm ơn!

Tác giả

Nguyễn Thị Ánh Vi

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Tổng quan về vấn đề nghiên cứu 2

3 Mục đích nghiên cứu 3

4 Giả thuyết khoa học 3

5 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 4

6 Nhiệm vụ nghiên cứu 4

7 Phương pháp nghiên cứu 4

7.1 Phương pháp nghiên cứu lý thuyết 4

7.2 Phương pháp điều tra 5

7.3 Phương pháp thực nghiệm sư phạm 5

7.4 Phương pháp thống kê toán học 5

8 Những đóng góp của đề tài 5

9 Cấu trúc luận văn 5

CHƯƠNG I 7

CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC TỔ CHỨC DẠY HỌC VẬT LÍ THPT THEO HƯỚNG VẬN DỤNG KIẾN THỨC VẬT LÍ VÀO THỰC TIỄN THÔNG QUA BTĐT VÀ CHTT 7

1.1 Cơ sở lí luận của việc tổ chức dạy học vật lí THPT theo hướng vận dụng kiến thức vật lí vào thực tiễn thông qua BTĐT và CHTT 7

1.1.1 Khái quát về BTĐT và CHTT 7

1.1.1.1 Khái niệm BTĐT và CHTT 7

1.1.1.2 Phân loại BTĐT và CHTT 8

1.1.1.3 Phương pháp giải BTĐT và CHTT 10

1.1.2 Vai trò của BTĐT và CHTT trong việc tổ chức hoạt động nhận thức cho học sinh theo hướng vận dụng kiến thức vật lí vào thực tiễn 15

1.2 Thực trạng về vấn đề sử dụng BTĐT và CHTT trong dạy học vật lí ở các trường THPT hiện nay 17

1.2.1 Thực trạng về vấn đề vận dụng kiến thức vật lí vào thực tế đời sống của HS THPT hiện nay 17

1.2.2 Thực trạng về vấn đề sử dụng BTĐT và CHTT trong dạy học vật lí ở các trường THPT hiện nay 18

Trang 6

1.2.3 Những thuận lợi và khó khăn trong việc sử dụng BTĐT và CHTT 19

1.2.3.1 Những thuận lợi 19

1.2.3.2 Những khó khăn 19

1.2.3.3 Một số nguyên nhân cơ bản 20

1.3 Tổ chức dạy học vật lý THPT theo hướng vận dụng kiến thức vật lí vào thực tiễn thông qua BTĐT và CHTT 21

1.3.1 Tổ chức hoạt động hướng dẫn học sinh học tập theo hướng tích hợp 21

1.3.2 Tổ chức hoạt động hướng dẫn HS thông qua các tình huống giả định bằng các hiện tượng thực tiễn 22

1.4 Biện pháp rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn thông qua BTĐT và CHTT cho HS 22

1.4.1 Hình thành cho HS một hệ thống kiến thức cơ bản vững vàng sâu sắc 22

1.4.2 Rèn luyện cho HS năng lực tư duy logic, khả năng độc lập suy nghĩ 23

1.4.3 Rèn luyện năng lực vận dụng kiến thức vật lí vào thực tiễn thông qua việc hướng dẫn HS tìm các phương pháp giải của một BTĐT và CHTT 24

1.4.4 GV khuyến khích HS lập nhóm học tập, cùng tìm hiểu, nghiên cứu, thảo luận trong việc giải quyết các BTĐT và CHTT, liên hệ các kiến thức đã học vào thực tiễn 25

1.4.5 Lựa chọn được một hệ thống BTĐT và CHTT phù hợp để phát triển năng lực vận dụng kiến thức vào thực tiễn cho HS 25

1.5 Kết luận chương I 26

CHƯƠNG 2 28

NGHIÊN CỨU TỔ CHỨC DẠY HỌC PHẦN NHIỆT HỌC – VẬT LÍ THPT THEO HƯỚNG VẬN DỤNG KIẾN THỨC VẬT LÍ VÀO THỰC TIỄN THÔNG QUA BTĐT VÀ CHTT 28

2.1 Cấu trúc và nội dung của phần “nhiệt học” – Vật lí 10 THPT 28

2.2 Xây dựng hệ thống BTĐT và CHTT phần “nhiệt học” theo hướng vận dụng KTVL vào thực tiễn cho HS 28

2.2.1 Cơ sở xây dựng BTĐT và CHTT phần “Nhiệt học” 28

2.2.2 Hệ thống CHTT và BTĐT phần “Nhiệt học” Vật lí 10 cơ bản 29

2.2.2.1 Chủ đề 1: Chất khí 29

2.2.2.2 Chủ đề 2: Cơ sở của nhiệt động lực học 31

2.2.2.3 Chủ đề 3:Chất rắn và chất lỏng Sự chuyển thể 32

Trang 7

2.3 Thiết kế bài giảng phần “nhiệt học” theo hướng vận dụng KTVL vào thực tiễn

cho HS 39

2.4 Kết luận chương II 50

CHƯƠNG III 51

THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 51

3.1 Mục đích của thực nghiệm sư phạm 51

3.2 Đối tượng và nội dung của thực nghiệm sư phạm 51

3.2.1 Đối tượng thực nghiệm 51

3.2.2 Nội dung thực nghiệm 51

3.3 Phương pháp thực nghiệm 51

3.3.1 Chọn mẫu TNSP 51

3.3.2 Quan sát giờ học 52

3.3.3 Các bài kiểm tra, đánh giá 52

3.4 Kết quả thực nghiệm sư phạm 53

3.4.1 Nhận xét về tiến trình dạy học 53

3.4.2 Đánh giá kết quả thực nghiệm sư phạm 53

3.4.3 Kiểm định giả thuyết thống kê 56

3.5 Kết luận chương III 58

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 59

1 Đánh giá kết quả đạt được 59

2 Hướng phát triển của luận văn 60

3 Một số kiến nghị 60

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 62

PHỤ LỤC 64

Trang 8

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

BTĐT CHTT

DH

ĐC

GV GQVĐ

HS KTVL

PP SGK THPT

TN TNg TNSP

Bài tập định tính Câu hỏi thực tế Dạy học

Đối chứng Giáo viên Giải quyết vấn đề Học sinh

Kiến thức vật lí Phương pháp Sách giáo khoa Trung học phổ thông Thí nghiệm

Thực nghiệm Thực nghiệm sư phạm

Trang 9

TÓM TẮT ĐỀ TÀI BẰNG HAI NGÔN NGỮ TIẾNG VIỆT VÀ TIẾNG ANH

TỔ CHỨC DẠY HỌC PHẦN “NHIỆT HỌC” – VẬT LÍ 10 THPT THEO HƯỚNG VẬN DỤNG KIẾN THỨC VẬT LÍ VÀO THỰC TIỄN THÔNG QUA

BÀI TẬP ĐỊNH TÍNH VÀ CÂU HỎI THỰC TẾ

Ngành: Lí luận và PPDH Bộ môn Vật Lý

Họ tên học viên: Nguyễn Thị Ánh Vi

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS.Lê Công Triêm

Cơ sở đào tạo: Đại học Sư phạm Đà Nẵng

Tóm tắt:

Đây là luận văn nghiên cứu về việc đổi mới phương pháp dạy học, cụ thể là vận dụng kiến thức vật lí vào thực tiễn Mục đích của đề tài là nghiên cứu sử dụng bài tập định tính và câu hỏi thực tế trong dạy học vật lí nhằm tích cực hóa hoạt động nhận thức của HS, nâng cao khả năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn cho HS, qua đó nâng cao hơn nữa chất lượng dạy học vật lí ở trường phổ thông

Tôi đã sử dụng các phương phápnghiên cứu lý thuyết, phương pháp điều tra, phương pháp thực nghiệm sư phạmphương pháp thống kê toán học và kết quả nghiên cứu cho thấy việc vận dụng các biện pháp tăng cường sử dụng BTĐT và CHTT trong dạy học vật lí là hoàn toàn hợp lí, mang lại hiệu quả cao và có thể vận dụng vào quá trình dạy học vật lí ở các trường THPT hiện nay

Từ khóa: (tích cực hóa hoạt động của học sinh; vận dụng kiến thức vật lí vào thực tiễn; nâng cao chất lượng học tập)

Xác nhận của giáo viên hướng dẫn Người thực hiện đề tài

PGS TS Lê Công Triêm Nguyễn Thị Ánh Vi

Trang 10

TEACHING TEACHING OF "THERMOMETER" - HIGHER SECONDARY MATERIALS IN ACCORDANCE WITH THE APPLICATION OF

MATERNAL KNOWLEDGE IN PRACTICE EXPERIMENTAL QUESTIONS AND QUESTIONS

Major: Theory and method of teaching the subject of physics

Full name of Master student: Nguyen Thi Anh Vi

Supervisors: AP.DR.Lê Công Triêm

Training institution: Da Nang University of Education

Abstract:

This thesis carries out an investigation into the innovative teaching methods, particularly in applying the knowledge of physics into reality This is our attempt to use practical exercises and qualitative questions in physics teaching in order to actively promote students' cognitive activities and improve their ability to apply those knowledges for practical purposes, which improves the quality of teaching physics in high schools

To achieve this purpose, this paper chooses the theoretical studies, methods of investigation, methods of experimental pedagogy, mathematical statistical methods approaches throughout the study The results show that the use of reinforcing measures using practical exercies and qualitative questions in teaching physics is perfectly reasonable, highly effective and can be applied to the teaching physics process in the high schools today

Keywords: (Active student activity; apply physical knowledge to practice; improve the quality of learning)

Trang 11

DANH MỤC CÁC HÌNH, BẢNG VÀ ĐỒ THỊ

Trang 12

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Vật lí học là một trong những khoa học cơ bản, nghiên cứu các dạng chuyển động tổng quát của thế giới vật chất Những thông tin mà vật lí học thu thập và hệ thống hóa được rút ra từ quan sát, thực nghiệm hoặc từ những suy luận lý thuyết và được kiểm chứng bằng thực nghiệm Tri thức vật lí có các quy luật phát triển nội tại của nó, nhưng nó luôn luôn hoặc là dựa vào sự đòi hỏi của đời sống nhằm giải quyết một số nhu cầu nào đó hoặc cuối cùng cũng được đưa vào đời sống nhằm thỏa mãn một nhu cầu nào đó Chính vì thế, Vật lí học luôn gắn bó với công nghệ và đời sống

Để học tốt môn Vật lí thì đòi hỏi phải có sự kết hợp chặt chẽ giữa học sinh (HS)

và giáo viên (GV).HS phải ham hiểu biết, có thái độ học tập tốt.Bên cạnh đó GV cần phải có phương pháp dạy học hợp lý nhằm giúp các em không nhàm chán trong việc học tập Do đó phương pháp học tập tác động rất lớn đến việc tiếp thu kiến thức của

HS Mỗi GV có những phương pháp dạy học riêng và phải biết cách thay đổi, kết hợp sao cho phù hợp với nhận thức của HS, tạo điều kiện cho HS có thể củng cố và phát triển năng lực của mình, đáp ứng mục tiêu giáo dục và phát triển con người Việt Nam trong thời kì mới

Một trong những mục tiêu quan trọng của giáo dục phổ thông hiện nay là rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn cho học sinh.Điều đó được khẳng định trong Chiến lược phát triển giáo dục 2001 – 2010, ban hành kèm theo quyết đinh số 201/2001/QĐ/TTg ngày 28/12/2001 của Thủ Tướng Chính phủ: “Thực hiện giáo dục toàn diện về đức, trí, thể mĩ… Xây dựng thái độ học tập đúng đắn, phương pháp học tập chủ động, tích cực, sáng tạo; lòng ham học, ham hiểu biết, năng lực tự học, năng lực vận dụng kiến thức vào đời sống” [ ]

Mục tiêu quan trọng nêu trên cũng được quy định tại điều 28 Luật giáo dục:

“Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, khả năng làm việc theo nhóm; rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn ” [ ]

Trang 13

Tuy nhiên vấn đề đổi mới phương pháp dạy học nói chung và dạy học vật lí nói riêng ở các trường phổ thông hiện nay là một vấn đề mang tính thời sự, cấp bách Đây

là vấn đề không thể giải quyết một sớm một chiều mà cần phải có thời gian, giáo viên cần khắc phục những thói quen về những cách dạy cũ, lạc hậu; luôn nâng cao năng lực chuyên môn, cập nhật thông tin về cách thức đổi mới phương pháp dạy học, có như vậy chúng ta mới có một đội ngũ giáo viên đủ năng lực để đào tạo ra những thế hệ theo kịp với sự phát triển của các nước trong khu vực và trên thế giới Muốn quá trình dạy học đạt hiệu quả cao, giáo viên phải biết kết hợp một cách linh hoạt các phương pháp dạy học, mức độ hiệu quả của phương pháp này hay phương pháp khác và tác động của các phương pháp đó đến tính tích cực tư duy của học sinh như thế nào, suy cho cùng, phụ thuộc vào khả năng sư phạm và nghệ thuật của từng giáo viên

Từ những trải nghiệm của bản thân tôi nhận thấy, một trong những phương pháp dạy học môn vật lí có hiệu quả nhất là kết hợp vật lí vào đời sống.Bởi Vật lí là môn khoa học tự nhiên nên dễ gây nhàm chán cho học sinh Do đó, nếu kết hợp những kiến thức thực tiễn vào môn học sẽ giúp học sinh quan tâm, chú ý, theo dõi, giảm bớt căng thẳng mệt nhọc trong giờ học Như vậy học sinh sẽ dễ tiếp thu vào bài học và học tập tốt hơn Ngoài ra phần “Nhiệt học” Vật lí 10 cơ bản trình bày các kiến thức vật lí

về chất khí, cơ sở của nhiệt động lực học, chất rắn, chất lỏng và sự chuyển thể…Song hầu hết các hiện tượng vật lí trong chương này khó hình dung, khó tiếp cận trực tiếp

Do đó khó khăn trong việc lĩnh hội, vận dụng tri thức vào giải các hiện tượng thực tế

Với những lý do trên, tôi quyết định chọn đề tài nghiên cứu Tổ chức dạy học

phần “Nhiệt học” – Vật lí 10 THPT theo hướng vận dụng kiến thức vật lí vào thực tiễn thông qua bài tập định tính và câu hỏi thực tếđể có thể tìm hiểu sâu hơn

về cách kết hợp thực tiễn đời sống vào bài giảng vật lí một cách hiệu quả nhất

2 Tổng quan về vấn đề nghiên cứu

Từ nhiều nguồn tài liệu khác nhau, thông qua việc khảo sát nội dung chương trình sách giáo khoa Vật lí THPT và tìm hiểu những thông tin khoa học có liên quan đến lĩnh vực nghiên cứu của đề tài, tôi nhận thấy:

Trang 14

- Hầu hết các tác giả biên soạn sách giáo khoa Vật lí ít nhiều đểu đã đưa BTĐT

và CHTT vào nội dung chương trình, song do những hạn chế về khuôn khổ và sự cần thiết phải đảm bảo những yêu cầu khác của sách giáo khoa, nên số lượng BTĐT và CHTT được đề cập chưa nhiều, nội dung và hình thức chưa phong phú, chưa có những định hướng cụ thể để giáo viên sử dụng chúng một cách hiệu quả

tiêu biểu là tác giả: Nguyễn Ngọc Hưng, Nguyễn Đức Thâm, Phạm Xuân Quế, Phạm Hữu Tòng… Tuy nhiên, xuất phát từ những mục đích nghiên cứu khác nhau của các tác giả, nên các tác giả đó cũng chưa đi sâu vào việc thiết kế và BTĐT và CHTT trong dạy học vật lí

vật lí cấp ba” của tác giả M.E Tultrinxki, do Nguyễn Phúc Thuần, Phạm Hồng Tuất biên dịch vào những năm 70 của thế kỉ XX; “Hỏi đáp những hiện tượng vật lí” của Nguyễn Đức Minh và Nguyễn Xuân Khoát; “Bài tập vật lí có nội dung thực tế” của Nguyễn Linh Quý, Bùi Ngọc Quỳnh và Văn An Chiêu; “Bài tập định tính và câu hỏi thực tế” của Nguyễn Dũng, Nguyễn Đức Minh và Ngô Quốc Quýnh … Trong đó, các tác giả đã chú trọng đến việc xây dựng hệ thống BTĐT và cũng chưa đề cập đến những định hướng cụ thể về cách sử dụng loại bài tập này trong tiến trình dạy học vật

HS, qua đó nâng cao hơn nữa chất lượng dạy học vật lí ở trường phổ thông

4 Giả thuyết khoa học

Nếu các giờ học vật lí đều được tiến hành với sự tăng cường sử dụng BTĐT và CHTT thì sẽ tích cực hóa hoạt động nhận thức, nâng cao được khả năng vận dụng kiến

Trang 15

thức vật lí vào thực tiễn cho HS, góp phần nâng cao chất lượng dạy học ở trường THPT

5 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

Do hạn chế về thời gian quy định cho một luận văn, nên đề tài chỉ tập trung nghiên cứu trong phạm vi:

lớp 10 THPT

tỉnh Quảng Nam, Tỉnh Quảng Nam

vào thực tiễn

6 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục đích nghiên cứu, đề tài thực hiện các nhiệm vụ cơ bản sau:

việc nâng cao khả năng vận dụng KTVL vào thực tiễn cho HS

BTĐT và CHTT tương ứng, trên cơ sở đó biên soạn mẫu tài liệu về BTĐT và CHTT phần nhiệt học thuộc chương trình vật lí lớp 10 THPT

sử dụng BTĐT và CHTT trong tổ chức hoạt động nhận thức của HS

7 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện đề tài, tôi đã sử dụng các PP nghiên cứu sau:

7.1 Phương pháp nghiên cứu lý thuyết

Bộ Giáo dục và Đào tạo về đổi mới PP dạy học hiện nay ở cấp THPT

vật lí theo hướng tổ chức hoạt động nhận thức của học sinh

Trang 16

- Nghiên cứu vai trò, cách sử dụng BTĐT và CHTT trong tổ chức hoạt động nhận thức của HS và hiệu quả của nó đối với quá trình dạy

7.2 Phương pháp điều tra

Thăm dò, trao đổi ý kiến với đồng nghiệp và xây dựng mẫu phiếu điều tra đối với HS ở một số trường THPT để nắm bắt thực trạng về các vấn đề

ở trường THPT hiện nay

nay

7.3.Phương pháp thực nghiệm sư phạm

Tiến hành dạy thực nghiệm theo PP chéo ở một số lớp trong một trường THPT

để kiểm tra hiệu quả và tính khả thi của đề tài

7.4.Phương pháp thống kê toán học

Sử dụng phương pháp thống kê mô tả và thống kê kiểm định để trình bày kết quả thực nghiệm sư phạm và kiểm định giả thiết thống kê về sự khác biệt trong các kết quả học tập của hai nhóm đối chứng và thực nghiệm

9 Cấu trúc luận văn

Mở đầu

Nội dung

Chương 1:Cơ sở lí luận và thực tiễncủa việc tổ chức dạy học vật lý THPT theo

hướng vận dụng kiến thức vật lí vào thực tiễn thông qua BTĐT và CHTT

Trang 17

Chương 2:Tổ chức dạy học phần nhiệt học – Vật lí THPT theo hướng vận

dụng kiến thức vật lí vào thực tiễn thông qua BTĐT và CHTT

Chương 3: Thực nghiệm sư phạm

Kết luận

Tài liệu tham khảo

Phụ lục

Trang 18

CHƯƠNG I

CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC TỔ CHỨC DẠY HỌC VẬT LÍ THPT THEO HƯỚNG VẬN DỤNG KIẾN THỨC VẬT LÍ VÀO THỰC TIỄN THÔNG QUA BTĐT VÀ CHTT

1.1 Cơ sở lí luận của việc tổ chức dạy học vật lí THPT theo hướng vận dụng kiến thức vật lí vào thực tiễn thông qua BTĐT và CHTT

1.1.1 Khái quát về BTĐT và CHTT

1.1.1.1 Khái niệm BTĐT và CHTT

BTĐT là những bài tập mà khi giải, HS không cần thực hiện các phép tính phức tạp mà phải sử dụng những phép suy luận lôgic trên cơ sở hiểu rõ bản chất của các khái niệm, định luật vật và nhận biết được những biểu hiện của chúng trong các trường hợp cụ thể Mục tiêu cần đạt được khi giải một bài toán vật lý nói chung là tìm được câu trả lời đúng đắn, giải đáp được vấn đề đặt ra một cách có căn cứ khoa học chặt chẽ

CHTT là một dạng của BTĐT, đó là những câu hỏi có liên quan đến những vấn

đề liên quan đến những vấn đề xảy ra rất gần gũi với đời sống thực tế mà khi trả lời chúng không những vận dụng linh hoạt các khái niệm, quy tắc, định luật vật lý mà còn nắm chắc và vận dụng tốt những hệ quả của chúng Các CHTT chú trọng đến việc chuyển tải kiến thức từ lý thuyết sang những ứng dụng kĩ thuật đơn giản tương ứng, nên về mức độ đối với HS, việc trả lời CHTT có phần khó khăn hơn so với việc giải các BTĐT

Việc tách riêng hai khái niệm BTĐT và CHTT chỉ mang tính chất tương đối bởi lẽ trong hệ thống BTĐT có thể có những câu hỏi có những nội dung liên quan đến thực tế Tuy nhiên, xét về mặt tác dụng thì BTĐT và CHTT có những điểm khác biệt: Nếu việc sử dụng BTĐT chú trọng đến việc rèn luyện khả năng phân tích, tổng hợp, suy luận lôgic trong việc giải thích hay dự đoán các hiện tượng thì việc sử dụng CHTT

sẽ rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức của HS để giải thích các hiện tượng liên quan đến thực tế, qua đó kích thích hứng thú học tập, rèn luyện và phát triển tư duy

Trang 19

1.1.1.2 Phân loại BTĐT và CHTT

- Phân loại BTĐT

Có thể dựa trên những tiêu chí khác nhau để phân loại BTĐT Tuy nhiên việc phân loại BTĐT cũng chỉ mang tính tương đối vì trong bất kì một loại bài tập nào cũng chứa đựng những yếu tố của một loại bài tập khác Ở đây, dựa vào mức độ khó khăn của BTĐT đối với HS, có thể chia làm ba loại: BTĐT đơn giản, BTĐT tổng hợp

Nhận xét: Để trả lời câu hỏi này, HS chỉ cần vận dụng kiến thức về “quán tính”

là đủ

• BTĐT tổng hợp là loại bài tập mà khi giải, HS phải áp dụng một chuỗi các phép suy luận lôgic dựa trên cơ sở của các định luật, quy tắc có liên quan mới có thể giải quyết được

Ví dụ: Có hai dây dẫn cùng chiều, cùng tiết diện: Một bằng đồng, một bằng nhôm Hỏi nếu mắc nối tiếp hai dây dẫn đó với nhau rồi mắc vào hai cực của một nguồn điện không đổi thì khi có dòng điện chạy qua, nhiệt lượng tỏa ra ở hai dây dẫn nào lớn hơn? Giải thích tại sao?

Nhận xét: Để giải đáp câu hỏi trên, HS phải phối hợp nhiều đơn vị kiến thức khác nhau và biết cách xâu chuỗi kiến thức một cách hợp lí, cụ thể là HS phải lần lượt trả lời những câu hỏi định tính ở mức đơn giản như: Nhiệt lượng tỏa ra trên một dây dẫn phụ thuộc vào những yếu tố nào? Khi mắc hai vật dẫn nối tiếp thì cường độ dòng điện

và thời gian dòng điện chạy qua hay dây dẫn có đặc điểm gì? …

• BTĐT sáng tạo là loại bài tập mà khi giải, HS dựa vào vốn kiến thức của mình

về sự hiểu biết các quy tắc, định luật, trên cơ sở các phép suy luận lôgic tự lực tìm ra những phương án tốt nhất để giải quyết yêu cầu của đề bài

Trang 20

Ví dụ: Chỉ với một ca đựng nước, một ít nước xà phòng và một que diêm, hãy thử thiết kế một phương án TN đơn giản để chứng tỏ rằng hệ số căng bề mặt của nước lớn hơn hệ số căng bề mặt của xà phòng

Nhận xét: Để giải được bài tập nêu trên, vấn đề chính không phải những thao tác TN mà rõ rang là HS phải nắm vững khái niệm về hệ số căng bề mặt của chất lỏng

và biết được những biểu hiện cụ thể của nó thông qua cách tính lực căng bề mặt … có như thế HS mới có thể tự lực suy nghĩ và tìm ra phương án hợp lí

- Phân loại CHTT

Với mục đích nghiên cứu sử dụng CHTT cho đối tượng là HS THPT, dựa vào mức độ kiến thức được trang bị, kết hợp với “vốn hiểu biết”, “kinh nghiệm sống” của chính bản thân HS, có thể chia CHTT làm hai loại: CHTT tập dượt và CHTT sáng tạo

• CHTT tập dượt là loại câu hỏi thường đặt ra những ứng dụng kĩ thuật đơn giản (cách làm) thường gặp trong cuộc sống yêu cầu HS nhận diện những kiến thức vật lí nào đã được ứng dụng Khi trả lời các câu hỏi loại này, HS không những cảm nhận được sự gắn kết chặt chẽ giữa kiến thức vật lí với thực tiễn cuộc sống mà còn làm gia tăng vốn kinh nghiệm, rèn luyện tư duy kĩ thuật, kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tế cuộc sống của chính bản thân các em

Ví dụ: Khi chẻ những khúc củi lớn, người ta thường đặt cái nêm (là vật thường làm bằng thép có tiết diện hình tam giác) cắm vào khúc củi như hình 1.5, sau đó lấy búa đập mạnh vào nêm Thực tế cho thấy khi gõ mạnh búa vào nêm thì củi bị chẻ ra dễ dàng hơn so với cách dùng rùi để bổ trực tiếp Hãy giải thích tại sao?

Nhận xét: Câu hỏi nêu ở trên đề bài là một trong những ứng dụng rất phổ biến trong đời sống

Khi trả lời, HS không những hiểu sâu hơn kiến thức mà còn tự rút cho mình những bài học kinh nghiệm, có thể áp dụng ngay trong thực tế đời sống

• CHTT sáng tạo là loại câu hỏi mà khi giải, HS phải dựa vào vốn kiến thức của mình về sự hiểu biết các quy tắc, định luật, trên cơ sở các phép suy luận lôgic tự lực tìm ra những phương án kĩ thuật tốt nhất để giải quyết yêu cầu đặt ra của câu hỏi

Trang 21

Ví dụ: Người ta muốn tháo ra ngoài một cái đinh ốc làm bằng thép đã được vặn rất chặt vào một đai ốc bằng đồng Nếu chỉ dùng cờ lê để vặn thì rất khó khăn Hãy tìm

ra một phương án đơn giản để tháo đinh ốc ra được dễ dàng hơn

Nhận xét: Với kinh nghiệm sống hàng ngày, điều HS thường nghĩ đến trong trường hợp này là cố sức để vặn chiếc đinh ốc ra bằng cờ-lê, nhưng yêu cầu của câu hỏi sẽ đóng vai trò là một “cú hích” làm cho HS phải tìm tòi, tích cực suy nghĩ Tất nhiên, HS sẽ dễ liên tưởng đến kiến thức vật lí hơn là việc trả lời câu hỏi sẽ đơn giản hơn nếu câu hỏi này được sử dụng ngay sau khi học bài “sự nở vì nhiệt của vật rắn”

Bước 1 Tìm hiểu đề

- Đọc kĩ đề bài để tìm hiểu các thuật ngữ chưa biết, xác định ý nghĩa vật lí của

các thuật ngữ, phân biệt ẩn số - dữ kiện, tóm tắt giả thiết và nêu bật câu hỏi chính (cần

xác định cái gì, mục đích cuối cùng là gì?) Trong rất nhiều trường hợp, ngôn ngữ

trong đầu bài không hoàn toàn trùng với ngôn ngữ dùng trong vật lý, cần phải chuyển sang ngôn ngữ vật lí tương ứng để dễ áp dụng các định nghĩa, quy tắc, định luật vật lí

- Trong trường hợp cần thiết phải dùng hình vẽ, sơ đồ, đồ thị… để diễn đạt điều kiện của đề bài, điều này có ý nghĩa quan trọng trong việc nhận biết diễn biến của hiện tượng, mối quan hệ giữa các đại lượng vật lý và làm cho yêu cầu của bài toán rõ ràng, mạch lạc hơn

Trang 22

- Xác định các giai đoạn, diễn biến của hiện tượng nêu trong đề bài, xem mỗi giai đoạn bị chi phối bởi những đặc tính nào, định luật nào Cần phải hình dung rõ toàn

bộ diễn biến của các hiện tượng và định luật chi phối nó trước khi xây dựng bài giải cụ thể Tránh trường hợp mò mẫm máy móc áp dụng kiến thức

Bước 3 Xây dựng lập luận

Trong bước này, ta phải vận dụng KTVL để thiết lập mối quan hệ giữa đại lượng cần tìm, hiện tượng cần giải thích hay dự đoán dữ liệu cụ thể đã cho trong đề bài

BTĐT thường có hai dạng: giải thích hiện tượng và dự đoán hiện tượng sẽ xảy

ra Dạng bài tập giải thích hiện tượng thực chất là cho biết một hiện tượng và lí giải xem vì sao hiện tượng đó lại xảy ra như thế; dạng bài tập dự đoán hiện tượng là quá trình ngược lại, HS phải căn cứ vào những điều kiện cụ thể của đề bài, xác định những định luật chi phối hiện tượng, từ đó dự đoán hiện tượng xảy ra

- Đối với dạng bài tập giải thích hiện tượng, phải thiết lập được mối quan hệ giữa một hiện tượng cụ thể với một số đặc tính của sự vật, hiện tượng hay một số định luật vật lí Ta phải thực hiện phép suy luận lôgic (luận 3 đoạn) trong đó tiên đề thứ nhất là một đặc tính chung của sự vật hoặc định luật vật lí có tính tổng quát, tiên đề thứ hai là những điều kiện cụ thể và tiên đề cuối cùng là hiện tượng nêu ra

- Đối với loại câu hỏi dự đoán hiện tượng, trước hết là phải căn cứ vào những điều kiện cụ thể của đề bài để xác định những định luật chi phối hiện tượng, sau đó dự đoán hiện tượng gì sẽ xảy ra và xảy ra như thế nào Cần lưu ý đến giai đoạn diễn biến của sự vật hiện tượng Đối với các trường hợp có quá trình diễn biến phức tạp, cần phải phân tích rõ các giai đoạn diễn biến của quá trình, phải tìm được mối liên hệ gắn kết giữa các quy tắc, định luật vật lí với mỗi giai đoạn diễn biến tương ứng Cuối cùng,

từ những phân tích về diễn biến của quá trình và việc vận dụng các KTVL liên quan đã tìm được cho phép ta dự đoán hiện tượng xảy ra một cách chính xác

Bước 4 Kiểm tra và biện luận kết quả tìm được

Trong bước này, ta phải phân tích kết quả cuối cùng để xem xét kết quả tìm được có phù hợp với dữ kiện của đề bài không, xem kết quả nào cần chọn, kết quả nào cần loại bỏ Việc thực hiện bước này là một cách để kiểm tra sự đúng đắn của quá

Trang 23

trình lập luận Đôi khi, nhờ sự biện luận này mà HS có thể phát hiện ra sai lầm của mình trong quá trình lập luận do sự vô lý của kết quả Có thể sử dụng các thí nghiệm liên quan để đối chiếu với hiện tượng dự đoán hoặc đối chiếu kết quả tìm được với các quy tắc, định luật vật lí, toán học xem chúng có phù hợp không

Nhận xét: Đây là loại bài tập định tính có yêu cầu dự đoán hiện tượng xảy ra

Tìm hiểu đầu bài ta thấy: Do có giọt thủy ngân nằm ở giữa mà ống thủy tinh

trong mỗi phần là chân không Chi tiết đáng lưu ý trong đầu bài là ngọn nến nung nóng ở đúng vị trí của giọt thủy ngân và các thuật ngữ “nung nóng”, “một chút”

Chỉ riêng việc “nung nóng” đã có thể đó làm ta liên tưởng đến một loạt các hiện tượng vật lý xảy ra như ống thủy tinh và giọt thủy ngân thu nhiệt bị dãn nở; giọt thủy ngân bị bay hơi Trạng thái của hệ (ống thủy tinh và giọt thủy ngân) trước và sau khi

Trang 24

Câu hỏi phụ thứ hai được đặt ra là: Lượng hơi thủy ngân xuất hiện ở hai phần A

và B của ống thủy tinh có gì khác nhau? Dữ kiện của đầu bài cho biết ngọn nến được nung nóng ở đúng vị trí của giọt thủy ngân, điều đó làm lộ ra sự giống nhau về tác động làm bay hơi thủy ngân ở cả hai phía nên có thể kết luận trong cùng một khoảng thời gian ngắn, lượng thủy ngân bay hơi ở hai phía là như nhau

Cuối cùng, căn cứ vào các điều kiện về lượng hơi, thể tích hơi thủy ngân ở hai phần A và B của ống, học sinh dễ dàng liên tưởng đến việc sử dụng kiến thức về các định luật chất khí để suy luận ngay sau khi nung giọt thủy ngân bị bay hơi đồng thời dịch chuyển một chút về phía đầu B của ống

Định hướng trả lời CHTT

• Đối với loại CHTT tập dượt

Có thể giải quyết theo các tiến trình sau:

Bước 1.Tìm hiểu đề bài, nắm vững giả thuyết và yêu cầu của câu hỏi

Đọc kỹ và phân tích câu hỏi để tìm hiểu các thuật ngữ chưa biết, ý nghĩa vật lí của chúng, tên gọi các bộ phận của cấu trúc câu hỏi , quan tâm đến các thao tác nêu

trong câu hỏi (cần làm gì? Làm như thế nào?) Tóm tắt đầy đủ các giả thuyết và hiểu

rõ yêu cầu của câu hỏi (cần giải thích cái gì?) Đối với câu hỏi được thể hiện bằng

hình ảnh, phim minh họa cần quan sát kĩ và khảo sát chi tiết các thông tin minh họa, vẽ hình để diễn đạt những điều kiện để so sánh với các trường hợp riêng

Bước 2.Phân tích hiện tượng và các thao tác kỹ thuật

Nghiên cứu kĩ các dữ kiện ban đầu của câu hỏi như nêu lên hiện tượng, sự kiện

gì, cách làm như thế nào, để nhận biết chúng có thể liên quan đến những khái niệm, quy tắc, định luật vật lý nào Nếu các thao tác kỹ thuật diễn ra theo nhiều giai đoạn, cần xác định đâu là giai đoạn chính, động tác kỹ thuật nào là cơ bản Khảo sát xem mỗi giai đoạn diễn biến đó bị chi phối bởi những quy tắc, định luật vật lý nào trên cơ

sở đó hình dung toàn bộ diễn biến của hiện tượng

Bước 3 Xây dựng lập luận và xác lập câu trả lời

Giải thích về các thao tác kỹ thuật (cách làm), tức là cho biết các thao tác kỹ thuật đó là sự vận dụng của KTVL nào và tại sao phải làm thế Muốn vậy, phải định

Trang 25

hướng và thiết lập được mối quan hệ giữa các đặc tính của sự vật và cách làm cụ thể nêu trong câu hỏi với một số hiện tượng hay định luật vật lí, tức là phải thực hiện được phép suy luận lôgic, trong đó cơ sở kiến thức phải là một đặc tính chung của sự vật hoặc định luật vật lí có tính tổng quát áp dụng vào những điều kiện cụ thể của đề tài

Trong trường hợp hiện tượng xảy ra phức tạp, cần phải phân tích hiện tượng phức tạp ra nhiều hiện tượng đơn giản sao cho mỗi hiện tượng đơn giản chỉ tuân theo một định luật hay một quy tắc nhất định

Bước 4.Kiểm tra tính chính xác của câu trả lời

Sau khi có xác lập được những ý chính cho câu trả lời, cần kiểm tra lại độ chính xác và xem xét những trường hợp cần loại bỏ Chú ý đến các điều kiện áp dụng của các quy tắc, định luật Thông thường, để có thể kiểm tra tính hợp lý của câu trả lời cần đối chiếu phạm vi áp dụng của các quy tắc hay định luật vật lí đã sử dụng với các yếu

tố tác động đến sự kiện được nêu trong câu hỏi xem chúng có tương đồng và có thể chấp nhận được không Trong nhiều trường hợp có thể làm thí nghiệm, mô hình đơn giản để kiểm chứng lời giải thích

• Đối với loại CHTT sáng tạo

Có thể giải quyết theo các tiến trình sau:

Bước 1.Tìm hiểu đề bài, nắm vững giả thuyết và yêu cầu của đề bài

Đọc kĩ câu hỏi để hiểu rõ sự vật, hiện tượng hay sự kiện nêu trong câu hỏi có thể liên quan đến những lĩnh vực nào của vật lý để từ đó có sự “khoanh vùng kiến thức” hợp lý Thông thường, trong bước này ta phải giải quyết các câu hỏi phụ như

(cần làm gì, làm bằng cái gì?)

Bước 2.Phân tích sự kiện và xây dựng các phương án thực hiện

Xuất phát từ những dữ kiện ban đầu để liên tưởng đến các quy tắc hay định luật vật lý tương ứng, từ đó vạch ra một số phương án có thể thực hiện được Đích cuối

cùng của bước này là trả lời được câu hỏi (Có bao nhiêu cách làm? Làm thế nào?)

Bước 3 Lựa chọn phương án và xác lập câu trả lời

Trang 26

Trong các phương án vạch ra, cần phải cân nhắc, sử dụng các phép phân tích, suy luận, so sánh để lựa chọn phương án khả thi nhất Thông thường phải giải thích

được câu hỏi tại sao phải làm thế này? Làm như thế có lợi gì?

Bước 4.Kiểm tra tính khả thi và tính hiệu quả của phương án đã lựa chọn

Để kiểm tra phương án đã lựa chọn có thể dùng các kiến thức liên quan để kiểm tra hoặc tiến hành thí nghiệm Những phương án có thể dùng thí nghiệm để kiểm tra vừa làm tăng thêm lòng tin cho HS,vừa rèn luyện được các thao tác thực hành, thí nghiệm

1.1.2.Vai trò của BTĐT và CHTT trong việc tổ chức hoạt động nhận thức cho học sinh theo hướng vận dụng kiến thức vật lí vào thực tiễn

BTĐT và CHTT với tư cách là một bộ phận của hệ thống bài tập vật lí, nên chúng có đầy đủ vai trò của bài tập vật lí nói chung Ngoài ra xuất phát từ những đặc thù riêng nên có thể thấy BTĐT và CHTT còn có một số vai trò quan trọng khác nữa đặc biệt đối với việc vận dụng kiến thức vào thực tiễn cho HS

Để giải các bài tập thực tiễn HS phải vận dụng những kiến thức lí thuyết vào thực tiễn, điều đó giúp các em củng cố kiến thức một cách thường xuyên, hệ thống hoá được kiến thức, giúp khắc sâu hơn các khái niệm, những quy luật vật lí, những hiện tượng vật lí

Các bài tập thực tiễn cũng có thể sử dụng nghiên cứu kiến thức mới và hình thành tri thức vật lí mới, điều này sẽ giúp mở rộng, nâng cao kiến thức vật lí cho HS Các bài tập thực tế giúp rèn luyện và phát triển cho HS năng lực nhận thức, năng lực phát hiện và giải quyết vấn đề liên quan đến thực tế cuộc sống Rèn luyện và phát triển các kĩ năng thu thập thông tin, vận dụng kiến thức để giải quyết tình huống có vấn đề của thực tiễn một cách linh hoạt, sáng tạo

BTĐT và CHTT giúp HS thêm hiểu biết về thiên nhiên, môi trường sống, về các ngành sản xuất, cung cấp cho HS những số liệu mới về phát minh, những ứng dụng… giúp HS hòa nhập với sự phát triển khoa học kỹ thuật của thời đại, bắt kịp những vấn

đề mang tính thời sự trong nước và quốc tế

Trang 27

Việc vận dụng kiến thức vào giải quyết những vấn đề trong thực tế giúp rèn luyện cho HS tính kiên nhẫn, tự giác, chủ động, chính xác, sáng tạo trong học tập và trong quá trình giải quyết các vấn đề thực tiễn Có thể nói bài tập thực tiễn là một phương tiện rất tốt để khắc phục các nhược điểm mà đa số HS đều mắc phải

BTĐT và CHTT còn là cơ hội để GV đề cập đến những kiến thức mà trong giờ học lý thuyết chưa có điều kiện để đề cập, qua đó bổ sung, mở rộng, nâng cao kiến thức một cách sinh động, phong phú mà không làm nặng nề khối lượng kiến thức của

HS Vì vậy việc thường xuyên giải bài tập thực tiễn sẽ góp phần đáng kể trau dồi kiến thức vật lí cho HS Bài tập có nội dung thực tiễn còn giúp HS bước đầu biết vận dụng kiến thức vật lí để lí giải và cải tạo thực tiễn nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống Thông qua giải quyết các BTĐT và CHTT giúp HS thấy rõ lợi ích của việc học môn vật lí từ đó tạo động cơ học tập tích cực, kích thích trí tò mò, óc quan sát, sự ham hiểu biết, làm tăng hứng thú học môn học và từ đó có thể làm cho HS say mê nghiên cứu khoa học và công nghệ, giúp HS có những định hướng nghề nghiệp tương lai Ngoài ra, vì các bài tập thực tiễn gắn liền với đời sống của chính bản thân HS, của gia đình, của địa phương và với môi trường xung quanh nên càng góp phần tăng động cơ học tập của HS, học tập để nâng cao chất lượng cuộc sống của bản thân và của cộng đồng Với những kết quả ban đầu của việc vận dụng kiến thức để giải quyết các vấn đề thực tiễn HS thêm tự tin vào bản thân mình để tiếp tục học hỏi, tiếp tục phấn đấu và phát triển

Như vậy BTĐT và CHTT được coi như là một nhiệm vụ học tập cần giải quyết, giúp HS tìm tòi, nghiên cứu đi sâu vận dụng kiến thức vật lí một cách sáng tạo từ đó giúp HS biến những kiến thức đã tiếp thu được qua bài giảng thành kiến thức của chính mình Kiến thức sẽ nhớ lâu khi được vận dụng thường xuyên như M.A Đanilôp nhận định: "Kiến thức sẽ được nắm vững thực sự, nếu HS có thể vận dụng thành thạo chúng vào việc hoàn thành những bài tập lý thuyết và thực hành”

Do vậy việc khai thác và sử dụng BTĐT và CHTT trong quá trình dạy học và kiểm tra đánh giá là vấn đề cần được GV quan tâm

Trang 28

1.2 Thực trạng về vấn đề sử dụng BTĐT và CHTT trong dạy học vật líở các trường THPT hiện nay

Tôi đã tiến hành tìm hiểu thực trạng về vấn đề sử dụng BTĐT và CHTT trong dạy học vật lí ở các trường THPT thông qua các công trình nghiên cứu của nhiều nhà nghiên cứu giáo dục và tôi cũng đã tiến hành khảo sát vấn đề này tại trường PT Dân tộc nội trú tỉnh Quảng Nam qua phiếu điều tra học sinh và kết quả cho thấy:

1.2.1 Thực trạng về vấn đề vận dụng kiến thức vật lí vào thực tế đời sống của

HS THPT hiện nay

Trong chương trình Vật lí THPT bao gồm nhiều phần như cơ học, nhiệt học, quang học…Trong mỗi phần lại bao gồm một khối lượng tri thức đồ sộ, đặc biệt là có rất nhiều kiến thức liên quan đến thực tế Việc áp dụng kiến thức đã học vào thực tế giúp HS củng cố kiến thức, rèn luyện kỹ năng, kỹ xảo, hiểu rõ vai trò ý nghĩa thực tế của môn học Tuy nhiên, thực tế hiện nay cho thấy phần lớn HS chưa chú trọng rèn luyện các thao tác tư duy, còn học theo lối truyền thống nên hiệu quả học tập chưa đạt như mong muốn, còn nhiều hạn chế như:

kỹ năng thực hành chưa được thông thạo HS thường chỉ biết trên lý thuyết thông qua

hình vẽ, cách làm của GV, chưa thường xuyên tiếp xúc trực tiếp với chúng nên thường cảm thấy xa lạ và khó khăn khi sử dụng Việc thiếu dụng cụ thực hành, thí nghiệm cũng là một nguyên nhân dẫn đến thực trạng trên

HS hầu như “dửng dưng” trước một hiện tượng vật lí mà mình hay bắt gặp

chế Thực tế cho thấy, khi HS giải thích hiện tượngthường chỉ đưa ra câu trả lời cuối

cùng theo cảm tính mà “dấu” đi phần lập luận cần thiết

không có nhiều Do khối lượng kiến thức HS phải tiếp nhận trong một tiết học rất lớn

nên HS không có thời gian dành cho việc giải thích hay vận dụng kiến thức vào thực

tế Ngoài giờ học, HS cũng thường tập trung thời gian cho các lĩnh vực khác nên việc vận dụng KTVL vào thực tế ngoài giờ cũng không có nhiều

Trang 29

Tôi cũng đã tìm hiểu vấn đề này với nhiều đồng nghiệp ở một số địa bàn khác, hầu như họ cũng nhận định như vậy, thậm chí nhiều GV giảng dạy ở khu vực miền núi cho biết thực trạng trên còn có thể xấu hơn, nhất là GV dạy ở những trường đồng bào dân tộc thiểu số

1.2.2 Thực trạng về vấn đề sử dụng BTĐT và CHTT trong dạy học vật lí ở các trường THPT hiện nay

Phần lớn GV chưa có ý đồ tìm hiểu, khai thác BTĐT và CHTT vào mục đích dạy học vật lí Thông qua sách báo, tạp chí, internet, họ có thể bắt gặp những hiện tượng vật lí, những vấn đề hay tình huống, hiện tượng vật lí thú vị nhưng lại không đưa chúng vào trong quá trình dạy học Đa số GV chưa tổ chức tốt PPDH tích cực, phần lớn số tiết trên lớp dạy học theo lối truyền thống Do đó, chưa phát huy được tính tích cực cho HS trong giờ học, chưa tạo được cho HS nhiều cơ hội vận dụng KTVL vào giải thích các hiện tượng thực tế GV chỉ thực hiện đổi mới PPDH trong một số tiết thao giảng, thanh tra, kiểm tra,

Việc sử dụng thí nghiệm của GV trong quá trình dạy học còn hạn chế, nhiều

GV ở một số trường còn không biết sử dụng thí nghiệm, hoặc chưa bao giờ đưa thí nghiệm vào trong dạy học trên lớp Do đó, cơ hội để HS làm quen,sử dụng, rèn luyện

kĩ năng thực hành rất hiếm Việc hạn chế sử dụng thí nghiệm của GV trong khi dạy học còn làm cho việc tìm hiểu một số kiến thức trong chương trình vật lí phổ thông trở nên khó khăn, mơ hồ

Đa số GV chỉ chú trọng đến việc sử dụng bài tập tính toán mà rất ít sử dụng BTĐT và CHTTvào quá trình dạy học Một trong những nguyên nhân của thực trạng trên là do thời gian lên lớp hạn chế, việc giải bài tập tính toán thường không “mất sức”

và dễ “mắc sai lầm” như việc giải BTĐT và CHTT

Phần lớn trong các kỳ kiểm tra, thi cử đều không sử dụng hoặc sử dụng chưa đúng mức BTĐT và CHTT, chưa yêu cầu cao về kỹ năng thực hành

Trang 30

1.2.3 Những thuận lợi và khó khăn trong việc sử dụng BTĐT và CHTT

1.2.3.1 Những thuận lợi

Sự quan tâm, đầu tư của các cấp chính quyền và toàn xã hội cho sự nghiệp giáo dục tạo điều kiện về mọi mặt cho việc đổi mới phương pháp dạy học theo hướng tăng cường khả năng vận dụng KTVL vào thực tiễn của HS

“Chiến lược phát triển giáo dục 2011-2020” đã xác định đổi mới phương pháp dạy học là khâu đột phá quan trọng trong tiến trình đổi mới giáo dục phổ thông Vì thế, hiện nay nhiều trường THPT đã được đầu tư, trang bị khá đầy đủ về cơ sở vật chất, trang thiết bị, đảm bảo cho GV có thể tổ chức các hoạt động dạy học theo hướng tích cực Việc cải tiến nội dung, chương trình, SGK; việc đổi mới hình thức kiểm tra, đánh giá vừa là điều kiện vừa là yêu cầu đòi hỏi GV phải thay đổi cách dạy, cách kiểm tra, đánh giá cho phù hợp

Sự đa dạng của các nguồn bài tập tham khảo giúp GV dễ dàng chọn lựa hệ thống BTĐT và CHTT phù hợp với quá trình dạy vận dụng KTVL vào thực tiễn cho

1.2.3.2 Những khó khăn

Ngoài những thuận lợi cơ bản như trên, khi sử dụng BTĐT và CHTT theo hướng tăng cường khả năng vận KTVL cho HS ở các trường THPT hiện nay còn gặp phải những khó khăn nhất định Theo tôi có một số khó khăn chủ yếu như sau:

Một là, việc sử dụng BTĐT và CHTT theo hướng tăng cường khả năng vận

KTVL cho HS đòi hỏi GV phải tốn nhiều thời gian và công sức để sưu tầm và tuyển

Trang 31

chọn hệ thống bài tập phù hợp với các hình thức dạy học Trong khi đó, thực tế ở nhiều trường, GV ngoài giờ dạy chính khóa còn phải dạy phụ đạo, bồi dưỡng, kiêm nhiệm các công việc khác.Vì thế, GV không còn đủ thời gian và công sức để sưu tầm các bài tập có chất lượng và sử dụng chúng có hiệu quả trong quá trình dạy học vật lí

Hai là, để BTĐT và CHTT hấp dẫn, lôi cuốn HS tham gia vào các hoạt động

nhận thức trong giờ học do GV tổ chức thì hình thức thể hiện nó phải đa dạng, phong phú Ngoài các hình thức thể hiện thông thường GV cần tăng cường sử dụng các hình ảnh, đoạn phim video clip để truyền tải những yêu cầu đặt ra đối với HS, nghĩa là phải tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin vào dạy học Điều này đòi hỏi cơ sở vật chất nhà trường phải đảm bảo, GV phải sử dụng thành thạo máy vi tính và các phần mềm

hỗ trợ Tuy nhiên, thực tế thì nhiều trường không đáp ứng được điều kiện về cơ sở vật chất cho dạy và học; khả năng sử dụng máy vi tính của phần lớn GV còn nhiều hạn chế, do đó việc sử dụng BTĐT và CHTT vào quá trình dạy học của GV còn khá đơn

điệu, thiếu tính trực quan, không đủ sức hấp dẫn HS nên hiệu quả giờ học chưa cao

Ba là, mặc dù đã có những chuyển biến tích cực nhưng áp lực thi cử và bệnh

thành tích vẫn còn phổ biến trong xã hội Điều này ảnh hưởng đến quá trình dạy học của GV cũng như công tác kiểm tra, đánh giá HS Phần lớn GV không muốn HS lớp mình đạt điểm thấp, muốn vậy trong quỹ thời gian hạn hẹp, GV chỉ chú trọng dạy “tủ” những nội dung có thể thi để HS đạt điểm cao chứ không muốn dạy những nội dung cần tính sáng tạo, tính thực tế Hệ thống bài tập vì thế trở nên khô khan, nghèo nàn, nhất là các bài tập suy luận, diễn dịch hầu như ít được chú trọng

1.2.3.3 Một số nguyên nhân cơ bản

Những thực trạng, thuận lợi và khó khăn đã nêu trên đã ảnh hưởng đến chất lượng dạy học vật lí và cần phải được khắc phục.Muốn vậy trước hết cần phải xác định các nguyên nhân dẫn đến thực trạng trên Theo tôi, có một số nguyên nhân sau:

Thứ nhất, việc đổi mới PPDH đang được các trường THPT quan tâm và tiến

hành trong những năm gần đây song nhìn chung vẫn chưa đạt hiệu quả cao Các biện pháp tích cực hóa hoạt động nhận thức của HS chưa được chú trọng

Thứ hai, thời gian của một tiết học hạn chế đến việc truyền tải nội dung kiến

thức có trong bài học Thực tế cho thấy, với 45 phút của một tiết học, GV dành thời

Trang 32

gian cho việc tổ chức các hoạt động nhận thức cho HS không nhiều Với khoảng thời này, GV phải đảm bảo cho HS một lượng không nhỏ kiến thức nên khó cho HS tổ chức thảo luận, liên hệ kiến thức vừa lĩnh hội với thực tế đời sống

Thứ ba, sự đầu tư về thời gian và công sức cho việc dạy học của GV chưa cao,

chưa tập trung GV ngoài việc dạy học còn làm nhiều công việc khác Trong khi đó,giải BTĐT và CHTT thường mất thời gian của giờ lên lớp và việc chấm BTĐT và CHTT cũng mất nhiều thời gian Một số GV vẫn còn hạn chế về trình độ chuyên môn,

kỹ thuật, sử dụng phương tiện trực quan

Thứ tư, việc kiểm tra đánh giá trong dạy học hiện nay chưa thật hợp lí Các

BTĐT và CHTT hầu như ít sử dụng trong nội dung bài kiểm tra, trong khi các bài tập định lượng và câu hỏi lí thuyết lại được sử dụng nhiều

1.3 Tổ chức dạy học vật lý THPT theo hướng vận dụng kiến thức vật lí vào thực tiễn thông qua BTĐT và CHTT

Giáo dục không chỉ truyền đạt cho HS mà còn phải giúp HS vận dụng kiến thức khoa học vào cuộc sống, vừa mang tính giáo dục, vừa mang tính giáo dưỡng nhưng cao hơn là giáo dưỡng hướng thiện khoa học Do đó trong quá trình tổ chức dạy học, giáo viên cần lựa chọn những phương pháp dạy học một cách khoa học và hợp lí nhằm tạo điều kiện cho các em có thể vận dụng được kiến thức vật lí đã học vào thực tiễn đời sống để có thể phát huy hết năng lực của mình

Vận dụng BTĐT và CHTT trong dạy học vật lí sẽ tạo hứng thú, khơi dậy niềm đam mê, HS sẽ hiểu được vai trò của vật lí đối với thực tiễn Để thực hiện được, GV cần nghiên cứu kĩ bài giảng, xác định được các kiến thức trọng tâm, tìm hiểu, tham khảo các vấn đề thực tế liên quan phù hợp với từng HS ở thành thị, nông thôn từ đó lựa chọn phương pháp tổ chức dạy học hợp lý

1.3.1 Tổ chức hoạt động hướng dẫn học sinh học tập theo hướng tích hợp

Khi dạy kiến thức vật lí trong bất kì lĩnh vực nào: Chuyển động cơ học, các lực

cơ học, công cơ học, năng lượng … đều liên quan đến các hiện tượng vật lí hay nhiều hiện tượng thiên nhiên nên khi sử dụng những câu hỏi mở rộng theo hướng tích hợp làm cho HS chủ động tìm tòi câu trả lời, đồng thời thấy được mối liên hệ giữa các môn học với nhau

Trang 33

Ví dụ: Tại sao càng lên cao thì không khí càng loãng?

tập trung chủ yếu ở gần mặt đất

1.3.2 Tổ chức hoạt động hướng dẫn HS thông qua các tình huống giả định bằng các hiện tượng thực tiễn

Trong quá trình dạy học nếu giáo viên luôn sử dụng một kiểu dạy sẽ làm cho

HS nhàm chán Giáo viên có thể lồng ghép nhiều phương pháp vào nhau, trong đó hình thức đưa ra các tính huống giả định để HS tranh luận vừa phát huy tính chủ động sáng tạo cho HS, vừa tạo môi trường thỏa mái để các em trao đổi và từ đó giúp các em thêm yêu thích môn học hơn HS sẽ thấy hứng thú và dễ ghi nhớ hơn nếu trong quá trình dạy và học giáo viên luôn có định hướng liên hệ giữa các kiến thức SGK với thực tiễn đời sống hằng ngày

Ví dụ: Tại sao viên bi thép lại có thể nảy lên khi rơi xuống sàn lót gạch nhưng lại nằm yên khi rơi xuống cát?

Trả lời: Va chạm giữa hòn bi và sàn nhà mang đặc tính biến dạng đàn hồi nên sinh ra lực đàn hồi và làm cho viên bi nảy lên Còn va chạm giữa viên bi và cát là va chạm mềm mang đặc tính không đàn hồi nên không có lực đàn hồi xuất hiện nên viên

bi không thể nảy lên được

1.4 Biện pháp rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn thông qua BTĐT và CHTT cho HS

Để rèn luyện và phát triển năng lực vận dụng kiến thức vào thực tiễn thông qua BTĐT và CHTT cho HS nên sử dụng một số biện pháp sau:

1.4.1 Hình thành cho HS một hệ thống kiến thức cơ bản vững vàng sâu sắc

Muốn giải được các BTĐT và CHTT thì điều quan trọng đầu tiên đối với HS là cần phải nắm được các khái niệm, quy tắc, công thức, định lý, quy luật vật lí Do đó

để góp phần giúp cho HS rèn luyện và phát triển năng lực vận dụng kiến thức vào thực tiễn người GV cần giúp cho HS nắm vững các kiến thức cơ bản Trước khi dạy học tiết học mới, cũng như vận dụng kiến thức cuối mỗi bài học GV cần yêu cầu HS ôn lại các kiến thức; hoặc GV cũng cố lại các kiến thức liên quan đã được học để HS nắm

Trang 34

chắc được nội dung kiến thức đó Đặc biệt GV cần hệ thống lại những kiến thức mà

HS cần phải nắm được trong từng chương thông qua tiết ôn tập chương.Vì khi nắm được các kiến thức cơ bản thì HS mới có thể phát hiện ra được vấn đề cần giải quyết trong các bài toán thực tiễn và giải quyết chúng một cách chính xác và nhanh nhất

Ví dụ: Để giải quyết được yêu cầu bài toán đề ra “Khi gánh hai vật có khối lượng khác nhau thì ta phải đặt gánh lên vai như thế nào? ” Đây là một bài toán có nội dung thực tế, ngoài khả năng quan sát thực tiễn thì HS cần có kiến thức về điều kiện cân bằng của vật rắn chịu tác dụng của ba lực song song

1.4.2 Rèn luyện cho HS năng lực tư duy logic, khả năng độc lập suy nghĩ

Trong quá trình giải quyết các tình huống cụ thể do các BTĐT và CHTT đặt ra,

HS cần phải sử dụng các thao tác tư duy như phân tích, so sánh, đối chiếu, trừu tượng hóa, cụ thể hóa, tổng hợp, khái quát hóa để giải quyết vấn đề

Ví dụ: Khi giải bài tập sau “Trong các chất sau: nước sạch, rượu, thủy ngân Chất nào có thể rót cao hơn miệng cốc thủy tinh sạch?” Khi tiến hành các bước giải bài tập trên HS sẽ sử dụng các thao tác tư duy sau: Phân tích đề bài tìm ra dữ liệu đề bài cho (các chất: nước sạch, rượu, thủy ngân, thủy tinh sạch; bề mặt chất lỏng cao hơn miệng cốc) và vấn đề mà đề bài hỏi (chất lỏng nào rót cao hơn miệng cốc) So sánh giữa các chất đã cho có nh ững đặc điểm gì giống nhau, và khác nhau Trừu tượng hóa

và đối chiếu với câu hỏi đề bài để giữ lại những đặc tính của sự vật chi phối hiện tượng đang khảo sát (rượu và nước dính ướt thủy tinh, thủy ngân không dính ướt thủy tinh), loại bỏ những đặc tính khác (chẳng hạn các chất như rượu, nước, thủy ngân đều có thể tích xác định, hình dạng không xác định, cốc thủy tinh có thể tích và hình dạng xác định…) Tổng hợp các dữ liệu đề bài cho và các dữ liệu đã tìm được để trả lời câu hỏi.Như vậy, song song với quá trình vận dụng kiến thức để giải quyết các vấn đề thực tiễn trong các các BTĐT và CHTT thì các thao tác tư duy cần được sử dụng đan xen,

hỗ trợ lẫn nhau Do đó rèn luyện cho HS các thao tác tư duy cũng là một biện pháp giúp HS tụ tin, linh hoạt hơn trong việc vận dụng các kiến thức vào thực tiễn

Trang 35

1.4.3 Rèn luyện năng lực vận dụng kiến thức vật lí vào thực tiễn thông qua việc hướng dẫn HS tìm các phương pháp giải của một BTĐT và CHTT

Hướng dẫn HS tự mình tìm ra cách giải một bài tập vật lí là một cách rất hữu ích trong việc rèn luyện kĩ năng, kĩ xảo; rèn luyện thói quen vận dụng kiến thức khái quát đã thu nhận đuợc để giải quyết các vấn đề của thực tiễn Đồng thời dựa vào mức

độ giải quyết các yêu cầu mà bài toán đặt ra, GV có thể đánh giá được mức độ nắm vững kiến thức của HS

Khai thác mọi khả năng gợi động cơ, hứng thú từ các BTĐT và CHTT: Trong dạy học bộ môn Vật lí để HS tiếp thu tốt các kiến thức rất cần đến sự liên hệ các kiến thức vật lí khô khan với những tình huống, những vấn đề thực tế Những BTĐT và CHTT vừa có tác dụng rèn luyện năng lực vận dụng kiến thức thực tiễn vừa giúp HS tích cực hơn trong học tập để lĩnh hội kiến thức Trong quá trình dạy học, gợi động cơ

là một trong những khâu quan trọng nhằm kích thích hứng thú học tập của HS, làm cho việc học trở nên tự giác, tích cực, chủ động; Theo tác giả Nguyễn Bá Kim, có ba cách gợi động cơ chính là gợi động cơ mở đầu, gợi động cơ trung gian, gợi động cơ kết thúc Việc khai thác các BTĐT và CHTT trước khi trình bày kiến thức đó cũng là một cách gợi động cơ mở đầu xuất phát từ các tình huống thực tế, rõ ràng đây là một cách gợi động cơ hấp dẫn, lôi cuốn HS, tạo điều kiện để các em thực hiện tốt các hoạt động tiếp nhận tri thức trong quá trình học tập

Ví dụ:Trước khi phần kiến thức cân bằng của một vật có mặt chân đế” có thể gợi động cơ mở đầu bằng một trong các CHTT sau: Động tác dang rộng tay và chân của các diễn viên xiếc trong tiết mục trên có tác dụng gì? Tại sao chân bàn, chân ghế, cái thang thường nghiêng ra ngoài? Tại sao những chiếc đèn bàn thường có đế nặng? Quan sát các võ sĩ khi thi đấu thì thấy họ thường ở tư thế hơi khụy gối xuống và dang rộng chân hơn so với mức bình thường? Tư thế này có tác dụng gì? Đây là các tình huống rất gần gũi mà HS thường gặp hằng ngày, HS có thể đưa ra câu trả lời nhưng do hạn chế kiến thức, những câu trả lời đó có thể chưa chính xác và tạo nhu cầu hình thành, mở rộng kiến thức, tạo động cơ giải quyết vấn đề Sau khi học xong nội dung kiến thức đó, GV có thể quay lại bài toán ban đầu, HS sẽ thấy thú vị khi được vận

Trang 36

dụng các kiến thức đang được học vào vấn đề thực tế mà các em có thể quan sát hằng ngày và đây cũng là dịp để GV có thể cũng cố, vận dụng kiến thức cho HS

1.4.4 GV khuyến khích HS lập nhóm học tập, cùng tìm hiểu, nghiên cứu, thảo luận trong việc giải quyết các BTĐT và CHTT, liên hệ các kiến thức đã học vào thực tiễn

Giải quyết các bài toán có nội dung thực tiễn thông qua hoạt động nhóm giúp

HS có cơ hội trình bày quan điểm của mình, được nghe quan điểm của bạn khác trong nhóm, trong lớp; được trao đổi, bàn luận về các ý kiến khác nhau và đưa ra lời giải tối

ưu cho bài toán Qua cách học đó, kiến thức của HS sẽ bớt phần chủ quan, phiến diện, làm tăng tính khách quan khoa học, tư duy phê phán của HS được rèn luyện và phát triển Các thành viên trong nhóm chia sẻ các suy nghĩ, băn khoăn, kinh nghiệm, hiểu biết của bản thân, cùng nhau xây dựng nhận thức, thái độ mới và học hỏi lẫn nhau Kiến thức nhờ thế mà trở nên sâu sắc, bền vững, dễ nhớ và nhớ nhanh hơn do được giao lưu, học hỏi giữa các thành viên trong nhóm, được tham gia trao đổi, trình bày vấn đề nêu ra HS hào hứng khi có sự đóng góp của mình vào thành công chung Nhờ không khí thảo luận cởi mở nên HS, đặc biệt là những em nhút nhát, trở nên bạo dạn hơn; các em học được trình bày ý kiến của mình, biết lắng nghe có phê phán ý kiến của bạn; từ đó, giúp HS có cơ hội quý báu vận dụng các kiến thức đã được học để giải quyết các vấn đề đặt ra, HS cũng dễ hòa nhập vào cộng đồng nhóm, tạo cho các em sự

tự tin, hứng thú trong học tập và sinh hoạt

Khi rèn luyện năng lực vận dụng kiến thức thực tiễncho HS trong tổ chức các giờ học luyện tập GV có thể chia một lớp chia thành các nhóm nhỏ thường khoảng 4 -

6 HS.Trong khoảng thời gian giới hạn, mỗi nhóm tự lực hoàn thành các nhiệm vụ học tập trên cơ sở phân công và hợp tác làm việc.Kết quả làm việc của nhóm sau đó được trình bày và đánh giá trước toàn lớp

1.4.5 Lựa chọn được một hệ thống BTĐT và CHTT phù hợp để phát triển năng lựcvận dụng kiến thức vào thực tiễn cho HS

Sử dụng các vận dụng kiến thức vào thực tiễn một cách hợp lí về cả bài tập và mức độ bài tập trong mỗi giai đoạn của tiến trình dạy học giúp phát triển năng lực vận dụng kiến thức vào thực tiễn cho HS, ví dụ như:

Trang 37

- Giai đoạn nêu các sự kiện mở đầu: nên chọn là những sự kiện xảy ra trong thực tế, gần gũi với đời sống, có liên hệ chặt chẽ với nhau và với kiến thức muốn đề cập đến trong tiết học, có thể mô tả được một cách ngắn gọn, xúc tích sao cho HS dễ dàng và nhanh chóng nhận ra sự mâu thuẫn giữa sự kiện với những hiểu biết sẵn có

- Giai đoạn làm bộc lộ quan niệm có sẵn của HS: sử dụng các BTĐT và CHTT gần gũi với đời sống một cách khéo léo, dẫn dắt HS sao cho các em mạnh dạn lí giải theo “kinh nghiệm” của mình, đồng thời luôn tỏ rõ sự quan tâm, khuyến khích HS ngay cả khi những lí giải đó là sai với kiến thức vật lí

- Giai đoạn xây dựng mô hình, giả thuyết: Việc sử dụng BTĐT và CHTT có tính chất hỗ trợ ban đầu vì việc xây dựng mô hình, giả thuyết cần đến cả những dự đoán định lượng Từ những bài tập thực tế GV sử dụng các câu hỏi gợi ý cho HS dự đoán về những nguyên nhân chính, những mối quan hệ chính chi phối hiện tượng Các bài tập dùng trong trường hợp này cần đảm bảo các yêu cầu sau: Nội dung phải là một phần hay một mắt xích quan trọng của hiện tượng đã nêu ra trong sự kiện mở đầu Nếu bài tập phức tạp bản thân HS không thể tự giải quyết thì GV cần đưa ra các câu hỏi định hướng có tính lôgic theo trình tự diễn biến của hiện tượng đã nêu ra trong sự kiện mở đầu Các câu hỏi định hướng phải có nội dung ngắn, số lượng câu hỏi không quá nhiều (khoảng 3 đến 4 câu hỏi là thích hợp nhất), tránh trường hợp do phải trả lời nhiều câu hỏi mà sau khi trả lời xong từng câu hỏi, HS không nhớ hết và không tự tổng hợp các câu trả lời để đưa ra những dự đoán định tính được)

- Giai đoạn củng cố và vận dụng tri thức : Trong giai đoạn củng cố, vận dụng kiến thức, việc sử dụng các BTĐT và CHTT là biện pháp mang lại hiệu quả cao nhất Việc dùng BTĐT và CHTT củng cố, vận dụng kiến thức sẽ giúp HS dễ dàng hơn trong việc phát hiện những kiến thức vật lý phù hợp để giải quyết các vấn đề trong thực tiễn.BTĐT và CHTT đưa ra lúc này cũng nên đơn giản nhưng gần gũi với cuộc sống của người học

1.5 Kết luận chươngI

Trong chương này, tôi đã tập trung nghiên cứu một cách có hệ thống những cơ

sở lí luận về vấn đề liên quan đến việc tổ chức dạy học vât lí theo hướng vận dụng kiến thức vật lí vào thực tiễn thông qua BTĐT và CHTT, cụ thể như sau:

Trang 38

Nghiên cứu về vai trò của BTĐT và CHTT trong việc vận dụng kiến thức vật lí vào thực tiễn nhằm thấy được tầm quan trọng của BTĐT và CHTT đối với quá trình nhận thức kiến thức vật lí của HS

Nghiên cứu về thực trạng dạy học ở trường phổ thông hiện nay cho thấy việc sử dụng BTĐT và CHTT trong dạy học còn rất hạn chế, chưa được coi trọng và việc học của HS còn nặng về tính thi cử, chưa liên hệ với thực tiễn; kĩ năng thực hành thí nghiệm và giải thích các hiện tượng còn yếu kém nên việc đổi mới phương pháp dạy học là hết sức cần thiết

Nghiên cứu sử dụng BTĐT và CHTT như thế nào trong từng tiết học, nghiên cứu cách tổ chức dạy học vật lí THPT theo hướng vận dụng kiến thức vật lí vào thực tiễn thông qua BTĐT và CHTT và các biện pháp giúp HS rèn luyện và phát triển năng lực vận dụng kiến thức vào thực tiễn thông qua BTĐT và CHTT để mang lại hiệu quả học tập tốt nhất

Trên cơ sở đótôi thấy việc vận dụng KTVL vào thực tiễn cho HS ở trường THPT là hết sức cần thiết, nhất là việc sử dụng BTĐT và CHTT trong quá trình dạy học để góp phần nâng cao hiệu quả dạy học.Việc sử dụng BTĐT và CHTT hợp lí và

có mục đích chắc chắn sẽ mang lại hiệu quả cao trong việc phát triển tư duy khoa học cho HS

Trang 39

CHƯƠNG 2 NGHIÊN CỨU TỔ CHỨC DẠY HỌC PHẦN NHIỆT

HỌC – VẬT LÍ THPT THEO HƯỚNG VẬN DỤNG

KIẾN THỨC VẬT LÍ VÀO THỰC TIỄN THÔNG

QUA BTĐT VÀ CHTT 2.1 Cấu trúc và nội dung của phần “nhiệt học” – Vật lí 10 THPT

Phần “ Nhiệt học” là một trong những phần chính của chương trình vật lí ở THPT, thuộc phần 2 trong chương trình Vật lí 10 Theo phân phối chương trình vật lí

10 cơ bản gồm 66 tiết kể cả lý thuyết và bài tập, trong đó phần “Nhiệt học” chiếm 21 trên tổng số 66 tiết của chương trình (tức là 31,8%), gồm 3 chương :

2.2 Xây dựng hệ thống BTĐT và CHTT phần “nhiệt học” theo hướng vận dụng KTVL vào thực tiễn cho HS

2.2.1 Cơ sở xây dựng BTĐT và CHTTphần “Nhiệt học”

Để hệ thống BTĐT và CHTT được xây dựng có thể đáp ứng yêu cầu của đề tài, tôi căn cứ vào những cơ sở sau:

học cụ thể

tế

Trang 40

- Các bài tập được xây dựng thể hiện tính trực quan cao

Các bài tập góp phần hoàn chỉnh kiến thức cho HS như kiến thức về các tính chất, mối quan hệ quy luật của sự vật hiện tượng vật lí, kiến thức về phương pháp nhận thức khoa học, kiến thức về các ứng dụng vật lí

2.2.2 Hệ thống CHTT và BTĐT phần “Nhiệt học” Vật lí 10 cơ bản

2.2.2.1 Chủ đề 1: Chất khí

Câu 1: Khi nung nóng một bình chứa khí thì các phân tử khí chuyển động như

thế nào? Tại sao?

Gợi ý:Khi nung nóng một bình chứa khí thì các phân tử khí chuyển động hỗn độn

nhanh hơn.Vì lực tương tác giữa các phân tử trong chất khí rất yếu Khi nung nóng, các phân tử chất khí nhận được nhiệt năng chuyển thành động năng của chúng nên sẽ

chuyển động nhanh hơn

Câu 2: Khi nung nóng một thỏi sắt thì các nguyên tử có chuyển động hỗn độn

hay không ? Tại sao?

Gợi ý: Khi nung nóng một thỏi sắt thì các nguyên tử không chuyển động hỗn

độn mà chúng dao động nhanh hơn xung quanh các vị trí cân bằng xác định

Vì trong chất rắn, lực tương tác giữa các nguyên tử rất mạnh nên chúng không chuyển động tự do được mà chỉ có thể dao động quanh các vị trí cân bằng xác định

Câu 3: Vì sao nói nói chất lỏng có hình dạng của phần bình chứa nó?

Gợi ý:Chất lỏng có hình dạng của phần bình chứa nó vì lực tương tác giữa các

phân tử trong chất lỏng chưa đủ lớn để giữ các phân tử ở những vị trí cân bằng xác định như trong chất rắn, nhưng lực tương tác này vẫn giữ được các phân tử ở các vị trí cân bằng dịch chuyển và không cho chúng chuyển động ra xa nhau vì vậy chất lỏng có

tính chảy lỏng thành dòng và không có hình dạng riêng

Câu 4: Vì sao khi pha nước chanh người ta thường làm cho đường tan trước rồi

mới cho nước đá lạnh vào?

Gợi ý:Theo thuyết động học phân tử thì khi nhiệt độ càng cao thì các phân tử

chuyển động càng nhanh và ngược lại Nhiệt độ trong ly nước khi chưa cho đá lạnh vào cao hơn nhiệt độ lúc có đá nên các phân tử chuyển động nhiệt nhanh hơn làm đường

Ngày đăng: 27/06/2021, 12:01

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1] Lương Duyên Bình (Tổng chủ biên) (2013),Vật lí 11, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vật lí 11
Tác giả: Lương Duyên Bình (Tổng chủ biên)
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2013
[2] Bộ Giáo dục và Đào tạo (2001), Chiến lược phát triển Giáo dục 2001-2010, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chiến lược phát triển Giáo dục 2001-2010
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Năm: 2001
[3] Bộ Giáo dục và Đào tạo (2008), Dự thảo chiến lược phát triển Giáo dục 2009- 2020, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dự thảo chiến lược phát triển Giáo dục 2009-2020
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Năm: 2008
[4] Bộ Giáo dục và Đào tạo (2013), Hội thảo một số vấn đề chung về xây dựng chương trình giáo dục phổ thống sau 2015 (Tài liệu lưu hành nội bộ), Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hội thảo một số vấn đề chung về xây dựng chương trình giáo dục phổ thống sau 2015
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Năm: 2013
[5] Côvaliov A. G. (1971), Tâm lí học cá nhân, Tập 2, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lí học cá nhân
Tác giả: Côvaliov A. G
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1971
[6] Đảng Cộng Sản Việt Nam (1996), Văn kiện Hội nghị lần thứ 2 Ban chấp hành trung ương Đảng Cộng Sản Việt Nam khóa VIII, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị lần thứ 2 Ban chấp hành trung ương Đảng Cộng Sản Việt Nam khóa VIII
Tác giả: Đảng Cộng Sản Việt Nam
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
Năm: 1996
[7] Phạm Minh Hạc (1992), Một số vấn đề tâm lí học, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề tâm lí học
Tác giả: Phạm Minh Hạc
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1992
[8] Phạm Minh Hạc (1997), Tâm lý học Vư-Gốt-ski, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lý học Vư-Gốt-ski
Tác giả: Phạm Minh Hạc
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1997
[9] Pêtrôpxki A. V (1982),Tâm lí học lứa tuổi và tâm lí học sư phạm, tập 1,NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lí học lứa tuổi và tâm lí học sư phạm
Tác giả: Pêtrôpxki A. V
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1982
[10] Roegiers Xavier (1996), Khoa Sư phạm tích hợp hay làm thế nào để phát triển các năng lực ở nhà trường (Người dịch: Đào Trọng Quang, Nguyễn Ngọc Nhị), NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khoa Sư phạm tích hợp hay làm thế nào để phát triển các năng lực ở nhà trường
Tác giả: Roegiers Xavier
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1996
[11] Nguyễn Ngọc Quang (1986), Lý luận dạy học đại cương, tập 1, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận dạy học đại cương
Tác giả: Nguyễn Ngọc Quang
Năm: 1986
[13] Lê Công Triêm (2005), Sử dụng máy vi tính trong dạy học Vật lí, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sử dụng máy vi tính trong dạy học Vật lí
Tác giả: Lê Công Triêm
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2005
[14] Mai Văn Trinh (2001), “Nâng cao hiệu quả dạy học Vật lí ở trường trung học phổ thông nhờ việc sử dụng máy tính và các phương tiện dạy học hiện đại”, Luận án Tiến sĩ Giáo dục học, trường Đại học Vinh Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Nâng cao hiệu quả dạy học Vật lí ở trường trung học phổ thông nhờ việc sử dụng máy tính và các phương tiện dạy học hiện đại”
Tác giả: Mai Văn Trinh
Năm: 2001
[15] Phạm Kim Chung (2006), Bài giảng phương pháp dạy học vật lí ở trường phổ thông, NXB Đại học Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài giảng phương pháp dạy học vật lí ở trường phổ thông
Tác giả: Phạm Kim Chung
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia
Năm: 2006
[16] Lê Nguyên Long, Nguyễn Khắc Mão (2003), Vật lí, công nghệ, đời sống tập 1, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vật lí, công nghệ, đời sống tập 1
Tác giả: Lê Nguyên Long, Nguyễn Khắc Mão
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2003
[17] Nguyễn Đức Thâm, Nguyễn Ngọc Hưng, Phạm Xuân Quế (2003), Phươngpháp dạy học vật lý ở trường phổ thông, NXB Đại học Sư phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phươngpháp dạy học vật lý ở trường phổ thông
Tác giả: Nguyễn Đức Thâm, Nguyễn Ngọc Hưng, Phạm Xuân Quế
Nhà XB: NXB Đại học Sư phạm
Năm: 2003
[18] NguyễnThanh Hải (2006), Nghiên cứu và sử dụng bài tập định tính và câuhỏi thực tế trong dạy học vật lí ở trường THPT, Luận văn thạc sĩ GDH, Trường ĐHSPHuế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu và sử dụng bài tập định tính và câuhỏi thực tế trong dạy học vật lí ở trường THPT
Tác giả: NguyễnThanh Hải
Năm: 2006
[19] Lê Văn Giáo, Lê Công Triêm, Lê Thúc Tuấn (2005), Một số vấn đề về phương pháp dạy học vật lí ở trường phổ thông, NXB Giáo dục, HàNội.II. Webside Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề về phương pháp dạy học vật lí ở trường phổ thông
Tác giả: Lê Văn Giáo, Lê Công Triêm, Lê Thúc Tuấn
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2005
[20] Bộ Giáo dục và Đào tạo (2011), “Chỉ thị về nhiệm vụ trọng tâm của giáo dục mầm non, giáo dục thường xuyên và giáo dục chuyên nghiệp”, Thuvienphapluat.vn, 13/02/2013 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chỉ thị về nhiệm vụ trọng tâm của giáo dục mầm non, giáo dục thường xuyên và giáo dục chuyên nghiệp”, "Thuvienphapluat.vn
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Năm: 2011
[21] Bộ Tư pháp (2005), “Luật giáo dục”, Moj.gov.vn , 29/05/2013 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật giáo dục”, "Moj.gov.vn
Tác giả: Bộ Tư pháp
Năm: 2005

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w