1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Phát triển năng lực học sinh thông qua hệ thống câu hỏi thực tế khi dạy học chương động lực học chất điểm vật lí 10

29 75 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 29
Dung lượng 809,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bản thân thấy rõ tầm quan trọng của việc dạy và học môn Vật lí trongtrường phổ thông, đồng thời muốn phát huy cao hơn nữa hiệu quả trong giảngdạy theo tinh thần đổi mới sách giáo kho

Trang 1

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HOÁ

TRƯỜNG THPT YÊN ĐỊNH 3

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC HỌC SINH QUA HỆ THỐNG CÂU HỎI THỰC TẾ KHI DẠY HỌC CHƯƠNG ĐỘNG LỰC HỌC CHẤT ĐIỂM VẬT LÍ 10

Người thực hiện: Lê Thị Quế

Chức vụ: Giáo viên Đơn vị công tác: Trường THPT Yên Định 3 SKKN thuộc môn: Vật lí

THANH HOÁ NĂM 2020

Trang 2

QUY ƯỚC CÁC TỪ VIẾT TẮT

Trang 3

2.2 Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm 32.3 Các giải pháp và hình thức tổ chức thực hiện 42.4 Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm 19

Trang 4

I PHẦN MỞ ĐẦU

1.1 Lý do chọn đề tài

Môn Vật lí là môn học rất quan trọng trong trường THPT Vật lí trang bị vàbước đầu hoàn chỉnh những kiến thức khoa học, kiến thức thực tiễn Học sinhđược rèn luyện về phẩm chất đạo đức, được phát triển tư duy và mở rộng tầmnhìn hiểu biết khoa học của mình Học Vật lí là để hiểu, để giải thích được cácvấn đề về tự nhiên và đời sống thông qua các thuyết, các định luật chi phối cácquy luật của tự nhiên

Môn Vật lí trong trường phổ thông là một trong những môn học khó, nếukhông có những bài giảng và phương pháp hợp lý phù hợp với thế hệ học trò dễlàm cho học sinh thụ động không phát huy được năng lực cá nhân

Đổi mới phương pháp dạy học hiện nay đang trở thành nhu cầu tất yếu củangành giáo dục Việt Nam nhằm hướng tới mục tiêu nâng cao chất lượng dạy vàhọc Đó là: Học để biết, học để làm, học để chung sống, học để tự khẳng địnhmình Tự đổi mới cũng là con đường đưa giáo dục Việt Nam hòa nhập với nềngiáo dục hiện đại toàn cầu, tiến kịp nền giáo dục tiên tiến của các quốc gia trênthế giới Một trong những phương pháp đổi mới đem lại hiệu quả khá cao trongnhà trường hiện nay đó là phương pháp tích hợp Phương pháp tích hợp chophép GV có thể vừa dạy kiến thức, vừa dạy kỹ năng sống, vừa dạy cách làmngười, giúp HS chiếm lĩnh tri thức và hình thành được nhiều kỹ năng Dạy họctích hợp các kiến thức thực tế làm cho bài học, đặc biệt là các bài học môn Vật lítrở nên sinh động hơn giúp HS hứng thú hơn, từ đó việc học sẽ nhẹ nhàng và đạthiệu quả cao

Bản thân thấy rõ tầm quan trọng của việc dạy và học môn Vật lí trongtrường phổ thông, đồng thời muốn phát huy cao hơn nữa hiệu quả trong giảngdạy theo tinh thần đổi mới sách giáo khoa giúp HS tiết kiệm thời gian học tập

mà vẫn mang lại hiệu quả nhận thức, có thể tránh được những biểu hiện cô lập,tách rời từng phương diện kiến thức, đồng thời phát triển năng lực, tư duy biệnchứng, khả năng thông hiểu và vận dụng kiến thức linh hoạt vào giải quyết cácvấn đề thực tiễn Là một GV trực tiếp giảng dạy, trong quá trình thực hiệnchương trình môn Vật lí, tôi thấy rõ tính ưu việt của phương pháp dạy học tíchhợp kiến thức thực tế thể hiện qua thái độ, niềm say mê, sự hứng thú, kết quảtiếp nhận của HS trong từng bài học

GV nên là người hướng dẫn học sinh chủ động trong quá trình lĩnh hội trithức Vật lí, gắn Vật lí với thực tiễn cuộc sống nếu không cứ gặp các câu hỏi vậndụng thực tế là HS bế tắc

Từ những lí do trên tôi mạnh dạn thực hiện đề tài: “Phát triển năng lực học sinh thông qua hệ thống câu hỏi thực tế khi dạy học chương Động lực học chất điểm Vật lí 10”.

1.1. Mục đích nghiên cứu

- Giúp HS nâng cao hứng thú học tập môn Vật lí và phát triển năng lực

Trang 5

- Giúp HS vận dụng kiến thức đã học để giải quyết các tình huống trongthực tiễn.

- Góp phần nâng cao chất lượng dạy học môn Vật lí

1.2 Đối tượng nghiên cứu

- Quá trình dạy HS các lớp 10B3, 10B5, 10B7 tại trường THPT Yên Định 3năm học 2019-2020

- Lí thuyết về dạy học tích hợp, kĩ thuật tổ chức hoạt động học nhằm pháttriển năng lực HS

- Thiết kế bài học Vật lí 10 theo phương pháp tích hợp

1.3 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp quan sát (Thông qua dự giờ)

- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm

- Phương pháp nghiên cứu tài liệu

- Phương pháp phân tích – tổng hợp, thống kê, đối chiếu, so sánh

- Phương pháp thực nghiệm sư phạm

1.1 Cơ sở lí luận

1.1.1 Câu hỏi thực tế

- Thực tế là trạng thái của những điều thực sự tồn tại xảy ra một cách tựnhiên của các sự vật, hiện tượng Điều gì có thì thực sự là có, cái vốn dĩ xuấthiện trong tương lai có thể không tồn tại hay điều hiển nhiên nảy sinh mà cótrong tâm trí Trong một định nghĩa rộng hơn, thực tế bao gồm tất cả những gì

có và đã được trên cả mức thực tế tồn tại trong tâm trí con người, dù điều đó là

có thể quan sát hay có thể hiểu bằng các giác quan tổng thể Một định nghĩa cònrộng hơn bao gồm tất cả mọi thứ đã tồn tại, tồn tại, hoặc sẽ tồn tại

- Câu hỏi thực tế là câu hỏi liên quan đến các sự vật, hiện tượng xảy ratrong đời sống hằng ngày Câu hỏi thực tế giúp chúng ta kết nối giữa kiến thứcsách vở và hiện tượng tự nhiên

1.1.2 Năng lực

Theo định nghĩa đến từ những nhà tâm lý học, năng lực là tổng hợp các đặcđiểm và thuộc tính tâm lý cá nhân, phù hợp với những yêu cầu đặc trưng củamột hoạt động nhất định nhằm đảm bảo hoạt động đó đạt hiệu quả cao Năng lựcđược hình thành trên cơ sở các tư chất tự nhiên của cá nhân Tuy nhiên điều nàykhông có nghĩa năng lực hoàn toàn có sẵn trong mỗi con người, nó phải trải quaquá trình công tác, rèn luyện thường xuyên mà có được

Năng lực là yếu tố riêng tạo nên sự khác biệt của mỗi người Năng lực là sựkết hợp hài hòa giữa kiến thức, kỹ năng và hành vi thái độ của một người Người

có năng lực tốt sẽ có nhiều mối quan hệ xã hội hơn, cơ hội việc làm được mởrộng hơn

1.1.3 Quan điểm tích hợp trong dạy học Vật lí ở nhà trường phổ thông

Thiết kế bài học môn Vật lí theo quan điểm tích hợp không chỉ chú trọngnội dung kiến thức tích hợp mà cần thiết phải xây dựng một hệ thống việc làm,

Trang 6

thao tác tương ứng nhằm tổ chức, dẫn dắt HS từng bước thực hiện để chiếm lĩnhđối tượng học tập, nội dung môn học, đồng thời hình thành và phát triển nănglực, kĩ năng tích hợp, tránh áp đặt một cách làm duy nhất Giờ học Vật lí theoquan điểm tích hợp phải là một giờ học HĐ phức hợp đòi hỏi sự tích hợp các kĩnăng, năng lực liên môn để giải quyết nội dung tích hợp, chứ không phải sự tácđộng các hoạt động, kĩ năng riêng rẽ lên một nội dung riêng rẽ thuộc “nội bộphân môn”.

Ngày nay nhiều lí thuyết hiện đại về quá trình học tập đã nhấn mạnh rằnghoạt động của HS trước hết là học cách học Theo ý nghĩa đó, quan điểm dạyhọc tích hợp đòi hỏi GV phải có cách dạy chú trọng phát triển ở HS cách thứclĩnh hội kiến thức và năng lực, phải dạy cho HS cách thức hành động để hìnhthành kiến thức và kĩ năng cho chính mình, phải có cách dạy buộc HS phải tựđọc, tự học để hình thành thói quen tự đọc, tự học suốt đời, coi đó là một hoạtđộng xuyên suốt quá trình học tập ở nhà trường

Quan điểm dạy học tích hợp hay dạy cách học, dạy tự đọc, tự học khôngcoi nhẹ việc cung cấp tri thức cho HS Vấn đề là phải xử lí đúng đắn mối quanhệ giữa bồi dưỡng kiến thức, rèn luyện kĩ năng và hình thành, phát triển nănglực cho HS Đây thực chất là biến quá trình truyền thụ tri thức thành quá trình

HS tự chiếm lĩnh tri thức, hình thành kĩ năng Muốn vậy, không chỉ cần khắcphục khuynh hướng dạy tri thức hàn lâm thuần tuý, mà còn cần khắc phụckhuynh hướng rèn luyện kĩ năng theo lối kinh nghiệm chủ nghĩa, ít có khả năng

sử dụng giải quyết những tình huống thực tiễn

1.2 Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm

Môn Vật lí trong trường phổ thông là một trong những môn học khó, nếukhông có những bài giảng và phương pháp hợp lý phù hợp với thế hệ HS dễlàm cho HS thụ động trong việc tiếp thu, cảm nhận Đã có hiện tượng một số

bộ phận HS không muốn học Vật lí, ngày càng lạnh nhạt với giá trị thực tiễncủa Vật lí Nguyên nhân có liên quan tới một số giải pháp cũ sau đây:

Thứ nhất, do chương trình hiện nay vẫn còn quá nặng về mặt kiến thức.

Trong một tiết học, với nội dung kiến thức tương đối nhiều, GV cố gắng đểchuyển tải kiến thức cho HS, nên thời gian để liên hệ thực tế hoặc mở rộng, thựchiện các thí nghiệm, nâng cao kiến thức cho các em là rất hạn chế Các em tiếpthu kiến thức thụ động, máy móc dẫn đến kết quả không phát huy được năng củabản thân

Thứ hai, do đội ngũ các thầy cô giáo Hiện nay vẫn còn nhiều GV chưa

quan tâm đúng mức đối tượng giáo dục: Chưa đặt ra cho mình nhiệm vụ vàtrách nhiệm nghiên cứu, hiện tượng dùng đồng loạt cùng một cách dạy, một bàigiảng cho nhiều lớp, nhiều thế hệ học trò là không ít Do phương pháp ít có tiến

bộ mà người GV đã trở thành người cảm nhận, truyền thụ tri thức một chiều

GV dạy Vật lí mà xa rời kiến thức thực tế trong khi đó Vật lí lại là môn học gắnliền với thực nghiệm và thực tế Một số GV bước chân vào lớp cầm viên phấnviết ngay đề bài và cứ thế “độc diễn” tới cuối giờ học, không quan tâm tới phải

Trang 7

đặt vấn đề vào bài và gắn các ứng dụng thực tế vào bài học cho sinh động vàtăng hứng thú, hấp dẫn HS Nhiều GV sợ mất thời gian, ngại phải chuẩn bị,…

mà khi thiết bị thí nghiệm trong phòng học bộ môn có mà không dùng cho bàigiảng làm cho các em HS không hiểu rõ được hiện tượng thực tế, không quansát được hiện tượng, không được trực tiếp tiến hành thí nghiệm nên học sinhkém hứng thú, ghi nhớ bài học máy móc, nhanh quên kiến thức và vận dụngkiến thức vào thực tiễn rất yếu kém Bên cạnh đó, một số GV Vật lí còn dạyVật lí như dạy môn Toán vậy, tức là chỉ quan tâm tới công thức và cho HS ápdụng công thức tính ra đáp số trong khi đó phần lớn các bài tập Vật lí phải phântích rõ, hiểu đúng hiện tượng, đổi đúng đơn vị sau cùng mới chọn công thức đểtính toán và cuối cùng biện luận kết quả Các bài giảng Vật lí có thể tự tạo thínghiệm hoặc có thí nghiệm sẵn có trong phòng thí nghiệm, rồi gắn với hiệntượng thực tế để giảng dạy khoa học và hứng thú nhưng thực tế số đông các

GV Vật lí lại không chịu tìm tòi, đào sâu hoặc ngại mất thời gian công sức nênchỉ dạy “chay”, truyền đạt kiến thức một cách đơn điệu tẻ nhạt

Thứ ba là do cách ra đề kiểm tra đánh giá HS lại ra theo một lối mòn đã

rất cũ là hỏi lí thuyết học thuộc từ sách giáo khoa, bài tập dùng để kiểm trađánh giá phần lớn chỉ áp dụng công thức để tính toán đơn thuần, đề kiểm trachưa gắn liền kiến thức với thực tiễn và thí nghiệm thực hành điều đó cũng làmcho các em HS cũng học theo xu hướng ra đề của GV Các đề kiểm tra, thi học

kỳ, thi thử THPT Quốc gia, thi THPT Quốc gia còn rất ít vận dụng kiến thứcthực tế làm GV dạy và HS học theo xu hướng ra đề thi

GV nên là người hướng dẫn HS chủ động trong quá trình lĩnh hội tri thứcVật lí, gắn Vật lí với thực tiễn cuộc sống, mang những kiến thức đã học vậndụng vào đời sống nếu không cứ gặp các câu hỏi vận dụng thực tế là HS bế tắc

1.3 CÁC GIẢI PHÁP VÀ HÌNH THỨC TỔ CHỨC THỰC HIỆN:

1.3.1 CÁC GIẢI PHÁP

Mục tiêu của giải pháp là tạo hứng thú, khơi dậy niềm đam mê, kích thích

sự tìm tòi sáng tạo; HS hiểu được vai trò và ý nghĩa thực tiễn trong học Vật lí,giúp HS phát triển năng lực cá nhân trở thành con người phát triển toàn diện

Để thực hiện được, thì có hai yếu tố quan trọng nhất phải thay đổi:

Thứ nhất, phải thay đổi phương pháp dạy của GV, phải có tư duy đổi mới gắn kiến thức Vật lí với thực tế, người GV cần nghiên cứu kỹ bài giảng,

xác định được kiến thức trọng tâm, tìm hiểu, tham khảo các vấn đề thực tế liênquan phù hợp với từng HS ở thành thị, nông thôn …; đôi lúc cần quan tâm đếntính cách sở thích của đối tượng tiếp thu, hình thành giáo án theo hướng pháthuy tính tích cực chủ động của HS, phải mang tính hợp lý và hài hoà; đôi lúc

có khôi hài nhưng sâu sắc, vẫn đảm nhiệm được mục đích học môn Vật lí

- Tổ chức hoạt động hướng dẫn HS học tập theo hướng tích hợp.

Khi dạy kiến thức Vật lí trong bất kì lĩnh vực nào: chuyển động cơ học,các lực cơ học, công cơ học, năng lượng… đều liên quan đến các hiện tượngVật lí hay nhiều hiện tượng thiên nhiên nên khi sử dụng những câu hỏi mở

Trang 8

rộng theo hướng tích hợp làm cho HS chủ động tìm tòi câu trả lời, đồng thờithấy được mối liên quan giữa các môn học với nhau.

- Tổ chức hoạt động hướng dẫn HS cách thiết lập sự liên hệ các nội dung học với thực tiễn.

HS sẽ thấy hứng thú và dễ ghi nhớ hơn nếu trong quá trình dạy và học GVluôn có định hướng liên hệ giữa kiến thức sách giáo khoa với thực tiễn đờisống hằng ngày

- Tổ chức hoạt động hướng dẫn HS thông qua các tình huống giả định bằng các hiện tượng thực tiễn.

Trong quá trình dạy học nếu GV luôn sử dụng một kiểu dạy sẽ làm cho

HS nhàm chán GV có thể áp dụng nhiều phương pháp lồng ghép vào nhau,trong đó hình thức đưa ra các tình huống giả định để HS tranh luận vừa pháthuy tính chủ động sáng tạo cho HS, vừa tạo môi trường thoải mái để các emtrao đổi từ đó giúp HS thêm yêu thích môn học hơn

Thứ hai, phải tích cực đổi mới cách ra đề kiểm tra đánh giá HS theo định hướng đề có lồng ghép kiến thức thực tế làm cho HS phải thay đổi phương pháp học cho phù hợp.

Trong điều kiện hiện nay, khi khoa học kỹ thuật của nhân loại phát triểnnhư vũ bão, nền kinh tế trí thức có tính toàn cầu thì nhiệm vụ của ngành giáodục vô cùng to lớn: Giáo dục không chỉ truyền đạt kiến thức cho HS mà cònphải giúp HS vận dụng kiến thức khoa học vào cuộc sống, vừa mang tính giáodục, vừa mang tính thực tiễn Giáo dục phải đào tạo ra những con người cótâm, có tầm nhìn, có kiến thức sâu rộng và biết vận dụng kiến thức trau dồi,tích lũy được vào thực tiễn cuộc sống

Trước tình hình học Vật lí phải đổi mới phương pháp dạy học đã và đangthực sự là yếu tố quyết định hiệu quả giờ dạy Một trong những yếu tố để đạtgiờ dạy có hiệu quả và tiến bộ là phải phát huy tính thực tế, giáo dục về môitrường, về tư tưởng vừa mang bản sắc dân tộc mà không mất đi tính cộng đồngtrên toàn thế giới, những vấn đề cũ nhưng không cũ mà vẫn có tính chất cậpnhật và mới mẽ, đảm bảo: Tính khoa học – hiện đại, cơ bản; tính thực tiễn vàgiáo dục kỹ thuật tổng hợp; tính hệ thống sư phạm

Tuy nhiên mỗi tiết học có thể không nhất thiết phải hội tụ tất cả nhữngquan điểm nêu trên, cần phải nghiên cứu kỹ lưỡng, đừng quá lạm dụng khilượng kiến thức không đồng nhất

1.3.2 HÌNH THỨC TỔ CHỨC THỰC HIỆN

Khi dạy kiến thức Vật lí trong bất kì lĩnh vực nào: chuyển động cơ học,các lực cơ học, công cơ học, năng lượng… đều liên quan đến các hiện tượngVật lí hay nhiều hiện tượng thiên nhiên nên khi sử dụng những câu hỏi mởrộng theo hướng tích hợp làm cho HS chủ động tìm tòi câu trả lời, đồng thờithấy được mối liên quan giữa các môn học với nhau

Ví dụ: Tại sao rễ cây hút được chất dinh dưỡng và nước trong đất?

Trang 9

Trả lời: Rễ cây cắm sâu vào lòng đất đóng vai trò như một ống mao dẫn, nước và chất dinh dưỡng sẽ tự dâng lên qua rễ vào nuôi cây.

CÁC HÌNH THỨC TỔ CHỨC THỰC HIỆN:

1.3.2.1 Tổ chức hoạt động học theo hướng nhằm phát triển năng lực HS:

Để phát triển năng lực của HS trong giờ học Vật lí, cần đổi mới mạnh mẽ

mô hình tổ chức DH trong việc thiết kế bài học từ phía GV Trong thiết kế, GVphải cho thấy rõ các HĐ của HS chiếm vị trí chủ yếu trong tiến trình tổ chức

DH Bằng việc vận dụng thuyết kiến tạo vào DH, các bài học trong sách hướngdẫn HS được thiết kế theo định hướng hình thành và phát triển năng lực của HS

theo tiến trình của hoạt động học, với các bước: HĐ khởi động – HĐ hình thành kiến thức – HĐ luyện tập, vận dụng - HĐ tìm tòi mở rộng Mục đích,

nội dung và cách thức tiến hành của mỗi bước như sau:

Hoạt động khởi động.

Hoạt động khởi động được tổ chức khi bắt đầu một bài học

Mục đích của hoạt động này là tạo tâm thế học tập cho HS, giúp các em ý

thức được nhiệm vụ học tập, hứng thú với bài học mới

Vì vậy các câu hỏi, hay nhiệm vụ trong HĐ khởi động là những câu hỏihay vấn đề mở, chưa cần HS phải có câu trả lời hoàn chỉnh

Kết thúc HĐ này, GV không chốt về kiến thức mà chỉ giúp HS phát biểuđược vấn đề để chuyển sang các HĐ tiếp theo nhằm tiếp cận, hình thành nhữngkiến thức, kĩ năng mới, qua đó tiếp tục hoàn thiện câu trả lời hoặc giải quyếtđược vấn đề

Tuy nhiên, những câu hỏi thực tế dùng cho phần khởi động phải đảm bảođược các yêu cầu:

- Chúng có liên hệ chặt chẽ với nhau và với kiến thức muốn đề cập đếntrong tiết học

- Chúng có thể mô tả được một cách ngắn gọn, xúc tích sao cho HS dễdàng và nhanh chóng nhận ra sự mâu thuẫn giữa thực tế với những hiểu biết sẵncó

Ví dụ: Bài lực ma sát:

GV chiếu hình ảnh : Đây là hiện tượng gì ? Vì sao lại có vệt sáng dài phía sau?

Hoạt động hình thành kiến thức

Trang 10

Mục đích của HĐ này giúp HS tự chiếm lĩnh kiến thức, kĩ năng mới và bổ

sung vào hệ thống kiến thức, kỹ năng của mình thông qua hệ thống các bài tậpnhiệm vụ như: Nghiên cứu tài liệu, tiến hành thí nghiệm, thực hành, …

Ở HĐ này, GV chuyển giao nhiệm vụ cho HS, để HS hoạt động, thành thụcthao tác, tránh cảm giác nhàm chán Trong quá trình hình thành tri thức mới, HSphải thực hiện các nhiệm vụ học tập Đó là GV giao – HS nhận và thực hiện cácnhiệm vụ học tập; làm việc với tư liệu học tập; tạo ra sản phẩm, báo cáo kết quả;phản biện, bổ sung lẫn nhau; GV chốt kiến thức hoặc định hướng tiếp nhận Trongbước này, mỗi nhiệm vụ học tập đều phải rõ ràng để HS biết mình phải làm gì, làmnhư thế nào, sử dụng tư liệu học tập nào, sản phẩm là gì và báo cáo dưới hình thứcnào Với mỗi nhiệm vụ học tập, GV phải lường trước tình huống có thể xảy ra,quan sát và hỗ trợ HS khi cần thiết

Ví dụ: Lực ma sát phụ thuộc vào yếu tố nào?

Hoạt động luyện tập, vận dụng

Mục đích của hoạt động này là giúp HS củng cố, hoàn thiện kiến thức, kĩ

năng vừa lĩnh hội được

Ở HĐ này HS vận dụng những kiến thức, kĩ năng vừa học được để giảiquyết nhiệm vụ học tập tương tự Các nhiệm vụ học tập được sắp xếp theo cấp

độ từ dễ đến khó Thông qua đó, GV củng cố khắc sâu kiến thức, kĩ năng cho

HS Tùy đối tượng HS, GV có thể giao những nhiệm vụ đảm bảo vừa sức giúp

HS thuần thục kĩ năng, hiểu sâu hơn về những tri thức vừa chiếm lĩnh Mặt kháccũng cần thiết kế những bài tập nâng cao nhằm phát huy năng lực sáng tạo của

HS và chuẩn bị cho các bước tiếp theo của bài học

Ví dụ: Giải thích hiện tượng khi đế giày dép đi lâu ngày bị mòn chúng ta

rất dễ bị trượt ngã?

Hoạt động tìm tòi mở rộng

Mục đích là giúp HS không ngừng tiến tới, không bao giờ dừng lại với

những gì đã học và hiểu rằng ngoài những kiến thức được học trong nhà trườngcòn rất nhiều điều có thể và cần phải tiếp tục học

GV cần khuyến khích HS tiếp tục tìm tòi và mở rộng kiến thức ngoài sách

vở, ngoài lớp học HS tự đặt ra các tình huống có vấn đề nảy sinh từ bài học, từthực tiễn cuộc sống, vận dụng các kiến thức, kĩ năng đã học để giải quyết bằngnhững cách khác nhau

Ví dụ: Trả lời lại câu hỏi mở ở phần khởi động về hiện tượng sao chổi Nguyên nhân gây ra hiện tượng trên là do lực ma sát giữa thiên thạch và không khí làm cho lớp không khí bị nóng sáng và cháy tạo thành vệt sáng dài.

1.3.1.1 Lồng ghép tích hợp môi trường trong bài dạy

Vấn đề môi trường luôn được nhắc đến hằng ngày như: khói bụi của nhà,nước thải của sinh hoạt, ô nhiễm phóng xạ,…có liên quan gì đến sự thay đổicủa thời tiết hay không Tùy vào thực trạng của từng địa phương mà ta lấy ví dụsao cho gần gũi, đồng thời giáo dục cho các em có ý thức bảo vệ môi trường, tiếtkiệm năng lượng và tài nguyên của đất nước Nội dung này nên được ưu tiên

Trang 11

quan tâm để giáo dục các em thường xuyên liên tục, nhất là trong bối cảnh ônhiễm môi trường đã trở thành vấn nạn toàn cầu.

Ví dụ: Tại sao khi sử dụng động cơ nhiệt lại làm tăng nhiệt độ và khói bụi trong không khí?

1.3.2.2 Đổi mới trong việc ra đề kiểm tra

GV cũng phải đổi mới cách kiểm tra đánh giá sao cho đề Vật lí phải cógắn với ứng dụng thực tế, có thể không cần quá nhiều chỉ cần lồng ghép một,hai câu hỏi thực tế vào đề kiểm tra thì HS sẽ thay đổi phương pháp học cho phùhợp với xu hướng ra đề của giáo viên từ đó phát triển năng lực của mình Các

đề kiểm tra, thi học kỳ, thi thử THPT Quốc gia, thi THPT Quốc gia cần lồngghép các câu vận dụng kiến thức thực tế làm GV dạy và HS học theo xu hướng

- Nêu được những đặc điểm của lực ma sát trượt

- Viết được công thức của lực ma sát trượt

- Nêu được đặc điểm của hệ số ma sát trượt và công thức

- Nghiêm túc, chuyên cần, chăm chỉ

- Hứng thú với những kiến thức mới

- Tích cực, tự giác tham gia vào hoạt động của bài học

4 Năng lực hướng tới:

- Năng lực sử dụng kiến thức Vật lí:

+ Trả lời được câu hỏi về đặc điểm của lực ma sát trượt

+ Vận dụng kiến thức để giải thích các hiện tượng liên quan đến lực ma sáttrượt trong cuộc sống

- Năng lực phương pháp: Đề xuất, lên phương án, tiến hành thí nghiệm và xử

lý kết quả

- Năng lực trao đổi thông tin: Sử dụng ngôn ngữ nói và viết để thảo luậnnhóm, tổng hợp và báo cáo kết quả

Trang 12

- Năng lực các thể: Tiếp thu kiến thức, phát huy khả năng tự học, sáng tạo củamỗi học sinh qua mỗi tiết học.

II CHUẨN BỊ

1 Giáo viên :

- Video, hình ảnh về hiện tượng ma sát trong thực tế

- Thí nghiệm trực quan về lực ma sát trượt, video một số yếu tố ảnh hưởngđến độ lớn lực ma sát trượt

- Thiết kế hoạt động theo nhóm và phiếu học tập cho cá nhân và từng nhóm

- Hệ thống câu hỏi về lực ma sát trong thực tế đời sống

2 Học sinh :

- Ôn lại những kiến thức về lực ma sát đã học ở lớp 8

- Nghiên cứu trước bài học

- Sách vở, đồ dùng cần thiết

III Phương pháp dạy học chủ yếu:

- Trực quan, HĐ theo nhóm và hỏi đáp

IV Tiến trình dạy học:

1 Ổn định tổ chức: (2ph)

2 Kiểm tra bài cũ: (3 ph)

Phát biểu định luật Húc? Biểu thức?

3 Bài mới:

HOẠT ĐỘNG 1: KHỞI ĐỘNG (5ph)

GV: Trình chiếu video và hình ảnh cho HS xem về các hiện tượng ma sát

GV: - Khi ta xoa 2 bàn tay vào nhau vì sao lòng bàn tay nóng dần lên

- Đế giày đá bóng luôn gồ ghề còn đế giày trượt băng thì nhẵn

- Một người đi xe đạp, khi xe đang chạy muốn xe dừng nhanh thì người lái

xe bóp phanh

- Một quả bóng lăn trên nền gạch bao giờ cũng đi được quãng đường xahơn khi chuyển động trên nền đất đá dù tác dụng lực có độ lớn như nhau

GV đặt câu hỏi: Nguyên nhân gây ra hiện tượng trên?

GV: Nguyên nhân gây ra hiện tượng này chính là lực ma sát Vậy lực ma sát cótác dụng gì? Đặc điểm của lực ma sát và lực này phụ thuộc những yếu tố nào?

Để giải quyết những thắc mắc trên về lực ma sát chúng ta sẽ học bài 13: Lực ma sát.

Bài 13 có 3 mục lớn đó là lực ma sát trượt, lực ma sát lăn và lực ma sátnghỉ Tiết này chúng ta chỉ nghiên cứu nội dung của lực ma sát trượt, còn lực masát lăn và lực ma sát nghỉ đã được giảm tải nên các em tự đọc thêm

HOẠT ĐỘNG 2: HÌNH THÀNH KIẾN THỨC: (25ph)

Hoạt động của thầy và trò Nội dung kiến thức

Tìm hiểu đặc điểm của lực ma sát

trượt:(6ph)

GV: Khi xe đạp đang chạy ta bóp

phanh tại sao xe dừng lại?

Lực ma sát trượt xuất hiện khi 1 vậttrượt trên bề mặt 1 vật khác

Đặc điểm của lực ma sát trượt:

Trang 13

Khi vật đang trượt trên bàn nằm ngang

sau 1 thời gian vật dừng lại vì sao?

Lực ma sát có tác dụng gì?

GV: Lực ma sát trượt xuất hiện khi

nào? Đặc điểm: điểm đặt, phương,

chiều của lực ma sát trượt?

GV: Làm thí nghiệm một vật đang

chuyển động thì dừng lại

- GV chia HS làm 4 nhóm theo vị trí

bàn học yêu cầu HS nghiên cứu, tìm

tòi, hoàn thành phiếu học tập cá nhân

và thảo luận hoàn thành phiếu học

tập số 1 của cả nhóm.

GV thu phiếu học tập cá nhân và yêu

cầu đại diện 4 nhóm lần lượt lên trình

bày sản phẩm của nhóm Các nhóm

còn lại nhận xét.

- GV: Nhận xét kết quả của từng nhóm

và tổng hợp lại kiến thức

Nội dung 1: Đo độ lớn của lực ma sát

trượt như thế nào?(4ph)

GV: Đặt câu hỏi: Nêu cách đo lực ma

sát trượt của bàn tác dụng vào vật và

giải thích cách làm?

GV: yêu cầu HS tìm hiểu thảo luận và

trả lời câu hỏi

GV gọi 1 HS lên thực hiện đo độ lớn

lực ma sát trượt của bàn tác dụng lên

vật

GV kết luận

Nội dung 2: Độ lớn của lực ma sát

trượt phụ thuộc những yếu tố nào?

(10ph)

- GV yêu cầu các nhóm đưa ra các

phương án thí nghiệm kiểm chứng sự

phụ thuộc độ lớn của lực ma sát trượt

đối với các yếu tố

- GV gọi 1 HS lên làm thí nghiệm và

thông báo kết quả thí nghiệm

- GV mở video mô tả thí nghiệm cho

HS quan sát kĩ 1 lần nữa

- GV yêu cầu HS hoàn thành phiếu

- Điểm đặt: Đặt vào vật tại chỗ tiếpxúc 2 mặt

- Phương: Song song với bề mặttiếp xúc

- Chiều: Ngược với chiều chuyểnđộng của vật

1 Đo độ lớn của lực ma sát trượt như thế nào?

Móc lực kế vào vật rồi kéo vậtchuyển động thẳng đều theophương ngang Khi đó lực kế chỉ độlớn của lực ma sát trượt của bàn tácdụng lên vật

Để kết quả chính xác chúng ta nênthực hiện vài lần rồi tính giá trịtrung bình

2 Độ lớn của lực ma sát trượt phụ thuộc những yếu tố nào?

Độ lớn của lực ma sát trượt:

- Không phụ thuộc vào diện tíchtiếp xúc và tốc độ của vật

- Tỉ lệ với độ lớn của áp lực

- Phụ thuộc vào vật liệu và tìnhtrạng của hai mặt tiếp xúc

Trang 14

học tập cá nhân và thảo luận hoàn

thành phiếu học tập số 2 của cả

nhóm.

GV thu phiếu học tập và yêu cầu đại

diện 4 nhóm lần lượt lên trình bày

sản phẩm của nhóm Các nhóm khác

nhận xét.

- GV: Nhận xét kết quả của từng nhóm

và tổng hợp lại kiến thức

Nội dung 3: Hệ số ma sát trượt(4ph)

GV: Hệ số ma sát trượt là gì? Phụ thuộc

GV yêu cầu HS rút ra công thức lực ma

sát trượt từ công thức hệ số ma sát

trượt

3 Hệ số ma sát trượt

Hệ số ma sát trượt là hệ số tỉ lệ giữa

độ lớn của lực ma sát trượt và độlớn của áp lực

mst t

F N

 

- Hệ số ma sát trượt phụ thuộc vàovật liệu và tình trạng của hai mặttiếp xúc

- Hệ số ma sát trượt không có đơn

B Giảm độ lớn của áp lực lên mặt tiếp xúc

C Tăng độ nhẵn giữa các mặt tiếp xúc.

D Tăng diện tích mặt tiếp xúc

Câu 2 Vật đang trượt trên mặt sàn thì dừng lại do tác dụng của lực nào ?

GV yêu cầu học sinh vận dụng kiến thức để trả lời các câu hỏi

- Vì sao sao băng, sao chổi lại sáng

- Vì sao đế dép, lốp ô tô, lốp xe đạp phải khía ở mặt cao su?

- Vì sao quần áo đã là lại lâu bẩn hơn không là?

- Vì sao cán cuốc khô khó cầm hơn cán cuốc ẩm ướt?

4 Nhiệm vụ về nhà: (1ph)

- Làm bài tập 4,7 SGK trang 78

Ngày đăng: 14/07/2020, 12:28

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

CÁC HÌNH THỨC TỔ CHỨC THỰC HIỆN: - Phát triển năng lực học sinh thông qua hệ thống câu hỏi thực tế khi dạy học chương động lực học chất điểm vật lí 10
CÁC HÌNH THỨC TỔ CHỨC THỰC HIỆN: (Trang 9)
Câu 7: GV chiếu hình ản h: Đây là hiện tượng gì? Vì sao lại có vệt sáng dài phía sau? - Phát triển năng lực học sinh thông qua hệ thống câu hỏi thực tế khi dạy học chương động lực học chất điểm vật lí 10
u 7: GV chiếu hình ản h: Đây là hiện tượng gì? Vì sao lại có vệt sáng dài phía sau? (Trang 21)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w